Bài tập tự học Chính trị học | Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Chính trị là gì? Trình bày đối tượng, chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu của Chính trị  học? Phân tích luận điểm “Chính trị vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật”? Phân tích nội dung tư tưởng chính trị của Pháp gia? Ảnh hưởng của tư tưởng đó đến đời sống chính trị Việt Nam hiện nay? Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!

Môn:

Chính Trị Học 135 tài liệu

Thông tin:
37 trang 5 ngày trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Bài tập tự học Chính trị học | Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Chính trị là gì? Trình bày đối tượng, chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu của Chính trị  học? Phân tích luận điểm “Chính trị vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật”? Phân tích nội dung tư tưởng chính trị của Pháp gia? Ảnh hưởng của tư tưởng đó đến đời sống chính trị Việt Nam hiện nay? Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!

6 3 lượt tải Tải xuống
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA PHÁT THANH-TRUYỀN HÌNH
BÀI TẬP TỰ HỌC MÔN CHÍNH TRỊ HỌC
Họ và tên:
Mã sinh viên:
Lớp hành chính:
Khoa:
Đậu Thị Phi Yến
2256070056
Báo mạng điện tử K42
Phát thanh Truyền hình
Hà Nội, ngày 20 tháng 02 năm
2024
Câu 1: Chính trị là gì? Trình bày đối tượng, chức năng, nhiệm vụ nghiên
cứu của Chính trị học? Phân tích luận điểm “Chính trị vừa là khoa học,
vừa là nghệ thuật”?
Chính trị học là:
Chính trị theo quan niệm chủ nghĩa Mác-lenin:
- Chính trị là lợi ích, quan hệ giữa các giai cấp
- Chính trị là sự tham gia của nhân dân vào công việc nhà
nước
- Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế
- Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế
Khái niệm Chính trị: Chính trị là một lĩnh vực của đời sống xã hội
kể từ khi xã hội phân chia thành giai cấp và tổ chức thành nhà
nước. Khi chính trị xuất hiện, cùng với việc sử dụng sức mạnh sẵn
có của tự nhiên, trong quá trình tìm kiếm phương thức tổ chức và
sử dụng chính trị, con người đã sáng tạo ra công cụ - sức mạnh đặc
hữu của mình - đó là nhà nước, nhằm thỏa mãn khát vọng giải
phóng của mình. Và, cũng từ đó, cuộc đấu tranh giành, giữ, sử
dụng sức mạnh chính trị, quyền lực chính trị đã trở thành cuộc đấu
tranh giai cấp, động lực cho sự phát triển xã hội.
Đối tượng, chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu của Chính trị học:
Đối tượng nghiên cứu của chính trị học: là những tính quy luật,
quy luật chung nhất của đời sống chính trị của xã hội; những cơ
chế tác động, cơ chế vận dụng, những phương thức, những thủ
thuật, những công nghệ chính trị để hiện thực hóa những quy luật,
tính quy luật.
Chức năng và nhiệm vụ tổng quát của Chính trị học là: phát hiện,
dự báo những quy luật, tính quy luật cơ bản nhất của đời sống
chính trị trong phạm vi mỗi quốc gia cũng như quốc tế; hình thành
hệ thống tri thức có tính lý luận, có căn cứ khoa học và thực tiễn:
lý luận về tổ chức chính trị và cơ chế vận dụng những quy luật,
tính quy luật của đời sống chính trị, lý luận về công nghệ chính trị,
nghệ thuật tổ chức và thực thi quyền lực chính trị, phục vụ sự
nghiệp xây dựng chế độ chính trị tiến bộ.
Trang bị cho các nhà lãnh đạo chính trị những tri thức, kinh
nghiệm cần thiết giúp cho hoạt động của họ phù hợp với quy
luật khách quan, tránh được những sai lầm: giáo diều, chủ
quan, duy ý chí…
Trang bị cho mỗi công dân những cơ sở khoa học để họ có
được những căn cứ đạt tới tầm nhìn phân tích về sự kiện
chính trị, xây dựng thái độ, động cơ đúng đắn phù hợp với
khả năng trong sự phát triển chung mà mỗi công dân tham
gia như một chủ thể.
1
Góp phần hình thành cơ sở khoa học cho các chương trình
chính trị, cho việc hoạch định chiến lược với những mục tiêu
đối nội, đối ngoại, cùng các phương pháp, phương tiện,
những thủ thuật chính trị nhằm đạt mục tiêu chính trị đề ra.
Phân tích Chính trị học vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật
Chính trị là khoa học
Chính trị một hiện tượng khách quan trong đời sống
hội loài người, xuất hiện cùng với giai cấp nhà nước, gắn
liền với quyền lực, với đấu tranh giai cấp đấu tranh dân
tộc.
Chính trị là lĩnh vực tương đối độc lập trong đời sống xã hội,
có logic phát triển nội tại, có quy luật phát triển khách quan.
Chính trị một hệ thống tri thức, từ những tri thức kinh
nghiệm đến tri thức luận hoàn chỉnh, phản ánh quy luật
vận động khách quan của chính trị.
Do hạn chế lịch sử bị chi phối bởi lợi ích giai cấp, nên
chính tr tr thành đặc quyền của giai cấp thống trị. chỉ
trở thành khoa học đích thực khi chủ nghĩa Mác-Lênin ra
đời.
Ngày nay, chính trị thực sự trở thành một khoa học với đối
tượng, phương pháp nghiên cứu riêng.
Chính trị một khoa học, nên phải đối xử với như một
khoa học.
Cách mạng Việt Nam trong đấu tranh giành độc lập cũng
như trong xây dựng chủ nghĩa hội luôn xác định chính trị
(đường lối chính trị, chính sách tổ chức thực tiễn) một
khoa học.
Chính trị là nghệ thuật
Chính trị là hoạt động của con người liên quan đến tranh
giành quyền lực, quyết liệt một mất một còn, nên các chủ thể
chính trị (trước hết là giai cấp) sử dụng mọi biện pháp, thủ
đoạn để đạt mục tiêu chính trị.
Hoạt động chính trị luôn sáng tạo, linh hoạt, khôn khéo,
mềm dẻo, phù hợp với thực tiễn để đạt hiệu quả cao nhất.
Chính trị là phạm vi hoạt động hấp dẫn, nhưng phức tạp,
“giống đại số hơn số học”; “người mù chữ đứng ngoài chính
trị” (Lênin). Nó đòi hỏi kỹ năng, kỹ xảo cao, tầm trí tuệ
tương ứng của các nhà chính trị.
2
Chính trị là nghệ thuật của những bước đi (biết tiến, biết lui
đúng lúc), những giải pháp, thoả hiệp trong những thời điểm
lịch sử quan trọng.
Đó là nghệ thuật vận dụng tri thức lý luận và kinh nghiệm
thực tiễn để xử lý các tình huống chính trị phức tạp, vận
dụng đúng đắn phép biện chứng giữa khách quan và chủ
quan trong hoạt động, đấu tranh chính trị.
Chính trị là nghệ thuật của các khả năng: khả năng nắm bắt
sự vận động của xã hội, dự báo chính xác tình thể và thời cơ
cách mạng.
Chính trị là nghệ thuật tổ chức lực lượng, sử dụng con
người, nghệ thuật vận động quần chúng, nghệ thuật tiến hành
chiến tranh cách mạng.
Chính trị là “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” (Hồ Chí Minh)...
Mối quan hệ biện chứng:
Chính trị vừa là khoa học vừa là nghệ thuật, bởi chính trị đòi
hỏi phải đối xử với nó đạt tới nghệ thuật, và nó chỉ thực sự là
nghệ thuật khi nhận thức và hành động theo đúng quy luật
khách quan (khoa học).
Bản thân chính trị là một khoa học cũng đã phản ánh tính
nghệ thuật của nó, bởi khoa học và nghệ thuật luôn gắn bó
hữu cơ.
Là lĩnh vực nhạy cảm, liên quan đến vận mệnh của con
người, của hàng triệu người, chính trị, hoạt động chính trị
đòi hỏi sự chuẩn xác, gắn với thực tiễn, tuân theo quy luật
khách quan, tránh chủ quan, duy ý chí; đồng thời nó đòi hỏi
sự nhạy cảm, tinh tế, mưu lược đạt trình độ cao.
Trong hoạt động chính trị thực tiễn, tính khoa học và tính
nghệ thuật kết hợp, bổ sung cho nhau. Nếu tuyệt đối hoá tính
khoa học của chính trị dễ rơi vào chủ nghĩa giáo điều, máy
móc; nếu tuyệt đối hoá tính nghệ thuật không tuân theo khoa
học thì chính trị chỉ còn lại là những mánh khoé lừa đảo, mỵ
dân, sớm muộn cũng bị vạch trần.
Câu 2. Phân tích nội dung tư tưởng chính trị của Pháp gia? Ảnh hưởng của
tư tưởng đó đến đời sống chính trị Việt Nam hiện nay?
Tư tưởng chính trị của phái Pháp gia: Hàn Phi Tử cho rằng
Xã hội loài người luôn luôn biến đổi, phát triển theo hướng đi lên.
Bản tính con người ta là ham lợi. Điều này ảnh hưởng và chi phối
các mối quan hệ trong xã hội.
Chính trị đương thời không nên bàn chuyện nhân nghĩa cao xa mà
cần có biện pháp cụ thể cứng rắn, kiên quyết.
3
Từ nhận thức đó, học thuyết chính trị của ông được xây dựng trên cơ sở thống
nhất pháp – thuật – thể.
Pháp luật là những quy ước, chuẩn mực khuôn mẫu do vua ban ra,
được phổ biến rộng rãi để nhân dân thực hiện. Pháp luật phải hợp
thời, đáp ứng được nhu cầu của sự phát triển xã hội. Pháp luật phải
rõ ràng, dễ hiểu và phù hợp với trình độ của dân chúng. Pháp luật
phải công bằng để kẻ mạnh không lấn át kẻ yếu. Quyền lực phải
tập trung vào một người là vua. Vua đề ra pháp luật, quan lại theo
dõi việc thực hiện, dân là người thi hành.
Thuật là thủ đoạn hay thuật cai trị của người làm vua để kiểm tra,
giám sát hay điều khiển bầy tôi. Thuật là phương pháp tuyển chọn,
sử dụng người đúng chức năng. Như vậy, thuật là yếu tố cần thiết,
bổ trợ và làm cho pháp luật được thi hành. Thuật phải được giữ bí
mật , kín đáo không được tiết lộ với bất cứ ai. Vua không được để
lộ sự yêu ghét của mình đề phòng quần thần lợi dụng .
Thế là uy thế, quyền lực của người cầm quyền. Quần thần phục
tùng nhà vua, chịu theo sự ràng buộc bởi quyền uy của nhà vua.
Quyền lực đảm bảo cho sự thi hành pháp luật. Thế phải tuân thủ
theo nguyên tắc tập trung, không được chia sẻ, không được để rơi
vào tay người khác. Vua phải nắm chắc hai phương tiện cưỡng chế,
đó là “nhị bính” (thưởng và phạt). Thưởng phạt phải căn cứ trên cơ
sở pháp luật chứ không thể tùy tiện. Vua cũng phải phục tùng pháp
luật.
=> Hàn Phi Tử cho rằng, “pháp”, “thuật”, “thế” cần phải kết hợp làm một, trong
đó “pháp” là trung tâm, “thuật” và “thế” là những điều kiện tất yếu trong việc
thi hành pháp luật. Pháp luật phải phục vụ lợi ích chung.
Đứng lên lập trường của giai cấp địa chủ mới, tư tưởng Pháp gia đã khai thông
các bế tắc xã hội, tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển.
Tư tưởng Pháp gia đã phục vụ đắc lực cho chế độ phong kiến trung
ương tập quyền, góp phần không nhỏ cho việc củng cố chế độ
phong kiến đời Tần.
Tuy còn mang tính sơ khai nhưng nó đã đặt nền móng cho sự phát
triển của các luồng tư tưởng sau này.
Tính đa dạng của các học thuyết nói lên tính phức tạp của thức tiễn
chính trị , sự khốc liệt trong thời kỳ hình thành và phát triển các
4
chế độ phong kiến. Cuộc đấu tranh giữa hai phái Pháp gia và Nho
gia phản ánh mâu thuẫn gay gắt giữa giai cấp quý tộc và giai cấp
địa chủ mới do có tư tưởng cấp tiến.
Phái Pháp gia đã tích cực thúc đẩy lịch sử phát triển và có công
trong việc thống nhất đất nước.
Liên hệ với Việt Nam: Đối với Việt Nam, tư tưởng Pháp gia của Hàn
Phi Tử chiếm một ý nghĩa quan trọng trong đời sống chính trị.
Từ thời phong kiến, các vua chúa đã biết đề ra các quy tắc, chuẩn
mực xã hội buộc mọi người phải tuân theo. Những quy tắc dù đôi
chỗ có thể thiếu hợp lý, phần lớn lại đảm bảo cho quyền lực của
giai cấp thống trị nhưng điều quan trọng là “phép tắc xã hội đã duy
trì được ổn định xã hội”. Tùy từng thời đại, tùy từng con người mà
những quy chuẩn xã hội đó có thể được thay đổi nhưng mục đích
cuối cùng vẫn là duy trì quyền lực của giai cấp thống trị và duy trì
sự phát triển bền vững của xã hội.
Biểu hiện ở thời hiện đại: Trước hết đó là việc xây dựng hệ thống
pháp luật để quản lý và duy trì sự phát triển bền vững của đất
nước. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước ta giành được
độc lập, với tầm nhìn chiến lược và sự hiểu biết sâu rộng trong lĩnh
vực chính trị, chủ tịch Hồ Chí Minh – lãnh tụ đầu tiên của nước
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã chỉ đạo sự ra đời của Hiến Pháp
đầu tiên năm 1946, đánh dấu sự tồn tại và phát triển của một quốc
gia độc lập. Hiến pháp năm 1946 dần dần được sửa đổi và hoàn
thiện để ngày càng phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội
của đất nước. Cho đến hôm nay, nhờ sự có mặt của luật pháp mà
nước ta đã duy trì được chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa, duy trì
được sự ổn định chính trị tạo đà cho kinh tế phát triển. Nhờ đó,
Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có nền chính
trị ổn định nhất khu vực và thế giới.
Nhờ pháp luật vì lẽ phải và phục vụ lợi ích chung mà trong những
năm qua công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta đã
đạt được một số thành tựu đáng kể. Đó là thành tựu trong các lĩnh
vực y tế, giáo dục, an ninh quốc phòng,… Nhân dân ta đoàn kết
một lòng, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, xây dựng nếp
sống tốt đẹp. Trong lĩnh vực chính trị, dân chủ hóa xã hội được mở
rộng. Nhân dân là người bỏ phiếu để bầu ra lực lượng đại diện cho
mình. Sự công bằng của pháp luật đã đảm bảo cho việc thực hiện
5
nó một cách nghiêm túc. Đó là điểm được áp dụng ở mọi quốc gia,
không riêng gì Việt Nam. Trong môi trường công bằng của pháp
luật, mọi người dân đều có quyền phát triển tự do và bình đẳng.
Yếu tố này không những duy trì sự ổn định chế độ mà còn kích
thích việc tìm ra nhân tài cho đất nước.
Câu 3.Trình bày nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về chính trị? Chứng
minh những sáng tạo của Hồ Chí Minh trong việc vận dụng học thuyết
chính trị Mác-Lênin và điều kiện Việt Nam
Tư tưởng của Hồ Chí Minh về chính trị như sau:
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội: Trong toàn bộ tiến
trình đấu tranh cách mạng của dân tộc ta, tư tưởng bao trùm là tư
tưởng “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Tư tưởng đó được
Người quán triệt và thể hiện trong toàn bộ quá trình lãnh đạo cách
mạng là “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”. Đây là hạt
nhân cốt lõi nhất trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh, đồng thời
là tư tưởng trọng tâm xuyên suốt toàn bộ hệ thống. Độc lập dân
tộc, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh bao gồm những nội dung:
Dân tộc đó phải thoát khỏi nô lệ (dưới mọi hình thức) bằng
con đường cách mạng do chính dân tộc đó tiến hành - “đem
sức ta mà giải phóng cho ta"¹
Dân tộc đó phải có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, phải có
quyền tự quyết định sự phát triển của dân tộc mình.
Độc lập dân tộc phải là một nền độc lập thật sự chứ không
phải giả hiệu, phải thực hiện được các giá trị như tự do, dân
chủ, công bằng, bình đẳng đối với nhân dân chứ không chỉ là
những lời tuyên bố hoa mỹ.
Độc lập về chính trị phải gắn liền với sự phồn thịnh mọi mặt:
kinh tế, văn hóa, xã hội.
Phải tự giành lấy bằng con đường cách mạng, tự lực tự
cường và tự trọng. Người cho rằng, một dân tộc không có
khả năng ý thức độc lập, tự lực, tự cường thì dân tộc đó
không xứng đáng được hưởng độc lập
Tư tưởng về đại đoàn kết:
Hồ Chí Minh quan niệm sức mạnh là ở đoàn kết toàn dân, ở
sự đồng lòng của toàn xã hội. Đoàn kết trên lập trường của
giai cấp công nhân, được thực hiện trên mọi phương diện:
đoàn kết giai cấp, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế.
Đoàn kết, theo Hồ Chí Minh, phải trên cơ sở có lý, có tình,
có nghĩa; đoàn kết là để phát triển, để làm tốt hơn nhiệm vụ
của cách mạng, cách mạng muốn thắng lợi thì phải đoàn kết;
đoàn kết lấy liên minh công - nông - trí thức làm nền tảng,
6
lấy lợi ích tối cao của dân tộc làm điểm quy tụ để bảo đảm
hài hòa giữa các lợi ích
Tư tưởng về xây dựng thể chế chính trị:
Trong xây dựng thể chế chính trị, quan trọng nhất là xây
dựng thể chế nhà nước. Đây là nội dung giữ vị trí đặc biệt
của tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh. Điều mà Hồ Chí Minh
đặc biệt quan tâm là tính chất nhà nước. Nhà nước đó có
phải là nhà nước của dân hay không? Chế độ dân chủ có phù
hợp với chế độ nhà nước không?
Hồ Chí Minh quan niệm, dân chủ có nghĩa là “dân là chủ”
giá trị thực chất của dân chủ là phải có cơm ăn, áo mặc, học
hành... Người chỉ ra vai trò động lực của dân chủ, xem dân
chủ là chìa khóa của tiến bộ xã hội. Người chủ trương phải
thực hành dân chủ rộng rãi trong nhân dân, giáo dục nhân
dân ý thức chấp hành pháp luật, quyền gắn liền với nghĩa
vụ của công dân, dân chủ gắn với pháp luật, gắn với tập
trung. Hồ Chí Minh cũng phê phán bệnh độc đoán chuyên
quyền, quan liêu, vô chính phủ.
Lý luận về đảng cầm quyền: Hồ Chí Minh luôn coi xây dựng Đảng
của giai cấp công nhân Việt Nam là một nhiệm vụ cực kỳ quan
trọng, là nhân tố quyết định trước hết đối với mọi thắng lợi của
cách mạng.
Hồ Chí Minh khẳng định: “Trước hết phải có đảng cách
mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì
liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi.
Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người
cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải
có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng
phải theo chủ nghĩa ấy.
Quan điểm của Hồ Chí Minh về sự hình thành một Đảng
Cộng sản ở Việt Nam vừa quán triệt đầy đủ học thuyết Mác -
Lênin về Đảng Cộng sản, vừa phù hợp với hoàn cảnh một
nước thuộc địa lạc hậu chậm phát triển, nơi có truyền thống
đấu tranh yêu nước lâu đời của nhân dân, nơi số lượng giai
cấp công nhân còn ít ỏi nhưng đã có mối quan hệ chặt chẽ
với phong trào yêu nước ngay từ đầu. Đảng Cộng sản Việt
Nam là kết quả của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với
phong trào công nhân, phong trào yêu nước Việt Nam.
Về phương pháp cách mạng: Là lãnh tụ chính trị của Cách mạng
Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh chẳng những đã xác định đường
lối đúng đắn cho cách mạng nước ta, mà còn xác định và vận dụng
những phương pháp cách mạng đầy sáng tạo. Có thể hiểu phương
pháp cách mạng Hồ Chí Minh theo hai nghĩa như sau:
7
Theo nghĩa rộng: đó là sự vận động của tư tưởng chính trị
Hồ Chí Minh trong thực tiễn. Nói cách khác, đó là những
quy luật hoạt động thực tiễn của quần chúng nhân dân dưới
sự lãnh đạo của Đảng, mà theo đó tư tưởng chính trị của
Người được hiện thực hoá.
Theo nghĩa hẹp, đó là cách thức tiến hành cách mạng với
tính cách là hệ thống các nguyên tắc được thể hiện bằng
những hình thức, biện pháp, bước đi thích hợp để thực hiện
thắng lợi đường lối cách mạng, biến đường lối cách mạng
thành hiện thực.
=> Phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh là phương pháp cách
mạng vô sản được vận dụng và phát triển một cách sáng tạo vào một
nước thuộc địa nửa phong kiến. Nó thể hiện đầy đủ ba yếu tố tác
động biện chứng với nhau trong một thể thống nhất: Yếu tố về hình
thức, biện pháp, bước đi thích hợp với tính cách là hệ thống các
nguyên tắc Hồ Chí Minh nhằm định hướng, điều chỉnh hành động;
yếu tố chủ thể hành động là các lực lượng cách mạng, trong đó giai
cấp công nhân và đội tiền phong của nó là Đảng Cộng sản là lực
lượng lãnh đạo, quần chúng nhân dân là lực lượng tiến hành cách
mạng; yếu tố về mục tiêu cách mạng là: độc lập dân tộc gắn liền với
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Chứng minh những sáng tạo của Hồ Chí Minh trong việc vận dụng học
thuyết chính trị Mác-Lênin và điều kiện Việt Nam: Hồ Chí Minh xem chủ
nghĩa Mác – Lênin như một kim chỉ nam cho sự nghiệp cứu nước, giải
phóng dân tộc và luôn nhấn mạnh rằng cần phải vận dụng sáng tạo “cẩm
nang thần kỳ” đó.Từ phương pháp tiếp cận đúng đắn, mạnh dạn, khoa học
trong kế thừa và phát triển học thuyết Mác – Lênin, đồng thời bám sát
thực tiễn Việt Nam và thế giới.
Luận điểm sáng tạo lớn đầu tiên của Hồ Chí Minh là luận điểm về
chủ nghĩa thực dân và vấn đề giải phóng dân tộc. Sự phân tích về
chủ nghĩa thực dân của Hồ Chí Minh đã vượt hẳn những gì mà
những nhà lý luận mát – xít đề cập đến. Người đã nêu lên những
luận điểm sáng tạo: Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước
thuộc địa quan hệ chặt chẽ với cách mạng chính quốc, nhưng
không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng chính quốc. Nhân dân
các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc “có thể chủ động đứng lên, đem
sức ta mà giải phóng cho ta”, giành thắng lợi trước cách mạng
chính quốc và qua đó, thúc đẩy cách mạng chính quốc.
Hai là, khi phân tích xã hội của các nước thuộc địa, Hồ Chí Minh
tiếp thu, vận dụng quan điểm giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ
nghĩa Mác – Lênin một cách sáng tạo, Người tìm thấy con đường
8
duy nhất đúng đắn cho dân tộc, đó là: “Làm tư sản dân quyền cách
mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Theo Hồ
Chí Minh, ở Việt Nam cũng như các nước phương Đông, do trình
độ sản xuất phát triển nên sự phân hóa giai cấp và đấu tranh giai
cấp không giống như ở các nước phương Tây. Hồ Chí Minh đã
khẳng định: “Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của sự phát
triển đất nước” ; gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng Thế giới,
đặt cách mạng Việt Nam vào quỹ đạo cách mạng vô sản thế giới,
nghĩa là Người đã quốc tế hóa những vấn đề của cách mạng nước
ta.
Vấn đề thứ ba là vấn đề chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên
chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Hồ Chí Minh khẳng định: Sau khi cơ
bản hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, chúng ta nhất định
phải quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chỉ có xây dựng chủ nghĩa xã
hội, chúng ta mới thực sự giải phóng được dân tộc, xã hội và con
người. Đặc điểm lớn nhất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam là “từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ
nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ
nghĩa”.
Luận điểm thứ tư là về Đảng và xây dựng Đảng được Hồ Chí Minh
nêu lên đầy mới mẻ và sáng tạo. Với một đất nước thuộc địa nửa
phong kiến, nông dân chiếm đa số dân cư như Việt Nam, Hồ Chí
Minh đã xác định quy luật hình thành của Đảng là “kết hợp chủ
nghĩa Mác- Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu
nước, bản chất của Đảng trong điều kiện một nước nông nghiệp lạc
hậu – Đảng là của giai cấp, đồng thời của dân tộc và của nhân dân
lý luận, chính trị, tổ chức mà cả về văn hóa.
Thứ năm, Hồ Chí Minh đã có những cống hiến sáng tạo về tư
tưởng quân sự, đặt nền móng cho sự hình thành học thuyết quân sự
cách mạng Việt Nam hiện đại. Xuất phát từ nhiệm vụ cơ bản, hàng
đầu của cách mạng Việt Nam là đánh đổ đế quốc, phong kiến,
giành chính quyền về tay nhân dân, ngay từ đầu, Người đã xác
định: Phải giành chính quyền bằng bạo lực, bằng khởi nghĩa vũ
trang và chiến tranh cách mạng nếu kẻ thù ngoan cố, không chịu hạ
vũ khí.
Điểm thứ sáu là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Theo quan
điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, sau khi cách mạng vô sản thắng
lợi, giai cấp vô sản sẽ thiết lập nên nền chuyên chính vô sản. Ở Hồ
Chí Minh đã hình thành và phát triển một hệ thống các quan điểm
sáng tạo về Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam. Người đã vận dụng
sáng tạo quan điểm đó vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, một
cuộc cách mạng từ giải phóng dân tộc mà phát triển lên. Trong
chánh cương vắn tắt (1930), Hồ Chí Minh đã nêu: Thiết lập chính
9
phủ công nông binh, tổ chức ra quân đội công nông. Tại Hội nghị
TW8 (5/1941), Người đề ra chủ trương thành lập “một nước Việt
Nam dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng một giai cấp
nào, mà của chung toàn thể dân tộc”.
Bảy là, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí
Minh luôn giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và giai
cấp Hồ Chí Minh đã có các quan điểm sáng tạo về chiến lược đại
đoàn kết dân tộc theo phương châm: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn
kết; Thành công, thành công, đại thành công”. Đường lối của cách
mạng Việt Nam là đi từ giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân
chủ nhân dân, từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội, kết hợp độc lập
dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Động lực cơ bản của toàn bộ sự
nghiệp cách mạng đó là đại đoàn kết toàn dân trên nền tảng liên
minh công nhân, nông dân, trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản.
Câu 4. Khái niệm quyền lực chính trị? Trình bày quá trình hình thành
quyền lực chính trị và sự chuyển hóa quyền lực chính trị thành quyền lực
nhà nước? Tại sao nói: Ở Việt Nam, quyền lực chính trị thuộc về nhân
dân?
Quyền lực chính trị:
Là quyền sử dụng sức mạnh cho mục đích chính trị; là quyền lực
xã hội nhằm giải quyết lợi ích giai cấp, dân tộc, nhân loại; là quyền
lực của một hay liên minh giai cấp; là quyền lực của các giai cấp,
các nhóm xã hội, các lực lượng xã hội dùng để chi phối, tác động
đến quá trình tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước nhằm tối đa
hóa lợi ích của mình; là quyền lực của nhà nước, các đảng chính
trị, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức bầu cử, các cơ quan
tự quản địa phương.
Theo chủ nghĩa Mác-Lênin, quyền lực chính trị là quyền lực của
một hay liên minh giai cấp, tập đoàn xã hội hoặc của nhân dân
(trong điều kiện chủ nghĩa xã hội); nó nói lên khả năng của một
giai cấp nhằm thực hiện lợi ích khách quan của mình. Quyền lực
chính trị theo đúng nghĩa của nó, là bạo lực có tổ chức của một giai
cấp để trấn áp giai cấp khác.
=> Từ những cách tiếp cận nêu trên, có thể hiểu một cách chung nhất:
Quyền lực chính trị là quyền sử dụng sức mạnh của một hay liên minh
giai cấp, tập đoàn xã hội nhằm thực hiện sự thống trị chính trị; là năng
lực áp đặt và thực thi các giải pháp phân bổ giá trị xã hội có lợi cho giai
cấp mình - chủ yếu thông qua đấu tranh giành, giữ và thực thi quyền lực
nhà nước.
10
Quá trình hình thành quyền lực chính trị và sự chuyển hóa quyền lực
chính trị thành quyền lực nhà nước
Quá trình hình thành:
Sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn đến mâu thuẫn với
quan hệ sản xuất hiện có và đòi hỏi phải thay thế quan hệ sản
xuất cũ
Mâu thuẫn về hội nảy sinh, giai cấp mới đại diện cho lực
lượng sản xuất mới tiến bộ ra đời, thành lập tổ chức của
mình và đòi hỏi sự thừa nhận về mặt pháp lý
Sự chuyển hóa quyền lực chính trị thành quyền lực nhà nước:
Trong xã hội có giai cấp và đối kháng giai cấp về cơ bản có hai loại
QLCT
QLCT của giai cấp thống trị (đã trở thành QLNN)
QLCT của các giai cấp, tầng lớp còn lại trong xã hội:
QL của nhóm giai cấp, tầng lớp tuy khác nhưng
không đối kháng với giai cấp thống trị
QL của nhóm giai cấp, tầng lớp đối kháng với giai
cấp thống trị:
- Nhóm đại diện cho phương thức sản xuất lỗi
thời của xã hội trước- tàn dư
- Nhóm đại diện cho phương thức sản xuất tiến
bộ của xã hội sau này- mầm mống
Tại sao nói: Ở Việt Nam, quyền lực chính trị thuộc về nhân dân
Bởi nhà nước là của dân, do dân và vì dân! Tất cả vì lợi ích của
nhân dân.
"Của dân": Nhà nước được coi là thuộc về nhân dân, điều
này có nghĩa là tất cả các quyết định và hoạt động của chính
phủ và các cơ quan chính quyền đều phải dựa trên ý kiến và
lợi ích của nhân dân. Nhà nước tồn tại để phục vụ và bảo vệ
quyền lợi của nhân dân.
"Do dân": Quyền lực chính trị thuộc về nhân dân, có nghĩa là
quyết định chính sách và hành động của chính phủ phải được
hình thành và thực thi dưới sự kiểm soát và ảnh hưởng của
nhân dân thông qua các phương tiện như bầu cử, tham gia
vào các quy trình dân chủ, và tham gia vào các tổ chức xã
hội.
"Vì dân": Mọi quyết định và hành động của nhà nước phải
được thực hiện vì lợi ích chung của nhân dân, đảm bảo sự
công bằng, bình đẳng, và phát triển cho tất cả các thành viên
trong xã hội. Nhà nước phải xây dựng và thực thi chính sách
để nâng cao đời sống và trao quyền cho nhân dân.
Nhân dân tham gia vào các cơ quan quản lý nhà nước từ cấp cơ sở,
các cấp trung ương cho đến cấp quốc gia thông qua các tổ chức
11
như các Hội đồng Nhân dân, các Ủy ban Nhân dân, và các cuộc
bầu cử.
Câu 5. Phân tích nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện
nay? Biện pháp kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay?
Nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay: Ở nước ta
hiện nay, bản chất của chế độ chính trị, kinh tế đã tạo ra những điều kiện
khách quan gắn kết các giai cấp, dân tộc, các tầng lớp nhân dân thành một
khối thống nhất về ý chí, tư tưởng và lợi ích thành một cộng đồng bền
chặt làm chủ nước nhà. Mọi giai cấp, tầng lớp nhân dân đoàn kết thống
nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản - đại biểu trung thành lợi ích
của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc. Quyền lực nhà
nước thống nhất thuộc về nhân dân. Nguyên tắc thống nhất quyền lực nhà
nước được xuất phát từ ba phương diện:
Về chính trị: nền tảng của sự thống nhất đó là quyền lực nhà nước
bắt nguồn từ nhân dân, của nhân dân; quyền lực nhà nước là ý chí
của giai cấp cầm quyền được thực hiện thông qua nhà nước;
Về pháp lý: quyền lực nhà nước gồm ba yếu tố không thể phân
chia là quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp giống như cây quyền
lực gồm ba nhánh. Ba nhánh quyền lực này tồn tại cùng với sự xuất
hiện Nhà nước. Nhà nước ban hành pháp luật, nhà nước thực hiện
pháp luật và nhà nước bảo vệ pháp luật;
Về thực tiễn: Quốc hội của nước ta ngay từ khi ra đời đến nay luôn
được tổ chức theo cơ cấu thống nhất, không phân chia thành hai
viện và tất cả các đại biểu Quốc hội đều do nhân dân trực tiếp bầu
ra để thay mặt nhân dân nắm giữ quyền lực nhà nước.
=> Tóm lại, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nhân dân trao quyền
lực nhà nước cho Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan tư pháp. Ba cơ quan nhà
nước có tính độc lập tương đối, ngang bằng nhau (chứ không phải Quốc hội là
cấp trên). Các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp đều có nguồn gốc thống
nhất là nhân dân, đều do nhân dân ủy quyền, giao quyền
Biện pháp kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay:
Tại sao phải kiểm soát quyền lực ở Việt Nam:
Tình trạng tha hóa quyền lực
Tình trạng suy thoái, biến chất
Tình trạng quan liêu, tham nhũng
Tình trạng chuyên quyền, độc đoán, bè phái, lợi ích nhóm
Kiểm soát quyền lực:
Bên trong bộ máy nhà nước:
Kiểm soát trong cơ chế giám sát tối cao của Quốc hội
12
Kiểm soát qua cơ chế thanh tra của thanh tra Nhà
nước
Kiểm soát quyền lực của cơ quan tư pháp
Bên ngoài:
Kiểm soát quyền lực của các tổ chức chính trị-xã hội
Kiểm soát quyền lực của Mặt trận TQ Việt Nam
Kiểm soát quyền lực của xã hội: Báo chí, nhân dân…
Câu 6. Đảng chính trị gì? Phân tích bản chất vai trò của Đảng chính
trị và liên hệ với bản chất và vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam?
Khái niệm: Đảng CT là 1 hiện tượng đặc thù của XH phân chia GC
đấu tranh GC. ĐCT là yếu tố cơ bản của HTCT, HTTCQLCT, của chế độ
CT XH công dân công cụ tập hợp của 1 GC; tổ chức lãnh đạo đấu
tranh GC mục tiêu giành, giữ, sử dụng QLNN định hướng CT cho
phát triển XH
Bản chất
Dưới chế độ TBCN:
Chế độ đa nguyên chính trị vẻ bề ngoài còn thực chất
nhất nguyên CT. Đảng lớn nhất sẽ cầm quyền, ngay cả 1
số Đảng liên minh cầm quyền trong thực tế chỉ Đảng lớn
nhất, có thế lực nhất nắm quyền quyết định => bảo vệ lợi ích
của GCTS, chế độ TBCN
Khi GG sản đấu tranh với GCTS cần 1 ĐCT ĐCS,
đội tiên phong chiến đấu của GCCN. ĐCS tập hợp tổ
chức GCCN nông dân lao động đấu tranh vì mục tiêu thủ
tiêu chế độ hữu, nguồn gốc của mọi sự bất công, bóc lột,
bất bình đẳng, xây dựng XH CSCN
Dưới chế độ XHCN: ĐCS đội tiên phong của GCCN, đại
biểu trung thành cho lợi ích của GCCN và NDLĐ
13
Xét về bản chất, ĐCT nào cũng mang bản chất GC, tồn tại với mục đích nắm
QLNN để bảo vệ lợi ích GC đại diện. Không ĐCT nào phi GC, siêu
GC.
Khi XH còn phân chia GC thì không thể 1 ĐCT vừa đại diện cho lợi ích
của GC thống trị bóc lột, vừa đại diện cho lợi ích của các GC và NDLĐ bóc lột
Vai trò của ĐCT
Đảng chính trị là nhân tố tác động:
Là bộ phận tích cực nhất, tổ chức nhất của giai cấp, đảng chính trị được
lập ra để thực hiện lợi ích, mục đích giai cấp, nắm quyền lực nhà nước. Như
vậy, vai trò của đảng chính trị (vai trò cách mạng, tiến bộ hay bảo thủ, phản
động) tùy thuộc vào địa vị lịch sử mà đảng chính trị đó thực hiện. Trong lịch sử
tồn tại phát triển của các đảng chính trị, đảng đóng vai trò tiến bộ cách
mạng, như đảng Mácxít – Lêninnit, có đảng thể hiện sự bảo thủ, phản động như
các đảng địa chủ, nông dân..., cũng có đảng chính trị, ở thời kỳ này đóng vai trò
cách mạng, tiến bộ, còn thời kỳ khác lại bảo thủ, phản động. Điều này tùy
thuộc vào bản chất của giai cấp đảng đó đại diện. C. Mác đã thể hiện
tưởng đó trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”: “Ở Pháp, những người cộng
sản liên hợp với Đảng Dân chủ - xã hội chủ nghĩa chống giai cấp tư sản bảo thủ
cấp tiến… Đức, Đảng Cộng sản đấu tranh chung với giai cấp sản mỗi
khi giai cấp này hành động cách mạng chống chế độ quân chủ chuyên chế,
chống chế độ sở hữu ruộng đất phong kiến và giai cấp tiểu tư sản phản động”
Vai trò của đảng chính trị ở các nước tư bản chủ nghĩa:
Vai trò tích cực của Đảng cầm quyền:
các nước bản chủ nghĩa, vai trò của đảng chính
trị thể hiện rõ nhất trong các cuộc bầu cử giành quyền
lực nhà nước. Đó là tổ chức bầu cử, đảm bảo thay đổi
chính quyền bằng cách hòa bình, hợp pháp, hợp hiến.
14
Sau khi đắc cử, Đảng cầm quyền đề ra đường lối, định
hướng phát triển kinh tế - hội thông qua cương lĩnh
chính trị, đào tạo, bố trí tuyển lựa thành viên của đảng
vào các cương vị chủ chốt của chính quyền, chuẩn bị
các chính sách, chiến lược hoạt động của nhà nước.
Vai trò tích cực của Đảng không cầm quyền:
Đảng không cầm quyền kiềm chế, đối trọng, giám sát đảng
cầm quyền, “cái van” điều chỉnh hoạt động của đảng cầm
quyền.
Đảng không cầm quyền tập hợp giai cấp, tổ chức giai cấp,
tập hợp lựcợng để đấu tranh chính trị nhằm giành quyền
lực nhà nước về tay mình.
=> Đảng không cầm quyền tăng cường tính tích cực cho công dân.
Ảnh hưởng tiêu cực:
Mặt tiêu cực của đảng chính trị bộc lộ khi chia rẽ nhân dân,
tách nhân dân ra khỏi chính trị.
Để đạt được mục đích, đảng chính trị hành động kể cả những thủ
đoạn, kích thích sự thèm khát quyền lực chính tri tạo thêm
những điều kiện cho tham nhũng, tước bỏ quyền dân chủ của nhân
dân.
Vai trò của đảng chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa:
Vai trò tích cực:
Trong hệ thống chính trị ở các nước hội chủ nghĩa, Đảng
cộng sản lực lượng duy nhất lãnh đạo, thực hiện quyền
thống trị về chính trị của giai cấp công nhân để xây dựng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân
và quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.
15
Giai cấp công nhân thông qua đội tiên phong của mình
Đảng Cộng sản chịu trách nhiệm hoàn toàn trước vận mệnh
phát triển của dân tộc, lãnh đạo mọi mặt của đời sống xã hội:
kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội.
Sự lãnh đạo chính trị của Đảng Cộng sản trong điều kiện
Đảng cầm quyền thực chất xây dựng nhà nước về mặt
kinh tế. Bởi vậy, quyền lực của Đảng không mâu thuẫn
không thay thế quyền lực nhà ớc, tập trung vào việc lãnh
đạo xây dựng nhà nước để quản lý kinh tế - lĩnh vực suy cho
cùng quyết định đến sự phát triển của xã hôi, quyết định vai
trò lãnh đạo của Đảng.
=> Như vậy, Đảng Cộng sản có vai trò tích cực, gần như không có ảnh hưởng
tiêu cực bởi mục tiêu cuối cùng nhân dân, đưa hội đi lên cộng sản chủ
nghĩa, không còn giai cấp, không còn bóc lột, con người sống trong hòa bình,
tình yêu.
Ảnh hưởng tiêu cực: Tuy nhiên, trong những tình hình cụ thể,
Đảng Cộng sản cũng có những biểu hiện tiêu cực trong lãnh đạo xã
hội khi nội bộ Đảng tha hóa, biến chất, rời lợi ích giai cấp, mất
sức chiến đấu. Do đó, cần phải làm trong sạch và chỉnh đống Đảng.
Liên hệ đảng cộng sản Việt Nam
Đảng cộng sản vừa bộ phận cấu thành, vừa là người lãnh đạo hệ
thống chính trị ở Việt Nam
Hoạch định cương lĩnh, đề ra chủ trương, đường lối, chính
sách lớn trong từng giai đoạn, thời kỳ, trên các lĩnh vực của
đời sống xã hội
16
Phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng những đảng viên những
người tiêu biểu ngoài đảng giới thiệu vào các quan nhà
nước, tổ chức hôi, qua chế tuyển chọn, bố trí vào các
chức vụ chủ chốt trong các cơ quan nhà nước và các tổ chức
chính trị- xã hội.
Kiểm tra hoạt động của các quan nhà nước, các tổ chức
chính trị trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách của
đảng, tđó kịp thời phát hiện những lệch lạc, sai lầm
biện pháp khắc phục
Sự lãnh đạo của đảng đối với hệ thống chính trị sự lãnh
đạo chính trị mang tính chất định hướng, từ đó nhà nước
các tổ chức chính trị- hội sở để chủ động sáng
tạo trong tổ chức hoạt động bằng những công cụ biện
pháp thích hợp của mình
Phương pháp lãnh đạo của đảng phương pháp dân chủ,
giáo dục, thuyết phục, dựa vào uy tín, năng lực của các đảng
viên tổ chức đảng
Đảng cộng sản cầm quyền nhằm bảo đảm phát huy quyền lực
của nhân dân
Đảng lãnh đạo để nhân dân làm chủ ngày càng tốt hơn, dân
chủ của nhân dân ngà càng được mở rộng và sâu sắc hơn- đó
sứ mệnh lịch sử của đảng cộng sản cầm quyền. để phát
huy được quyền lực của nhân dân, phải giữ vững tăng
cường vai trò lãnh đạo của đảng, đảng phải thực sự trở thành
tấm gương về dân chủ trong hội. để dân chủ hoá đảng,
cần chú ý 3 điểm
Dân chủ hoá, đổi mới mạnh mẽ quá trình hoạch định các
quyết sách chính trị của đảng. Muốn vậy, cần tổ chức hệ
thống hỏi ý kiến nhân dân
17
Xây dựng vận hành hệ thống giám sát, phản biện của mặt
trận tổ quốc, các đoàn thể nhân dân nói chung đối với
đường lối, chính sahcs của đảng và nhà nước
Dân chủ hoá hoạt động của đại hội đảng, dân chủ hoá trong
sinh hoạt của ban chấp hành trung ương, của bộ chính trị
trọng điểm, trên sở đó dân chủ trong sinh hoạt của
các cấp uỷ đảng, trong mối quan hệ giữa các thành viên cấp
uỷ, giữa cấp uỷ cấp trên với cấp uỷ cấp dưới, giữa cấp uỷ với
các đảng viên khác
Để đảng thực sự tấm gương về dân chủ, còn cần đổi mới
phương thức lãnh đạo của đảng đối với hoạt động của bản
thân đảng, trước hết là hoạt động xây dựng đảng về chính trị,
tư tưởng, tổ chức.
Để phát huy quyền lực của nhân dân, phải coi trọng việc xây
dựng, củng cổ, hoàn thiện nhà nước pháp quyền hội chủ
nghĩa cuản hân dân, do nhân dân, vì nhân dân
Để phát huy quyền lực của nhân dân, phải gắn bổi mới hệ
thống chính trị với đổi mới kinh tế, phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Để bảo đảm quyền lực của nhân dân, phải khoa học hoá, vận
dùng thành quả khoa học lãnh đạo, khoa học quản hiện
đại vào việc lãnh đạo, quản lý đất nước, phải dân chủ hoá về
thông tin, phải nâng cao dân trí và tình độ văn hoá chung của
nhân dân, phải mở rộng giao lưu quốc tế
Để cùng cổ quyền lực của nhân dân, cần xác lập từng
bước hoàn thiện hệ thống giám sát, phản biện xã hội
Câu 7. Thủ lĩnh chính trị gì? Hãy lựa chọn một Thủ lĩnh chính trị
mình tâm đắc nhất, từ đó phân tích phẩm chất tiêu biểu và vai trò của Thủ
18
lĩnh chính trị đối với sự phát triển của quốc gia đó?
Thủ lĩnh chính trị là gì
Theo tiếng hán việt, thủ lĩnh là người đứng đầu, người dẫn dắt lãnh
đạo một tập thể một tổ chức nào đó
Thời Trung Quốc cổ đại: đó là quan niệm về người làm vua, người
đứng đầu đất nước
Thời Hy Lạp, La cổ đại: theo Xênôphôn, đó người biết chỉ
huy nhận thức được chính trị, giởi kỹ thuật, giỏi thuyết phục lợi
ích chung, lôi kéo tập hợp được quần chúng.
Thời kỳ cận đại: trường phái duy tậm hoặc tuyệt đối hoá, hoặc phủ
nhận vai trò của thủ lĩnh chính trị. Chủ nghĩa duy vật: người đứng
đầu vai trò rát quan trọng, nhưng nhân dân mới người quyết
định, mỗi thời đại đều có một thủ lĩnh chính trị khác nhau.
Tóm lại: Thủ lĩnh chính trị nhân vật xuất sắc trong lĩnh vực hoạt động chính
trị, xuất hiện trong những điều kiện lịch sử nhất định, sự giác ngộ lợi ích,
mục tiêu, tưởng giai cấp, khả năng nắm bắt sử dụng quy luật, năng
lực tổ chức tập hợp quần chúng để giải quyết những nhiệm vụ chính trị do
lịch sử đặt ra.
Phẩm chất tiêu biểu vai trò của Thủ lĩnh chính trị đối với sự phát triển
của Việt Nam
Ở nước Việt Nam có vị lãnh tụ, nhà cách mạng vĩ đại của dân tộc đó là Chủ tịch
Hồ Chí Minh. Người đã ra đi tìm đường cứuớc giành lại độc lập tự do cho
dân tộc. Người đã tìm ra đường lối chính trị đúng đắn theo chủ nghĩa Mác
nin để giải phóng dân tộc. Sau đó, Người đã sáng lập ra ĐCSVN, một trong
những người đặt ra nền móng và lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập toàn vẹn
lãnh thổ. Bằng lòng yêu nước, sự hiểu biết sâu sắc về chính trị, sự nhậy bén
trong công việc lãnh đạo Hồ Chí Minh đã luôn lấy chủ nghĩa Mác- Lenin, giai
cấp sản làm nền tảng để lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành thắng lợi qua
cuộc kháng chiến chống Pháp để rồi đến năm 1945 tại quảng trường Ba Đình
Người đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa. Vẫn bằng cách vận dụng sáng tạo tưởng chủ nghĩa Mác vào tình
hình thực tế của đất nước Người đã lãnh đạo đất nước giành thắng lợi trong
19
| 1/37

Preview text:

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA PHÁT THANH-TRUYỀN HÌNH
BÀI TẬP TỰ HỌC MÔN CHÍNH TRỊ HỌC Họ và tên: Đậu Thị Phi Yến Mã sinh viên: 2256070056 Lớp hành chính: Báo mạng điện tử K42 Khoa: Phát thanh Truyền hình
Hà Nội, ngày 20 tháng 02 năm 2024
Câu 1: Chính trị là gì? Trình bày đối tượng, chức năng, nhiệm vụ nghiên
cứu của Chính trị học? Phân tích luận điểm “Chính trị vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật”? ❖ Chính trị học là:
➢ Chính trị theo quan niệm chủ nghĩa Mác-lenin:
- Chính trị là lợi ích, quan hệ giữa các giai cấp
- Chính trị là sự tham gia của nhân dân vào công việc nhà nước
- Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế
- Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế
➢ Khái niệm Chính trị: Chính trị là một lĩnh vực của đời sống xã hội
kể từ khi xã hội phân chia thành giai cấp và tổ chức thành nhà
nước. Khi chính trị xuất hiện, cùng với việc sử dụng sức mạnh sẵn
có của tự nhiên, trong quá trình tìm kiếm phương thức tổ chức và
sử dụng chính trị, con người đã sáng tạo ra công cụ - sức mạnh đặc
hữu của mình - đó là nhà nước, nhằm thỏa mãn khát vọng giải
phóng của mình. Và, cũng từ đó, cuộc đấu tranh giành, giữ, sử
dụng sức mạnh chính trị, quyền lực chính trị đã trở thành cuộc đấu
tranh giai cấp, động lực cho sự phát triển xã hội.
❖ Đối tượng, chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu của Chính trị học:
➢ Đối tượng nghiên cứu của chính trị học: là những tính quy luật,
quy luật chung nhất của đời sống chính trị của xã hội; những cơ
chế tác động, cơ chế vận dụng, những phương thức, những thủ
thuật, những công nghệ chính trị để hiện thực hóa những quy luật, tính quy luật.
➢ Chức năng và nhiệm vụ tổng quát của Chính trị học là: phát hiện,
dự báo những quy luật, tính quy luật cơ bản nhất của đời sống
chính trị trong phạm vi mỗi quốc gia cũng như quốc tế; hình thành
hệ thống tri thức có tính lý luận, có căn cứ khoa học và thực tiễn:
lý luận về tổ chức chính trị và cơ chế vận dụng những quy luật,
tính quy luật của đời sống chính trị, lý luận về công nghệ chính trị,
nghệ thuật tổ chức và thực thi quyền lực chính trị, phục vụ sự
nghiệp xây dựng chế độ chính trị tiến bộ.
➔ Trang bị cho các nhà lãnh đạo chính trị những tri thức, kinh
nghiệm cần thiết giúp cho hoạt động của họ phù hợp với quy
luật khách quan, tránh được những sai lầm: giáo diều, chủ quan, duy ý chí…
➔ Trang bị cho mỗi công dân những cơ sở khoa học để họ có
được những căn cứ đạt tới tầm nhìn phân tích về sự kiện
chính trị, xây dựng thái độ, động cơ đúng đắn phù hợp với
khả năng trong sự phát triển chung mà mỗi công dân tham gia như một chủ thể. 1
➔ Góp phần hình thành cơ sở khoa học cho các chương trình
chính trị, cho việc hoạch định chiến lược với những mục tiêu
đối nội, đối ngoại, cùng các phương pháp, phương tiện,
những thủ thuật chính trị nhằm đạt mục tiêu chính trị đề ra.
❖ Phân tích Chính trị học vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật
➢ Chính trị là khoa học
➔ Chính trị là một hiện tượng khách quan trong đời sống xã
hội loài người, xuất hiện cùng với giai cấp và nhà nước, gắn
liền với quyền lực, với đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc.
➔ Chính trị là lĩnh vực tương đối độc lập trong đời sống xã hội,
có logic phát triển nội tại, có quy luật phát triển khách quan.
➔ Chính trị là một hệ thống tri thức, từ những tri thức kinh
nghiệm đến tri thức lý luận hoàn chỉnh, phản ánh quy luật
vận động khách quan của chính trị.
➔ Do hạn chế lịch sử và bị chi phối bởi lợi ích giai cấp, nên
chính trị trở thành đặc quyền của giai cấp thống trị. Nó chỉ
trở thành khoa học đích thực khi chủ nghĩa Mác-Lênin ra đời.
➔ Ngày nay, chính trị thực sự trở thành một khoa học với đối
tượng, phương pháp nghiên cứu riêng.
➔ Chính trị là một khoa học, nên phải đối xử với nó như một khoa học.
➔ Cách mạng Việt Nam trong đấu tranh giành độc lập cũng
như trong xây dựng chủ nghĩa xã hội luôn xác định chính trị
(đường lối chính trị, chính sách và tổ chức thực tiễn) là một khoa học.
➢ Chính trị là nghệ thuật
➔ Chính trị là hoạt động của con người liên quan đến tranh
giành quyền lực, quyết liệt một mất một còn, nên các chủ thể
chính trị (trước hết là giai cấp) sử dụng mọi biện pháp, thủ
đoạn để đạt mục tiêu chính trị.
➔ Hoạt động chính trị luôn sáng tạo, linh hoạt, khôn khéo,
mềm dẻo, phù hợp với thực tiễn để đạt hiệu quả cao nhất.
➔ Chính trị là phạm vi hoạt động hấp dẫn, nhưng phức tạp,
“giống đại số hơn số học”; “người mù chữ đứng ngoài chính
trị” (Lênin). Nó đòi hỏi kỹ năng, kỹ xảo cao, tầm trí tuệ
tương ứng của các nhà chính trị. 2
➔ Chính trị là nghệ thuật của những bước đi (biết tiến, biết lui
đúng lúc), những giải pháp, thoả hiệp trong những thời điểm lịch sử quan trọng.
➔ Đó là nghệ thuật vận dụng tri thức lý luận và kinh nghiệm
thực tiễn để xử lý các tình huống chính trị phức tạp, vận
dụng đúng đắn phép biện chứng giữa khách quan và chủ
quan trong hoạt động, đấu tranh chính trị.
➔ Chính trị là nghệ thuật của các khả năng: khả năng nắm bắt
sự vận động của xã hội, dự báo chính xác tình thể và thời cơ cách mạng.
➔ Chính trị là nghệ thuật tổ chức lực lượng, sử dụng con
người, nghệ thuật vận động quần chúng, nghệ thuật tiến hành chiến tranh cách mạng.
➔ Chính trị là “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” (Hồ Chí Minh)...
➢ Mối quan hệ biện chứng:
➔ Chính trị vừa là khoa học vừa là nghệ thuật, bởi chính trị đòi
hỏi phải đối xử với nó đạt tới nghệ thuật, và nó chỉ thực sự là
nghệ thuật khi nhận thức và hành động theo đúng quy luật khách quan (khoa học).
➔ Bản thân chính trị là một khoa học cũng đã phản ánh tính
nghệ thuật của nó, bởi khoa học và nghệ thuật luôn gắn bó hữu cơ.
➔ Là lĩnh vực nhạy cảm, liên quan đến vận mệnh của con
người, của hàng triệu người, chính trị, hoạt động chính trị
đòi hỏi sự chuẩn xác, gắn với thực tiễn, tuân theo quy luật
khách quan, tránh chủ quan, duy ý chí; đồng thời nó đòi hỏi
sự nhạy cảm, tinh tế, mưu lược đạt trình độ cao.
➔ Trong hoạt động chính trị thực tiễn, tính khoa học và tính
nghệ thuật kết hợp, bổ sung cho nhau. Nếu tuyệt đối hoá tính
khoa học của chính trị dễ rơi vào chủ nghĩa giáo điều, máy
móc; nếu tuyệt đối hoá tính nghệ thuật không tuân theo khoa
học thì chính trị chỉ còn lại là những mánh khoé lừa đảo, mỵ
dân, sớm muộn cũng bị vạch trần.
Câu 2. Phân tích nội dung tư tưởng chính trị của Pháp gia? Ảnh hưởng của
tư tưởng đó đến đời sống chính trị Việt Nam hiện nay?
❖ Tư tưởng chính trị của phái Pháp gia: Hàn Phi Tử cho rằng
➢ Xã hội loài người luôn luôn biến đổi, phát triển theo hướng đi lên.
Bản tính con người ta là ham lợi. Điều này ảnh hưởng và chi phối
các mối quan hệ trong xã hội.
➢ Chính trị đương thời không nên bàn chuyện nhân nghĩa cao xa mà
cần có biện pháp cụ thể cứng rắn, kiên quyết. 3
Từ nhận thức đó, học thuyết chính trị của ông được xây dựng trên cơ sở thống
nhất pháp – thuật – thể.
➢ Pháp luật là những quy ước, chuẩn mực khuôn mẫu do vua ban ra,
được phổ biến rộng rãi để nhân dân thực hiện. Pháp luật phải hợp
thời, đáp ứng được nhu cầu của sự phát triển xã hội. Pháp luật phải
rõ ràng, dễ hiểu và phù hợp với trình độ của dân chúng. Pháp luật
phải công bằng để kẻ mạnh không lấn át kẻ yếu. Quyền lực phải
tập trung vào một người là vua. Vua đề ra pháp luật, quan lại theo
dõi việc thực hiện, dân là người thi hành.
➢ Thuật là thủ đoạn hay thuật cai trị của người làm vua để kiểm tra,
giám sát hay điều khiển bầy tôi. Thuật là phương pháp tuyển chọn,
sử dụng người đúng chức năng. Như vậy, thuật là yếu tố cần thiết,
bổ trợ và làm cho pháp luật được thi hành. Thuật phải được giữ bí
mật , kín đáo không được tiết lộ với bất cứ ai. Vua không được để
lộ sự yêu ghét của mình đề phòng quần thần lợi dụng .
➢ Thế là uy thế, quyền lực của người cầm quyền. Quần thần phục
tùng nhà vua, chịu theo sự ràng buộc bởi quyền uy của nhà vua.
Quyền lực đảm bảo cho sự thi hành pháp luật. Thế phải tuân thủ
theo nguyên tắc tập trung, không được chia sẻ, không được để rơi
vào tay người khác. Vua phải nắm chắc hai phương tiện cưỡng chế,
đó là “nhị bính” (thưởng và phạt). Thưởng phạt phải căn cứ trên cơ
sở pháp luật chứ không thể tùy tiện. Vua cũng phải phục tùng pháp luật.
=> Hàn Phi Tử cho rằng, “pháp”, “thuật”, “thế” cần phải kết hợp làm một, trong
đó “pháp” là trung tâm, “thuật” và “thế” là những điều kiện tất yếu trong việc
thi hành pháp luật. Pháp luật phải phục vụ lợi ích chung.
Đứng lên lập trường của giai cấp địa chủ mới, tư tưởng Pháp gia đã khai thông
các bế tắc xã hội, tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển.
➢ Tư tưởng Pháp gia đã phục vụ đắc lực cho chế độ phong kiến trung
ương tập quyền, góp phần không nhỏ cho việc củng cố chế độ phong kiến đời Tần.
➢ Tuy còn mang tính sơ khai nhưng nó đã đặt nền móng cho sự phát
triển của các luồng tư tưởng sau này.
➢ Tính đa dạng của các học thuyết nói lên tính phức tạp của thức tiễn
chính trị , sự khốc liệt trong thời kỳ hình thành và phát triển các 4
chế độ phong kiến. Cuộc đấu tranh giữa hai phái Pháp gia và Nho
gia phản ánh mâu thuẫn gay gắt giữa giai cấp quý tộc và giai cấp
địa chủ mới do có tư tưởng cấp tiến.
➢ Phái Pháp gia đã tích cực thúc đẩy lịch sử phát triển và có công
trong việc thống nhất đất nước.
❖ Liên hệ với Việt Nam: Đối với Việt Nam, tư tưởng Pháp gia của Hàn
Phi Tử chiếm một ý nghĩa quan trọng trong đời sống chính trị.
➢ Từ thời phong kiến, các vua chúa đã biết đề ra các quy tắc, chuẩn
mực xã hội buộc mọi người phải tuân theo. Những quy tắc dù đôi
chỗ có thể thiếu hợp lý, phần lớn lại đảm bảo cho quyền lực của
giai cấp thống trị nhưng điều quan trọng là “phép tắc xã hội đã duy
trì được ổn định xã hội”. Tùy từng thời đại, tùy từng con người mà
những quy chuẩn xã hội đó có thể được thay đổi nhưng mục đích
cuối cùng vẫn là duy trì quyền lực của giai cấp thống trị và duy trì
sự phát triển bền vững của xã hội.
➢ Biểu hiện ở thời hiện đại: Trước hết đó là việc xây dựng hệ thống
pháp luật để quản lý và duy trì sự phát triển bền vững của đất
nước. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước ta giành được
độc lập, với tầm nhìn chiến lược và sự hiểu biết sâu rộng trong lĩnh
vực chính trị, chủ tịch Hồ Chí Minh – lãnh tụ đầu tiên của nước
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã chỉ đạo sự ra đời của Hiến Pháp
đầu tiên năm 1946, đánh dấu sự tồn tại và phát triển của một quốc
gia độc lập. Hiến pháp năm 1946 dần dần được sửa đổi và hoàn
thiện để ngày càng phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội
của đất nước. Cho đến hôm nay, nhờ sự có mặt của luật pháp mà
nước ta đã duy trì được chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa, duy trì
được sự ổn định chính trị tạo đà cho kinh tế phát triển. Nhờ đó,
Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có nền chính
trị ổn định nhất khu vực và thế giới.
➢ Nhờ pháp luật vì lẽ phải và phục vụ lợi ích chung mà trong những
năm qua công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta đã
đạt được một số thành tựu đáng kể. Đó là thành tựu trong các lĩnh
vực y tế, giáo dục, an ninh quốc phòng,… Nhân dân ta đoàn kết
một lòng, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, xây dựng nếp
sống tốt đẹp. Trong lĩnh vực chính trị, dân chủ hóa xã hội được mở
rộng. Nhân dân là người bỏ phiếu để bầu ra lực lượng đại diện cho
mình. Sự công bằng của pháp luật đã đảm bảo cho việc thực hiện 5
nó một cách nghiêm túc. Đó là điểm được áp dụng ở mọi quốc gia,
không riêng gì Việt Nam. Trong môi trường công bằng của pháp
luật, mọi người dân đều có quyền phát triển tự do và bình đẳng.
Yếu tố này không những duy trì sự ổn định chế độ mà còn kích
thích việc tìm ra nhân tài cho đất nước.
Câu 3.Trình bày nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về chính trị? Chứng
minh những sáng tạo của Hồ Chí Minh trong việc vận dụng học thuyết
chính trị Mác-Lênin và điều kiện Việt Nam
❖ Tư tưởng của Hồ Chí Minh về chính trị như sau:
➢ Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội: Trong toàn bộ tiến
trình đấu tranh cách mạng của dân tộc ta, tư tưởng bao trùm là tư
tưởng “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Tư tưởng đó được
Người quán triệt và thể hiện trong toàn bộ quá trình lãnh đạo cách
mạng là “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”. Đây là hạt
nhân cốt lõi nhất trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh, đồng thời
là tư tưởng trọng tâm xuyên suốt toàn bộ hệ thống. Độc lập dân
tộc, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh bao gồm những nội dung:
➔ Dân tộc đó phải thoát khỏi nô lệ (dưới mọi hình thức) bằng
con đường cách mạng do chính dân tộc đó tiến hành - “đem
sức ta mà giải phóng cho ta"¹
➔ Dân tộc đó phải có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, phải có
quyền tự quyết định sự phát triển của dân tộc mình.
➔ Độc lập dân tộc phải là một nền độc lập thật sự chứ không
phải giả hiệu, phải thực hiện được các giá trị như tự do, dân
chủ, công bằng, bình đẳng đối với nhân dân chứ không chỉ là
những lời tuyên bố hoa mỹ.
➔ Độc lập về chính trị phải gắn liền với sự phồn thịnh mọi mặt:
kinh tế, văn hóa, xã hội.
➔ Phải tự giành lấy bằng con đường cách mạng, tự lực tự
cường và tự trọng. Người cho rằng, một dân tộc không có
khả năng ý thức độc lập, tự lực, tự cường thì dân tộc đó
không xứng đáng được hưởng độc lập
➢ Tư tưởng về đại đoàn kết:
➔ Hồ Chí Minh quan niệm sức mạnh là ở đoàn kết toàn dân, ở
sự đồng lòng của toàn xã hội. Đoàn kết trên lập trường của
giai cấp công nhân, được thực hiện trên mọi phương diện:
đoàn kết giai cấp, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế.
➔ Đoàn kết, theo Hồ Chí Minh, phải trên cơ sở có lý, có tình,
có nghĩa; đoàn kết là để phát triển, để làm tốt hơn nhiệm vụ
của cách mạng, cách mạng muốn thắng lợi thì phải đoàn kết;
đoàn kết lấy liên minh công - nông - trí thức làm nền tảng, 6
lấy lợi ích tối cao của dân tộc làm điểm quy tụ để bảo đảm
hài hòa giữa các lợi ích
➢ Tư tưởng về xây dựng thể chế chính trị:
➔ Trong xây dựng thể chế chính trị, quan trọng nhất là xây
dựng thể chế nhà nước. Đây là nội dung giữ vị trí đặc biệt
của tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh. Điều mà Hồ Chí Minh
đặc biệt quan tâm là tính chất nhà nước. Nhà nước đó có
phải là nhà nước của dân hay không? Chế độ dân chủ có phù
hợp với chế độ nhà nước không?
➔ Hồ Chí Minh quan niệm, dân chủ có nghĩa là “dân là chủ”
giá trị thực chất của dân chủ là phải có cơm ăn, áo mặc, học
hành... Người chỉ ra vai trò động lực của dân chủ, xem dân
chủ là chìa khóa của tiến bộ xã hội. Người chủ trương phải
thực hành dân chủ rộng rãi trong nhân dân, giáo dục nhân
dân ý thức chấp hành pháp luật, quyền gắn liền với nghĩa
vụ của công dân, dân chủ gắn với pháp luật, gắn với tập
trung. Hồ Chí Minh cũng phê phán bệnh độc đoán chuyên
quyền, quan liêu, vô chính phủ.
➢ Lý luận về đảng cầm quyền: Hồ Chí Minh luôn coi xây dựng Đảng
của giai cấp công nhân Việt Nam là một nhiệm vụ cực kỳ quan
trọng, là nhân tố quyết định trước hết đối với mọi thắng lợi của cách mạng.
➔ Hồ Chí Minh khẳng định: “Trước hết phải có đảng cách
mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì
liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi.
Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người
cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải
có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy.
➔ Quan điểm của Hồ Chí Minh về sự hình thành một Đảng
Cộng sản ở Việt Nam vừa quán triệt đầy đủ học thuyết Mác -
Lênin về Đảng Cộng sản, vừa phù hợp với hoàn cảnh một
nước thuộc địa lạc hậu chậm phát triển, nơi có truyền thống
đấu tranh yêu nước lâu đời của nhân dân, nơi số lượng giai
cấp công nhân còn ít ỏi nhưng đã có mối quan hệ chặt chẽ
với phong trào yêu nước ngay từ đầu. Đảng Cộng sản Việt
Nam là kết quả của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với
phong trào công nhân, phong trào yêu nước Việt Nam.
➢ Về phương pháp cách mạng: Là lãnh tụ chính trị của Cách mạng
Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh chẳng những đã xác định đường
lối đúng đắn cho cách mạng nước ta, mà còn xác định và vận dụng
những phương pháp cách mạng đầy sáng tạo. Có thể hiểu phương
pháp cách mạng Hồ Chí Minh theo hai nghĩa như sau: 7
➔ Theo nghĩa rộng: đó là sự vận động của tư tưởng chính trị
Hồ Chí Minh trong thực tiễn. Nói cách khác, đó là những
quy luật hoạt động thực tiễn của quần chúng nhân dân dưới
sự lãnh đạo của Đảng, mà theo đó tư tưởng chính trị của
Người được hiện thực hoá.
➔ Theo nghĩa hẹp, đó là cách thức tiến hành cách mạng với
tính cách là hệ thống các nguyên tắc được thể hiện bằng
những hình thức, biện pháp, bước đi thích hợp để thực hiện
thắng lợi đường lối cách mạng, biến đường lối cách mạng thành hiện thực.
=> Phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh là phương pháp cách
mạng vô sản được vận dụng và phát triển một cách sáng tạo vào một
nước thuộc địa nửa phong kiến. Nó thể hiện đầy đủ ba yếu tố tác
động biện chứng với nhau trong một thể thống nhất: Yếu tố về hình
thức, biện pháp, bước đi thích hợp với tính cách là hệ thống các
nguyên tắc Hồ Chí Minh nhằm định hướng, điều chỉnh hành động;
yếu tố chủ thể hành động là các lực lượng cách mạng, trong đó giai
cấp công nhân và đội tiền phong của nó là Đảng Cộng sản là lực
lượng lãnh đạo, quần chúng nhân dân là lực lượng tiến hành cách
mạng; yếu tố về mục tiêu cách mạng là: độc lập dân tộc gắn liền với
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
❖ Chứng minh những sáng tạo của Hồ Chí Minh trong việc vận dụng học
thuyết chính trị Mác-Lênin và điều kiện Việt Nam: Hồ Chí Minh xem chủ
nghĩa Mác – Lênin như một kim chỉ nam cho sự nghiệp cứu nước, giải
phóng dân tộc và luôn nhấn mạnh rằng cần phải vận dụng sáng tạo “cẩm
nang thần kỳ” đó.Từ phương pháp tiếp cận đúng đắn, mạnh dạn, khoa học
trong kế thừa và phát triển học thuyết Mác – Lênin, đồng thời bám sát
thực tiễn Việt Nam và thế giới.
➢ Luận điểm sáng tạo lớn đầu tiên của Hồ Chí Minh là luận điểm về
chủ nghĩa thực dân và vấn đề giải phóng dân tộc. Sự phân tích về
chủ nghĩa thực dân của Hồ Chí Minh đã vượt hẳn những gì mà
những nhà lý luận mát – xít đề cập đến. Người đã nêu lên những
luận điểm sáng tạo: Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước
thuộc địa quan hệ chặt chẽ với cách mạng chính quốc, nhưng
không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng chính quốc. Nhân dân
các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc “có thể chủ động đứng lên, đem
sức ta mà giải phóng cho ta”, giành thắng lợi trước cách mạng
chính quốc và qua đó, thúc đẩy cách mạng chính quốc.
➢ Hai là, khi phân tích xã hội của các nước thuộc địa, Hồ Chí Minh
tiếp thu, vận dụng quan điểm giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ
nghĩa Mác – Lênin một cách sáng tạo, Người tìm thấy con đường 8
duy nhất đúng đắn cho dân tộc, đó là: “Làm tư sản dân quyền cách
mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Theo Hồ
Chí Minh, ở Việt Nam cũng như các nước phương Đông, do trình
độ sản xuất phát triển nên sự phân hóa giai cấp và đấu tranh giai
cấp không giống như ở các nước phương Tây. Hồ Chí Minh đã
khẳng định: “Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của sự phát
triển đất nước” ; gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng Thế giới,
đặt cách mạng Việt Nam vào quỹ đạo cách mạng vô sản thế giới,
nghĩa là Người đã quốc tế hóa những vấn đề của cách mạng nước ta.
➢ Vấn đề thứ ba là vấn đề chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên
chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Hồ Chí Minh khẳng định: Sau khi cơ
bản hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, chúng ta nhất định
phải quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chỉ có xây dựng chủ nghĩa xã
hội, chúng ta mới thực sự giải phóng được dân tộc, xã hội và con
người. Đặc điểm lớn nhất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam là “từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ
nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”.
➢ Luận điểm thứ tư là về Đảng và xây dựng Đảng được Hồ Chí Minh
nêu lên đầy mới mẻ và sáng tạo. Với một đất nước thuộc địa nửa
phong kiến, nông dân chiếm đa số dân cư như Việt Nam, Hồ Chí
Minh đã xác định quy luật hình thành của Đảng là “kết hợp chủ
nghĩa Mác- Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu
nước, bản chất của Đảng trong điều kiện một nước nông nghiệp lạc
hậu – Đảng là của giai cấp, đồng thời của dân tộc và của nhân dân
lý luận, chính trị, tổ chức mà cả về văn hóa.
➢ Thứ năm, Hồ Chí Minh đã có những cống hiến sáng tạo về tư
tưởng quân sự, đặt nền móng cho sự hình thành học thuyết quân sự
cách mạng Việt Nam hiện đại. Xuất phát từ nhiệm vụ cơ bản, hàng
đầu của cách mạng Việt Nam là đánh đổ đế quốc, phong kiến,
giành chính quyền về tay nhân dân, ngay từ đầu, Người đã xác
định: Phải giành chính quyền bằng bạo lực, bằng khởi nghĩa vũ
trang và chiến tranh cách mạng nếu kẻ thù ngoan cố, không chịu hạ vũ khí.
➢ Điểm thứ sáu là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Theo quan
điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, sau khi cách mạng vô sản thắng
lợi, giai cấp vô sản sẽ thiết lập nên nền chuyên chính vô sản. Ở Hồ
Chí Minh đã hình thành và phát triển một hệ thống các quan điểm
sáng tạo về Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam. Người đã vận dụng
sáng tạo quan điểm đó vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, một
cuộc cách mạng từ giải phóng dân tộc mà phát triển lên. Trong
chánh cương vắn tắt (1930), Hồ Chí Minh đã nêu: Thiết lập chính 9
phủ công nông binh, tổ chức ra quân đội công nông. Tại Hội nghị
TW8 (5/1941), Người đề ra chủ trương thành lập “một nước Việt
Nam dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng một giai cấp
nào, mà của chung toàn thể dân tộc”.
➢ Bảy là, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí
Minh luôn giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và giai
cấp Hồ Chí Minh đã có các quan điểm sáng tạo về chiến lược đại
đoàn kết dân tộc theo phương châm: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn
kết; Thành công, thành công, đại thành công”. Đường lối của cách
mạng Việt Nam là đi từ giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân
chủ nhân dân, từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội, kết hợp độc lập
dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Động lực cơ bản của toàn bộ sự
nghiệp cách mạng đó là đại đoàn kết toàn dân trên nền tảng liên
minh công nhân, nông dân, trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Câu 4. Khái niệm quyền lực chính trị? Trình bày quá trình hình thành
quyền lực chính trị và sự chuyển hóa quyền lực chính trị thành quyền lực
nhà nước? Tại sao nói: Ở Việt Nam, quyền lực chính trị thuộc về nhân dân?
❖ Quyền lực chính trị:
➢ Là quyền sử dụng sức mạnh cho mục đích chính trị; là quyền lực
xã hội nhằm giải quyết lợi ích giai cấp, dân tộc, nhân loại; là quyền
lực của một hay liên minh giai cấp; là quyền lực của các giai cấp,
các nhóm xã hội, các lực lượng xã hội dùng để chi phối, tác động
đến quá trình tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước nhằm tối đa
hóa lợi ích của mình; là quyền lực của nhà nước, các đảng chính
trị, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức bầu cử, các cơ quan tự quản địa phương.
➢ Theo chủ nghĩa Mác-Lênin, quyền lực chính trị là quyền lực của
một hay liên minh giai cấp, tập đoàn xã hội hoặc của nhân dân
(trong điều kiện chủ nghĩa xã hội); nó nói lên khả năng của một
giai cấp nhằm thực hiện lợi ích khách quan của mình. Quyền lực
chính trị theo đúng nghĩa của nó, là bạo lực có tổ chức của một giai
cấp để trấn áp giai cấp khác.
=> Từ những cách tiếp cận nêu trên, có thể hiểu một cách chung nhất:
Quyền lực chính trị là quyền sử dụng sức mạnh của một hay liên minh
giai cấp, tập đoàn xã hội nhằm thực hiện sự thống trị chính trị; là năng
lực áp đặt và thực thi các giải pháp phân bổ giá trị xã hội có lợi cho giai
cấp mình - chủ yếu thông qua đấu tranh giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước. 10
❖ Quá trình hình thành quyền lực chính trị và sự chuyển hóa quyền lực
chính trị thành quyền lực nhà nước ➢ Quá trình hình thành:
➔ Sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn đến mâu thuẫn với
quan hệ sản xuất hiện có và đòi hỏi phải thay thế quan hệ sản xuất cũ
➔ Mâu thuẫn về xã hội nảy sinh, giai cấp mới đại diện cho lực
lượng sản xuất mới tiến bộ ra đời, thành lập tổ chức của
mình và đòi hỏi sự thừa nhận về mặt pháp lý
➢ Sự chuyển hóa quyền lực chính trị thành quyền lực nhà nước:
Trong xã hội có giai cấp và đối kháng giai cấp về cơ bản có hai loại QLCT
➔ QLCT của giai cấp thống trị (đã trở thành QLNN)
➔ QLCT của các giai cấp, tầng lớp còn lại trong xã hội:
◆ QL của nhóm giai cấp, tầng lớp tuy khác nhưng
không đối kháng với giai cấp thống trị
◆ QL của nhóm giai cấp, tầng lớp đối kháng với giai cấp thống trị:
- Nhóm đại diện cho phương thức sản xuất lỗi
thời của xã hội trước- tàn dư
- Nhóm đại diện cho phương thức sản xuất tiến
bộ của xã hội sau này- mầm mống
❖ Tại sao nói: Ở Việt Nam, quyền lực chính trị thuộc về nhân dân
➢ Bởi nhà nước là của dân, do dân và vì dân! Tất cả vì lợi ích của nhân dân.
➔ "Của dân": Nhà nước được coi là thuộc về nhân dân, điều
này có nghĩa là tất cả các quyết định và hoạt động của chính
phủ và các cơ quan chính quyền đều phải dựa trên ý kiến và
lợi ích của nhân dân. Nhà nước tồn tại để phục vụ và bảo vệ
quyền lợi của nhân dân.
➔ "Do dân": Quyền lực chính trị thuộc về nhân dân, có nghĩa là
quyết định chính sách và hành động của chính phủ phải được
hình thành và thực thi dưới sự kiểm soát và ảnh hưởng của
nhân dân thông qua các phương tiện như bầu cử, tham gia
vào các quy trình dân chủ, và tham gia vào các tổ chức xã hội.
➔ "Vì dân": Mọi quyết định và hành động của nhà nước phải
được thực hiện vì lợi ích chung của nhân dân, đảm bảo sự
công bằng, bình đẳng, và phát triển cho tất cả các thành viên
trong xã hội. Nhà nước phải xây dựng và thực thi chính sách
để nâng cao đời sống và trao quyền cho nhân dân.
➢ Nhân dân tham gia vào các cơ quan quản lý nhà nước từ cấp cơ sở,
các cấp trung ương cho đến cấp quốc gia thông qua các tổ chức 11
như các Hội đồng Nhân dân, các Ủy ban Nhân dân, và các cuộc bầu cử.
Câu 5. Phân tích nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện
nay? Biện pháp kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay?
❖ Nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay: Ở nước ta
hiện nay, bản chất của chế độ chính trị, kinh tế đã tạo ra những điều kiện
khách quan gắn kết các giai cấp, dân tộc, các tầng lớp nhân dân thành một
khối thống nhất về ý chí, tư tưởng và lợi ích thành một cộng đồng bền
chặt làm chủ nước nhà. Mọi giai cấp, tầng lớp nhân dân đoàn kết thống
nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản - đại biểu trung thành lợi ích
của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc. Quyền lực nhà
nước thống nhất thuộc về nhân dân. Nguyên tắc thống nhất quyền lực nhà
nước được xuất phát từ ba phương diện:
➢ Về chính trị: nền tảng của sự thống nhất đó là quyền lực nhà nước
bắt nguồn từ nhân dân, của nhân dân; quyền lực nhà nước là ý chí
của giai cấp cầm quyền được thực hiện thông qua nhà nước;
➢ Về pháp lý: quyền lực nhà nước gồm ba yếu tố không thể phân
chia là quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp giống như cây quyền
lực gồm ba nhánh. Ba nhánh quyền lực này tồn tại cùng với sự xuất
hiện Nhà nước. Nhà nước ban hành pháp luật, nhà nước thực hiện
pháp luật và nhà nước bảo vệ pháp luật;
➢ Về thực tiễn: Quốc hội của nước ta ngay từ khi ra đời đến nay luôn
được tổ chức theo cơ cấu thống nhất, không phân chia thành hai
viện và tất cả các đại biểu Quốc hội đều do nhân dân trực tiếp bầu
ra để thay mặt nhân dân nắm giữ quyền lực nhà nước.
=> Tóm lại, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nhân dân trao quyền
lực nhà nước cho Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan tư pháp. Ba cơ quan nhà
nước có tính độc lập tương đối, ngang bằng nhau (chứ không phải Quốc hội là
cấp trên). Các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp đều có nguồn gốc thống
nhất là nhân dân, đều do nhân dân ủy quyền, giao quyền
❖ Biện pháp kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay:
➢ Tại sao phải kiểm soát quyền lực ở Việt Nam:
➔ Tình trạng tha hóa quyền lực
➔ Tình trạng suy thoái, biến chất
➔ Tình trạng quan liêu, tham nhũng
➔ Tình trạng chuyên quyền, độc đoán, bè phái, lợi ích nhóm
➢ Kiểm soát quyền lực:
➔ Bên trong bộ máy nhà nước:
◆ Kiểm soát trong cơ chế giám sát tối cao của Quốc hội 12
◆ Kiểm soát qua cơ chế thanh tra của thanh tra Nhà nước
◆ Kiểm soát quyền lực của cơ quan tư pháp ➔ Bên ngoài:
◆ Kiểm soát quyền lực của các tổ chức chính trị-xã hội
◆ Kiểm soát quyền lực của Mặt trận TQ Việt Nam
◆ Kiểm soát quyền lực của xã hội: Báo chí, nhân dân…
Câu 6. Đảng chính trị là gì? Phân tích bản chất và vai trò của Đảng chính
trị và liên hệ với bản chất và vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam?
❖ Khái niệm: Đảng CT là 1 hiện tượng đặc thù của XH có phân chia GC và
đấu tranh GC. ĐCT là yếu tố cơ bản của HTCT, HTTCQLCT, của chế độ
CT và XH công dân là công cụ tập hợp của 1 GC; tổ chức lãnh đạo đấu
tranh GC vì mục tiêu giành, giữ, sử dụng QLNN và định hướng CT cho phát triển XH ❖ Bản chất ➢ Dưới chế độ TBCN:
➔ Chế độ đa nguyên chính trị là vẻ bề ngoài còn thực chất là
nhất nguyên CT. Đảng lớn nhất sẽ cầm quyền, ngay cả có 1
số Đảng liên minh cầm quyền trong thực tế chỉ có Đảng lớn
nhất, có thế lực nhất nắm quyền quyết định => bảo vệ lợi ích của GCTS, chế độ TBCN
➔ Khi GG vô sản đấu tranh với GCTS cần 1 ĐCT – ĐCS, là
đội tiên phong chiến đấu của GCCN. ĐCS tập hợp và tổ
chức GCCN và nông dân lao động đấu tranh vì mục tiêu thủ
tiêu chế độ tư hữu, nguồn gốc của mọi sự bất công, bóc lột,
bất bình đẳng, xây dựng XH CSCN
➔ Dưới chế độ XHCN: ĐCS là đội tiên phong của GCCN, đại
biểu trung thành cho lợi ích của GCCN và NDLĐ 13 Xét ⇨
về bản chất, ĐCT nào cũng mang bản chất GC, tồn tại với mục đích nắm
QLNN để bảo vệ lợi ích GC mà nó đại diện. Không có ĐCT nào phi GC, siêu GC.
⇨ Khi XH còn phân chia GC thì không thể có 1 ĐCT vừa đại diện cho lợi ích
của GC thống trị bóc lột, vừa đại diện cho lợi ích của các GC và NDLĐ bóc lột ❖ Vai trò của ĐCT
➢ Đảng chính trị là nhân tố tác động:
Là bộ phận tích cực nhất, có tổ chức nhất của giai cấp, đảng chính trị được
lập ra để thực hiện lợi ích, mục đích giai cấp, nắm quyền lực nhà nước. Như
vậy, vai trò của đảng chính trị (vai trò cách mạng, tiến bộ hay bảo thủ, phản
động) tùy thuộc vào địa vị lịch sử mà đảng chính trị đó thực hiện. Trong lịch sử
tồn tại và phát triển của các đảng chính trị, có đảng đóng vai trò tiến bộ cách
mạng, như đảng Mácxít – Lêninnit, có đảng thể hiện sự bảo thủ, phản động như
các đảng địa chủ, nông dân..., cũng có đảng chính trị, ở thời kỳ này đóng vai trò
cách mạng, tiến bộ, còn ở thời kỳ khác lại bảo thủ, phản động. Điều này tùy
thuộc vào bản chất của giai cấp mà đảng đó đại diện. C. Mác đã thể hiện tư
tưởng đó trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”: “Ở Pháp, những người cộng
sản liên hợp với Đảng Dân chủ - xã hội chủ nghĩa chống giai cấp tư sản bảo thủ
và cấp tiến… Ở Đức, Đảng Cộng sản đấu tranh chung với giai cấp tư sản mỗi
khi giai cấp này hành động cách mạng chống chế độ quân chủ chuyên chế,
chống chế độ sở hữu ruộng đất phong kiến và giai cấp tiểu tư sản phản động”
➢ Vai trò của đảng chính trị ở các nước tư bản chủ nghĩa:
➔ Vai trò tích cực của Đảng cầm quyền:
◆ Ở các nước tư bản chủ nghĩa, vai trò của đảng chính
trị thể hiện rõ nhất trong các cuộc bầu cử giành quyền
lực nhà nước. Đó là tổ chức bầu cử, đảm bảo thay đổi
chính quyền bằng cách hòa bình, hợp pháp, hợp hiến. 14
◆ Sau khi đắc cử, Đảng cầm quyền đề ra đường lối, định
hướng phát triển kinh tế - xã hội thông qua cương lĩnh
chính trị, đào tạo, bố trí tuyển lựa thành viên của đảng
vào các cương vị chủ chốt của chính quyền, chuẩn bị
các chính sách, chiến lược hoạt động của nhà nước.
➢ Vai trò tích cực của Đảng không cầm quyền:
➔ Đảng không cầm quyền kiềm chế, đối trọng, giám sát đảng
cầm quyền, là “cái van” điều chỉnh hoạt động của đảng cầm quyền.
➔ Đảng không cầm quyền tập hợp giai cấp, tổ chức giai cấp,
tập hợp lực lượng để đấu tranh chính trị nhằm giành quyền
lực nhà nước về tay mình.
=> Đảng không cầm quyền tăng cường tính tích cực cho công dân.
➢ Ảnh hưởng tiêu cực:
➔ Mặt tiêu cực của đảng chính trị bộc lộ rõ khi nó chia rẽ nhân dân,
tách nhân dân ra khỏi chính trị.
➔ Để đạt được mục đích, đảng chính trị hành động kể cả những thủ
đoạn, kích thích sự thèm khát quyền lực chính tri và tạo thêm
những điều kiện cho tham nhũng, tước bỏ quyền dân chủ của nhân dân.
❖ Vai trò của đảng chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa: ➢ Vai trò tích cực:
➔ Trong hệ thống chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa, Đảng
cộng sản là lực lượng duy nhất lãnh đạo, thực hiện quyền
thống trị về chính trị của giai cấp công nhân để xây dựng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân
và quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. 15
➔ Giai cấp công nhân thông qua đội tiên phong của mình là
Đảng Cộng sản chịu trách nhiệm hoàn toàn trước vận mệnh
phát triển của dân tộc, lãnh đạo mọi mặt của đời sống xã hội:
kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội.
➔ Sự lãnh đạo chính trị của Đảng Cộng sản trong điều kiện
Đảng cầm quyền thực chất là xây dựng nhà nước về mặt
kinh tế. Bởi vậy, quyền lực của Đảng không mâu thuẫn và
không thay thế quyền lực nhà nước, tập trung vào việc lãnh
đạo xây dựng nhà nước để quản lý kinh tế - lĩnh vực suy cho
cùng quyết định đến sự phát triển của xã hôi, quyết định vai
trò lãnh đạo của Đảng.
=> Như vậy, Đảng Cộng sản có vai trò tích cực, gần như không có ảnh hưởng
tiêu cực bởi mục tiêu cuối cùng là vì nhân dân, đưa xã hội đi lên cộng sản chủ
nghĩa, không còn giai cấp, không còn bóc lột, con người sống trong hòa bình, tình yêu.
➢ Ảnh hưởng tiêu cực: Tuy nhiên, trong những tình hình cụ thể,
Đảng Cộng sản cũng có những biểu hiện tiêu cực trong lãnh đạo xã
hội khi nội bộ Đảng tha hóa, biến chất, xã rời lợi ích giai cấp, mất
sức chiến đấu. Do đó, cần phải làm trong sạch và chỉnh đống Đảng.
❖ Liên hệ đảng cộng sản Việt Nam
➢ Đảng cộng sản vừa là bộ phận cấu thành, vừa là người lãnh đạo hệ
thống chính trị ở Việt Nam
➔ Hoạch định cương lĩnh, đề ra chủ trương, đường lối, chính
sách lớn trong từng giai đoạn, thời kỳ, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội 16
➔ Phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng những đảng viên và những
người tiêu biểu ngoài đảng giới thiệu vào các cơ quan nhà
nước, tổ chức xã hôi, qua cơ chế tuyển chọn, bố trí vào các
chức vụ chủ chốt trong các cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị- xã hội.
➔ Kiểm tra hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức
chính trị trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách của
đảng, từ đó kịp thời phát hiện những lệch lạc, sai lầm và có biện pháp khắc phục
➔ Sự lãnh đạo của đảng đối với hệ thống chính trị là sự lãnh
đạo chính trị mang tính chất định hướng, từ đó nhà nước và
các tổ chức chính trị- xã hội có cơ sở để chủ động và sáng
tạo trong tổ chức và hoạt động bằng những công cụ và biện pháp thích hợp của mình
➔ Phương pháp lãnh đạo của đảng là phương pháp dân chủ,
giáo dục, thuyết phục, dựa vào uy tín, năng lực của các đảng viên tổ chức đảng
➢ Đảng cộng sản cầm quyền nhằm bảo đảm và phát huy quyền lực của nhân dân
➔ Đảng lãnh đạo để nhân dân làm chủ ngày càng tốt hơn, dân
chủ của nhân dân ngà càng được mở rộng và sâu sắc hơn- đó
là sứ mệnh lịch sử của đảng cộng sản cầm quyền. để phát
huy được quyền lực của nhân dân, phải giữ vững và tăng
cường vai trò lãnh đạo của đảng, đảng phải thực sự trở thành
tấm gương về dân chủ trong xã hội. để dân chủ hoá đảng, cần chú ý 3 điểm
➔ Dân chủ hoá, đổi mới mạnh mẽ quá trình hoạch định các
quyết sách chính trị của đảng. Muốn vậy, cần tổ chức hệ
thống hỏi ý kiến nhân dân 17
➔ Xây dựng và vận hành hệ thống giám sát, phản biện của mặt
trận tổ quốc, các đoàn thể và nhân dân nói chung đối với
đường lối, chính sahcs của đảng và nhà nước
➔ Dân chủ hoá hoạt động của đại hội đảng, dân chủ hoá trong
sinh hoạt của ban chấp hành trung ương, của bộ chính trị là
trọng điểm, trên cơ sở đó mà có dân chủ trong sinh hoạt của
các cấp uỷ đảng, trong mối quan hệ giữa các thành viên cấp
uỷ, giữa cấp uỷ cấp trên với cấp uỷ cấp dưới, giữa cấp uỷ với các đảng viên khác
➔ Để đảng thực sự là tấm gương về dân chủ, còn cần đổi mới
phương thức lãnh đạo của đảng đối với hoạt động của bản
thân đảng, trước hết là hoạt động xây dựng đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức.
➔ Để phát huy quyền lực của nhân dân, phải coi trọng việc xây
dựng, củng cổ, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa cuản hân dân, do nhân dân, vì nhân dân
➔ Để phát huy quyền lực của nhân dân, phải gắn bổi mới hệ
thống chính trị với đổi mới kinh tế, phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa
➔ Để bảo đảm quyền lực của nhân dân, phải khoa học hoá, vận
dùng thành quả khoa học lãnh đạo, khoa học quản lý hiện
đại vào việc lãnh đạo, quản lý đất nước, phải dân chủ hoá về
thông tin, phải nâng cao dân trí và tình độ văn hoá chung của
nhân dân, phải mở rộng giao lưu quốc tế
➔ Để cùng cổ quyền lực của nhân dân, cần xác lập và từng
bước hoàn thiện hệ thống giám sát, phản biện xã hội
Câu 7. Thủ lĩnh chính trị là gì? Hãy lựa chọn một Thủ lĩnh chính trị mà
mình tâm đắc nhất, từ đó phân tích phẩm chất tiêu biểu và vai trò của Thủ 18
lĩnh chính trị đối với sự phát triển của quốc gia đó?
❖ Thủ lĩnh chính trị là gì
➢ Theo tiếng hán việt, thủ lĩnh là người đứng đầu, người dẫn dắt lãnh
đạo một tập thể một tổ chức nào đó
➢ Thời Trung Quốc cổ đại: đó là quan niệm về người làm vua, người đứng đầu đất nước
➢ Thời Hy Lạp, La Mã cổ đại: theo Xênôphôn, đó là người biết chỉ
huy nhận thức được chính trị, giởi kỹ thuật, giỏi thuyết phục vì lợi
ích chung, lôi kéo tập hợp được quần chúng.
➢ Thời kỳ cận đại: trường phái duy tậm hoặc tuyệt đối hoá, hoặc phủ
nhận vai trò của thủ lĩnh chính trị. Chủ nghĩa duy vật: người đứng
đầu có vai trò rát quan trọng, nhưng nhân dân mới là người quyết
định, mỗi thời đại đều có một thủ lĩnh chính trị khác nhau.
Tóm lại: Thủ lĩnh chính trị là nhân vật xuất sắc trong lĩnh vực hoạt động chính
trị, xuất hiện trong những điều kiện lịch sử nhất định, có sự giác ngộ lợi ích,
mục tiêu, lí tưởng giai cấp, có khả năng nắm bắt và sử dụng quy luật, có năng
lực tổ chức và tập hợp quần chúng để giải quyết những nhiệm vụ chính trị do lịch sử đặt ra.
❖ Phẩm chất tiêu biểu và vai trò của Thủ lĩnh chính trị đối với sự phát triển của Việt Nam
Ở nước Việt Nam có vị lãnh tụ, nhà cách mạng vĩ đại của dân tộc đó là Chủ tịch
Hồ Chí Minh. Người đã ra đi tìm đường cứu nước giành lại độc lập tự do cho
dân tộc. Người đã tìm ra đường lối chính trị đúng đắn theo chủ nghĩa Mác – Lê
nin để giải phóng dân tộc. Sau đó, Người đã sáng lập ra ĐCSVN, là một trong
những người đặt ra nền móng và lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập toàn vẹn
lãnh thổ. Bằng lòng yêu nước, sự hiểu biết sâu sắc về chính trị, sự nhậy bén
trong công việc lãnh đạo Hồ Chí Minh đã luôn lấy chủ nghĩa Mác- Lenin, giai
cấp vô sản làm nền tảng để lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành thắng lợi qua
cuộc kháng chiến chống Pháp để rồi đến năm 1945 tại quảng trường Ba Đình
Người đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa. Vẫn bằng cách vận dụng sáng tạo tư tưởng chủ nghĩa Mác vào tình
hình thực tế của đất nước Người đã lãnh đạo đất nước giành thắng lợi trong 19