



















Preview text:
Mục lục
CHƯƠNG 4: MUA HÀNG TRỰC TUYẾN..............................................................3
4.5. Phần mềm tiêu chuẩn cho mua sắm tại bàn.......................................................3
4.6. Thị trường cung cấp dịch vụ mua hàng trực tuyến............................................5
CHƯƠNG 5: HỢP ĐỒNG ĐIỆN TỬ VÀ CHỮ KÝ ĐIỆN TỬ...............................8
5.1. Quá trình thương lượng trực tuyến....................................................................8
5.1.1. Thương lượng trực tuyến..........................................................................8
5.1.2. Quá trình thương lượng trực tuyến...........................................................8
5.2. Dịch vụ hỗ trợ quá trình thương lượng...........................................................11
5.3. Chữ ký điện tử................................................................................................14
5.3.1. Thủ tục mã hóa bất đối xứng..................................................................14
5.3.2. Tạo chữ ký số.........................................................................................15
5.3.3. Nhiệm vụ của Cơ sở Chứng nhận...........................................................17
5.3.4. Xác minh chứng thực điện tử.................................................................18
MỞ RỘNG: PUBLIC KEY CRYPTOGRAPHY (MẬT MÃ KHÓA CÔNG
KHAI)..............................................................................................................19
5.4. XML và hợp đồng điện tử...............................................................................25
5.4.1. Khái niệm...............................................................................................25
5.4.2. Lợi ích của việc sử dụng ngôn ngữ XML...............................................26
5.4.3. Định dạng XML cho hợp đồng điện tử và chữ ký điện tử......................26
5.5. Quyền pháp lý của xã hội thông tin.................................................................31
CHƯƠNG 6. PHÂN PHỐI ĐIỆN TỬ......................................................................39
6.1. Các thành phần của hệ thống phân phối..........................................................39
6.1.1. Phân phối là gì?......................................................................................39
6.1.2. Hệ thống phân phối................................................................................40
6.2. Loại hình logistics cho kênh phân phối...........................................................41
6.2.1. Phân phối trực tuyến...............................................................................41
6.2.2. Phân phối truyền thống...........................................................................46
6.2.3. Phân phối phối hợp.................................................................................48
Trả lời câu hỏi nhóm phản biện...............................................................................53
Câu hỏi cho nhóm 2...................................................................................................59 2
CHƯƠNG 4: MUA HÀNG TRỰC TUYẾN
4.5. Phần mềm tiêu chuẩn cho mua sắm tại bàn
Hệ thống mua sắm tại bàn (DPS) là hệ thống mua sắm được sử dụng trong các
bộ phận mua hàng của công ty. Hệ thống DPS là một phần của Quản lý chuỗi cung
ứng (SCM) và can thiệp vào toàn bộ chuỗi giá trị khi sản xuất sản phẩm hoặc cung
cấp dịch vụ. DPS hỗ trợ quy trình mua sắm, kiểm tra đơn đặt hàng, nhà cung cấp và
ủy quyền của bên đặt hàng. Hệ thống DPS tự động chuyển dữ liệu đơn hàng cho nhà
cung cấp, đẩy nhanh quá trình mua sắm và giao hàng.
Hệ thống mua sắm tại bàn tổng hợp các sản phẩm và dịch vụ từ các nhà cung
cấp khác nhau vào các danh mục sản phẩm đa nguồn. Giao diện người dùng dựa trên
trình duyệt web của DPS st hỗ trợ cho việc sử dụng không thường xuyên của nhân
viên (những người khi được yêu cầu st kiểm tra các ưu đãi cho các hàng MRO và các
vật phẩm khác một cách cá nhân hóa). Các hệ thống mua sắm tại bàn nâng cao cung
cấp các giao diện mở rộng với các hệ thống thông tin vâ v
n hành cùng với hệ thống ERP
và đảm bảo tích hợp việc mua sắm hàng hóa gián tiếp vào các hoạt động của công ty.
Hiện nay có nhiều nhà cung cấp phần mềm cho hệ thống mua sắm tại bàn. Bảng 4.5.1
cung cấp một cái nhìn tổng quan về sự đa dạng các chức năng thực hiện bởi các hệ thống mua sắm tại bàn.
Mua sắm tại bàn - Chức Phần mềm he trf năng cơ bản
Tìm nguồn cung, nhận dạng, Tra cứu trực tuyến trên Internet, tiếp thị ngược
các nhà cung cấp tiềm năng, Sử dụng các trợ lý ảo thanh toán Danh mục điện tử
Quảng cáo trực tuyến và đấu giá trực tuyến
Lựa chọn thông qua hệ thống phần mềm Quy trình đặt hàng
Hỗ trợ quy trình đặt hàng Quy trình phê duyệt
Chuyển đơn đặt hàng đến nhà cung cấp bằng trình duyệt Web
Hoàn tất đặt hàng và giao
Thông tin về trạng thái của quy trình đặt hàng (phía hàng nhà cung cấp)
Kiểm soát trực tuyến của việc hoàn thành đơn hàng 3 (theo dõi)
Hàng hóa đến và bưu phí, Bưu phí tự đô vng
lưu trữ, đánh giá nhà cung
Quản lý khiếu nại điện tử cấp Thanh toán điện tử Đánh giá nhà cung cấp
Bảng 4.5.1: He trf phần mềm thông qua hệ thống mua máy tính để bàn
Việc tìm kiếm nhà cung cấp tiềm năng đã được hệ thống mua sắm tại bàn hỗ
trợ. Sử dụng phương pháp gọi là tiếp thị ngược, việc tìm kiếm và lựa chọn nhà cung
cấp được đơn giản hóa. Ý nghĩa của tiếp thị ngược là công ty mua hàng cùng với sự
trợ giúp của hệ thống mua sắm tại bàn (DPS), công khai thông tin cụ thể cho các nhà
cung cấp tiềm năng trên Web (hướng dẫn cho việc mua sắm, các đặc điểm về chất
lượng, mức đô v hài l€ng, v.v.) , hoặc thông báo nhu cầu về hàng hóa, các điều kiện
giao hàng và các phương thức thanh toán. Nói cách khác, công ty muốn mua hàng đều
tiên phong và thực hiện việc tiếp thị.(Nói cách khác dễ hiểu hơn là bên mua phải đưa
ra thông tin , feedback cho bên bán trước)
Toàn bộ quy trình đặt hàng cùng với việc thanh toán và giao hàng cũng được
hỗ trợ bởi hệ thống mua sắm tại bàn, vì quá trình phê duyệt được khởi xướng (đã có từ
trước đó) bởi các hoạt động cụ thể của công ty và được thực hiện từng bước. Các chức
năng theo dõi cũng rất đáng chú ý.
DPS liên tục chỉ ra tình trạng của đơn hàng với nhà cung cấp và tình trạng của
hàng hóa trong quá trình vận chuyển . Do đó, tình trạng của một đơn hàng luôn được
cập nhật. Giao diện với hàng hóa đầu vào và bưu phí được xử lý bởi DPS, và được cập
nhật trực tiếp trong hệ thống ERP tương ứng (phụ thuộc vào mức đô v tích hợp của từng
hệ thống ERP). Sau khi hàng hóa đã được kiểm tra và ngày đã được ghi chú, số liệu
thống kê được tổng hợp, và (nếu cần) các khiếu nại được xử lý. Điều này có nghĩa là
công ty mua hàng luôn có thông tin cập nhật về chất lượng của nhà cung cấp. Các ví
dụ điển hình về hàng MRO (sản phẩm và dịch vụ) được liệt kê trong bảng 4.5.2. Sản phẩm Dịch vụ
Máy tính chưa được định dạng Dịch vụ du lịch
PDAs và thiết bị di động Các khóa đào tạo Phần mềm Dịch vụ quảng cáo Tạp chí và báo
Tư vấn và dịch vụ đường dây nóng Sách Dịch vụ tài chính
Nội thất văn ph€ng và trang thiết bị văn Quán ăn tự phục vụ ph€ng Dịch vụ sao chép 4 Xe cộ Dịch vụ chuyển phát
Quần áo làm việc và trang thiết bị làm Đặt chỗ bãi đỗ xe việc
Chương trình giải trí nhẹ nhàng Vật liệu quảng cáo Chương trình văn hóa Vật liệu bảo dưỡng V.v. Vật tư văn ph€ng V.v.
Hình 4.5.2: Các loại dịch vụ cho hệ thống mua sắm tại bàn
DPS có thể giảm bớt gánh nặng đặt lên các bộ phận logistics và mua hàng của
các công ty. Các dịch vụ khác nhau, từ bố trí nơi làm việc và trang thiết bị văn ph€ng
đến các dịch vụ cho chuyến công tác và các sự kiện xã hội của công ty, có thể được
mua và giám sát một cách hiệu quả thông qua các hệ thống như vậy. Các ví dụ về DPS:
Ariba Operating Resources Management System: Một hệ thống quản lý tài
nguyên vận hành Ariba được cung cấp bởi công ty Ariba Technologies, Inc. Hệ thống
này có một giao diện người dùng thân thiện (dựa trên Java). Hệ thống chứa một công
cụ tìm kiếm hiệu quả cho phép các nhóm sản phẩm mong muốn được chỉ định thông
qua các tiêu chí có thể lựa chọn. Các quy trình làm việc cá nhân liên quan đến mua
hàng được hỗ trợ bởi một thành phần luồng công việc. Các nhà cung cấp của các danh
mục sản phẩm phải cung cấp thông số kỹ thuật của họ dưới định dạng CIF (Catalog
Interchange Format) để dữ liệu có thể được tổng hợp vào một danh mục đa nhà cung cấp.
The BuySite by CommerceOne: Công ty CommerceOne bán một giải pháp
mua sắm trực tuyến dưới tên BuySite. Nền tảng này hỗ trợ việc mua sắm hàng MRO,
thanh toán với việc phát hành hóa đơn, và kiểm soát quy trình.
Ngoài việc cung cấp các hệ thống mua sắm tại bàn độc lập, các nhà sản xuất hệ
thống ERP đã bắt đầu mở rộng dải sản phẩm của họ với các chức năng cho việc mua
sắm hàng hóa trực tiếp và gián tiếp (xem ví dụ như SAP Enterprise Buyer Professional).
4.6. Thị trường cung cấp dịch vụ mua hàng trực tuyến
Một nhà cung cấp dịch vụ mua hàng trực tuyến chuyên về các quy trình mua
sắm của các công ty và làm trung gian các mối quan hệ với các nhà cung cấp khác nhau.
Cấu trúc cơ bản của một nhà cung cấp dịch vụ mua hàng trực tuyến được hiển
thị theo cách trình bày trong Hình 4.6.1 5
Hình 4.6.1: Nhà cung cấp dịch vụ Mua sắm điện tử (theo Dolmetsch)
Các thành phần quan trọng nhất liên quan đến dịch vụ đặt hàng, dịch vụ danh
mục và quản trị hệ thống mua hàng. (1)Trong các dịch vụ yêu cầu và đặt hàng, các
yêu cầu của quy trình mua hàng cũng như các quy tắc xét duyệt cho mỗi công ty mua
hàng được xây dựng và ghi lại. Việc đặt hàng được hỗ trợ bởi phần mềm, vì cả quy
trình thanh toán và sắp xếp thanh toán đều được ghi lại.
Dịch vụ danh mục và quản lý nội dung cho phép tìm kiếm các nhà cung cấp,
sản phẩm và dịch vụ. Đồng thời, một danh sách nhiều nhà cung cấp phải được tổng
hợp và duy trì. Một số nhà cung cấp dịch vụ Mua sắm điện tử cung cấp khả năng tạo
ra các nhóm hàng và sản phẩm phức tạp.
Hệ thống quản trị liên quan đến việc ghi, duy trì hồ sơ người dùng và hồ sơ nhà
cung cấp. Khi sử dụng hệ thống mua sắm trên máy tính để bàn và các nhà cung cấp
dịch vụ Mua sắm điện tử, các khoản tiết kiệm sau được thực hiện:
Quy trình mua sắm: Quy trình này được tự động hóa một phần lớn và do đó ít
gặp lỗi hơn. Tình trạng của một đơn hàng cụ thể có thể được truy vấn bất kỳ lúc nào.
Đặc tính chất lượng và thời gian mua sắm có thể được đánh giá định kỳ.
Hàng tồn kho: Theo các thỏa thuận với các nhà cung cấp, hàng tồn kho có thể
được giữ ở mức nhỏ hoặc giảm xuống mức không. Nhân viên có thể xem các lượng
đặt hàng hiện tại và dữ liệu giao hàng. 6
Lfi ích giá cả: Khi có chính sách mua sắm, các chiết khấu theo số lượng và
điều khoản giá có thể được đàm phán. Ngoài ra, khối lượng đặt hàng có thể được gom
lại, dẫn đến lợi ích về giá cả.
Kiểm soát: Trong quá trình và sau quá trình mua sắm, các đánh giá của các cơ
sở dữ liệu phù hợp có thể được thực hiện bất kỳ lúc nào. Điều này cung cấp một cơ sở
tốt cho việc đưa ra quyết định liên quan đến việc điều chỉnh các chính sách mua sắm
và giá cả nếu cần thiết.
Do các ưu điểm của mua hàng trực tuyến, ngày càng có nhiều công ty và tổ
chức công cộng đang sở hữu các hệ thống mua sắm trên máy tính để bàn phù hợp
hoặc yêu cầu các dịch vụ của một nhà cung cấp dịch vụ Mua sắm điện tử. 7
CHƯƠNG 5: HỢP ĐỒNG ĐIỆN TỬ VÀ CHỮ KÝ ĐIỆN TỬ
5.1. Quá trình thương lưfng trực tuyến
5.1.1. Thương lưfng trực tuyến
● Ký hfp đồng không cần gặp mặt trực tiếp: Hệ thống ghi nhận quá trình
thương thảo, hỗ trợ ký kết hợp đồng đúng khuôn khổ pháp lý, lưu trữ dữ liệu
● Ký hfp đồng điện tử: Ghi nhận các chức danh tham gia thương lượng, quản lý
và điền dữ liệu trực tuyến, thống nhất các quyền lợi và nghĩa vụ, kết luận có giá
trị pháp lý của hợp đồng, giám sát thực hiện hợp đồng
● Hfp đồng điện tử: Văn bản điện tử có giá trị pháp lý, ràng buộc các bên tham
gia hợp đồng, trong đó điều chỉnh hình thức thanh toán
5.1.2. Quá trình thương lưfng trực tuyến
Trong thị trường điện tử, các giao dịch kinh doanh có thể được thực hiện mà
các đối tác kinh doanh không bao giờ tiếp xúc vật lý với nhau. Đồng thời, phải sử
dụng hệ thống phần mềm phù hợp để ghi lại thỏa thuận chung giữa các bên tham gia
thị trường trong việc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc
ký kết hợp đồng một cách ràng buộc về mặt pháp lý và lưu trữ cho mục đích giám sát.
Trong Hợp đồng điện tử, quy trình đàm phán điện tử bao gồm các hành động sau:
● Ghi chép hợp lệ các quan điểm đàm phán
● Quản lý và lưu trữ điện tử các phần khác nhau của hợp đồng
● Thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ
● Ký kết hợp đồng hợp pháp (có chữ ký số)
● Giám sát việc thực hiện các điều khoản của hợp đồng
Nếu quá trình thương lượng trực tuyến thành công thì st xuất hiện một văn bản
điện tử gọi là hợp đồng điện tử. Văn bản này ràng buộc về mặt pháp lý các bên ký kết
hợp đồng với nhiệm vụ và trách nhiệm của họ. Tất nhiên, hợp đồng điện tử cũng quy
định về phương thức trả thù lao; ví dụ: thanh toán điện tử được xem xét lại.
Hình 5.1 thể hiện sơ đồ quá trình đàm phán trong một giao dịch kinh doanh.
Trong hợp đồng điện tử, các bước tương ứng trong thỏa thuận đều được ghi lại và
giám sát, bắt đầu bằng thông tin về đối tác kinh doanh, đàm phán (với các đề nghị và
yêu cầu), ký kết hợp đồng điện tử, cho đến các bước thanh toán và phân phối điện tử.
Do đó, hợp đồng điện tử bao gồm các điểm thỏa thuận từ tất cả các giai đoạn của quá trình giao dịch kinh doanh. 8
Fig. 5.1: The negotiation process (according to University St. Gallen)
+ Tìm hiểu: Tìm kiếm thông tin về đối tác
+ Thỏa thuận: Đàm phán và thương lượng
+ Thống nhất: Kết luận các điều khoản hợp đồng
+ Thực hiện: Phương thức thanh toán và hoạt động giao hàng VD về B2B eCommerce
Nguồn: Digital Business.pdf
Các hoạt động ban đầu trong chuỗi cung ứng tìm kiếm và đàm phán đôi khi
được gọi là tìm nguồn cung ứng.
+ Về mặt tìm kiếm, người mua trong các tổ chức st được yêu cầu nêu chi tiết các
tính năng của sản phẩm hoặc dịch vụ mà nhà cung cấp yêu cầu bằng cách điền
vào các biểu mẫu trực tuyến. Các biểu mẫu như vậy sau đó có thể được gửi qua 9
giao diện web trên Mạng nội bộ của công ty để phê duyệt yêu cầu trưng dụng.
Sau khi phê duyệt yêu cầu trưng dụng, bộ phận mua hàng st đưa ra yêu cầu báo
giá điện tử cho các nhà cung cấp tiềm năng. Có thể được thực hiện thông qua
bảng thông báo trực tuyến hoặc trung tâm B2B kết nối các doanh nghiệp trực
tuyến với tư cách là người mua và người bán.
+ Về mặt thương lượng, sau khi nhận được tất cả giá thầu, nhà cung cấp st được
chọn, có thể sử dụng một số công cụ xếp hạng giá thầu dựa trên các đặc điểm
chính đã chọn của yêu cầu để báo giá.
Các hoạt động trung gian đặt hàng và giao hàng đôi khi được gọi là mua hàng.
Đơn đặt hàng liên quan đến việc nhà cung cấp được thông báo về việc đấu thầu thành
công và đơn đặt hàng được truyền điện tử đến nhà cung cấp đã chọn.
Sau khi giao hàng, hệ thống quản lý hàng tồn kho st được cập nhật tự động và
sau khi nhận được hóa đơn từ nhà cung cấp, công ty st sắp xếp chuyển khoản (thanh
toán) điện tử với công ty cung cấp. Cuối cùng, về mặt bán hàng, hệ thống quản lý
quan hệ nhà cung cấp giám sát tất cả các tương tác với nhà cung cấp và có thể được sử
dụng để kiểm tra hiệu suất của các nhà cung cấp cụ thể.
* Vấn đề liên quan đến quá trình thương lưfng trực tuyến
- Dịch vụ có thể hỗ trợ ký kết hợp đồng qua mạng internet
- Chữ ký điện tử và cơ sở hạ tầng cho việc chứng thực
- Điều kiện bảo mật để hợp đồng đạt được tiêu chuẩn pháp lý
- Trọng tài trực tuyến để giải quyết tranh chấp và khiếu nại
- Nền tảng pháp lý thực hiện điều khoản hợp đồng
* Hfp đồng điện tử
Theo Điều 3 Luật Giao dịch điện tử 2023 thì hợp đồng điện tử Econtract là hợp
đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu.
Mà thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được
lưu trữ bằng phương tiện điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử,
chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác.
+ Ví dụ về hợp đồng điện tử: hợp đồng mua bán hàng hóa trực tuyến trên các sàn
thương mại điện tử; hợp đồng về dịch vụ đặt xe Grab, Be, Xanh SM,...; hợp đồng lao
động điện tử, hợp đồng thuê nhà điện tử,...
- Hợp đồng điện tử có giá trị pháp lý
+ Thông tin trong thông điệp dữ liệu không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì
thông tin đó được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu. (Điều 8 Luật Giao dịch điện tử 2023)
+ Thông điệp dữ liệu có giá trị như văn bản, có giá trị như bản gốc, có giá trị
dùng làm chứng cứ nếu đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 9, 10, 11 Luật Giao dịch điện tử 2023 10
+ Hợp đồng điện tử được giao kết hoặc thực hiện từ sự tương tác giữa một hệ
thống thông tin tự động với người hoặc giữa các hệ thống thông tin tự động với nhau
không bị phủ nhận giá trị pháp lý… (khoản 1 Điều 34 Luật Giao dịch điện tử 2023)
+ Trong giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử, thông báo dưới dạng thông
điệp dữ liệu có giá trị pháp lý như thông báo bằng văn bản giấy. (Điều 38 Luật Giao dịch điện tử 2023)
● Sự khác biệt của hfp đồng điện tử: Nội dung hợp đồng có thể kiểm tra và
hoàn chỉnh bằng chương trình và dịch vụ phần mềm, dịch vụ bổ sung có thể
được bổ sung trong quá trình thực hiện...vd: tự động thông báo về hành trình của lô hàng
● Các khía cạnh của hfp đồng điện tử: Các bên tham gia hợp đồng, nội dung
hợp đồng, thực hiện hóa hợp đồng, điều kiện pháp lý căn bản được áp dụng
● Ý nghĩa của các dịch vụ cơ bản dành cho hfp đồng điện tử: Xác định các
đối tác ký kết HĐ; thương lượng trực tuyến, lưu trữ dữ liệu; bảo lãnh thực hiện
HĐ; và trọng tài trực tuyến
● Xác nhận nội dung HĐ: Kiểm tra tính hợp lý trong kết cấu HĐ, chỉ ra những
rủi ro và đề xuất phương án thay đổi HĐ, xác nhận tính hợp lệ có thể thông qua
phần mềm hoặc qua trang web
● Dịch vụ thương lưfng: Hệ thống phần mềm trợ giúp thương lượng trực tuyến
thông qua các công cụ đa phương tiện
● Dịch vụ lưu trữ: Xác định điều kiện tối ưu cho giao dịch và ghi nhận trong dự
thảo HĐ, phân loại các phiên bản HĐ, đảm bảo an toàn kết quả thương lượng
và thủ tục hành chính, cho phép so sánh chào hàng của nhà CC và nhu cầu
khách hàng, mở rộng đấu thầu trực tuyến
● Kiểm tra giám sát thực hiện hfp đồng: Quản lý và giám sát toàn bộ quá
trình, định hướng quá trình thương lượng, giám sát thời hạn giao hàng và phương thức thanh toán
● Trọng tài trực tuyến: Tư vấn và h€a giải thông qua phương tiện điện tử. Vd
thông qua hội thảo hoặc tr€ chuyện trực tuyến. Dịch vụ kết thúc sau khi công
bố kết luận h€a giải hoặc kết quả của trọng tài
5.2. Dịch vụ he trf quá trình thương lưfng
Một mục tiêu quan trọng của quá trình thương lượng trực tuyến là việc ký kết
hợp đồng. So với hợp đồng bằng giấy, hợp đồng điện tử có ưu điểm là nội dung của
chúng có thể được các chương trình, tác nhân phần mềm kiểm tra và xử lý cho đầy đủ.
Các dịch vụ bổ sung có thể được cung cấp để hoàn thành hợp đồng đã ký kết, chẳng
hạn như thông báo khi hàng hóa chưa được giao. 11
Để nhận ra đầy đủ tiềm năng của quá trình đàm phán và hoàn tất điện tử, hợp
đồng điện tử phải bao gồm các loại thông tin trả lời các câu hỏi sau:
● Các bên tham gia hợp đồng là ai?
● Nội dung của thỏa thuận là gì?
● Hợp đồng điện tử được thực hiện như thế nào?
● Áp dụng những điều kiện pháp lý cơ bản nào?
Hiện có sẵn các dịch vụ (phần mềm) chung có thể trả lời các câu hỏi trên.
Chúng bao gồm các khía cạnh sau: xác định các bên ký kết hợp đồng; thương lượng
trực tuyến (bao gồm cả việc giao kết hợp đồng); lưu trữ hợp đồng; Thực thi hợp đồng;
và trọng tài điện tử (Hình 5.2).
Trước khi những người tham gia thị trường tham gia thương lượng trực tuyến,
họ muốn tìm hiểu về danh tính của bên đối diện. Để đạt được điều này, cần có các cơ
sở hoặc tổ chức cấp giấy chứng nhận nhận dạng hợp pháp cho các cá nhân. Những cái
gọi là cơ quan chứng nhận hoặc cơ sở chứng nhận này phải có khả năng đảm bảo rằng
người tham gia thị trường trên thực tế là người mà họ tự giới thiệu (xác thực). Để cấp
các chứng chỉ như vậy bằng điện tử, cơ quan chứng nhận yêu cầu tài liệu nhận dạng từ
người tham gia thị trường (ví dụ: hộ chiếu), cũng như liên hệ vật lý trong hầu hết các
trường hợp. Giấy chứng nhận do cơ quan chứng nhận cấp cho bên tham gia thị trường
có hạn chế và có thể được đưa vào quá trình đàm phán hợp đồng. Việc nhận dạng các
bên ký kết được coi là một dịch vụ chung vì mỗi cơ quan chứng nhận liên quan luôn
có thể được tin cậy trong các quá trình đàm phán khác nhau. Do đó, việc phân loại các
đối tác xuất hiện trên thị trường điện tử thành các cá nhân và tổ chức trong thế giới thực được đảm bảo.
Dịch vụ xác nhận tính hfp lệ: Dịch vụ chung được sử dụng để xác định các
bên ký hợp đồng có thể được bổ sung bằng thành phần xác nhận. Do đó, có thể xác
minh xem khuôn khổ hợp đồng có được cấu trúc chính thức theo cách chính xác hay
không bằng cách sử dụng các mẫu hợp đồng (tức là bản dự thảo cho các giao dịch
kinh doanh cụ thể). Dịch vụ này có thể nêu bật các rủi ro và đề xuất sửa đổi. Tùy
thuộc vào nhu cầu của các bên, dịch vụ xác nhận có thể được thực hiện thông qua các
đại lý phần mềm hoặc thông qua các trang web tốt.
Dịch vụ thương lưfng: giúp ích cho những người tham gia thị trường khi họ
đàm phán các điểm đã thống nhất. Các hệ thống phần mềm cụ thể - hệ thống hỗ trợ
thương lượng trực tuyến - hỗ trợ quá trình đàm phán thông qua các thành phần truyền
thông đa phương tiện và môi trường đàm phán hợp tác. Tùy thuộc vào mức độ trưởng
thành của các hệ thống phần mềm này, các đề xuất giải pháp có thể được tạo ra và các
vị trí từng phần đã được đàm phán trước đó có thể được tối ưu hóa.
Dịch vụ lưu trữ: Bằng cách sử dụng các danh mục điện tử, hệ thống phần
mềm xác định các điều kiện tối ưu để trao đổi và ghi lại những điều kiện này trong
hợp đồng dự định. Dịch vụ lưu trữ bổ sung st phân loại các phiên bản hợp đồng khác 12
nhau và đảm bảo kết quả đàm phán tương ứng. Cả việc quản lý và hoàn thành quá
trình đàm phán đều được hỗ trợ, bao gồm cả mô tả về trạng thái liên quan. Dịch vụ
đàm phán có thể tham gia vào việc so sánh các đề nghị và yêu cầu hoặc có thể được
mở rộng thông qua đấu giá trực tuyến (ví dụ: http://www.ricardo.de), cũng như thông
qua các đại lý phần mềm trưởng thành cho các cuộc thương lượng trực tuyến mở rộng.
Fig. 5.2: Generic services for eContracting (according to Runge)
Trong trường hợp một tác nhân phần mềm trưởng thành, dịch vụ thương lượng
cung cấp các chức năng để giám sát và giám sát quá trình đàm phán. Dịch vụ này chỉ
đạo quá trình đàm phán và kiểm tra các tài liệu cụ thể của thỏa thuận và các khía cạnh
bảo mật liên quan của chúng. Trong giai đoạn hoàn thiện, dịch vụ này có thể đảm
nhận việc giám sát thời gian giao hàng và phương thức thanh toán.
Dịch vụ bảo lãnh thực hiện hfp đồng: Đương nhiên, thị trường điện tử không
được bảo vệ trước tiên khỏi những người tham gia thị trường không muốn hoặc không
thể giữ quan điểm đàm phán đã thỏa thuận của mình. Trường hợp một bên không thực
hiện nghĩa vụ của mình thì phải sử dụng dịch vụ bảo đảm. Một mặt, dịch vụ này có
thể bao gồm các biện pháp chủ động nhằm đảm bảo việc thực hiện các phần cụ thể
của hợp đồng và nhận tiền thù lao cho hành vi vi phạm các phần này. Mặt khác, các
biện pháp phản ứng như hệ thống xếp hạng hoặc danh sách đen được thiết lập theo
cách mà trong trường hợp cực đoan, bên vi phạm không c€n được chứng nhận cho các
giao dịch kinh doanh tiếp theo.
Dịch vụ trọng tài: Nếu tranh chấp pháp lý xảy ra bất chấp các biện pháp
ph€ng ngừa và biện pháp an ninh này thì có thể tư vấn t€a án trọng tài trực tuyến
nhằm mục đích h€a giải. T€a án trọng tài này chỉ hoạt động khi có sự đồng ý của các
bên ký kết và quá trình tố tụng diễn ra thông qua phương tiện điện tử. T€a án trọng tài
trực tuyến đàm phán và tư vấn với các bên trong hợp đồng thông qua hội nghị Internet
hoặc ph€ng tr€ chuyện chẳng hạn. Nếu đạt được thỏa thuận thân thiện thì thủ tục tố
tụng trọng tài st dừng lại sau khi công bố thỏa thuận giải quyết. Quá trình tố tụng 13
cũng có thể kết thúc bằng phán quyết trọng tài. Đây thực sự là một phán quyết tư pháp
và có thể thi hành được (ví dụ, xem trọng tài điện tử tại http://www.cybersettle.com).
5.3. Chữ ký điện tử
5.3.1. Thủ tục mã hóa bất đối xứng
Với sự tăng trưởng và phát triển của kinh doanh điện tử, việc bảo mật các giao
dịch kinh doanh điện tử đã trở thành một vấn đề quan trọng. Các giao dịch kinh doanh
thường được ký kết trên thị trường điện tử ở khoảng cách rất xa và do đó thường
không có bất kỳ liên hệ cá nhân nào nên phải thiết lập các biện pháp ph€ng ngừa an
ninh đặc biệt để tạo dựng niềm tin. Phải đảm bảo rằng mọi tài liệu điện tử đều thực sự
đến từ nguồn mà chúng được cho là xuất phát và dữ liệu nhạy cảm như hợp đồng điện
tử không được thay đổi trong quá trình vận chuyển. Hơn nữa, việc nhận chứng từ điện
tử phải được người nhận xác nhận.
Những yêu cầu này có thể được đáp ứng thông qua việc sử dụng các kỹ thuật
mã hóa bất đối xứng. Ngược lại với các quy trình mã hóa đối xứng, trong đó cùng một
khóa được sử dụng cho cả mã hóa và giải mã, trên thị trường điện tử, người dùng st
nhận được một cặp khóa không đối xứng. Nói cách khác, hai khóa khác nhau được sử
dụng để mã hóa và giải mã: khoá bí mật và khoá công khai. Khóa công khai thường có
thể truy cập được và có thể được công bố trên trang chủ của người dùng hoặc trong
danh sách công khai. Tuy nhiên, khoá bí mật được các bên đàm phán và ký kết giữ bí mật.
Hình 5.3 minh họa thủ tục mã hóa bất đối xứng sử dụng khoá công khai
Rpublic và khoá bí mật Rprivate (chữ R là viết tắt của người nhận). Trong quy trình
mã hóa bất đối xứng này, người gửi mã hóa tài liệu gốc và hợp đồng của mình bằng
khoá công khai của người nhận, Rpublic, trước khi chuyển tài liệu đến người nhận.
Tài liệu này vẫn không thể đọc được đối với tất cả những người tham gia thị trường
khác ngoại trừ người nhận, người sở hữu khoá bí mật cần thiết cho nó. Về phía bên
nhận, tài liệu sau đó được giải mã bằng khoá bí mật của người nhận Rprivate. Người
nhận có thể đọc và hiểu tài liệu với nó.
● Khóa công khai và khóa bí mật
- Người gửi mã hóa văn bản gốc bằng khóa công khai, Rpublic
- Người nhận giải mã văn bản bằng khóa bí mật, Rprivate 14
Fig. 5.3: The asymmetric coding procedure
5.3.2. Tạo chữ ký số
Theo Khoản 6, Điều 3, Nghị định 130/2018/NĐ-CP quy định về Luật giao dịch
điện tử về chữ ký số và Dịch vụ chứng thực chữ ký số:
Chữ ký số là một dạng chữ ký điện tử được tạo ra bằng sự biến đổi một thông
điệp dữ liệu sử dụng hệ thống mật mã không đối xứng, theo đó, người có được thông
điệp dữ liệu ban đầu và khóa công khai của người ký có thể xác định được chính xác:
- Việc biến đổi nêu trên được tạo ra bằng đúng khóa bí mật tương ứng với khóa
công khai trong cùng một cặp khóa;
- Sự toàn vẹn nội dung của thông điệp dữ liệu kể từ khi thực hiện việc biến đổi nêu trên.
Chữ ký số là một thủ tục đảm bảo tính xác thực của tài liệu. Nếu người gửi
được xác định và nhận dạng bằng tên thì “tính xác thực” của người gửi cũng phải
được chứng minh. Nói cách khác, người nhận tài liệu điện tử hoặc hợp đồng muốn có
sự đảm bảo rằng người gửi thực tế là người mà anh ta tự giới thiệu.
Chữ ký số có thể được tạo bằng cách sử dụng quy trình mã hóa bất đối xứng.
Hình 5.4 minh họa cách tạo chữ ký số và thêm vào tài liệu điện tử. Trong điều kiện
bình thường, thủ tục mã hóa bất đối xứng được sử dụng hai lần:
● Sử dụng cặp khóa của người nhận (tức là khoá bí mật Rprivate của người nhận
cũng như khoá công khai Rpublic của người nhận) cho mục đích mã hóa và
giải mã tài liệu điện tử
● Sử dụng cặp khóa của người gửi (tức là khoá bí mật của người gửi Sprivate
cũng như khoá công khai của người gửi Spublic) cho mục đích chữ ký số và để
đảm bảo tính xác thực của tài liệu điện tử của người gửi 15
Fig. 5.4: Coding and sealing of electronic documents
Trong Hình 5.4, tài liệu được mã hóa (được tạo bằng quy trình mã hóa bất đối
xứng được sử dụng cho mật mã) được phủ một lớp “con dấu” (được tạo bằng quy
trình bất đối xứng được sử dụng để tạo chữ ký số). Lúc này, thuật toán băm được sử
dụng. Thuật toán băm xác định giá trị băm hoặc dấu vân tay (được biểu thị trong Hình
5.4 bằng biểu tượng mặt trời) từ tài liệu gốc. Giá trị băm này có các đặc điểm sau:
● Giá trị băm hoặc dấu vân tay có độ dài cố định cho bất kỳ tài liệu nào và độ dài
của nó phụ thuộc vào thuật toán băm được sử dụng
● Tài liệu gốc không thể được tiết lộ bởi giá trị băm hoặc dấu vân tay
● Mỗi thay đổi trong tài liệu gốc st dẫn đến một giá trị băm khác nhau hoặc dẫn
đến một dấu vân tay khác nhau
Những đặc điểm quan trọng này của thuật toán băm cho phép sử dụng dấu vân
tay hoặc con dấu làm chữ ký số. Do đó, chữ ký số chính là các giá trị băm được mã hóa.
Giá trị băm được tạo ra từ tài liệu gốc phải được mã hóa bằng khoá bí mật
Sprivate của người gửi và đính kèm với tài liệu đã được mã hóa bằng khoá công khai
Rpublic của người nhận.
Sau khi tài liệu được truyền đi, người nhận (hoặc phần mềm của người nhận) st
tách chữ ký số khỏi tài liệu được mã hóa. Tài liệu được mã hóa được chuyển đổi thành
tài liệu gốc với sự trợ giúp của khoá bí mật Rprivate của người nhận. Đồng thời, giá
trị băm được tính từ tài liệu gốc bằng thuật toán băm giống như người gửi đã sử dụng.
Chữ ký số (con dấu màu đen ở phía người nhận trong Hình 5.4) được tách ra
khỏi tài liệu được truyền sau đó được giải mã bằng khóa công khai Spublic của người
gửi thành giá trị băm ban đầu. Các con dấu sau đó được so sánh; nếu chúng khớp
nhau, người nhận có thể cho rằng dữ liệu gốc đến nơi c€n nguyên vẹn và chúng thực 16
sự được gửi bởi người gửi. Điều này cho phép người nhận kiểm tra xem tài liệu gốc
có bị thay đổi sau khi gửi đi hay không. Người nhận cũng có thể xác minh xem người
gửi có phải là người tham gia thị trường như họ nói hay không.
5.3.3. Nhiệm vụ của Cơ sở Chứng nhận
Trang web chứng nhận (cơ quan chứng nhận hoặc trung tâm ủy thác) là một tổ
chức chứng nhận việc phân bổ chữ ký công khai. Do đó, nhiệm vụ cơ bản của một
trang web chứng nhận là xác định mọi người một cách đáng tin cậy và để thị trường
điện tử xác nhận việc phân bổ khóa công khai cần thiết cho người này.
Cơ sở chứng nhận chịu trách nhiệm tạo, cấp và quản lý các chứng chỉ. Trong
quá trình này, nó phải xác định được người nộp đơn một cách đáng tin cậy. Điều này
yêu cầu liên hệ cá nhân và xuất trình chứng minh nhân dân hợp lệ hoặc tài liệu được
chứng nhận chính thức. Trường hợp này xảy ra nếu người nộp đơn sử dụng chức danh
chuyên môn và mối quan hệ chuyên môn, như trong trường hợp đối với bác sĩ, luật sư,
nhà tư vấn thuế hoặc kế toán viên được chứng nhận.
Chứng chỉ chứa khóa công khai của người được chứng nhận. Một người có thể
tạo một cặp khóa một cách độc lập và có khoá công khai được chứng nhận bởi một
trang web chứng nhận hoặc trang web chứng nhận st tạo một cặp khóa và lưu trữ
khoá bí mật một cách an toàn. Nếu điều này bị mất, chẳng hạn do lỗi máy tính, người
đó có thể lấy lại khoá bí mật.
Để đơn giản hóa sự phức tạp liên quan đến việc nhận dạng người, tồn tại cái
gọi là cơ quan đăng ký. Đây không thực sự cấp giấy chứng nhận; thay vào đó, họ lưu
trữ các chứng chỉ và nhận dạng mọi người.
Hình 5.5 cho thấy các thành phần của chứng chỉ giống như tiêu chuẩn X.509 do
ISO (Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế) khuyến khích. Lược đồ này sử dụng một tập
hợp các đặc điểm thống nhất sau đó được sử dụng để tạo điều kiện thuận lợi cho việc
trao đổi chứng chỉ trên toàn thế giới và sử dụng chữ ký số.
Ngoài khóa công khai của người được chứng nhận, thông tin bổ sung về người
này, công nghệ được sử dụng và chữ ký số của cơ quan chứng nhận cũng được lưu
trữ. Tính xác thực của chứng chỉ có thể được xác minh ngoài chữ ký số.
Ngoài các nhiệm vụ đã được vạch ra, các cơ sở chứng nhận phải duy trì hoạt
động theo thời gian. Trong hợp đồng điện tử, điều quan trọng là phải đảm bảo rằng
các phần của cuộc đàm phán được ghi rõ thời gian. Trong những trường hợp như vậy,
cơ sở chứng nhận đóng vai tr€ là bên thứ ba đáng tin cậy trong việc xác nhận tính hợp
lệ của các dấu thời gian này. Thủ tục đóng dấu thời gian phải đảm bảo an toàn rằng có
sẵn một phiên bản cụ thể của tài liệu tại một thời điểm cụ thể. Khi có thời hạn, hoạt
động đóng dấu thời gian là không thể tránh khỏi.
Cơ sở chứng nhận cũng có thể (theo yêu cầu) cho phép sử dụng cái gọi là bút
danh thay vì tên trong chứng chỉ. Như vậy, chủ sở hữu chữ ký số không phải tiết lộ
danh tính của mình cho thị trường điện tử. Điều này được pháp luật cho phép vì người 17
nộp đơn được biết đến tên ở địa điểm chứng nhận. Bút danh có thể hữu ích cho các
công ty hoặc cơ quan có thẩm quyền lớn hơn. Vì chữ ký số chỉ có thể được áp dụng
bởi người thật nên bút danh của doanh nghiệp có chức năng tương tự như “thay mặt”
hoặc “với tư cách là người đại diện”. Chủ sở hữu khóa chữ ký có bút danh được bảo
vệ dữ liệu hợp pháp. Danh tính của chủ sở hữu khóa chỉ được thông báo khi cần thiết
để theo dõi tội phạm hình sự và trong trường hợp khẩn cấp vì an toàn công cộng.
Fig. 5.5: Contents of a certificate that complies with the X.509 standard
5.3.4. Xác minh chứng thực điện tử
● Thỏa thuận quốc tế về chữ ký điện tử giữa các quốc gia: Chấp nhận văn bản
điện tử có giá trị pháp lý và xác lập những điều cơ bản để chứng thực
● Hạ tầng cơ sở của khóa công khai (PKI): Yếu tố hạ tầng để phát hành chứng
thực và chữ ký điện tử
● Lưu danh chứng thực: Kỹ thuật đóng dấu thời gian tinh vi đã được thiết kế và
áp dụng để cấp phép chứng thực điện tử; ngừng lưu hành các chứng thực điện
tử bị mất khóa hoặc bị nghi ngờ sử dụng chứng thực sai mục đích
Các quốc gia khác nhau đã thông qua luật chữ ký quốc gia (xem Phần 5.5 về
các khía cạnh pháp lý) và cũng có một số hiệp định quốc tế (ví dụ: đối với Châu Âu).
Mục đích của các luật và nghị định này là công nhận tài liệu điện tử là hàng hóa hợp
pháp và thiết lập các điều kiện cơ bản mà các cơ sở chứng nhận phải tuân thủ. Kết nối
với điều này là PKI (cơ sở hạ tầng khóa công khai), là cơ sở hạ tầng cần thiết để phân
bổ chữ ký số và chứng chỉ số. Điều gì xảy ra nếu hai đối tác kinh doanh có địa điểm
chứng nhận khác nhau muốn tạo thỏa thuận điện tử với nhau? Một ví dụ về điều này
được đưa ra trong Hình 5.6: Anton Miller từ Thụy Sĩ được đăng ký tại quốc gia của
anh ấy với trang chứng nhận Verify (một trung tâm ủy thác hư cấu ở Thụy Sĩ). Đối tác
kinh doanh của ông, Pete Shaw đến từ New Zealand, có chứng chỉ từ trung tâm ủy
thác SignOn (một trung tâm ủy thác hư cấu ở New Zealand). Mỗi trang web chứng
nhận này có thể xác minh chứng chỉ của những người tham gia. Sau đó ai st xác minh 18
hai trang web chứng nhận Verify và SignOn? Nếu hai trung tâm tin cậy không trực
tiếp nhận ra nhau thì có thể tìm kiếm một chuỗi xác minh lẫn nhau thông qua các
trung tâm tin cậy khác. Nếu chuỗi xác minh này có thể được đóng lại thông qua sự
công nhận lẫn nhau của các trung tâm ủy thác khác thì hai đối tác kinh doanh Anton
Miller và Pete Shaw có thể hoàn tất hoạt động kinh doanh điện tử với nhau một cách
an toàn và đáng tin cậy. Nếu không, hai trung tâm tin cậy Verify và SignOn st phải
thiết lập mối quan hệ kinh doanh theo hợp đồng trực tiếp hoặc gián tiếp và hai đối tác
kinh doanh st phải đồng ý về việc yêu cầu trung tâm tin cậy nào để bảo đảm mối quan hệ của họ.
Fig. 5.6: Cross-national verification of certificates
Nếu khóa của người tham gia bị mất hoặc nghi ngờ sử dụng sai thì phải thiết
lập các biện pháp ph€ng ngừa đối với việc chặn các chứng chỉ tương ứng. Cái gọi là
danh sách dừng (danh sách thu hồi chứng chỉ) được sử dụng để thông báo rằng các
khoá công khai cụ thể không hợp lệ. Tuy nhiên, có thể xảy ra sự chậm trễ cho đến khi
những người tham gia thị trường điện tử gặp phải tình trạng tắc nghtn khóa công khai.
Vì lý do này, cũng có các loại chứng chỉ khác được cho là để tăng tính bảo mật.
Chứng chỉ tức thì được tạo bất cứ khi nào khoá công khai của đối tác kinh doanh được
sử dụng. Mặc dù điều này có thể có nghĩa là có rất nhiều công việc đối với một cơ sở
chứng nhận có hoạt động kinh doanh thường xuyên, tuy nhiên vẫn phải tạo ra vô số chứng chỉ tức thời.
Các giải pháp cho phép truy vấn trực tuyến về tính chính xác của chứng chỉ đã
được phát triển. Do các chứng chỉ không có giá trị nếu không có dấu thời gian hợp lệ
và chính xác nên các thủ tục ghi dấu thời gian phức tạp đã được phát triển và triển
khai, đặc biệt là đối với việc cấp chứng chỉ.
MỞ RỘNG: PUBLIC KEY CRYPTOGRAPHY (MẬT MÃ KHÓA CÔNG KHAI) 19
Mật mã khóa công khai (c€n gọi là mật mã bất đối xứng) giải quyết vấn đề trao
đổi khoá. Trong phương pháp này, hai khoá kỹ thuật số được sử dụng: Khóa bí mật và khóa công khai.
Khoá bí mật được chủ sở hữu giữ bí mật và khóa công khai được phổ biến rộng
rãi. Cả hai khóa đều có thể được sử dụng để mã hoá và giải mã tin nhắn. Tuy nhiên,
một khi các khoá được sử dụng để mã hoá tin nhắn thì không thể sử dụng chính khoá
đó để giải mã tin nhắn.
Public Key Cryptography Using Digital Signatures and Hash Digests (Mật
mã khóa công khai sử dụng chữ ký số và Thông báo băm)
Trong mật mã khóa công khai, một số thành phần bảo mật bị thiếu. Mặc dù có
thể khá chắc chắn rằng bên thứ ba không hiểu hoặc đọc tin nhắn (tính bảo mật của tin
nhắn), nhưng không có gì đảm bảo người gửi thực sự là người gửi; nghĩa là, không có
xác thực người gửi. Điều này có nghĩa là người gửi có thể từ chối việc gửi tin nhắn.
Và không có gì đảm bảo rằng tin nhắn không bị thay đổi bằng cách nào đó trong quá
trình vận chuyển (transit).
Ví dụ, the message “Buy Cisco @ $16” có thể bị thay đổi một cách vô tình
hoặc cố ý thành “Sell Cisco @ $16”. Điều này cho thấy khả năng thiếu tính toàn vẹn trong hệ thống.
So sánh Public Key Cryptography - A Simple Case & Public Key
Cryptography With Digital Signatures 20
Nguồn: Technology for Ecommerce. pdf
- Bước 1: Người gửi tạo một tin nhắn kỹ thuật số
Tin nhắn có thể là tài liệu, bảng tính, hoặc bất kỳ đối tượng kỹ thuật số nào.
- Bước 2: Người gửi lấy khóa công khai của người nhận từ thư mục chung và áp dụng cho tin nhắn
Khoá công khai được phân phối rộng rãi và có thể lấy trực tiếp từ người nhận.
- Bước 3: Ứng dụng khoá của người nhận tạo ra một văn bản được mã hoá tin nhắn
Sau khi được mã hoá bằng khoá công khai, tin nhắn không thể được thiết kế
ngược hoặc không được mã hoá bằng cùng một khoá công khai. Quá trình này
là không thể đảo ngược. 21