Bài tập nhóm Ngoại giao kinh tế và văn hóa | Học viện báo chí và tuyên truyền

Ở hầu hết các nước kể cả phát triển và đang phát triển, nhiều cơ quan tham gia vào  công tác kinh tế đối ngoại, do vậy, việc phối hợp và quản lý thống nhất KTDN là vấn đề tương đối phức tạp. Đặc biệt, Nhật Bản có sự cạnh tranh giữa Bộ Thương mại và Công nghiệp (METI) và Bộ Ngoại giao. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!

Thông tin:
18 trang 1 tuần trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Bài tập nhóm Ngoại giao kinh tế và văn hóa | Học viện báo chí và tuyên truyền

Ở hầu hết các nước kể cả phát triển và đang phát triển, nhiều cơ quan tham gia vào  công tác kinh tế đối ngoại, do vậy, việc phối hợp và quản lý thống nhất KTDN là vấn đề tương đối phức tạp. Đặc biệt, Nhật Bản có sự cạnh tranh giữa Bộ Thương mại và Công nghiệp (METI) và Bộ Ngoại giao. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!

58 29 lượt tải Tải xuống
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA QUAN HỆ QUỐC TẾ
BÀI TẬP NHÓM
TÌM HIỂU ỆM NGOẠI GIAO KINH TẾ CKINH NGHI ỦA
NHẬT BẢN, THÁI LAN VÀ MỘT SỐ NƯỚC ASEAN.
MÔN: OẠI GIAO KINH TẾ VÀ VĂN HNG ÓA
LỚP TÍN CHỈ: QT02602_K42_2.
GIẢNG VIÊN: ỄN THỊ THU HÀ NGUY
NHÓM SINH VIÊN THỰC HIỆN:
Phạm Lan Phương: 225107004 (nhóm trưởng)5
Bùi Phượng Anh: 2251070003 Nguyễn Thị Thanh Huyền: 2251070025
Nguyễn Thùy Dương: 2251070015 Hoàng Thị Thùy Linh: 2251070029
Trịnh Minh Hòa: 2251070020 Hoàng Đức Tùng: 2251070056
Vy Thế Hùng: 2251070024
MỤC LỤC
I. NHẬT BẢN .......................................................................................................... 3
1. Về bộ máy tổ chức. ............................................................................................. 3
2. Mục tiêu ngoại giao kinh tế của Nhật Bản ........................................................... 3
3. Ngoại giao kinh tế của Nhật Bản. ........................................................................ 4
II. THÁI LAN ........................................................................................................ 7
1. Tổng quan nền kinh tế Thái Lan ......................................................................... 7
2. Mục tiêu và chiến lược ngoại giao kinh tế ............................................................ 7
a) Chiến lược ngoại giao kinh tế ......................................................................... 7
b) Mục tiêu của ngoại giao kinh tế ...................................................................... 8
3. Thành tựu và hạn chế trong thực tế ngoại giao kinh tế của Thái Lan .................... 8
a) Thành tựu ...................................................................................................... 8
b) Hạn chế ......................................................................................................... 9
III. MỘT SỐ NƯỚC ASEAN ................................................................................ 10
1. Singapore ........................................................................................................ 10
a) Kinh tế Singapore và một số chính sách ngoại giao kinh tế qua từng giai đoạn:
10
b) Cơ cấu tổ chức và quan điểm ngoại giao kinh tế của Singapore ..................... 11
c) Chính sách ngoại giao kinh tế ....................................................................... 12
d) Hoạt động ngoại giao kinh tế nổi bật của Singapore: ..................................... 13
2. Indonesia ......................................................................................................... 14
a) Khái quát về nền kinh tế .............................................................................. 14
b) Mục tiêu và chiến lược, hoạt động ngoại giao kinh tế của Indo ...................... 14
c) Kinh nghiệm ngoại giao kinh tế của Indo ...................................................... 15
I. NHẬT BẢN
1. Về bộ máy tổ chức.
Ở hầu hết các nước kể cả phát triểnđang phát triển, nhiều cơ quan tham gia
vào công tác kinh tế đối ngoại, do vậy, việc phối hợp quản thống nhất KTDN
vấn đề tương đối phức tạp. Đặc biệt, Nhật Bản sự cạnh tranh giữa Bộ Thương mại
và Công nghiệp (METI) và Bộ Ngoại giao.
2. Mục tiêu ngoại giao kinh tế của Nhật Bản
Nhiệm vụ: Sử dụng các thế mạnh tổng hợp, để hoạch định và thực hiện chính sách đối
ngoại, nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
- Thúc đẩy tự do thương mại khu vực và toàn cầu;
- Bảo đảm các nguồn cung tài nguyên, năng lượng và lương thực ổn định lâu dài;
- Đẩy mạnh xúc tiến trên phạm vi toàn cầu việc phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng
mà Nhật có thể cung cấp, trong đó trọng tâm là các nền kinh tế đang nổi;
- Xúc tiến du lịch, gắn kết chặt chẽ với thu hút đầu tư.
Vai trò của quan đại diện Ngoại giao Nhật Bản trong việc thực hiện chính
sách ngoại giao kinh tế:
Bộ Ngoại giao Nhật Bản có nhiệm vụ chủ yếu trong việc xây dựng hệ thống luật
quốc tế môi trường quốc tế thuận lợi, đảm bảo lợi ích quốc gia tổng thể. Đây nhiệm
vụ mà không có một cơ quan nào khác có khả năng đảm nhiệm.
Có sự phân công rất rõ ràng giữa Bộ Ngoại giao và METI cùng như các cơ quan
trực thuộc. Hoạt động thúc đẩy lợi ích kinh tế của Nhật Bản được thực hiện trên nguyên
tắc phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan liên quan, với khẩu hiệu “All - Japan”.
Đại sứ quán Nhật Bản chủ yếu tập trung hỗ trợ Chính phủ thực hiện các chính
sách lớn, không thực hiện các hoạt động thúc đẩy đầu tư, thương mại thông thường,
cũng như hỗ trợ doanh nghiệp cụ thế. Công việc này do JETRO chịu trách nhiệm.
JETRO có văn phòng riêng tại rất nhiều nước trên thế giới và trực thuộc METI.
Với vai trò trên, Cơ quan đại diện của Nhật Bản triển khai 4 nhiệm vụ chính
như sau:
Thúc đẩy du lịch: Các Đại sứ quán phối hợp với Cơ quan du lịch Nhật Bản triển
khai các hoạt động quảng bá du lịch. Website của các Đại sứ quán Nhật Bản thường có
mục riêng, với thông tin phong phú về đất nước, con người và văn hóa Nhật Bản.
Trong việc xây dựng EFAs và FTAs: Vai trò của Cơ quan đại diện không nhiều,
chủ yếu tập trung vào thu thập thông tin, đóng vai trò kênh thông tin giữa Nhật Bản và
nước chủ nhà. Vai trò xây dựng chính sách, chiến lược đàm phán do các quan tai
Trung ương chịu trách nhiệm.
Thúc đẩy xuất khẩu công nghệ xây dựng hạ tầng cơ sở: Cơ quan đại diện có vai
trò quan trọng trong việc hỗ trợ chính phủ đạt được các hợp đồng lớn về lĩnh vực này.
ODA cũng được sử dụng như một công cụ, để vận động thuyết phục nước nhân. Để làm
tốt hơn nữa nhiệm vụ này, Bộ Ngoại giao Nhật Bản đã bổ sung thêm vị trí Trợ đặc
biệt cho các dự án cơ sở hạ tầng, tăng cường dịch vụ tài chính các hình thức hỗ trợ
khác của các tổ chức chính phủ cho các công ty Nhật Bản.
Nhiệm vụ tạo nguồn cung ứng lương thực, ng lượng khoáng sản ổn định:
các Cơ quan đại diện có nhiệm vụ cung cấp thông tin, hỗ trợ thực hiện hợp tác với các
quốc gia liên quan, thông qua việc phục vụ các chuyến thăm cấp cao. Để đảm bảo nguồn
cung ứng đất hiếm và các khoáng sản khác, Nhật Bản đã tăng cường hợp tác với những
nước có nguồn tài nguyên dồi dào ( ỹ, ông Cổ, Việt Nam, Ấn ĐộM Úc, M , Kazastan).
3. Ngoại giao kinh tế của Nhật Bản.
Là một nước bại trận sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, khả năng quân sự Nhật
Bản gần như về con số không. Sau đó, nhờ mối liên hệ đồng minh với Mỹ, Nhật Bản
được bảo trợ về mặt an ninh và chỉ còn tập trung phát triển kinh tế. Chỉ trong vòng hai
thập niên, Nhật Bản đã tạo nên sự và trở thành“thần kỳ Nhật bản” “đế quốc kinh tế”.
Một mặt, Nhật Bản tấn công vào hầu khắp các thị trường trên thế giới. Buộc các
nền kinh tế khác vào mối liên kết chặt chẽ với Nhật bản và nhờ vậy trở thành một quốc
gia được tôn trọng và nể sợ. Nhật bản bắt đầu đem ODA tới các nước đang Mặt khác,
phát triển hoặc kém phát triển và trở thành ân nhân của họ.
Nhờ chính ch ngoại giao kinh tế khôn ngoan này, không cần đến thực lực
quân sự, Nhật Bản vẫn gây được ảnh hưởng tới các khu vực trên thế giới. Đây chính
việc sử dụng quyền lực mềm của Nhật Bản, coi đó như nền tảng của đường lối ngoại và
an ninh quốc gia của Nhật Bản.
Thực tế để đáp ứng mục tiêu chiến lược phát triển nói chung cũng như chiến lược
kinh tế nói riêng của đất nước, Nhật Bản đã chủ động xây dựng kế hoạch điều chỉnh
sách ngoại giao kinh tế thông qua điều chỉnh Hiến chương ODA năm 1992. Tháng
1-2003, Ban điều chỉnh Hiến chương ODA chính thức được thành lập, đánh dấu sự
thay đổi trong tầm nhìn và chiến lược ngoại giao kinh tế của Nhật Bản trước những
thách thức to lớn, diễn biến phức tạp của tình hình thế giới những năm đầu kỷ XXI. So
với Hiến chương ODA năm 1992, Hiến chương ODAm 2003 đề cập đến các chính
sách bản, các lĩnh vực được ưu tiên hỗ trợ nguồn vốn ODA theo hướng tập trung
nhiều vào các vấn đề nhân văn các mục tiêu hướng đến sự phát triển ổn định, bền
vững, xây dựng hòa bình và an ninh khu vực.
Từ năm 1994 đến 2004, Nhật Bản đã đảm nhận gần ⅕ tổng khối lượng ODA thế
giới. Năm 2008, Nhật Bản đóng góp 9,699 tUSD ODA. Trong kế hoạch ngân sách
cho năm tài chính 2023, chính phủ dành ngân sách ODA cho Bộ Ngoại giao mức
442,8 tỷ yên, bằng mức năm tài chính trước. Con số này chỉ bằng một nửa so với mức
cao nhất của năm tài khóa 1997 là 1.168 tỷ yên.
Khu vực Đông Nam Á khu vực trọng điểm trong chính sách thực hiện -
ngoại giao kinh tế
Từ 2005, Nhật Bản và ASEAN kết hiệp định liên kết kinh tế toàn diện Nhật
Bản goài việc cung cấp vốn để giúp ASEAN đào tạo nguồn nhân - Asean (AJCEP). N
lực phát triển khu vực sông Mê Công, tăng cường hơn nữa vốn FDI sang các nước tiểu
vùng Nhật Bản còn rất chú trọng ưu tiên cung cấp ODA cho tam giác phát triển VN -
Lào - Campuchia.
Hiện nay, đầu FDI của Nhật Bản vào ASEAN lớn thứ trong số các nước
đối tác của khối; năm 2021, đạt 12 tỷ USD, tăng 3,5% so với năm 2020. Riêng trong
năm 2022, 12% tổng vốn FDI của Nhật Bản chảy vào các ớc ASEAN. Về thương
mại, tổng giá trị xuất nhập khẩu của Nhật Bản với ASEAN tăng 11,6% năm 2022. Ngoài
quan hệ kinh tế, Nhật Bản còn đóng vai trò quan trọng trong hợp tác tài chính với các
nước trong khối.
Nhật Bản coi việc tạo mối quan hệ tốt với c nước ĐNA vấn đề quan trọng
hàng đầu để bảo đảm an ninh đất nước trong bối cảnh Trung Quốc đang gia tăng ảnh
hưởng khu vực. Thực tế, năm 2010 Trung Quốc đã vượt mặt Nhật Bản trở thành
cường quốc có nền kinh tế thứ hai thế giới tháng 3 2022, ODA của Nhật Bản dành -
cho Trung Quốc đã chấm dứt hoàn toàn, sau gần 45 năm triển khai (từ tháng 12-1979,
sau chuyến thăm của thủ tướng Masayoshi Ohira đến Bắc Kinh).
Tất cả những nh động trên, đã góp phần đưa Nhật Bản trở thành nhà tài
trợ “hảo tâm” nhất đối với nhiều quốc gia trong khu vực Đông Nam Á.
Khu vực Châu Phi.
Bên cạnh châu Á, Nhật Bản đã đầu tư tổng cộng 35,6 tỷ USD vào "Lục địa Đen"
trong giai đoạn 2016 2018, vượt qua chỉ tiêu 30 tỷ USD mà chính phủ nước này đặt ra -
tại Hội nghị quốc tế Tokyo về phát triển châu Phi lần thứ 6 (TICAD) tổ chức tại thủ đô
Nairobi của Kenya năm 2016.
Nhiều người thường nghĩ châu Phi mảnh đất gắn liền với nghèo đói, bất ổn
nhưng ít ai biết được rằng, lục địa này lại đang là một điểm đến được nhiều cường quốc
nhắm tới. Châu Phi 55 quốc gia với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ước tính đạt
2.500 tỷ USD với những nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú. Châu Phi hiện sở
hữu 75% quặng coltan một nguyên liệu vô cùng giá trị dùng trong ngành công nghiệp -
sản xuất thiết bị điện tử. 50% lượng vàng, 35% lượng uranium của thế giới cũng có thể
được tìm thấy tại châu lục này. (Theo số liệu VTV 2019). vậy Nhật Bản cũng gặp
nhiều trở ngại, áp lực cạnh tranh từ Trung Quốc, Mỹ Liên minh Châu Âu khi cùng
nhau tăng cường đầu tư vào khu vực.
Khu vực Trung Đông.
Nhật Bản coi các nước khu vực Trung Ðông là đối tác quan trọng về kinh tế.
GCC Nhật Bản đã kết thỏa thuận nối lại đàm phán về Hiệp định thương mại tự
do (FTA) hồi tháng 7 vừa qua, khi hai bên tái khẳng định tầm quan trọng của hợp tác
chặt chẽ nhằm tăng cường quan hệ kinh tế giữa các nước vùng Vịnh và Nhật Bản. Thỏa
thuận được ký bên lề cuộc gặp giữa Tổng Thư ký GCC Jassim Mohammed Al-Budaiwi
(G.M.An Bu- -đai uy) và Thủ tướng Nhật Bản Kishida Fumio (Ki đa Phư ô) trong -si- - -mi
chuyến thăm của nhà lãnh đạo Nhật Bản tới thành phố Jeddah của Saudi Arabia.
Thúc đẩy quan hệ với các quốc gia Trung Ðông sẽ giúp đất nước Nhật Bản vốn
ít tài nguyên có sự bảo đảm nguồn cung năng lượng ổn định. Trong khi đó, nhiều nước
trong khu vực này muốn tăng ờng hợp tác kinh tế thương mại với Nhật Bản nhằm
thúc đẩy nỗ lực giảm phụ thuộc nguồn thu vào dầu mỏ và đa dạng hóa nền kinh tế, do
giá dầu thể giảm trong tương lai trong bối cảnh thế giới thúc đẩy xu hướng giảm
carbon.
Mặc dù đã có những định hướng chính sách ngoại giao kinh tế linh hoạt và khôn
khéo, tuy nhiên nền kinh tế Nhật Bản hiện đã tụt xuống vị trí thứ thế giới sau Đức,
khi họ phải trải qua tình trạng suy thoái quý cuối năm 2023. Tuy nhiên, Nhật Bản
đang tiến xa hơn trong quá trình suy thoái nhân khẩu học. Cụ thể, trong khi Đức đang
phải đối mặt với nguồn cung lao động thu hẹp, xu hướng này rõ ràng hơn ở Nhật Bản,
nơi dân số đã giảm liên tục kể từ khoảng năm 2010. Điều đó dẫn đến tình trạng thiếu
lao động kinh nghiệm tình hình dự kiến sẽ trở nên tồi tệ hơn do tỷ lệ sinh vẫn
thấp.
Ngược lại, nền kinh tế Ấn Độ có triển vọng vượt qua cả hai nền kinh tế này trong
vài năm tới. Theo số liệu của IMF, nền kinh tế Ấn Độ dự kiến sẽ vượt Nhật Bản vào
năm 2026 và Đức vào năm 2027. Dân số Ấn Độ cũng đã vượt qua Trung Quốc vào năm
ngoái và quốc gia này dự kiến sẽ duy trì mức tăng trưởng trong nhiều thập kỷ tới.
Việc đồng yên Nhật trở nên yếu hơn là yếu tố chính dẫn đến việc Nhật Bản tụt
xuống vị trí thứ tư, vì việc so sánh chỉ số GDP danh nghĩa được tính bằng đồng đô la.
Tuy nhiên, các nhà kinh tế cho biết, số liệu này của Nhật Bản cũng phản ánh sự suy
giảm dân số, năng suất và khả năng cạnh tranh tụt hậu.
Nhật Bản từng được ca ngợi là “một phép màu kinh tế”, họ từng trỗi dậy từ đống
tro tàn của Thế chiến thứ hai để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai sau Mỹ. Nhưng trong
30 năm qua, nền kinh tế Nhật đôi khi chỉ tăng trưởng ở mức vừa phải, sau sự kiện bong
bóng tài chính vào năm 1990.
Một vài biện pháp khắc phục tình trạng này đó chính tiếp tục thúc đẩy hoạt
động ngoại giao kinh tế với các khu vực trọng điểm như các nước khu vực Đông Nam
Á,... mở cửa với thị trường lao động nước ngoài giảm áp lực trước sự thiếu lao động
của thị trường trong nước……
II. THÁI LAN
1. Tổng quan nền kinh tế Thái Lan
Dữ liệu của Ủy ban Đầu Thái Lan (BOI) cho thấy vốn đầu trực tiếp nước
ngoài (FDI) vào nước này 663,2 tỷ baht (18,5 tỷ USD) tăng 72%. Trung Quốc quốc
gia đứng đầu về giá trị vốn đầu vào Thái Lan với hơn 159 tỷ baht (4,5 tỷ USD), chiếm
gần 25%.
Kinh tế Thái Lan một nền kinh tế thị trường công nghiệp mới phụ thuộc lớn
vào du lịch và xuất khẩu với kim ngạch xuất khẩu chiếm khoảng 60% GDP. Đây là nền
kinh tế lớn thứ 2 trong khu vực ASEAN (chỉ sau Indo), xếp hạng 25 toàn cầu theo GDP
danh nghĩa, xếp thứ 21 thế giới xét theo sức mua tương đương, đứng thứ 28 trên thế
giới về tổng giá trị thương hiệu quốc gia (2020). Thị trường lớn, nhu cầu nội địa cao,
phát triển nhanh.
2. Mục tiêu và chiến lược ngoại giao kinh tế
a) Chiến lược ngoại giao kinh tế
Ngoại giao kinh tế Thái Lan được triển khai, thông qua việc Bộ Ngoại giao hỗ
trợ bộ Thương mại và các Bộ, ngành kinh tế khác thâm nhập vào thị trường bên ngoài,
thu hút đầu tư, tìm kiếm các nguồn công nghệ mới và thu hút du lịch.
Trong nỗ lực đẩy mạnh chiến lược ngoại giao kinh tế nhằm thúc đẩy sự thịnh
vượng của nền kinh tế, Bộ Ngoại giao Thái Lan đang có kế hoạch yêu cầu các đại diện
ngoại giao của nước này trên khắp thế giới tăng cường kêu gọi đầu tư nước ngoài vào
các dự án trong nước.
Phát biểu tại sự kiện có tên gọi “Bước tiếp theo của Thái Lan 2024: Sự Thịnh
vượng Bền vững tiếp theo”, Phó Thủ ớng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Thái Lan
Parnpree Bahiddha-Nukara nói rằng Chính phủ Thái Lan đang sử dụng chiến ợc
“ngoại giao kinh tế” để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và gia tăng niềm tin của các nhà
đầu tư trên khắp thế giới. Bởi vậy, Bộ Ngoại giao Thái Lan chuẩn bị mời tất cả các đại
sứ, đại diện ngoại giao của nước này trên khắp thế giới về dự một cuộc họp tại thủ đô
Bangkok nhằm thảo luận về việc làm thế nào sử dụng ngoại giao kinh tế để thu hút các
nhà đầunước ngoài. Ông Parnpree nói rằng, hướng phát triển mới của Thái Lan sẽ
phụ thuộc vào bối cảnh toàn cầu, nơi các cường quốc đang cạnh tranh về ảnh hưởng
chính trị, kinh tế và công nghệ. Điều này đã mang lại cho Thái Lan cơ hội để thể hiện
lập trường của mình trong bối cảnh xung đột kinh tế toàn cầu. Chính phủ Thái Lan cũng
sẽ tận dụng ngoại giao kinh tế để tìm kiếm các cơ hội kinh tế số và phát triển các doanh
nhân kinh doanh thế hệ mới và quảng bá đầu tư của Thái Lan ở nước ngoài.
b) Mục tiêu của ngoại giao kinh tế
- Tăng trưởng kinh tế
- Tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế đất nước
- Mở rộng nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế thương mại đầu với nước
ngoài
- Phục vụ thiết thực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Đa dạng hóa nền kinh tế: Thái Lan mục tiêu phát triển đa dạng hóa nền
kinh tế để giảm sự phụ thuộc vào ngành công nghiệp chế biến du lịch. Việc phát triển
các ngành công nghiệp mới, như công nghệ thông tin, năng lượng tái tạo, khoa học và
công nghệ, có thể giúp hoàn thành được “Thái Lan 4.0” thu hút đầu tư nước ngoài.
Mở rộng thị trường xuất khẩu: Thái Lan tập trung vào việc mở rộng thị trường
xuất khẩu tăng cường quan hệ thương mại với các nền kinh tế khác trên toàn cầu.
Điều này thể đảm bảo sự đa dạng hóa các nguồn lực xuất khẩu và giúp giảm rủi ro
trong việc phụ thuộc vào một số thị trường chính.
Thu hút đầu nước ngoài: Thái Lan tiếp tục tăng cường nỗ lực thu hút đầu
nước ngoài, đặc biệt trong các lĩnh vực tiềm năng phát triển cao như công nghệ,
đổi mới, năng lượng tái tạo hạ tầng. Điều này thể giúp thúc đẩy sự tăng trưởng
kinh tế và cung cấp cơ hội việc làm cho người dân.
Hội nhập kinh tế quốc tế: Thái Lan tiếp tục tham gia tích cực vào các hiệp định
thương mại quốc tế tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế với các đối tác trong khu vực
và thế giới. Điều này có thể giúp Thái Lan tiếp cận các thị trường mới, tăng cường xuất
khẩu và mở rộng cơ hội kinh doanh.
3. Thành tựu hạn chế trong thực tế ngoại giao kinh tế của Thái
Lan
a) Thành tựu
Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện khu vực (RCEP): Thái Lan đã gia nhập Hiệp
định Đối tác Kinh tế Toàn diện khu vực (RCEP) vào năm 2020. hiệp định thương
mại lớn nhất thế giới, RCEP có 15 quốc gia thành viên tạo ra một thị trường tiềm
năng lớn với hơn 2,2 tỷ dân GDP hợp đồng ấn định khoảng 26,2 nghìn tỷ USD. Tham
gia RCEP giúp Thái Lan mở rộng thị trường xuất khẩu và tăng cường quan hệ kinh tế
với các đối tác khu vực, đồng thời thu hút đầu tư nước ngoài.
Nâng cấp quan hệ với Trung Quốc: Thái Lan đã tăng cường quan hệ kinh tế với
Trung Quốc trong những năm gần đây. Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của
Thái Lan và hai nước đã thúc đẩy việc ký kết nhiều hiệp định thương mại và đầu tư, bao
gồm Hiệp định Khu vực Thương mại Tự do Trung Đông Nam Á (FTA), cung cấp lợi -
ích thương mại và đẩy mạnh liên kết kinh tế giữa hai quốc gia.
Đổi mới công nghiệp và công nghệ: Thái Lan đã tập trung vào việc đổi mới công
nghiệp và công nghệ để nâng cao năng suất và cạnh tranh kinh tế. Quốc gia này đã tạo
ra các khu công nghiệp thông minh (Smart Industrial Estates) khu phát triển công
nghệ cao (Science and Technology Parks) nhằm thu hút đầu nâng cao năng lực
sản xuất. Thái Lan cũng đẩy mạnh chính sách khuyến khích khởi nghiệp đổi mới
sáng tạo để thúc đẩy sự phát triển kinh tế dựa trên tri thức.
Phát triển nguồn nhân lực: Thái Lan đã đầu vào giáo dục đào tạo nhằm
phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế hiện
đại. Quốc gia này đã tăng ờng hợp tác với các đối c quốc tế để cung cấp chương
trình đào tạo chất lượng cao phát triển các ngành công nghiệp chủ chốt như công
nghệ thông tin, kỹ thuật, du lịch và nông nghiệp.
Phát triển du lịch: Du lịch một ngành kinh tế quan trọng của Thái Lan và quốc
gia này đã đạt được nhiều thành tựu trong việc thu hút du khách quốc tế. Thái Lan đã
triển khai các biện pháp thúc đẩy du lịch bền vững và đa dạng hóa nguồn khách du lịch
bằng cách mở rộng thị trường đến các quốc gia mới, đồng thời tạo ra các chính sách
khuyến khích đầu tư vào ngành du lịch và cải thiện cơ sở hạ tầng du lịch. Thành tựu này
đã giúp Thái Lan trở thành một trong những điểm đến du lịch hàng đầu khu vực Đông
Nam Á.
b) Hạn chế
Sự phụ thuộc vào ngành du lịch: Thái Lan đã phụ thuộc quá mức vào ngành du
lịch trong việc tăng trưởng kinh tế thu hút đầu nước ngoài. Điều này khiến Thái
Lan trở nên nhạy cảm đối với biến động trong ngành du lịch, như các cuộc khủng hoảng
kinh tế toàn cầu hoặc các tình hình xấu trong nước. Việc tăng cường đa dạng hóa nguồn
lực kinh tế và mở rộng các ngành công nghiệp khác một thách thức đối với Thái Lan.
Sự bất ổn chính trị: Thái Lan đã trải qua nhiều biến động chính trị trong thập kỷ
qua, với các cuộc đảo chính bất ổn chính trị. Sự bất ổn chính trị thể ảnh hưởng
đến môi trường kinh doanh và đầu trong nước, gây ra sự không chắc chắn và rủi ro
cho các đối tác quốc tế. Điều này có thể hạn chế khả năng thu hút đầu tư nước ngoài và
thiếu sự tin tưởng từ các đối tác kinh doanh quốc tế.
Cạnh tranh với các nền kinh tế khác trong khu vực: Thái Lan đang phải đối mặt
với sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các nền kinh tế khác trong khu vực, như Việt Nam,
Indonesia và Malaysia. Các quốc gia này đã thúc đẩy nhanh chóng công nghiệp và dịch
vụ của mình, cung cấp môi trường kinh doanh thuận lợi thu hút đầu nước ngoài.
Điều này đặt Thái Lan trong tình thế phải cạnh tranh để thu hút đầu tư và giữ chân các
doanh nghiệp quốc tế.
Thách thức về hạ tầng và đổi mới công nghệ: Mặc dù Thái Lan đã có sự tiến bộ
về hạ tầng, nhưng vẫn còn tồn tại nhiều thách thức như giao thông ùn tắc và hạ tầng kỹ
thuật số chưa phát triển đầy đủ. Đồng thời, việc đổi mới công nghệ và sự chuyển đổi kỹ
thuật số cũng đòi hỏi đầu tư và nỗ lực từ phía Thái Lan. Việc cải thiện hạ tầng và nâng
cao năng lực đổi mới công nghệ là một yếu tố quan trọng để tăng cường cạnh tranh kinh
tế của Thái Lan.
III. MỘT SỐ NƯỚC ASEAN
1. Singapore
Singapore quốc gia nền kinh tế thị trường tự do với mức độ phát triển
cao và được xếp hạng là nền kinh tế mở nhất thế giới. Đồng thời, Singapore được coi
là nước đi đầu trong việc chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức.
a) Kinh tế Singapore và một số chính sách ngoại giao kinh tế qua từng giai
đoạn:
Giai đoạn từ năm 1965 1978 (mới độc lập): - Tiến hành công nghiệp hóa
hướng ra xuất khẩu nhằm vươn tới thị trường rộng lớn ở nước ngoài với các hoạt động
tham gia vào hội nhập quốc tế sâu rộng => Singapore chủ động thực hiện chính sách
ngoại giao kinh tế theo hướng hội nhập quốc tế, tập trung thu hút đầu nước
ngoài
Giai đoạn 1979-1990: Singapore thực hiện cuộc cách mạng ng nghiệp lần
thứ 2, đẩy mạnh nền công nghiệp phát triển theo hướng tập trung vốn và kỹ thuật cao
đồng thời tiếp tục mở rộng mạng lưới quan hệ đối tác với các quốc gia châu Á và phát
triển các quan hệ thương mại mới.
Giai đoạn từ năm 1990 đến nay: Singapore định hình lại chiến lược ngoại
giao kinh tế để tập trung o việc phát triển các lĩnh vực tri thức, sáng tạo
công nghệ cao. Quốc gia này tập trung vào việc xây dựng quan hệ đối tác chiến lược
với các quốc gia tiên tiến, thúc đẩy hợp tác trong các ngành công nghiệp công nghệ
cao và nghiên cứu phát triển.
Cho đến thời điểm hiện tại, Singapore đã đang tích cực triển khai quan hệ
đối ngoại lấy ngoại giao kinh tế làm trọng điểm, tăng cường hợp tác kinh tế với các
nước các khu vực. Singapore tích cực tham dự hoạt động của nhiều tổ chức hợp
tác kinh tế khác nhau khu vực Châu Á Thái Bình Dương; tiến csự hình thành -
khu mậu dịch tự do ASEAN; coi trọng phát triển quan hệ kinh tế thương mại với các
nước và khu vực như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Malaysia,...
b) Cơ cấu tổ chức và quan điểm ngoại giao kinh tế của Singapore
Cơ cấu tổ chức:
cấu đối ngoại quản kinh tế đối ngoại của Singapore được tiến hành
thông qua việc ủy thác xúc tiến thương mại tự do cho các quan chuyên trách.
Bộ Ngoại giao (Ministry of Foreign Affairs) chính quan phụ trách về vấn đề
ngoại giao kinh tế của quốc gia với bộ phận phụ trách chính/quan trọng là Cục phát
triển kinh tế (EDB). Cơ quan Doanh nghiệp Quốc tế Singapore (IES, trước đây gọi là
Ban Phát triển Thương mại) cũng có vai trò tương tự trong việc thúc đẩy xuất khẩu
sản phẩm và dịch vụ cùng các phòng ban liên quan.
Ngoài Cục phát triển kinh tế, Bộ Ngoại giao Singapore còn 10 bộ phận khác
nhau nhằm phtrách những vấn đề kinh tế chính trị hỗ trợ về mặt ngoại giao -
kinh tế quốc gia.
Quan điểm ngoại giao kinh tế:
Quan điểm ngoại giao kinh tế của Singapore được thể hiện thông qua các
nguyên tắc và triết lý cốt lõi. Trên trang chủ chính thức của Bộ Ngoại giao Singapore,
có 4 trên 9 nguyên tắc cơ bản về chính sách đối ngoại của Singapore đề cập đến vấn
đề kinh tế đối ngoại:
- Singapore hoàn toàn cam kết với những chính sách và hoạt động của Hiệp hội
các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN);
- Singapore sẽ tiếp tục duy trì hệ thống thương mại đa phương và cởi mở;
- Singapore sẵn sàng giao dịch với tất cả các quốc gia vì lợi ích chung và duy t
nền kinh tế thị trường mở;
- Singapore sẽ hỗ trợ và hoạt động tích cực trong các tổ chức quốc tế.
Singapore là nước thành công nhất trong khu vực Đông Nam Á về thu hút vốn
đầu tư nước ngoài (FDI) có chất lượng. Những lý do cho sự thành công này:
- Không có sự phân biệt về vốn đầu tư trong nước hay nước ngoài, không có luật
riêng dành cho đầu tư nước ngoài sử dụng luật chung, trừ những trường hợp
đặc biệt theo quy định của pháp luật.
- Khuyến khích vốn đầu tư nước ngoài thông qua việc đặt ra mức thuế thấp và hệ
thống thuế đơn giản. Mức thuế doanh nghiệp tại Singapore là 17% nhưng đây
là mức thuế doanh nghiệp thấp nhất thế giới. Mức thuế thấp cùng với một vài
chính sách về kinh tế và tài chính đã biến Singapore thành nơi hấp dẫn cho đầu
tư kinh doanh thông qua hình thức liên danh.
c) Chính sách ngoại giao kinh tế
Trong lĩnh vực thương mại: Singapore theo đuổi chính sách thương mại tự do,
tạo điều kiện xuất khẩu hàng hóa và các dịch vụ hoạt động theo cơ chế thị trường.
- Khuyến khích xuất khẩu bằng miễn thuế, ưu đãi đối với tín dụng xuất khẩu, hỗ
trợ bằng việc bảo hiểm xuất khẩu
- Thi hành chính sách tự do hóa xuất khẩu, cho tới nay hầu như đã gỡ bỏ hoàn
toàn hàng rào thuế quan
- Tiếp tục khẳng định duy trì củng cố quan hệ hợp tác toàn diện với các đối
tác truyền thống như Mỹ, Nhật Bản, Australia và các thành viên ASEAN
Trong lĩnh vực đầu tư: Chú trọng tới việc thu hút các nguồn đầu tư thông qua
tạo lập một môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, hấp dẫn để phục vụ cho quá trình công
nghiệp hóa ở nước này, thay vì vay nợ nước ngoài. Từ năm 90, Singapore chủ động
tìm kiếm thị trường mới.
= > Singapore khẳng định khu vực châu Á đặc biệt là ASEAN là một trong những
đối tác đầu tư quan trọng của mình.
d) Hoạt động ngoại giao kinh tế nổi bật của Singapore:
Ngày 9/2/2023, cũng trong khuôn khổ chuyến của thăm Singapore, Thủ tướng
Phạm Minh Chính cùng Thủ ớng Singapore Hiển Long chứng kiến lễ trao đổi
Bản ghi nhớ giữa hai Chính phủ về việc thiết lập Quan hệ Đối tác kinh tế số kinh tế -
xanh giữa Việt Nam và Singapore được ký kết bởi Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Việt Nam Nguyễn Chí Dũng và Bộ trưởng thứ hai Bộ Công Thương kiêm Bộ trưởng
Bộ Lao động Singapore Tan See Leng.
Lĩnh vực kinh tế xanh, kinh tế số là một trong những thế mạnh của Singapore.
Trong hợp tác kinh tế xanh, năng lượng tái tạo lĩnh vực nhiều tiềm năng nhất
trong thời điểm hiện tại. Singapore là đảo quốc nhỏ, không lợi thế về các nguồn
năng lượng thay thế, nhưng lạithế mạnh về công nghệ kinh nghiệm. Còn Việt
Nam rất nhiều tiềm năng về năng lượng tái tạo, đặc biệt với trữ lượng điện gió
ngoài khơi của Việt Nam rất lớn trên 100 Gigiwat.
=> Việc thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực này sẽ giúp cả hai bên đạt được các mục
tiêu phát triển bền vững.
Trong thông báo của Nhà Trắng vào ngày 12/10/2023 sau chuyến thăm
Washington D.C của Phó thủ tướng Singapore và Bộ trưởng Bộ Tài chính Singapore
Lawrence Wong, Mỹ và Singapore đã thực hiện Đối thoại Quan trọng về Công nghệ
Quan trọng và Mới nổi (Critical and Emerging Technology dialogue - CET).
Hai bên đã công bố thành lập Nhóm Quản trị AI song phương, nhóm này sẽ
thúc đẩy hơn nữa các nguyên tắc được chia sẻ và tăng cường trao đổi thông tin để đổi
mới AI an toàn, đáng tin cậy trách nhiệm. Mỹ Singapore cũng đặt mục tiêu
tăng cường hợp tác về chuỗi cung ứng công nghệ và cơ sở hạ tầng quan trọng. Những
mục tiêu này sẽ bao gồm: thúc đẩy khí hậu sở hạ tầng quan trọng có khả năng
phục hồi (mạng viễn thông, cáp ngầm và điện toán đám mây ở Mỹ).
2. Indonesia
a) Khái quát về nền kinh tế
Kinh tế Indonesia là một nền kinh tế thị trường công nghiệp mới trong đó chính
phủ các doanh nghiệp nhân đóng vai trò chủ đạo, đây nền kinh tế quy
lớn nhất khu vực Đông Nam Á, thứ 5 châu Á, xếp hạng 16 theo GDP danh nghĩa hoặc
hạng 7 toàn cầu theo GDP sức mua tương đương.
Năm 2019, nền kinh tế Internet của Indonesia đạt 40 tỷ USD dự kiến sẽ đạt
130 tỷ USD vào năm 2025. Kinh tế Indonesia là nền kinh tế duy nhất của Đông Nam Á
đạt mốc nghìn tỷ USD cũng như góp mặt trong G20. Quốc gia này hiện hơn 141
công ty sở hữu quốc doanh, hoạt động kinh doanh các mặt hàng bản như dầu mỏ,
gạo, và điện lực.
b) Mục tiêu và chiến lược, hoạt động ngoại giao kinh tế của Indo
Ngoại giao kinh tế của Indo được coi công cụ phục vụ phát triển kinh tế của
đất nước. Hoạt động này được phụ trách bởi hai đơn vị trực thuộc Bộ Thương mại
Tùy Viên Thương mại quốc tế và các trung tâm Thương mại quốc tế (ITPC). Trong đó,
Tùy viên Thương mại quốc tế có mặt ở 23 nước, đặt trong các đại sứ quán, báo cáo công
việc trực tiếp cho Tổng Thư ký của Bộ Thương mại. Các ITCP có mặt tại 19/30 nước,
đặt tại các thành phố lớn, hoạt động dưới sự giám sát của Tổng cục Phát triển thương
mại quốc gia (DGNED). Giám đốc trung tâm không mang hàm ngoại giao, do đó, hoạt
động của trung tâm có thể tập trung hoàn toàn vào xúc tiến thương mại mà không bị cản
trở bởi các nhiệm vụ ngoại giao.
Indonesia là một nước chủ động về ngoại giao kinh tế.
Về thương mại: Trong bối cảnh toàn cầu hiện nay, Indo xây dựng các chính sách
thúc đẩy chuỗi giá trị toàn cầu bền vững, không phụ thuộc vào các quốc gia khác. Chính
phủ nước này cũng đang tìm cách tối đa hóa vai trò trung tâm của In a tại -đô - -xi-
ASEAN và khu vực Ấn Độ Thái Bình Dương, mở ra cơ hội trong bối cảnh suy thoái
kinh tế hiện nay.
Về đầu tư: Bộ trưởng Ngoại giao đã chỉ thị tiến hành tiếp cận trực tiếp với các
doanh nghiệp và nhà đầu tư để tìm hiểu khả năng chuyển đầu tư của các quốc gia sang
In- -đô -xi-a. Mục tiêu của nước này biến những thách thức khó khăn phía trước
thành cơ hội và biến suy thoái kinh tế đang rình rập trở thành phục hồi kinh tế ổn định,
mang tính bền vững, bứt phá. Điều này khuyến khích công tác ngoại giao kinh tế nước
ngoài với vai trò tiên phong và đồng bộ với các cải cách loại bỏ các rào cản đối với đầu
trong nước của In-đô--xi- a.
Về hoạt động ngoại giao đa phương, một trọng tâm trong chính sách đối ngoại
của Chính phủ là tăng cường khả năng quản trị toàn cầu trong khuôn khổ GlobalHealth
4. In- -xi-đô- a tiếp tục ủng hộ các chính sách của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)
tìm cách xây dựng hợp tác đa phương để hỗ trợ quản trị y tế toàn cầu trong việc giảm
thiểu nguy cơ Covid-19.
Về hoạt động ngoại giao song phương, -xi-In- -đô a đã hợp tác với Hàn Quốc –
một trong những quốc gia ở châu Á đã thành công trong việc ngăn chặn số người dương
tính với Covid 19. Thông qua hợp tác song phương, Chính phủ Hàn Quốc đã cung cấp -
khoản hỗ trợ trị giá 500.000 USD cho Chính phủ In a để hỗ trợ giảm thiểu sự -đô--xi-
lây lan của Covid 19 In a, bao gồm: bộ dụng cụ xét nghiệm Covid 19 - -đô - -xi- -
bình xịt điện thể sạc lại, 50.000 bộ dụng cụ chẩn đoán Covid 19 (loại RT PCR) -
40.000 PPE 10.
Năm 2022, In a vẫn tiếp tục thúc đẩy các nỗ lực ngoại giao kinh tế -đô - - -xi
thông qua việc cải thiện tiếp cận thị trường cho các sản phẩm chiến lược quốc gia trong
các lĩnh vực y tế, đường sắt, công nghiệp quốc phòng, đóng tàu; tăng cường sự cam kết
của các nhà đầu tư nước ngoài đối với quỹ đầu tư quốc gia.
c) Kinh nghiệm ngoại giao kinh tế của Indonesia
Kinh nghiệm ngoại giao kinh tế của Indonesia đã những thành tựu đáng kể,
nhưng cũng đối diện với một số hạn chế. Dưới đây một số điểm nổi bật về thực tế
triển khai, thành tựu và hạn chế về kinh nghiệm ngoại giao kinh tế của Indonesia.
Thành tựu:
- Tăng trưởng kinh tế: Indonesia đã đạt được mức tăng trưởng kinh tế đáng kể
trong những năm gần đây. Nhờ việc thúc đẩy xuất khẩu thu hút đầu trực
tiếp nước ngoài, nền kinh tế của Indonesia đã tăng trưởng ổn định và đóng góp
vào sự phát triển kinh tế của khu vực Đông Nam Á.
- Xây dựng hệ thống thỏa thuận thương mại: Indonesia đã tham gia vào nhiều thỏa
thuận thương mại quốc tế, bao gồm Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện (CEPA)
với Liên minh Châu Âu Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Toàn diện
(RCEP) với các quốc gia trong khu vực châu Á Thái Bình Dương. Những thỏa -
thuận này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận thị trường mới và mở rộng
cơ hội xuất khẩu.
- Đầu hạ tầng: Indonesia đã tăng cường đầu tư vào hạ tầng, bao gồm giao thông
vận tải, năng lượng và viễn thông. Điều này đã cải thiện khả năng cung cấp dịch
vụ và hạ tầng kỹ thuật, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh và
thu hút đầu tư nước ngoài.
Hạn chế:
- Kỹ năng và hệ thống giáo dục: Mặc dù đã có những cải tiến về giáo dục, nhưng
hệ thống giáo dục Indonesia vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Knăng lao
động chưa đáp ứng đủ nhu cầu của các ngành công nghiệp hiện đại, gây khó khăn
cho việc tạo ra nhân lực trình độ cao cạnh tranh trên thị trường lao động
quốc tế.
- Thách thức về hành chính và thể chế: Một số hạn chế về hành chính thể chế
vẫn tồn tại ở Indonesia. Quy trình pháp lý phức tạp và thủ tục hành chính rườm
rà làm chậm tiến trình kinh doanh và đầu tư. Điều này có thể làm mất đi sự hấp
dẫn của Indonesia đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
- Phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên: Mặc dù có nhiều nguồn tài nguyên
thiên nhiên phong phú, sự phụ thuộc quá mức vào ngành công nghiệp khai thác
tài nguyên có thể là một hạn chế đối với sự bền vững và đa dạng hóa kinh tế của
Indonesia. Điều này có thể làm tăng sự sẵn ng của nước ngoài để đầu vào
các ngành kinh doanh khác.
Tổng quan, Indonesia đã đạt được nhiều thành tựu trong việc triển khai kinh
nghiệm ngoại giao kinh tế. Tuy nhiên, còn nhiều hạn chế cần được vượt qua để nâng
cao hiệu quả bền vững của các hoạt động ngoại giao kinh tế. Việc nâng cao chất
lượng giáo dục, cải thiện hành chính và thể chế, cũng như đa dạng hóa nền kinh tế sẽ
đóng vai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh kinh nghiệm ngoại giao kinh tế của
Indonesia trong tương lai.
ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN TRONG NHÓM
H ọ và tên
Nhiệm vụ
Đánh giá
Phạm Lan Phương
(nh óm trưởng)
- Phân công nhiệm vụ ám s đánh gi, gi át và á
mức độ hoàn thành công việc cho các thành
viên trong nhóm.
- Lên nội dung chính, tổng hợp nội dung toàn
bài và thuyết trình ề Nhật B v ản
- Tìm hiểu ội dung ật B ên ản n v Nh ản, l b
scipt cho powerpoint.
A
B ùi Phượng Anh
- Làm powerpoint thuy ết trình
A
Nguyễn Thị Thanh
Huy ền
- Tìm hiểu nền kinh tế, mục tiêu + chiến lược
ngoại giao kinh t à thực tế triển khai của ế v
Nhật Bản
- Tổng hợp nội dung ùng Lan Phương c
A
Hoàng Th ùy LinhTh
- Tìm hiểu nền kinh tế, mục tiêu + chiến lược
ngoại giao kinh t à thực tế triển khai của ế v
Thái Lan
- Thuyết trình về Thái Lan
A
Trịnh Minh Hòa
- Làm powerpoint thuyết trình
A
Hoàng Đức Tùng
- Tìm hiểu nền kinh tế, mục tiêu + chiến lược
ngoại giao kinh t à thực tế triển khai của ế v
Thái Lan
A
Vy Th ế Hùng
- Tìm hiểu nền kinh tế, mục tiêu + chiến lược
ngoại giao kinh t à thực tế triển khai của ế v
Indonesia, Singapore
- Thuy Singapore ết trình phần
A
Nguyễn Thùy Dương
- Tìm hiểu nền kinh tế, mục tiêu + chiến lược
ngoại giao kinh t à thực tế triển khai của ế v
Indonesia.
- Làm powerpoint thuy ết trình.
A
| 1/18

Preview text:

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN KHOA QUAN HỆ QUỐC TẾ BÀI TẬP NHÓM
TÌM HIỂU KINH NGHIỆM NGOẠI GIAO KINH TẾ CỦA
NHẬT BẢN, THÁI LAN VÀ MỘT SỐ NƯỚC ASEAN. MÔN: N OẠI GIAO KINH G TẾ VÀ VĂN HÓA
LỚP TÍN CHỈ: QT02602_K42_2.
GIẢNG VIÊN: NGUYỄN THỊ THU HÀ
NHÓM SINH VIÊN THỰC HIỆN:
Phạm Lan Phương: 2251070045 (nhóm trưởng)
Bùi Phượng Anh: 2251070003 Nguyễn Thị Thanh Huyền: 2251070025
Nguyễn Thùy Dương: 2251070015 Hoàng Thị Thùy Linh: 2251070029
Trịnh Minh Hòa: 2251070020 Hoàng Đức Tùng: 2251070056 Vy Thế Hùng: 2251070024 MỤC LỤC
I. NHẬT BẢN .......................................................................................................... 3
1. Về bộ máy tổ chức. ............................................................................................. 3
2. Mục tiêu ngoại giao kinh tế của Nhật Bản ........................................................... 3
3. Ngoại giao kinh tế của Nhật Bản. ........................................................................ 4 II.
THÁI LAN ........................................................................................................ 7
1. Tổng quan nền kinh tế Thái Lan ......................................................................... 7
2. Mục tiêu và chiến lược ngoại giao kinh tế ............................................................ 7
a) Chiến lược ngoại giao kinh tế ......................................................................... 7
b) Mục tiêu của ngoại giao kinh tế ...................................................................... 8
3. Thành tựu và hạn chế trong thực tế ngoại giao kinh tế của Thái Lan .................... 8
a) Thành tựu ...................................................................................................... 8
b) Hạn chế ......................................................................................................... 9
III. MỘT SỐ NƯỚC ASEAN ................................................................................ 10
1. Singapore ........................................................................................................ 10
a) Kinh tế Singapore và một số chính sách ngoại giao kinh tế qua từng giai đoạn: 10
b) Cơ cấu tổ chức và quan điểm ngoại giao kinh tế của Singapore ..................... 11
c) Chính sách ngoại giao kinh tế ....................................................................... 12
d) Hoạt động ngoại giao kinh tế nổi bật của Singapore: ..................................... 13
2. Indonesia ......................................................................................................... 14
a) Khái quát về nền kinh tế .............................................................................. 14
b) Mục tiêu và chiến lược, hoạt động ngoại giao kinh tế của Indo ...................... 14
c) Kinh nghiệm ngoại giao kinh tế của Indo ...................................................... 15 I. NHẬT BẢN
1. Về bộ máy tổ chức.
Ở hầu hết các nước kể cả phát triển và đang phát triển, nhiều cơ quan tham gia
vào công tác kinh tế đối ngoại, do vậy, việc phối hợp và quản lý thống nhất KTDN là
vấn đề tương đối phức tạp. Đặc biệt, Nhật Bản có sự cạnh tranh giữa Bộ Thương mại
và Công nghiệp (METI) và Bộ Ngoại giao.
2. Mục tiêu ngoại giao kinh tế của Nhật Bản
Nhiệm vụ: Sử dụng các thế mạnh tổng hợp, để hoạch định và thực hiện chính sách đối
ngoại, nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
- Thúc đẩy tự do thương mại khu vực và toàn cầu;
- Bảo đảm các nguồn cung tài nguyên, năng lượng và lương thực ổn định lâu dài;
- Đẩy mạnh xúc tiến trên phạm vi toàn cầu việc phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng
mà Nhật có thể cung cấp, trong đó trọng tâm là các nền kinh tế đang nổi;
- Xúc tiến du lịch, gắn kết chặt chẽ với thu hút đầu tư.
Vai trò của cơ quan đại diện Ngoại giao Nhật Bản trong việc thực hiện chính sách ngoại giao kinh tế:
Bộ Ngoại giao Nhật Bản có nhiệm vụ chủ yếu trong việc xây dựng hệ thống luật
quốc tế và môi trường quốc tế thuận lợi, đảm bảo lợi ích quốc gia tổng thể. Đây là nhiệm
vụ mà không có một cơ quan nào khác có khả năng đảm nhiệm.
Có sự phân công rất rõ ràng giữa Bộ Ngoại giao và METI cùng như các cơ quan
trực thuộc. Hoạt động thúc đẩy lợi ích kinh tế của Nhật Bản được thực hiện trên nguyên
tắc phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan liên quan, với khẩu hiệu “All - Japan”.
Đại sứ quán Nhật Bản chủ yếu tập trung hỗ trợ Chính phủ thực hiện các chính
sách lớn, không thực hiện các hoạt động thúc đẩy đầu tư, thương mại thông thường,
cũng như hỗ trợ doanh nghiệp cụ thế. Công việc này do JETRO chịu trách nhiệm.
JETRO có văn phòng riêng tại rất nhiều nước trên thế giới và trực thuộc METI.
Với vai trò trên, Cơ quan đại diện của Nhật Bản triển khai 4 nhiệm vụ chính như sau:
Thúc đẩy du lịch: Các Đại sứ quán phối hợp với Cơ quan du lịch Nhật Bản triển
khai các hoạt động quảng bá du lịch. Website của các Đại sứ quán Nhật Bản thường có
mục riêng, với thông tin phong phú về đất nước, con người và văn hóa Nhật Bản.
Trong việc xây dựng EFAs và FTAs: Vai trò của Cơ quan đại diện không nhiều,
chủ yếu tập trung vào thu thập thông tin, đóng vai trò kênh thông tin giữa Nhật Bản và
nước chủ nhà. Vai trò xây dựng chính sách, chiến lược đàm phán do các cơ quan tai
Trung ương chịu trách nhiệm.
Thúc đẩy xuất khẩu công nghệ xây dựng hạ tầng cơ sở: Cơ quan đại diện có vai
trò quan trọng trong việc hỗ trợ chính phủ đạt được các hợp đồng lớn về lĩnh vực này.
ODA cũng được sử dụng như một công cụ, để vận động thuyết phục nước nhân. Để làm
tốt hơn nữa nhiệm vụ này, Bộ Ngoại giao Nhật Bản đã bổ sung thêm vị trí Trợ lý đặc
biệt cho các dự án cơ sở hạ tầng, tăng cường dịch vụ tài chính và các hình thức hỗ trợ
khác của các tổ chức chính phủ cho các công ty Nhật Bản.
Nhiệm vụ tạo nguồn cung ứng lương thực, năng lượng và khoáng sản ổn định:
các Cơ quan đại diện có nhiệm vụ cung cấp thông tin, hỗ trợ thực hiện hợp tác với các
quốc gia liên quan, thông qua việc phục vụ các chuyến thăm cấp cao. Để đảm bảo nguồn
cung ứng đất hiếm và các khoáng sản khác, Nhật Bản đã tăng cường hợp tác với những
nước có nguồn tài nguyên dồi dào (Mỹ, Úc, Mông Cổ, Việt Nam, Ấn Độ, Kazastan).
3. Ngoại giao kinh tế của Nhật Bản.
Là một nước bại trận sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, khả năng quân sự Nhật
Bản gần như về con số không. Sau đó, nhờ mối liên hệ đồng minh với Mỹ, Nhật Bản
được bảo trợ về mặt an ninh và chỉ còn tập trung phát triển kinh tế. Chỉ trong vòng hai
thập niên, Nhật Bản đã tạo nên sự “thần kỳ Nhật bản” và trở thành “đế quốc kinh tế”.
Một mặt, Nhật Bản tấn công vào hầu khắp các thị trường trên thế giới. Buộc các
nền kinh tế khác vào mối liên kết chặt chẽ với Nhật bản và nhờ vậy trở thành một quốc
gia được tôn trọng và nể sợ. Mặt khác, Nhật bản bắt đầu đem ODA tới các nước đang
phát triển hoặc kém phát triển và trở thành ân nhân của họ.
Nhờ chính sách ngoại giao kinh tế khôn ngoan này, không cần đến thực lực
quân sự, Nhật Bản vẫn gây được ảnh hưởng tới các khu vực trên thế giới. Đây chính là
việc sử dụng quyền lực mềm của Nhật Bản, coi đó như nền tảng của đường lối ngoại và
an ninh quốc gia của Nhật Bản.
Thực tế để đáp ứng mục tiêu chiến lược phát triển nói chung cũng như chiến lược
kinh tế nói riêng của đất nước, Nhật Bản đã chủ động xây dựng kế hoạch điều chỉnh
sách ngoại giao kinh tế thông qua điều chỉnh Hiến chương ODA năm 1992. Tháng
1-2003, Ban điều chỉnh Hiến chương ODA chính thức được thành lập, đánh dấu sự
thay đổi trong tầm nhìn và chiến lược ngoại giao kinh tế của Nhật Bản trước những
thách thức to lớn, diễn biến phức tạp của tình hình thế giới những năm đầu kỷ XXI. So
với Hiến chương ODA năm 1992, Hiến chương ODA năm 2003 đề cập đến các chính
sách cơ bản, các lĩnh vực được ưu tiên hỗ trợ nguồn vốn ODA theo hướng tập trung
nhiều vào các vấn đề nhân văn và các mục tiêu hướng đến sự phát triển ổn định, bền
vững, xây dựng hòa bình và an ninh khu vực.
Từ năm 1994 đến 2004, Nhật Bản đã đảm nhận gần ⅕ tổng khối lượng ODA thế
giới. Năm 2008, Nhật Bản đóng góp 9,699 tỷ USD ODA. Trong kế hoạch ngân sách
cho năm tài chính 2023, chính phủ dành ngân sách ODA cho Bộ Ngoại giao ở mức
442,8 tỷ yên, bằng mức năm tài chính trước. Con số này chỉ bằng một nửa so với mức
cao nhất của năm tài khóa 1997 là 1.168 tỷ yên.
Khu vực Đông Nam Á - khu vực trọng điểm trong chính sách thực hiện ngoại giao kinh tế
Từ 2005, Nhật Bản và ASEAN ký kết hiệp định liên kết kinh tế toàn diện Nhật
Bản - Asean (AJCEP). Ngoài việc cung cấp vốn để giúp ASEAN đào tạo nguồn nhân
lực phát triển khu vực sông Mê Công, tăng cường hơn nữa vốn FDI sang các nước tiểu
vùng Nhật Bản còn rất chú trọng ưu tiên cung cấp ODA cho tam giác phát triển VN - Lào - Campuchia.
Hiện nay, đầu tư FDI của Nhật Bản vào ASEAN lớn thứ tư trong số các nước
đối tác của khối; năm 2021, đạt 12 tỷ USD, tăng 3,5% so với năm 2020. Riêng trong
năm 2022, 12% tổng vốn FDI của Nhật Bản chảy vào các nước ASEAN. Về thương
mại, tổng giá trị xuất nhập khẩu của Nhật Bản với ASEAN tăng 11,6% năm 2022. Ngoài
quan hệ kinh tế, Nhật Bản còn đóng vai trò quan trọng trong hợp tác tài chính với các nước trong khối.
Nhật Bản coi việc tạo mối quan hệ tốt với các nước ĐNA là vấn đề quan trọng
hàng đầu để bảo đảm an ninh đất nước trong bối cảnh Trung Quốc đang gia tăng ảnh
hưởng ở khu vực. Thực tế, năm 2010 Trung Quốc đã vượt mặt Nhật Bản trở thành
cường quốc có nền kinh tế thứ hai thế giới và tháng 3-2022, ODA của Nhật Bản dành
cho Trung Quốc đã chấm dứt hoàn toàn, sau gần 45 năm triển khai (từ tháng 12-1979,
sau chuyến thăm của thủ tướng Masayoshi Ohira đến Bắc Kinh).
Tất cả những hành động trên, đã góp phần đưa Nhật Bản trở thành nhà tài
trợ “hảo tâm” nhất đối với nhiều quốc gia trong khu vực Đông Nam Á. Khu vực Châu Phi.
Bên cạnh châu Á, Nhật Bản đã đầu tư tổng cộng 35,6 tỷ USD vào "Lục địa Đen"
trong giai đoạn 2016-2018, vượt qua chỉ tiêu 30 tỷ USD mà chính phủ nước này đặt ra
tại Hội nghị quốc tế Tokyo về phát triển châu Phi lần thứ 6 (TICAD) tổ chức tại thủ đô
Nairobi của Kenya năm 2016.
Nhiều người thường nghĩ châu Phi là mảnh đất gắn liền với nghèo đói, bất ổn
nhưng ít ai biết được rằng, lục địa này lại đang là một điểm đến được nhiều cường quốc
nhắm tới. Châu Phi có 55 quốc gia với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ước tính đạt
2.500 tỷ USD với những nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú. Châu Phi hiện sở
hữu 75% quặng coltan - một nguyên liệu vô cùng giá trị dùng trong ngành công nghiệp
sản xuất thiết bị điện tử. 50% lượng vàng, 35% lượng uranium của thế giới cũng có thể
được tìm thấy tại châu lục này. (Theo số liệu VTV 2019). Vì vậy Nhật Bản cũng gặp
nhiều trở ngại, áp lực cạnh tranh từ Trung Quốc, Mỹ và Liên minh Châu Âu khi cùng
nhau tăng cường đầu tư vào khu vực. Khu vực Trung Đông.
Nhật Bản coi các nước ở khu vực Trung Ðông là đối tác quan trọng về kinh tế.
GCC và Nhật Bản đã ký kết thỏa thuận nối lại đàm phán về Hiệp định thương mại tự
do (FTA) hồi tháng 7 vừa qua, khi hai bên tái khẳng định tầm quan trọng của hợp tác
chặt chẽ nhằm tăng cường quan hệ kinh tế giữa các nước vùng Vịnh và Nhật Bản. Thỏa
thuận được ký bên lề cuộc gặp giữa Tổng Thư ký GCC Jassim Mohammed Al-Budaiwi
(G.M.An Bu-đai-uy) và Thủ tướng Nhật Bản Kishida Fumio (Ki-si-đa Phư-m -iô) trong
chuyến thăm của nhà lãnh đạo Nhật Bản tới thành phố Jeddah của Saudi Arabia.
Thúc đẩy quan hệ với các quốc gia Trung Ðông sẽ giúp đất nước Nhật Bản vốn
ít tài nguyên có sự bảo đảm nguồn cung năng lượng ổn định. Trong khi đó, nhiều nước
trong khu vực này muốn tăng cường hợp tác kinh tế thương mại với Nhật Bản nhằm
thúc đẩy nỗ lực giảm phụ thuộc nguồn thu vào dầu mỏ và đa dạng hóa nền kinh tế, do
giá dầu có thể giảm trong tương lai trong bối cảnh thế giới thúc đẩy xu hướng giảm carbon.
Mặc dù đã có những định hướng chính sách ngoại giao kinh tế linh hoạt và khôn
khéo, tuy nhiên nền kinh tế Nhật Bản hiện đã tụt xuống vị trí thứ tư thế giới sau Đức,
khi họ phải trải qua tình trạng suy thoái ở quý cuối năm 2023. Tuy nhiên, Nhật Bản
đang tiến xa hơn trong quá trình suy thoái nhân khẩu học. Cụ thể, trong khi Đức đang
phải đối mặt với nguồn cung lao động thu hẹp, xu hướng này rõ ràng hơn ở Nhật Bản,
nơi dân số đã giảm liên tục kể từ khoảng năm 2010. Điều đó dẫn đến tình trạng thiếu
lao động có kinh nghiệm và tình hình dự kiến sẽ trở nên tồi tệ hơn do tỷ lệ sinh vẫn thấp.
Ngược lại, nền kinh tế Ấn Độ có triển vọng vượt qua cả hai nền kinh tế này trong
vài năm tới. Theo số liệu của IMF, nền kinh tế Ấn Độ dự kiến sẽ vượt Nhật Bản vào
năm 2026 và Đức vào năm 2027. Dân số Ấn Độ cũng đã vượt qua Trung Quốc vào năm
ngoái và quốc gia này dự kiến sẽ duy trì mức tăng trưởng trong nhiều thập kỷ tới.
Việc đồng yên Nhật trở nên yếu hơn là yếu tố chính dẫn đến việc Nhật Bản tụt
xuống vị trí thứ tư, vì việc so sánh chỉ số GDP danh nghĩa được tính bằng đồng đô la.
Tuy nhiên, các nhà kinh tế cho biết, số liệu này của Nhật Bản cũng phản ánh sự suy
giảm dân số, năng suất và khả năng cạnh tranh tụt hậu.
Nhật Bản từng được ca ngợi là “một phép màu kinh tế”, họ từng trỗi dậy từ đống
tro tàn của Thế chiến thứ hai để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai sau Mỹ. Nhưng trong
30 năm qua, nền kinh tế Nhật đôi khi chỉ tăng trưởng ở mức vừa phải, sau sự kiện bong
bóng tài chính vào năm 1990.
Một vài biện pháp khắc phục tình trạng này đó chính là tiếp tục thúc đẩy hoạt
động ngoại giao kinh tế với các khu vực trọng điểm như các nước khu vực Đông Nam
Á,... mở cửa với thị trường lao động nước ngoài giảm áp lực trước sự thiếu lao động
của thị trường trong nước…… II. THÁI LAN
1. Tổng quan nền kinh tế Thái Lan
Dữ liệu của Ủy ban Đầu tư Thái Lan (BOI) cho thấy vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) vào nước này là 663,2 tỷ baht (18,5 tỷ USD) tăng 72%. Trung Quốc là quốc
gia đứng đầu về giá trị vốn đầu tư vào Thái Lan với hơn 159 tỷ baht (4,5 tỷ USD), chiếm gần 25%.
Kinh tế Thái Lan là một nền kinh tế thị trường công nghiệp mới phụ thuộc lớn
vào du lịch và xuất khẩu với kim ngạch xuất khẩu chiếm khoảng 60% GDP. Đây là nền
kinh tế lớn thứ 2 trong khu vực ASEAN (chỉ sau Indo), xếp hạng 25 toàn cầu theo GDP
danh nghĩa, xếp thứ 21 thế giới xét theo sức mua tương đương, đứng thứ 28 trên thế
giới về tổng giá trị thương hiệu quốc gia (2020). Thị trường lớn, nhu cầu nội địa cao, phát triển nhanh.
2. Mục tiêu và chiến lược ngoại giao kinh tế
a) Chiến lược ngoại giao kinh tế
Ngoại giao kinh tế Thái Lan được triển khai, thông qua việc Bộ Ngoại giao hỗ
trợ bộ Thương mại và các Bộ, ngành kinh tế khác thâm nhập vào thị trường bên ngoài,
thu hút đầu tư, tìm kiếm các nguồn công nghệ mới và thu hút du lịch.
Trong nỗ lực đẩy mạnh chiến lược ngoại giao kinh tế nhằm thúc đẩy sự thịnh
vượng của nền kinh tế, Bộ Ngoại giao Thái Lan đang có kế hoạch yêu cầu các đại diện
ngoại giao của nước này trên khắp thế giới tăng cường kêu gọi đầu tư nước ngoài vào các dự án trong nước.
Phát biểu tại sự kiện có tên gọi “Bước tiếp theo của Thái Lan 2024: Sự Thịnh
vượng và Bền vững tiếp theo”, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Thái Lan
Parnpree Bahiddha-Nukara nói rằng Chính phủ Thái Lan đang sử dụng chiến lược
“ngoại giao kinh tế” để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và gia tăng niềm tin của các nhà
đầu tư trên khắp thế giới. Bởi vậy, Bộ Ngoại giao Thái Lan chuẩn bị mời tất cả các đại
sứ, đại diện ngoại giao của nước này trên khắp thế giới về dự một cuộc họp tại thủ đô
Bangkok nhằm thảo luận về việc làm thế nào sử dụng ngoại giao kinh tế để thu hút các
nhà đầu tư nước ngoài. Ông Parnpree nói rằng, hướng phát triển mới của Thái Lan sẽ
phụ thuộc vào bối cảnh toàn cầu, nơi các cường quốc đang cạnh tranh về ảnh hưởng
chính trị, kinh tế và công nghệ. Điều này đã mang lại cho Thái Lan cơ hội để thể hiện
lập trường của mình trong bối cảnh xung đột kinh tế toàn cầu. Chính phủ Thái Lan cũng
sẽ tận dụng ngoại giao kinh tế để tìm kiếm các cơ hội kinh tế số và phát triển các doanh
nhân kinh doanh thế hệ mới và quảng bá đầu tư của Thái Lan ở nước ngoài.
b) Mục tiêu của ngoại giao kinh tế - Tăng trưởng kinh tế
- Tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế đất nước
- Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế thương mại và đầu tư với nước ngoài
- Phục vụ thiết thực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Đa dạng hóa nền kinh tế: Thái Lan có mục tiêu phát triển và đa dạng hóa nền
kinh tế để giảm sự phụ thuộc vào ngành công nghiệp chế biến và du lịch. Việc phát triển
các ngành công nghiệp mới, như công nghệ thông tin, năng lượng tái tạo, khoa học và
công nghệ, có thể giúp hoàn thành được “Thái Lan 4.0” thu hút đầu tư nước ngoài.
Mở rộng thị trường xuất khẩu: Thái Lan tập trung vào việc mở rộng thị trường
xuất khẩu và tăng cường quan hệ thương mại với các nền kinh tế khác trên toàn cầu.
Điều này có thể đảm bảo sự đa dạng hóa các nguồn lực xuất khẩu và giúp giảm rủi ro
trong việc phụ thuộc vào một số thị trường chính.
Thu hút đầu tư nước ngoài: Thái Lan tiếp tục tăng cường nỗ lực thu hút đầu tư
nước ngoài, đặc biệt là trong các lĩnh vực có tiềm năng phát triển cao như công nghệ,
đổi mới, năng lượng tái tạo và hạ tầng. Điều này có thể giúp thúc đẩy sự tăng trưởng
kinh tế và cung cấp cơ hội việc làm cho người dân.
Hội nhập kinh tế quốc tế: Thái Lan tiếp tục tham gia tích cực vào các hiệp định
thương mại quốc tế và tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế với các đối tác trong khu vực
và thế giới. Điều này có thể giúp Thái Lan tiếp cận các thị trường mới, tăng cường xuất
khẩu và mở rộng cơ hội kinh doanh.
3. Thành tựu và hạn chế trong thực tế ngoại giao kinh tế của Thái Lan a) Thành tựu
Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện khu vực (RCEP): Thái Lan đã gia nhập Hiệp
định Đối tác Kinh tế Toàn diện khu vực (RCEP) vào năm 2020. Là hiệp định thương
mại lớn nhất thế giới, RCEP có 15 quốc gia thành viên và tạo ra một thị trường tiềm
năng lớn với hơn 2,2 tỷ dân và GDP hợp đồng ấn định khoảng 26,2 nghìn tỷ USD. Tham
gia RCEP giúp Thái Lan mở rộng thị trường xuất khẩu và tăng cường quan hệ kinh tế
với các đối tác khu vực, đồng thời thu hút đầu tư nước ngoài.
Nâng cấp quan hệ với Trung Quốc: Thái Lan đã tăng cường quan hệ kinh tế với
Trung Quốc trong những năm gần đây. Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của
Thái Lan và hai nước đã thúc đẩy việc ký kết nhiều hiệp định thương mại và đầu tư, bao
gồm Hiệp định Khu vực Thương mại Tự do Trung-Đông Nam Á (FTA), cung cấp lợi
ích thương mại và đẩy mạnh liên kết kinh tế giữa hai quốc gia.
Đổi mới công nghiệp và công nghệ: Thái Lan đã tập trung vào việc đổi mới công
nghiệp và công nghệ để nâng cao năng suất và cạnh tranh kinh tế. Quốc gia này đã tạo
ra các khu công nghiệp thông minh (Smart Industrial Estates) và khu phát triển công
nghệ cao (Science and Technology Parks) nhằm thu hút đầu tư và nâng cao năng lực
sản xuất. Thái Lan cũng đẩy mạnh chính sách khuyến khích khởi nghiệp và đổi mới
sáng tạo để thúc đẩy sự phát triển kinh tế dựa trên tri thức.
Phát triển nguồn nhân lực: Thái Lan đã đầu tư vào giáo dục và đào tạo nhằm
phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế hiện
đại. Quốc gia này đã tăng cường hợp tác với các đối tác quốc tế để cung cấp chương
trình đào tạo chất lượng cao và phát triển các ngành công nghiệp chủ chốt như công
nghệ thông tin, kỹ thuật, du lịch và nông nghiệp.
Phát triển du lịch: Du lịch là một ngành kinh tế quan trọng của Thái Lan và quốc
gia này đã đạt được nhiều thành tựu trong việc thu hút du khách quốc tế. Thái Lan đã
triển khai các biện pháp thúc đẩy du lịch bền vững và đa dạng hóa nguồn khách du lịch
bằng cách mở rộng thị trường đến các quốc gia mới, đồng thời tạo ra các chính sách
khuyến khích đầu tư vào ngành du lịch và cải thiện cơ sở hạ tầng du lịch. Thành tựu này
đã giúp Thái Lan trở thành một trong những điểm đến du lịch hàng đầu ở khu vực Đông Nam Á. b) Hạn chế
Sự phụ thuộc vào ngành du lịch: Thái Lan đã phụ thuộc quá mức vào ngành du
lịch trong việc tăng trưởng kinh tế và thu hút đầu tư nước ngoài. Điều này khiến Thái
Lan trở nên nhạy cảm đối với biến động trong ngành du lịch, như các cuộc khủng hoảng
kinh tế toàn cầu hoặc các tình hình xấu trong nước. Việc tăng cường đa dạng hóa nguồn
lực kinh tế và mở rộng các ngành công nghiệp khác là một thách thức đối với Thái Lan.
Sự bất ổn chính trị: Thái Lan đã trải qua nhiều biến động chính trị trong thập kỷ
qua, với các cuộc đảo chính và bất ổn chính trị. Sự bất ổn chính trị có thể ảnh hưởng
đến môi trường kinh doanh và đầu tư trong nước, gây ra sự không chắc chắn và rủi ro
cho các đối tác quốc tế. Điều này có thể hạn chế khả năng thu hút đầu tư nước ngoài và
thiếu sự tin tưởng từ các đối tác kinh doanh quốc tế.
Cạnh tranh với các nền kinh tế khác trong khu vực: Thái Lan đang phải đối mặt
với sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các nền kinh tế khác trong khu vực, như Việt Nam,
Indonesia và Malaysia. Các quốc gia này đã thúc đẩy nhanh chóng công nghiệp và dịch
vụ của mình, cung cấp môi trường kinh doanh thuận lợi và thu hút đầu tư nước ngoài.
Điều này đặt Thái Lan trong tình thế phải cạnh tranh để thu hút đầu tư và giữ chân các doanh nghiệp quốc tế.
Thách thức về hạ tầng và đổi mới công nghệ: Mặc dù Thái Lan đã có sự tiến bộ
về hạ tầng, nhưng vẫn còn tồn tại nhiều thách thức như giao thông ùn tắc và hạ tầng kỹ
thuật số chưa phát triển đầy đủ. Đồng thời, việc đổi mới công nghệ và sự chuyển đổi kỹ
thuật số cũng đòi hỏi đầu tư và nỗ lực từ phía Thái Lan. Việc cải thiện hạ tầng và nâng
cao năng lực đổi mới công nghệ là một yếu tố quan trọng để tăng cường cạnh tranh kinh tế của Thái Lan. III. MỘT SỐ NƯỚC ASEAN 1. Singapore
Singapore là quốc gia có nền kinh tế thị trường tự do với mức độ phát triển
cao và được xếp hạng là nền kinh tế mở nhất thế giới. Đồng thời, Singapore được coi
là nước đi đầu trong việc chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức.
a) Kinh tế Singapore và một số chính sách ngoại giao kinh tế qua từng giai đoạn:
Giai đoạn từ năm 1965 -1978 (mới độc lập): Tiến hành công nghiệp hóa
hướng ra xuất khẩu nhằm vươn tới thị trường rộng lớn ở nước ngoài với các hoạt động
tham gia vào hội nhập quốc tế sâu rộng => Singapore chủ động thực hiện chính sách
ngoại giao kinh tế theo hướng hội nhập quốc tế, tập trung thu hút đầu tư nước ngoài
Giai đoạn 1979-1990: Singapore thực hiện cuộc cách mạng công nghiệp lần
thứ 2, đẩy mạnh nền công nghiệp phát triển theo hướng tập trung vốn và kỹ thuật cao
đồng thời tiếp tục mở rộng mạng lưới quan hệ đối tác với các quốc gia châu Á và phát
triển các quan hệ thương mại mới.
Giai đoạn từ năm 1990 đến nay: Singapore định hình lại chiến lược ngoại
giao kinh tế để tập trung vào việc phát triển các lĩnh vực tri thức, sáng tạo và
công nghệ cao. Quốc gia này tập trung vào việc xây dựng quan hệ đối tác chiến lược
với các quốc gia tiên tiến, thúc đẩy hợp tác trong các ngành công nghiệp công nghệ
cao và nghiên cứu phát triển.
Cho đến thời điểm hiện tại, Singapore đã và đang tích cực triển khai quan hệ
đối ngoại lấy ngoại giao kinh tế làm trọng điểm, tăng cường hợp tác kinh tế với các
nước và các khu vực. Singapore tích cực tham dự hoạt động của nhiều tổ chức hợp
tác kinh tế khác nhau ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương; tiến cử sự hình thành
khu mậu dịch tự do ASEAN; coi trọng phát triển quan hệ kinh tế thương mại với các
nước và khu vực như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Malaysia,...
b) Cơ cấu tổ chức và quan điểm ngoại giao kinh tế của Singapore Cơ cấu tổ chức:
Cơ cấu đối ngoại và quản lý kinh tế đối ngoại của Singapore được tiến hành
thông qua việc ủy thác xúc tiến thương mại và tự do cho các cơ quan chuyên trách.
Bộ Ngoại giao (Ministry of Foreign Affairs) chính là cơ quan phụ trách về vấn đề
ngoại giao kinh tế của quốc gia với bộ phận phụ trách chính/quan trọng là Cục phát
triển kinh tế (EDB). Cơ quan Doanh nghiệp Quốc tế Singapore (IES, trước đây gọi là
Ban Phát triển Thương mại) cũng có vai trò tương tự trong việc thúc đẩy xuất khẩu
sản phẩm và dịch vụ cùng các phòng ban liên quan.
Ngoài Cục phát triển kinh tế, Bộ Ngoại giao Singapore còn 10 bộ phận khác
nhau nhằm phụ trách những vấn đề kinh tế - chính trị và hỗ trợ về mặt ngoại giao kinh tế quốc gia.
Quan điểm ngoại giao kinh tế:
Quan điểm ngoại giao kinh tế của Singapore được thể hiện thông qua các
nguyên tắc và triết lý cốt lõi. Trên trang chủ chính thức của Bộ Ngoại giao Singapore,
có 4 trên 9 nguyên tắc cơ bản về chính sách đối ngoại của Singapore đề cập đến vấn
đề kinh tế đối ngoại:
- Singapore hoàn toàn cam kết với những chính sách và hoạt động của Hiệp hội
các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN);
- Singapore sẽ tiếp tục duy trì hệ thống thương mại đa phương và cởi mở;
- Singapore sẵn sàng giao dịch với tất cả các quốc gia vì lợi ích chung và duy trì
nền kinh tế thị trường mở;
- Singapore sẽ hỗ trợ và hoạt động tích cực trong các tổ chức quốc tế.
Singapore là nước thành công nhất trong khu vực Đông Nam Á về thu hút vốn
đầu tư nước ngoài (FDI) có chất lượng. Những lý do cho sự thành công này:
- Không có sự phân biệt về vốn đầu tư trong nước hay nước ngoài, không có luật
riêng dành cho đầu tư nước ngoài mà sử dụng luật chung, trừ những trường hợp
đặc biệt theo quy định của pháp luật.
- Khuyến khích vốn đầu tư nước ngoài thông qua việc đặt ra mức thuế thấp và hệ
thống thuế đơn giản. Mức thuế doanh nghiệp tại Singapore là 17% nhưng đây
là mức thuế doanh nghiệp thấp nhất thế giới. Mức thuế thấp cùng với một vài
chính sách về kinh tế và tài chính đã biến Singapore thành nơi hấp dẫn cho đầu
tư kinh doanh thông qua hình thức liên danh.
c) Chính sách ngoại giao kinh tế
Trong lĩnh vực thương mại: Singapore theo đuổi chính sách thương mại tự do,
tạo điều kiện xuất khẩu hàng hóa và các dịch vụ hoạt động theo cơ chế thị trường.
- Khuyến khích xuất khẩu bằng miễn thuế, ưu đãi đối với tín dụng xuất khẩu, hỗ
trợ bằng việc bảo hiểm xuất khẩu
- Thi hành chính sách tự do hóa xuất khẩu, cho tới nay hầu như đã gỡ bỏ hoàn toàn hàng rào thuế quan
- Tiếp tục khẳng định duy trì và củng cố quan hệ hợp tác toàn diện với các đối
tác truyền thống như Mỹ, Nhật Bản, Australia và các thành viên ASEAN
Trong lĩnh vực đầu tư: Chú trọng tới việc thu hút các nguồn đầu tư thông qua
tạo lập một môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, hấp dẫn để phục vụ cho quá trình công
nghiệp hóa ở nước này, thay vì vay nợ nước ngoài. Từ năm 90, Singapore chủ động
tìm kiếm thị trường mới.
= > Singapore khẳng định khu vực châu Á đặc biệt là ASEAN là một trong những
đối tác đầu tư quan trọng của mình.
d) Hoạt động ngoại giao kinh tế nổi bật của Singapore:
Ngày 9/2/2023, cũng trong khuôn khổ chuyến của thăm Singapore, Thủ tướng
Phạm Minh Chính cùng Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long chứng kiến lễ trao đổi
Bản ghi nhớ giữa hai Chính phủ về việc thiết lập Quan hệ Đối tác kinh tế số - kinh tế
xanh giữa Việt Nam và Singapore được ký kết bởi Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Việt Nam Nguyễn Chí Dũng và Bộ trưởng thứ hai Bộ Công Thương kiêm Bộ trưởng
Bộ Lao động Singapore Tan See Leng.
Lĩnh vực kinh tế xanh, kinh tế số là một trong những thế mạnh của Singapore.
Trong hợp tác kinh tế xanh, năng lượng tái tạo là lĩnh vực có nhiều tiềm năng nhất
trong thời điểm hiện tại. Singapore là đảo quốc nhỏ, không có lợi thế về các nguồn
năng lượng thay thế, nhưng lại có thế mạnh về công nghệ và kinh nghiệm. Còn Việt
Nam có rất nhiều tiềm năng về năng lượng tái tạo, đặc biệt là với trữ lượng điện gió
ngoài khơi của Việt Nam rất lớn trên 100 Gigiwat.
=> Việc thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực này sẽ giúp cả hai bên đạt được các mục
tiêu phát triển bền vững.
Trong thông báo của Nhà Trắng vào ngày 12/10/2023 sau chuyến thăm
Washington D.C của Phó thủ tướng Singapore và Bộ trưởng Bộ Tài chính Singapore
Lawrence Wong, Mỹ và Singapore đã thực hiện Đối thoại Quan trọng về Công nghệ
Quan trọng và Mới nổi (Critical and Emerging Technology dialogue - CET).
Hai bên đã công bố thành lập Nhóm Quản trị AI song phương, nhóm này sẽ
thúc đẩy hơn nữa các nguyên tắc được chia sẻ và tăng cường trao đổi thông tin để đổi
mới AI an toàn, đáng tin cậy và có trách nhiệm. Mỹ và Singapore cũng đặt mục tiêu
tăng cường hợp tác về chuỗi cung ứng công nghệ và cơ sở hạ tầng quan trọng. Những
mục tiêu này sẽ bao gồm: thúc đẩy khí hậu và cơ sở hạ tầng quan trọng có khả năng
phục hồi (mạng viễn thông, cáp ngầm và điện toán đám mây ở Mỹ). 2. Indonesia
a) Khái quát về nền kinh tế
Kinh tế Indonesia là một nền kinh tế thị trường công nghiệp mới trong đó chính
phủ và các doanh nghiệp tư nhân đóng vai trò chủ đạo, đây là nền kinh tế có quy mô
lớn nhất khu vực Đông Nam Á, thứ 5 châu Á, xếp hạng 16 theo GDP danh nghĩa hoặc
hạng 7 toàn cầu theo GDP sức mua tương đương.
Năm 2019, nền kinh tế Internet của Indonesia đạt 40 tỷ USD và dự kiến sẽ đạt
130 tỷ USD vào năm 2025. Kinh tế Indonesia là nền kinh tế duy nhất của Đông Nam Á
đạt mốc nghìn tỷ USD cũng như góp mặt trong G20. Quốc gia này hiện có hơn 141
công ty sở hữu quốc doanh, hoạt động kinh doanh các mặt hàng cơ bản như dầu mỏ, gạo, và điện lực.
b) Mục tiêu và chiến lược, hoạt động ngoại giao kinh tế của Indo
Ngoại giao kinh tế của Indo được coi là công cụ phục vụ phát triển kinh tế của
đất nước. Hoạt động này được phụ trách bởi hai đơn vị trực thuộc Bộ Thương mại là
Tùy Viên Thương mại quốc tế và các trung tâm Thương mại quốc tế (ITPC). Trong đó,
Tùy viên Thương mại quốc tế có mặt ở 23 nước, đặt trong các đại sứ quán, báo cáo công
việc trực tiếp cho Tổng Thư ký của Bộ Thương mại. Các ITCP có mặt tại 19/30 nước,
đặt tại các thành phố lớn, hoạt động dưới sự giám sát của Tổng cục Phát triển thương
mại quốc gia (DGNED). Giám đốc trung tâm không mang hàm ngoại giao, do đó, hoạt
động của trung tâm có thể tập trung hoàn toàn vào xúc tiến thương mại mà không bị cản
trở bởi các nhiệm vụ ngoại giao.
Indonesia là một nước chủ động về ngoại giao kinh tế.
Về thương mại: Trong bối cảnh toàn cầu hiện nay, Indo xây dựng các chính sách
thúc đẩy chuỗi giá trị toàn cầu bền vững, không phụ thuộc vào các quốc gia khác. Chính
phủ nước này cũng đang tìm cách tối đa hóa vai trò trung tâm của In-đô-nê-xi-a tại
ASEAN và khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương, mở ra cơ hội trong bối cảnh suy thoái kinh tế hiện nay.
Về đầu tư: Bộ trưởng Ngoại giao đã chỉ thị tiến hành tiếp cận trực tiếp với các
doanh nghiệp và nhà đầu tư để tìm hiểu khả năng chuyển đầu tư của các quốc gia sang
In-đô-nê-xi-a. Mục tiêu của nước này là biến những thách thức khó khăn phía trước
thành cơ hội và biến suy thoái kinh tế đang rình rập trở thành phục hồi kinh tế ổn định,
mang tính bền vững, bứt phá. Điều này khuyến khích công tác ngoại giao kinh tế ở nước
ngoài với vai trò tiên phong và đồng bộ với các cải cách loại bỏ các rào cản đối với đầu
tư trong nước của In-đô-nê-xi-a.
Về hoạt động ngoại giao đa phương, một trọng tâm trong chính sách đối ngoại
của Chính phủ là tăng cường khả năng quản trị toàn cầu trong khuôn khổ GlobalHealth
4. In-đô-nê-xi-a tiếp tục ủng hộ các chính sách của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và
tìm cách xây dựng hợp tác đa phương để hỗ trợ quản trị y tế toàn cầu trong việc giảm thiểu nguy cơ Covid-19.
Về hoạt động ngoại giao song phương, In-đô-nê-xi-a đã hợp tác với Hàn Quốc –
một trong những quốc gia ở châu Á đã thành công trong việc ngăn chặn số người dương
tính với Covid-19. Thông qua hợp tác song phương, Chính phủ Hàn Quốc đã cung cấp
khoản hỗ trợ trị giá 500.000 USD cho Chính phủ In-đô-nê-xi-a để hỗ trợ giảm thiểu sự
lây lan của Covid-19 ở In-đô-nê-xi-a, bao gồm: bộ dụng cụ xét nghiệm Covid-19 và
bình xịt điện có thể sạc lại, 50.000 bộ dụng cụ chẩn đoán Covid-19 (loại RT PCR) và 40.000 PPE 10.
Năm 2022, In-đô-nê-xi-a vẫn tiếp tục thúc đẩy các nỗ lực ngoại giao kinh tế
thông qua việc cải thiện tiếp cận thị trường cho các sản phẩm chiến lược quốc gia trong
các lĩnh vực y tế, đường sắt, công nghiệp quốc phòng, đóng tàu; tăng cường sự cam kết
của các nhà đầu tư nước ngoài đối với quỹ đầu tư quốc gia.
c) Kinh nghiệm ngoại giao kinh tế của Indonesia
Kinh nghiệm ngoại giao kinh tế của Indonesia đã có những thành tựu đáng kể,
nhưng cũng đối diện với một số hạn chế. Dưới đây là một số điểm nổi bật về thực tế
triển khai, thành tựu và hạn chế về kinh nghiệm ngoại giao kinh tế của Indonesia. Thành tựu:
- Tăng trưởng kinh tế: Indonesia đã đạt được mức tăng trưởng kinh tế đáng kể
trong những năm gần đây. Nhờ việc thúc đẩy xuất khẩu và thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài, nền kinh tế của Indonesia đã tăng trưởng ổn định và đóng góp
vào sự phát triển kinh tế của khu vực Đông Nam Á.
- Xây dựng hệ thống thỏa thuận thương mại: Indonesia đã tham gia vào nhiều thỏa
thuận thương mại quốc tế, bao gồm Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện (CEPA)
với Liên minh Châu Âu và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Toàn diện
(RCEP) với các quốc gia trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Những thỏa
thuận này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận thị trường mới và mở rộng cơ hội xuất khẩu.
- Đầu tư hạ tầng: Indonesia đã tăng cường đầu tư vào hạ tầng, bao gồm giao thông
vận tải, năng lượng và viễn thông. Điều này đã cải thiện khả năng cung cấp dịch
vụ và hạ tầng kỹ thuật, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh và
thu hút đầu tư nước ngoài. Hạn chế:
- Kỹ năng và hệ thống giáo dục: Mặc dù đã có những cải tiến về giáo dục, nhưng
hệ thống giáo dục ở Indonesia vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Kỹ năng lao
động chưa đáp ứng đủ nhu cầu của các ngành công nghiệp hiện đại, gây khó khăn
cho việc tạo ra nhân lực có trình độ cao và cạnh tranh trên thị trường lao động quốc tế.
- Thách thức về hành chính và thể chế: Một số hạn chế về hành chính và thể chế
vẫn tồn tại ở Indonesia. Quy trình pháp lý phức tạp và thủ tục hành chính rườm
rà làm chậm tiến trình kinh doanh và đầu tư. Điều này có thể làm mất đi sự hấp
dẫn của Indonesia đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
- Phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên: Mặc dù có nhiều nguồn tài nguyên
thiên nhiên phong phú, sự phụ thuộc quá mức vào ngành công nghiệp khai thác
tài nguyên có thể là một hạn chế đối với sự bền vững và đa dạng hóa kinh tế của
Indonesia. Điều này có thể làm tăng sự sẵn lòng của nước ngoài để đầu tư vào các ngành kinh doanh khác.
Tổng quan, Indonesia đã đạt được nhiều thành tựu trong việc triển khai kinh
nghiệm ngoại giao kinh tế. Tuy nhiên, còn nhiều hạn chế cần được vượt qua để nâng
cao hiệu quả và bền vững của các hoạt động ngoại giao kinh tế. Việc nâng cao chất
lượng giáo dục, cải thiện hành chính và thể chế, cũng như đa dạng hóa nền kinh tế sẽ
đóng vai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh kinh nghiệm ngoại giao kinh tế của Indonesia trong tương lai.
ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN TRONG NHÓM Họ và tên Nhiệm vụ Đánh giá
- Phân công nhiệm vụ, giám sát và đánh giá
mức độ hoàn thành công việc cho các thành viên trong nhóm. Phạm Lan Phương
- Lên nội dung chính, tổng hợp nội dung toàn A (nhóm trưởng)
bài và thuyết trình về Nhật Bản
- Tìm hiểu nội dung về Nhật Bản, ê l n bản scipt cho powerpoint. Bùi Phượng Anh
- Làm powerpoint thuyết trình A
- Tìm hiểu nền kinh tế, mục tiêu + chiến lược A Nguyễn Thị Thanh
ngoại giao kinh tế và thực tế triển khai của Huyề n Nhật Bản
- Tổng hợp nội dung cùng Lan Phương
- Tìm hiểu nền kinh tế, mục tiêu + chiến lược A
ngoại giao kinh tế và thực tế triển khai của Hoàng Thị T ù h y Linh Thái Lan
- Thuyết trình về Thái Lan Trịnh Minh Hòa
- Làm powerpoint thuyết trình A
- Tìm hiểu nền kinh tế, mục tiêu + chiến lược A Hoàng Đức Tùng
ngoại giao kinh tế và thực tế triển khai của Thái Lan
- Tìm hiểu nền kinh tế, mục tiêu + chiến lược A
ngoại giao kinh tế và thực tế triển khai của Vy Thế Hùng Indonesia, Singapore
- Thuyết trình phần Singapore
- Tìm hiểu nền kinh tế, mục tiêu + chiến lược A
ngoại giao kinh tế và thực tế triển khai của Nguyễn Thùy Dương Indonesia.
- Làm powerpoint thuyết trình.