lOMoARcPSD| 46342819
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ I NĂM HỌC 2021 – 2022
(Phần dành cho sinh viên/ học viên)
Bài thi học phần: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Số báo danh: 100
Mã số đề thi: 42
Lớp: 21104HCMI0121
Ngày thi: 10/12/2021 Tổng số trang: 6
Họ và tên: Phạm Thị Minh Trang
Điểm kết luận:
GV chấm thi 1: …….
………………………...... GV chấm thi 2:
…….………………………......
BÀI LÀM
Câu 1: Phân tích sự biến đổi các quan hệ trong gia đình Việt Nam hiện nay so với gia đình truyền thống? Phân tích
và lý giải nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi đó.
Gia đình: một cộng đồng người đặc biệt, có vai trò quyết định đến sự phát triển tồn tại của hội. C.c
Ph. Ăngghen khi đề cập đến gia đình đã cho rằng: “Quan hệ gia đình tham dự ngay tđầu vào quá trình phát
triển lịch sử: hàng ngày tái tạo đời sống của bản thân nh, con người bắt đầu tạo ra những người khác, sinh sôi
nảy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ, và con cái đó là gia đình”.
1. Sự biến đổi các quan hệ trong gia đình Việt Nam hiện nay so với gia đình truyền thống: Cơ sở hình
thành gia đình là hai mối quan hệ cơ bản, quan hệ hôn nhân (vợ và chồng) và quan hệ huyết thống (cha mẹ
con cái). Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, văn hóa gia đình Việt Nam đang chịu những tác động
nhiều chiều và biến đổi mạnh mẽ. Ta có thể thấy rõ sự biến đổi của gia đình Việt Nam, đặc biệt là sự biến đổi
các quan hệ trong gia đình Việt Nam hiện nay như sau:
Sự biến đổi quan hệ hôn nhân và quan hệ vợ chồng:
Trong những thập niên qua, gia đình Việt Nam đã trải qua những biến chuyển quan trọng, từ gia đình truyền
thống sang gia đình với những đặc điểm mới, hiện đại và tự do hơn. Quá trình hội nhập quốc tế, trong đó có hội
nhập và giao lưu văn hóa làm xuất hiện những quan điểm cởi mở hơn về hôn nhân và gia đình Việt Nam. Gia đình
là giá trị quan trọng hàng đầu
Người dân Việt Nam vốn coi gia đình ưu tiên hàng đầu trong cuộc sống, sau đó là sức khỏe, việc làm, thu
nhập, bạn bè, học vấn, thời gian giải trí, địa vị, tín ngưỡng tôn giáo và chính. Có thể thấy, gia đình và hôn nhân là
một giá trị quan trọng Việt Nam thiết chế hội phổ biến. Theo Tapchicongsan.org.vn, phần lớn những
người được hỏi vẫn khẳng định tầm quan trọng của hôn nhân, theo đó, thanh niên đến tuổi trưởng thành nhất thiết
cần lập gia đình. Quan điểm của nhóm những người chưa kết hôn cho thấy xu ớng hôn nhân vẫn xu hướng chủ
đạo trong tương lai (với 80,5% số người chưa kết hôn cho biết sẽ “kết hôn, có gia đình”, 46,2% cho rằng
lOMoARcPSD| 46342819
“thanh niên đến tuổi trưởng thành phải lập gia đình”; tỷ lệ người đồng ý với việc sống độc thân thấp hơn nhiều so
với số người không đồng ý).
Gia đình Việt Nam trong quá trình vừa bảo lưu các giá trị truyền thống, vừa tiếp thu yếu tố hiện đại
Cũng theo Tapchicongsan.org.vn, trong số các giá trị đạo đức, tâm lý, tình cảm của gia đình, giá trị chung thủy
là giá trị rất được coi trọng trong quan hệ hôn nhân và gia đình, được người dân đánh giá cao nhất, sau đó là
Họ tên SV/HV: Phạm Thị Minh Trang - Mã LHP: 21104HCMI0121 Trang 1/6
đến các giá trị tình yêu thương, bình đẳng, con, chia sẻ việc nhà, hòa hợp, thu nhập. Kết quả khảo sát cho
thấy, tới 41,6% coi chung thủy “quan trọng”, 56,7% coi chung thủy “rất quan trọng” trong hôn nhân.
Đồng thời, nghiên cứu cho thấy hiện tượng bảo lưu những tiêu chuẩn kép khắt khe với phụ nữ và xu hướng vị tha
hơn cho nam giới trong vấn đề chung thủy (giá trị “chung thủy quan trọng hơn với phụ nữ” tỷ lệ đồng ý cao
66,2%). Điều này cho thấy, chung thủy vẫn là thước đo phẩm giá của người phụ nữ khi họ được kỳ vọng là nhân tố
giữ gìn cho sự êm ấm, tốt đẹp của gia đình và xã hội.
Giá trị tình yêu là một giá trị bảo đảm sự bền vững của hôn nhân, nhất hôn nhân hiện đại dựa trên tình yêu
để kết hôn. Bình đẳng là một giá trị của xã hội hiện đại. Đa số người dân đánh giá khá cao tầm quan trọng của bình
đẳng, cho thấy gia đình Việt Nam đang thích ứng với sự thay đổi của hội hiện đại, ủng hộ bình đẳng giới trong
quan hệ vợ chồng. Cùng với đó những thay đổi trong quan niệm về việc sống chung hoặc riêng trong gia đình.
Sự xuất hiện các nhân tố mới, như di cư lao động, tôn trọng tự do cá nhân, sự độc lập về kinh tế giữa bố mẹ và con
cái trong đời sống gia đình hiện đại cũng góp phần làm chuyển dịch từ gia đình lớn nhiều thế hệ (ông bà cha mẹ -
con cháu) sang gia đình nhỏ (1 hoặc 2 thế hệ).
Hiện nay, các gia đình ngày càng nhận thức cao về tầm quan trọng của trách nhiệm, chia sẻ trong đời sống gia
đình. Đó là việc chia sẻ những mối quan tâm, lắng nghe tâm tư, suy nghĩ của các thành viên trong gia đình. Các gia
đình mức độ hiện đại hóa càng cao, mang nhiều đặc điểm hiện đại, như sống đô thị, việc làm, học vấn
cao, mức sống cao, các khu vực kinh tế phát triển hơn thì các gtrị chia sẻ trân trọng càng được các cặp vợ
chồng thể hiện rõ. Tuy nhiên thực tế cho thấy, người phụ nữ vẫn chưa bình đẳng thực sự với nam giới, thể hiện
trong tỷ lệ được người chồng chia sẻ, lắng nghe tâm tư và chia sẻ suy nghĩ.
Các giá trị truyền thống, xu hướng dịch chuyển sang giá trị hiện đại trong tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời
Cùng với việc coi trọng giá trị gia đình, các tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời của người Việt Nam vẫn nghiêng về các
giá trị truyền thống nhưng đang có xu hướng dịch chuyển sang các giá trị mang tính cá nhân và hiện đại. Có thể
thấy, tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời của người dân ưu tiên các phẩm chất về tư cách, đạo đức hơn là các tiêu chuẩn
về ngoại hình hay tiêu chuẩn về kinh tế. Trong những tiêu chí lựa chọn bạn đời hiện nay, tiêu chí tình yêu được đề
cập nhiều nhất. Điều này nói lên rằng những giá trị về tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời đã có sự chuyển đổi rõ nét
từ giá trị truyền thống sang các giá trị hiện đại. Khi cá nhân được giải phóng thì yếu tố tình cảm và sự tự do lựa
chọn hôn nhân được đề cao. Vì thế, hôn nhân đã chuyển dần từ thể chế kinh tế là chính sang thể chế tâm lý là
chính. Tiêu chuẩn lựa chọn gia đình tương đồng về điều kiện kinh tế, địa vị xã hội “gia đình môn đăng hộ đối”
hầu như không còn là giá trị cần chú ý trong thang tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời. Quá trình này tạo nên sự di động
xã hội nhanh và đa dạng. Bên cạnh đó, nhiều loại hình nghề nghiệp xuất hiện và sự phát triển của công nghệ
thông tin, khoa học hiện đại, toàn cầu hóa,… là những yếu tố thúc đẩy việc hình thành hôn nhân giữa các tiểu
văn hóa (dân tộc, vùng, miền) và giữa các nền văn hóa (hôn nhân có yếu tố nước ngoài). Như vậy, có thể thấy,
nếu chia tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời theo nhóm giá trị cá nhân (tình yêu, hình thức, thu nhập, công việc, học vấn)
và giá trị tập thể (gia đình tương đồng, sự chấp thuận của bố mẹ, cùng địa phương, cùng dân tộc) thì các giá trị cá
nhân trong chọn lựa bạn đời là xu hướng nổi bật hiện nay, nhất là với nhóm có đặc điểm hiện đại, như học vấn
cao, sống ở thành thị.
Gia đình truyền thống và mức độ chấp nhận cởi mở dần với một số hiện tượng hôn nhân gia đình mới Các
kiểu loại gia đình mới như hôn nhân đồng giới, chung sống không kết hôn, làm mẹ đơn thân, tùy từng giai đoạn,
thường rất hiếm hoặc không có trong truyền thống nhưng lại có xu hướng gia tăng trong các xã hội đang chuyển
đổi từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp, hiện đại. Ở Việt Nam hiện nay, một bộ phận người dân, chủ
yếu là người dân tộc Kinh, trẻ tuổi, học vấn cao, ở thành thị có tỷ lệ chấp nhận những kiểu loại gia đình mới cao
hơn, tuy rằng có thể chưa thực sự hiểu rõ những hệ quả tiêu cực của nó.
lOMoARcPSD| 46342819
Với những thay đổi lớn trong kinh tế, xã hội và hội nhập quốc tế, những hình thức hôn nhân gia đình mới ủng
hộ tính cá nhân có xu ớng tăng. Gần đây, hôn nhân đồng giới vấn đề gây ra tranh cãi gay gắt giữa những người
ủng hộ không ủng hộ. Vẫn theo Tapchicongsan.org.vn, hôn nhân đồng tính mới được chấp nhận dặt, chỉ
27,7% người đồng ý, phần lớn ở nhóm mang nhiều đặc điểm hiện đại.
Trong xã hội Việt Nam truyền thống, người phụ nữ không lấy chồng nhưng có con thường phải chịu sự lên án
gay gắt của xã hội, cộng đồng và gia đình. Hiện nay, hôn nhân vẫn là quyết định hệ trọng trong cuộc đời của người
phụ nữ. Tuy vậy, cùng với sự tiếp nhận văn hóa phương Tây cộng với quyền cá nhân ngày càng được pháp
Họ tên SV/HV: Phạm Thị Minh Trang - Mã LHP: 21104HCMI0121 Trang 2/6
luật bảo vệ, người phụ nữ ngày càng quyền quyết định việc kết hôn và có con. Quyền làm mẹ không chỉ thể hiện
sự biến đổi trong nhận thức mà còn là biểu hiện của sự nhân văn trong bảo vệ quyền của phụ nữ.
Ngoài ra, sự thay đổi trụ cột trong gia đình. Trong gia đình truyền thống, người chồng trụ cột gia đình,
mọi quyền lực trong gia đình đều thuộc về đàn ông. Ngày nay, còn hình người phụ nữ - người vợ làm chủ
gia đình và mô hình cả hai vợ chồng cùng làm chủ gia đình.
Gia đình hiện đại và xu hướng suy giảm tính tập thể, tính cộng đồng
Quan hệ của gia đình với dòng họ trong xã hội Việt Nam hiện nay còn khá chặt chẽ, gắn kết, mức độ gắn kết
mạnh mẽ. Thực tế cho thấy có xu hướng suy giảm tính tập thể, tính cộng đồng theo mức độ hiện đại hóa. Ở một
chừng mực nhất định, những giá trị truyền thống về tình làng nghĩa xóm vẫn được duy trì. Điều này cho thấy tính
liên tục của các giá trị văn hóa nhưng cũng đã những biểu hiện mới thế hệ trẻ về thái độ đối với quan hệ tình
cảm và quan hệ vật chất giữa các thành viên trong gia đình và cộng đồng. Trong khi người cao tuổi đề cao việc ứng
xử lễ nghĩa, trước sau trong mọi hoàn cảnh thì nhiều thanh niên lại gắn khía cạnh kinh tế với khía cạnh
tình cảm, hạnh phúc gia đình. Họ cho rằng không thể có hạnh phúc nếu khó khăn về kinh tế.
Tình làng nghĩa xóm theo nghĩa được giúp đỡ, hỗ trợ thể hiện nhiều hơn ở nhóm các gia đình mang đặc điểm
hiện đại thấp hơn. Sự sẵn sàng vì tập thể, vì cái chung cao hơn ở khu vực có mức độ hiện đại thấp hơn, tức là khu
vực còn duy trì tính cộng đồng cao hơn. Mức độ sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì cái chung giảm dần theo đoàn
hệ tuổi, cho thấy càng nhóm trẻ, mức độ chấp nhận tính cộng đồng, tính tập thể càng thấp, tính cá nhân càng cao.
Sự biến đổi quan hệ giữa các thế hệ, các giá trị, chuẩn mực văn hóa của gia đình Trong bối cảnh xã
hội Việt Nam hiện nay, quan hệ giữa các thế hệ cũng như các giá trị, chuẩn mực văn hóa của gia đình cũng không
ngừng biến đổi. Trong gia đình truyền thống, một đứa trẻ sinh ra và lớn lên dưới sự dạy bảo thường xuyên của
ông bà, cha mẹ ngay từ khi còn nhỏ. Trong gia đình hiện đại, việc giáo dục trẻ em gần như phó mặc cho nhà
trường, mà thiếu đi sự dạy bảo thường xuyên của ông bà, cha mẹ. Ngược lại, người cao tuổi trong gia đình truyền
thống thường sống cùng với con cháu, cho nên nhu cầu về tâm lý, tình cảm được đáp ứng đầy đủ. Còn khi quy
mô gia đình bị biến đổi, người cao tuổi phải đối mặt với sự cô đơn, thiếu thốn về tình cảm. Những biến đổi trong
quan hệ gia đình cho thấy, thách thức lớn nhất đặt ra cho gia đình Việt Nam là mâu thuẫn giữa các thế hệ, do có
sự khác biệt về tuổi tác, khi cùng chung sống với nhau, người già thường hướng về các giá trị truyền thống, có xu
hướng bảo thủ, áp đặt nhận thức của mình đối với người trẻ. Ngược lại, tuổi trẻ thường hướng tới những giá trị
hiện đại, có xu hướng phủ nhận yếu tố truyền thống. Gia đình càng nhiều thế hệ, mâu thuẫn thế hệ càng lớn.
Ngày càng xuất hiện nhiều hiện tượng mà trước đây chưa hề hoặc ít như: bạo lực gia đình, ly hôn, ly thân,
ngoại tình, sống thử… Chúng đã làm rạn nứt, phá hoại sự bền vững của gia đình, làm cho gia đình trở nên mong
manh, dễ tan vỡ hơn. Ngoài ra, các tệ nạn như trẻ em lang thang, nghiện hút, buôn bán phụ nữ qua biên giới... cũng
đang đe dọa, gây nhiều nguy cơ làm tan rã gia đình.
2. Nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi quan hệ trong gia đình VN hiện nay so với gia đình truyền thống Sự
biến đổi nào cũng là quy luật. Nó thực sự có ý nghĩa khi đem đến một hơi thở mới, một luồng gió mới mang lại
những giá trị văn hóa tích cực. Nhưng nó cũng thực sự là vấn đề nguy hiểm khi đánh mất đi chính mình, những
giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp mà bao năm qua chúng ta đã gây dựng.
Có khá nhiều nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi quan hệ trong gia đình Việt Nam. Nguyên nhân chính của việc
tỉ lệ những người lựa chọn sống độc thân và ly hôn gia tăng theo thời gian có lẽ do sự độg lập về kinh tế của cá
lOMoARcPSD| 46342819
nhân cùng với nó là quan hệ bình đẳng dân chủ trong gia đình. Khi mức sống tăng lên, chất lượng cuộc sống được
cải thiện thì yêu cầu của con người về điều kiện sống ngày càng cao. Do đó, không phải ai cũng thể đáp ứng nhu
cầu đó nên một số người tự thấy không có khnăng đảm bảo một cuộc sống gia đình theo tiêu chuẩn họ mong muốn
nên sẽ trì hoãn hôn nhâm từ chối hôn nhân. Ngoài ra, sức ép từ cuộc sống hiện đại (công việc căng thẳng, không ổn
định, …), nhiều người mải mê theo đuổi sự nghiệp cũng là một yếu tố khiến hôn nhân trở nên khó khăn với họ. Ly
hôn cũng tăng mâu thuẫn giữa vợ chồng, sự độc lập kinh tế. Mặt khác, sự cởi mở của hội trong cách nhìn nhận
về ly hôn giúp cho họ mạnh dạn hơn trong việc ra quyết định ly hôn.
Họ tên SV/HV: Phạm Thị Minh Trang - Mã LHP: 21104HCMI0121 Trang 3/6
Việt Nam từ mô hình truyền thống sang mô hình hiện đại xuất phát từ chính những nguyên nhân bên trong nó,
đó mâu thuẫn trong các quan hệ xã hội. Sự du nhập ạt của các nền văn hóa phương Tây đang dần ảnh hưởng
đến lối sống, nhận thức của các thành viên trong gia đình, đặc biệt giới trẻ. Mặt trái của nền kinh tế thị trường
kéo theo lối sống buông thả, vị kỉ, chủ nghĩa nhân, quá đề cao vấn đề vật chất khiến cho con người ngày càng
đánh mất giá trị đạo đức gia đình truyền thống.
Dưới góc nhìn hội học, thể thấy rằng sự biến đổi quy mô gia đình Việt Nam là một tất yếu không thể tránh
khỏi do tác động của toàn cầu hóa. Sự thay đổi đó điều chỉnh chính bản thân gia đình cho phù hợp với hội
đồng thời cũng điều chỉnh hội cho phù hợp với điều kiện cụ thể bên ngoài. Hquả tạo ra một mô hình gia đình
mới có khả năng thích ứng tốt hơn với sự biến đổi của xã hội để thay thế gia đình truyền thống cũ. Đó là xu hướng
tiến bộ chung cho cũng còn tồn tại nhiều mặt hạn chế. Điều quan trọng nhất phải biết tiếp thu một cách
chọn lọc các tinh hoa, giá trị tiên tiến của gia đình hiện đại đồng thời bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống
quý báu cải biến, loại bỏ những giá trị không còn phù hợp để tạo ra một khuôn mẫu gia đình Việt Nam tiến
bộ, phát triển.
Câu 2: Hãy m nội dung sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân? Điều kiện chủ quan nào quan trọng
nhất để giai cấp công nhân thế giới thực hiện thắng lợi sức mệnh lịch sử của mình. Tại sao?
Giai cấp công nhân một tập đoàn xã hội, hình thành phát triển cùng với quá trình phát triển của nền công
nghiệp hiện đại; họ lao động bằng phương thức CN ngày càng hiện đại gắn liền với quá trình sản xuất vật chất
mang tính hiện đại, đại biểu cho phương thức sản xuất mang tính hội hóa ngày càng cao. Họ người làm thuê
do không liệu sản xuất, buộc phải bán sức lao động để sống bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư;
vậy lợi ích cơ bản của họ đối lập với lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản. Đó là giai cấp có sứ mệnh phủ định chế độ
tư bản chủ nghĩa, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới.
1. Nội dung sứ mệnh lịch sử thế giới của gia cấp công nhân: (3 nội dung cơ bản) Nội dung sứ mệnh lịch
sử của giai cấp công nhân: Là những nhiệm vụ mà giai cấp công nhân cần phải thực hiện với tư cách là giai cấp
tiên phong, là lực lượng đi đầu trong cuộc cách mạng xác lập hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Nói về
sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, C. Mác đã viết: “Thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy, - đó là sứ
mệnh lịch sử của giai cấp vô sản hiện đại”.
- Sứ mệnh lịch sử tổng quát của giai cấp công nhân: thông qua chính đảng tiền phong, giai cấp công nhân tổ
chức, lãnh đạo nhân dân lao động đấu tranh xóa bỏ các chế độ người bóc lột người, xóa bỏ chủ nghĩa bản, giải
phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng hội cộng
sản chủ nghĩa văn minh. Cụ thể:
Sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân bắt nguồn từ địa vị kinh tế - xã hội khách quan:
Giai cấp công nhân đại biểu cho quan hệ sản xuất mới, tạo tiền đề vật chất kỹ thuật cho sự ra đời của xã hội
mới. Giai cấp công nhân ra đời phát triển dưới chủ nghĩa tư bản, là bộ phận quan trọng nhất, cách mạng nhất của
lực lượng sản xuất có trình độ xã hội hóa cao.
Giai cấp công nhân tiến hành xóa bỏ chế độ tư hữu nhân về tư liệu sản xuất, xây dựng chế độ công hữu về
liệu sản xuất, xây dựng sở vật chất, kỹ thuật cho chủ nghĩa hội. => Nâng cao năng suất lao động, thỏa mãn
từng bước nhu cầu phát triển của nhân dân.
lOMoARcPSD| 46342819
Ở các nước xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân thông qua quá trình công nghiệp hóa thực hiện “một kiểu
tổ chức xã hội mới lao động”. Thực tế thì hầu hết các nước XHCN ra đời từ phương thức rút ngắn, bỏ qua chế độ
tư bản chủ nghĩa. Do đó, giai cấp công nhân đóng vai trò nòng cốt thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, tạo cơ s
cho quan hệ sản xuất mới, xã hội chủ nghĩa ra đời.
Họ tên SV/HV: Phạm Thị Minh Trang - Mã LHP: 21104HCMI0121 Trang 4/6
Sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân về nội dung chính trị - xã hội: Giai cấp công nhân,
nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, đã lật đổ chính quyền của giai cấp thống trị, xóa bỏ chế
độ bóc lột, áp bức, giành quyền lực về tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Thiết lập Nhà nước kiểu mới,
mang bản chất giai cấp công nhân. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Giai cấp công nhân và nhân dân lao
động cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, thực hiện dân chủ, công bằng, bình đẳng, và tiến bộ xã hội theo lý
tưởng và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.
Sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân về nội dung văn hóa, tư tưởng Thực hiện sứ mệnh
của mình, giai cấp công nhân cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới tiến bộ trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng: Lao
động, công bằng, dân chủ, bình đẳng và tự do.
Xây dựng và củng cố ý thức hệ tiên tiến của giai cấp công nhân, đó là chủ nghĩa Mác – Lenin, đấu tranh khắc
phúc ý thức hệ tư sản, các tàn dư còn sót lại của các hệ tư tưởng cũ.
Theo chiều dài của lịch sử, phát triển văn hóa, xây dựng con người mới, đạo đức lối sống mới hội chủ
nghĩa là một trong những nội dung căn bản mà cách mạng xã hội chủ nghĩa đặt ra đối với sứ mệnh lịch sử của giai
cấp công nhân hiện đại.
2. Điều kiện chủ quan nào là quan trọng nhất để giai cấp công nhân thế giới thực hiện thắng lợi sức
mệnh lịch sử của mình. Tại sao?
Điều kiện chủ quan để giai cấp công nhân thế giới thực hiện thắng lợi sức mệnh lịch sử của mình:
- Sự phát triển của bản thân giai cấp công nhân cả về số lượngchất lượng + Phát triển về quy (số lượng).
+ Phát triển về chất lượng, thể hiện ở: trình độ trưởng thành vý thức chính trị; năng lực trình độ làm chủ về
khoa học, công nghệ; trình độ học vấn, tay nghề, chuyên môn, nghiệp vụ.
+ Để phát triển Giai cấp công nhân về số lượng chất lượng, phải đặc biệt chú ý đến 2 biện pháp bản: phát
triển công nghiệp - “tiền đề thực tiễn tuyệt đối cần thiết”; xây dựng Đảng Cộng sản - hạt nhân chính trị của giai cấp
công nhân.
- Đảng Cộng Sản là nhân tố chủ quan quan trọng nhất để giai cấp công nhân thực hiện thắng lợi sứ mệnh
lịch sử của mình.
- Sự liên minh giai cấp giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác. Điều
kiện Đảng Cộng Sản nhân tố chủ quan quan trọng nhất để giai cấp công nhân thực hiện thắng lợi
sức mệnh lịch sử của mình là vì:
- Đảng Cộng Sản đội tiên phong của giai cấp công nhân ra đời, đảm nhận vai trò lãnh đạo của cuộc cách
mạng, là dấu hiệu về sự trưởng thành vượt bậc của giai cấp công nhân.
- Đảng Cộng Sản ra đời sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa xã hội khoa học phong trào công nhân.
Bộ tham mưu của giai cấp sản là đảng cộng sản. Sự kết hợp giữa luận cách mạng khoa học phong
trào công nhân, trước hết là một quá trình tất yếu của việc thành lập đảng. V. Lênin đã chỉ ra rằng, việc thành
lập đảng cộng sản - quá trình kết hợp chủ nghĩa xã hội khoa học với phong trào công nhân. Nhưng con đường
lOMoARcPSD| 46342819
kết hợp này lại phụ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể của từng nước. V.Lênin viết: “Trong tất cả các nước, đã
thời kỳ phong trào công nhân chủ nghĩa hội tồn tại biệt lập với nhau, mỗi bên đi theo con đường
riêng biệt của mình trong tất cả nước, sự biệt lập ấy đã làm yếu cả chủ nghĩa hội lẫn phong trào công
nhân. Trong tất cả nước, chỉ sự kết hợp chủ nghĩa hội với phong trào công nhân đem lại sở vững
vàng cho cả hai bên. Nhưng ở mỗi nước, sự kết hợp chủ nghĩa xã hội với phong trào công nhân đã được diễn
ra với tính chất lịch sử, theo con đường riêng biệt, phụ thuộc vào những điều kiện địa phương và thời gian”.
- Đảng Cộng Sản xuất hiện trên sở phong trào công nhân. V.Lênin viết: “Chính là từ quy luật kinh tế của
sự phát triển xã hội hiện đại mà Mác đã rút ra tính tất yếu của sự chuyển biến từ chế độ tư bản chủ nghĩa sang
chế độ xã hội chủ nghĩa. Động lực tri thức và tinh thần của sự chuyển biến này, lực lượng vật chất thực hiện
sự chuyển biến này, giai cấp công nhân, giai cấp đã được đào luyện bởi bản thân chủ nghĩa bản. Cuộc
đấu tranh của vô sản chống lại giai cấp tư sản, với hình thức khác nhau và nội dung phong phú, tất dẫn đến
cuộc đấu tranh chính trị, nhằm giành lại chính quyền về tay giai cấp vô sản”. Giai cấp công nhân chỉ có thể
hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình là kẻ đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản và xây dựng xã hội cộng sản chủ
nghĩa, nếu được lãnh đạo bởi bộ tham mưu và đội tiên phong của mình là Đảng Cộng Sản.
- Trước khi có sự xuất hiện của Đảng Cộng Sản, ở giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, phong trào công nhân
của chủ nghĩa tư bản, phong trào công nhân còn mang tính chất tự phát. Công nhân tự phát đấu tranh chống
lại trật tự tư bản chủ nghĩa tại các công xưởng riêng lẻ. Họ tổ chứci công lập ra các nghiệp đoàn, nhưng
phong trào còn rời rạc và chưa có ý nghĩa chính trị độc lập, vì cuộc đấu tranh chưa được chỉ đạo bởi lý luận
cách mạng khoa học, chưa được lãnh đạo bởi đảng cộng sản. Phong trào tự phát của công nhân, về nội dung,
chưa ý thức giác ngộ về giai cấp, chưa vượt ra ngoài giới hạn của ý thức nghiệp đoàn, mà ý thức nghiệp
đoàn thì còn lệ thuộc vào ý thức hệ sản. Vào thời kỳ này, những người có tư tưởng XHCN còn đứng ngoài
phong trào công nhân. Họ công kích chế độ tư bản chủ nghĩa nhưng quan điểm của họ chưa khoa học, họ chỉ
những người có thiện chí, những nhà không tưởng cho nên chưa tác động thúc đẩy hội phát triển.
Thậm chí còn mơ ước rằng bản thân các giai cấp thống trị bóc lột tự nguyện xây dựng xã hội chủ nghĩa.
Họ nhìn giai cấp vô sản là vết thương của xã hội và rất lo lắng rằng, công nghiệp càng phát triển thì giai cấp
vô sản càng dông đúc. “Ngược lại với tâm lý hốt hoảng trước sự phát triển thì giai cấp vô sản, Mác và Ăng-
ghen đặt tất cả hy vọng của nh vào sự lớn lên không ngừng của giai cấp này. sản càng nhiều, lực lượng
của họ như là một giai cấp cách mạng càng mạnh, chủ nghĩa xã hội lại càng gần gũi và càngthể thực hiện
được”. “Chủ nghĩa Mác chính luận của cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp sản”. luận này, giai
cấp công nhân chỉ thể thực hiện được, nhờ sự lãnh đạo của đảng cộng sản được trang bằng học
thuyết mác-xít khoa học.
- Giai cấp công nhân sở, là nền tảng,toàn thể, là nguồn bổ sung lực lượng quan trọng nhất của Đảng;
Đảng Cộng Sản là bộ phận tiên tiến nhất của giai cấp công nhân, mang bản chất giai cấp công nhân, trở thành
đội tiên phong, bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân.
Kết luận: Đảng Cộng Sản là nhân tố chủ quan quan trọng nhất để giai cấp công nhân thực hiện thắng lợi sứ
mệnh lịch sử của mình. Giai cấp công nhân chỉ có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình nếu được lãnh đạo
bởi bộ tham mưu và đội tiên phong của mình là Đảng Cộng Sản.
Trong suốt những năm qua, giai cấp công nhân Việt Nam đã khẳng định được vai trò của mình, xứng đáng
là bộ phận của giai cấp công nhân thế giới, tiếp tục lấy chủ nghĩa MácLênin và tư tưởng HChí Minh nền tảng
tư tưởng. Ngày nay, công nhân Việt Nam chủ động tham gia giải quyết các vấn đề là thu hút sự quan tâm hàng đầu
của Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung. Các vấn đề đó có tính thời sự cao như dân số, môi trường, văn hóa,
năng lượng, lương thực, …
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam là xóa bỏ chế độ bản chủ nghĩa, xóa bỏ chế độ bóc lột,
tự giải phóng, giải phóng nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi sự áp bức, bóc lột, xây dựng thành công xã
hội cộng sản chủ nghĩa. Phát triển về số lượng và chất lượng, nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ học
vấn và nghề nghiệp thực hiện “tri thức hóa công nhân”, nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ vào sản xuất nhằm
tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả làm việc, xứng đáng với vai trò lãnh đạo cách mạng trong thời kỳ mới.
lOMoARcPSD| 46342819
---Hết---
Họ tên SV/HV: Phạm Thị Minh Trang - Mã LHP: 21104HCMI0121 Trang 6/6

Preview text:

lOMoAR cPSD| 46342819
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ I NĂM HỌC 2021 – 2022
(Phần dành cho sinh viên/ học viên)
Bài thi học phần: Chủ nghĩa xã hội khoa học Số báo danh: 100
Mã số đề thi: 42 Lớp: 21104HCMI0121
Ngày thi: 10/12/2021 Tổng số trang: 6
Họ và tên: Phạm Thị Minh Trang Điểm kết luận:
GV chấm thi 1: …….
………………………...... GV chấm thi 2:
…….………………………...... BÀI LÀM
Câu 1: Phân tích sự biến đổi các quan hệ trong gia đình Việt Nam hiện nay so với gia đình truyền thống? Phân tích
và lý giải nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi đó.
Gia đình: Là một cộng đồng người đặc biệt, có vai trò quyết định đến sự phát triển và tồn tại của xã hội. C. Mác
và Ph. Ăngghen khi đề cập đến gia đình đã cho rằng: “Quan hệ gia đình tham dự ngay từ đầu vào quá trình phát
triển lịch sử: hàng ngày tái tạo đời sống của bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những người khác, sinh sôi
nảy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ, và con cái đó là gia đình”.
1. Sự biến đổi các quan hệ trong gia đình Việt Nam hiện nay so với gia đình truyền thống: Cơ sở hình
thành gia đình là hai mối quan hệ cơ bản, quan hệ hôn nhân (vợ và chồng) và quan hệ huyết thống (cha mẹ và
con cái). Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, văn hóa gia đình Việt Nam đang chịu những tác động
nhiều chiều và biến đổi mạnh mẽ.
Ta có thể thấy rõ sự biến đổi của gia đình Việt Nam, đặc biệt là sự biến đổi
các quan hệ trong gia đình Việt Nam hiện nay như sau:
Sự biến đổi quan hệ hôn nhân và quan hệ vợ chồng:
Trong những thập niên qua, gia đình Việt Nam đã trải qua những biến chuyển quan trọng, từ gia đình truyền
thống sang gia đình với những đặc điểm mới, hiện đại và tự do hơn. Quá trình hội nhập quốc tế, trong đó có hội
nhập và giao lưu văn hóa làm xuất hiện những quan điểm cởi mở hơn về hôn nhân và gia đình Việt Nam. Gia đình
là giá trị quan trọng hàng đầu

Người dân Việt Nam vốn coi gia đình là ưu tiên hàng đầu trong cuộc sống, sau đó là sức khỏe, việc làm, thu
nhập, bạn bè, học vấn, thời gian giải trí, địa vị, tín ngưỡng tôn giáo và chính. Có thể thấy, gia đình và hôn nhân là
một giá trị quan trọng ở Việt Nam và là thiết chế xã hội phổ biến. Theo Tapchicongsan.org.vn, phần lớn những
người được hỏi vẫn khẳng định tầm quan trọng của hôn nhân, theo đó, thanh niên đến tuổi trưởng thành nhất thiết
cần lập gia đình. Quan điểm của nhóm những người chưa kết hôn cho thấy xu hướng hôn nhân vẫn là xu hướng chủ
đạo trong tương lai (với 80,5% số người chưa kết hôn cho biết sẽ “kết hôn, có gia đình”, 46,2% cho rằng lOMoAR cPSD| 46342819
“thanh niên đến tuổi trưởng thành phải lập gia đình”; tỷ lệ người đồng ý với việc sống độc thân thấp hơn nhiều so
với số người không đồng ý).
Gia đình Việt Nam trong quá trình vừa bảo lưu các giá trị truyền thống, vừa tiếp thu yếu tố hiện đại
Cũng theo Tapchicongsan.org.vn, trong số các giá trị đạo đức, tâm lý, tình cảm của gia đình, giá trị chung thủy
là giá trị rất được coi trọng trong quan hệ hôn nhân và gia đình, được người dân đánh giá cao nhất, sau đó là
Họ tên SV/HV: Phạm Thị Minh Trang - Mã LHP: 21104HCMI0121 Trang 1/6
đến các giá trị tình yêu thương, bình đẳng, có con, chia sẻ việc nhà, hòa hợp, có thu nhập. Kết quả khảo sát cho
thấy, có tới 41,6% coi chung thủy là “quan trọng”, và 56,7% coi chung thủy là “rất quan trọng” trong hôn nhân.
Đồng thời, nghiên cứu cho thấy hiện tượng bảo lưu những tiêu chuẩn kép khắt khe với phụ nữ và xu hướng vị tha
hơn cho nam giới trong vấn đề chung thủy (giá trị “chung thủy quan trọng hơn với phụ nữ” có tỷ lệ đồng ý cao là
66,2%). Điều này cho thấy, chung thủy vẫn là thước đo phẩm giá của người phụ nữ khi họ được kỳ vọng là nhân tố
giữ gìn cho sự êm ấm, tốt đẹp của gia đình và xã hội.
Giá trị tình yêu là một giá trị bảo đảm sự bền vững của hôn nhân, nhất là hôn nhân hiện đại dựa trên tình yêu
để kết hôn. Bình đẳng là một giá trị của xã hội hiện đại. Đa số người dân đánh giá khá cao tầm quan trọng của bình
đẳng, cho thấy gia đình Việt Nam đang thích ứng với sự thay đổi của xã hội hiện đại, ủng hộ bình đẳng giới trong
quan hệ vợ chồng. Cùng với đó là những thay đổi trong quan niệm về việc sống chung hoặc riêng trong gia đình.
Sự xuất hiện các nhân tố mới, như di cư lao động, tôn trọng tự do cá nhân, sự độc lập về kinh tế giữa bố mẹ và con
cái trong đời sống gia đình hiện đại cũng góp phần làm chuyển dịch từ gia đình lớn nhiều thế hệ (ông bà cha mẹ -
con cháu) sang gia đình nhỏ (1 hoặc 2 thế hệ).
Hiện nay, các gia đình ngày càng nhận thức cao về tầm quan trọng của trách nhiệm, chia sẻ trong đời sống gia
đình. Đó là việc chia sẻ những mối quan tâm, lắng nghe tâm tư, suy nghĩ của các thành viên trong gia đình. Các gia
đình có mức độ hiện đại hóa càng cao, mang nhiều đặc điểm hiện đại, như sống ở đô thị, có việc làm, có học vấn
cao, mức sống cao, các khu vực kinh tế phát triển hơn thì các giá trị chia sẻ và trân trọng càng được các cặp vợ
chồng thể hiện rõ. Tuy nhiên thực tế cho thấy, người phụ nữ vẫn chưa bình đẳng thực sự với nam giới, thể hiện
trong tỷ lệ được người chồng chia sẻ, lắng nghe tâm tư và chia sẻ suy nghĩ.
Các giá trị truyền thống, xu hướng dịch chuyển sang giá trị hiện đại trong tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời
Cùng với việc coi trọng giá trị gia đình, các tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời của người Việt Nam vẫn nghiêng về các
giá trị truyền thống nhưng đang có xu hướng dịch chuyển sang các giá trị mang tính cá nhân và hiện đại. Có thể
thấy, tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời của người dân ưu tiên các phẩm chất về tư cách, đạo đức hơn là các tiêu chuẩn
về ngoại hình hay tiêu chuẩn về kinh tế. Trong những tiêu chí lựa chọn bạn đời hiện nay, tiêu chí tình yêu được đề
cập nhiều nhất. Điều này nói lên rằng những giá trị về tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời đã có sự chuyển đổi rõ nét
từ giá trị truyền thống sang các giá trị hiện đại. Khi cá nhân được giải phóng thì yếu tố tình cảm và sự tự do lựa
chọn hôn nhân được đề cao. Vì thế, hôn nhân đã chuyển dần từ thể chế kinh tế là chính sang thể chế tâm lý là
chính
. Tiêu chuẩn lựa chọn gia đình tương đồng về điều kiện kinh tế, địa vị xã hội “gia đình môn đăng hộ đối”
hầu như không còn là giá trị cần chú ý trong thang tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời. Quá trình này tạo nên sự di động
xã hội nhanh và đa dạng. Bên cạnh đó, nhiều loại hình nghề nghiệp xuất hiện và sự phát triển của công nghệ
thông tin, khoa học hiện đại, toàn cầu hóa,…
là những yếu tố thúc đẩy việc hình thành hôn nhân giữa các tiểu
văn hóa (dân tộc, vùng, miền) và giữa các nền văn hóa (hôn nhân có yếu tố nước ngoài). ⇨ Như vậy, có thể thấy,
nếu chia tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời theo nhóm giá trị cá nhân (tình yêu, hình thức, thu nhập, công việc, học vấn)
và giá trị tập thể (gia đình tương đồng, sự chấp thuận của bố mẹ, cùng địa phương, cùng dân tộc) thì các giá trị cá
nhân trong chọn lựa bạn đời là xu hướng nổi bật hiện nay, nhất là với nhóm có đặc điểm hiện đại, như học vấn cao, sống ở thành thị.
Gia đình truyền thống và mức độ chấp nhận cởi mở dần với một số hiện tượng hôn nhân gia đình mới Các
kiểu loại gia đình mới như hôn nhân đồng giới, chung sống không kết hôn, làm mẹ đơn thân, tùy từng giai đoạn,
thường rất hiếm hoặc không có trong truyền thống nhưng lại có xu hướng gia tăng trong các xã hội đang chuyển
đổi từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp, hiện đại. Ở Việt Nam hiện nay, một bộ phận người dân, chủ
yếu là người dân tộc Kinh, trẻ tuổi, học vấn cao, ở thành thị có tỷ lệ chấp nhận những kiểu loại gia đình mới cao
hơn, tuy rằng có thể chưa thực sự hiểu rõ những hệ quả tiêu cực của nó. lOMoAR cPSD| 46342819
Với những thay đổi lớn trong kinh tế, xã hội và hội nhập quốc tế, những hình thức hôn nhân gia đình mới ủng
hộ tính cá nhân có xu hướng tăng. Gần đây, hôn nhân đồng giới là vấn đề gây ra tranh cãi gay gắt giữa những người
ủng hộ và không ủng hộ. Vẫn theo Tapchicongsan.org.vn, hôn nhân đồng tính mới được chấp nhận dè dặt, chỉ có
27,7% người đồng ý, phần lớn ở nhóm mang nhiều đặc điểm hiện đại.
Trong xã hội Việt Nam truyền thống, người phụ nữ không lấy chồng nhưng có con thường phải chịu sự lên án
gay gắt của xã hội, cộng đồng và gia đình. Hiện nay, hôn nhân vẫn là quyết định hệ trọng trong cuộc đời của người
phụ nữ. Tuy vậy, cùng với sự tiếp nhận văn hóa phương Tây cộng với quyền cá nhân ngày càng được pháp
Họ tên SV/HV: Phạm Thị Minh Trang - Mã LHP: 21104HCMI0121 Trang 2/6
luật bảo vệ, người phụ nữ ngày càng có quyền quyết định việc kết hôn và có con. Quyền làm mẹ không chỉ thể hiện
sự biến đổi trong nhận thức mà còn là biểu hiện của sự nhân văn trong bảo vệ quyền của phụ nữ.
Ngoài ra, có sự thay đổi trụ cột trong gia đình. Trong gia đình truyền thống, người chồng là trụ cột gia đình,
mọi quyền lực trong gia đình đều thuộc về đàn ông. Ngày nay, còn có mô hình người phụ nữ - người vợ làm chủ
gia đình và mô hình cả hai vợ chồng cùng làm chủ gia đình.
Gia đình hiện đại và xu hướng suy giảm tính tập thể, tính cộng đồng
Quan hệ của gia đình với dòng họ trong xã hội Việt Nam hiện nay còn khá chặt chẽ, gắn kết, mức độ gắn kết
mạnh mẽ. Thực tế cho thấy có xu hướng suy giảm tính tập thể, tính cộng đồng theo mức độ hiện đại hóa. Ở một
chừng mực nhất định, những giá trị truyền thống về tình làng nghĩa xóm vẫn được duy trì. Điều này cho thấy tính
liên tục của các giá trị văn hóa nhưng cũng đã có những biểu hiện mới ở thế hệ trẻ về thái độ đối với quan hệ tình
cảm và quan hệ vật chất giữa các thành viên trong gia đình và cộng đồng. Trong khi người cao tuổi đề cao việc ứng
xử có lễ nghĩa, có trước có sau trong mọi hoàn cảnh thì nhiều thanh niên lại gắn khía cạnh kinh tế với khía cạnh
tình cảm, hạnh phúc gia đình. Họ cho rằng không thể có hạnh phúc nếu khó khăn về kinh tế.
Tình làng nghĩa xóm theo nghĩa được giúp đỡ, hỗ trợ thể hiện nhiều hơn ở nhóm các gia đình mang đặc điểm
hiện đại thấp hơn. Sự sẵn sàng vì tập thể, vì cái chung cao hơn ở khu vực có mức độ hiện đại thấp hơn, tức là khu
vực còn duy trì tính cộng đồng cao hơn. Mức độ sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì cái chung giảm dần theo đoàn
hệ tuổi, cho thấy càng nhóm trẻ, mức độ chấp nhận tính cộng đồng, tính tập thể càng thấp, tính cá nhân càng cao.
Sự biến đổi quan hệ giữa các thế hệ, các giá trị, chuẩn mực văn hóa của gia đình Trong bối cảnh xã
hội Việt Nam hiện nay, quan hệ giữa các thế hệ cũng như các giá trị, chuẩn mực văn hóa của gia đình cũng không
ngừng biến đổi. Trong gia đình truyền thống, một đứa trẻ sinh ra và lớn lên dưới sự dạy bảo thường xuyên của
ông bà, cha mẹ ngay từ khi còn nhỏ. Trong gia đình hiện đại, việc giáo dục trẻ em gần như phó mặc cho nhà
trường, mà thiếu đi sự dạy bảo thường xuyên của ông bà, cha mẹ. Ngược lại, người cao tuổi trong gia đình truyền
thống thường sống cùng với con cháu, cho nên nhu cầu về tâm lý, tình cảm được đáp ứng đầy đủ. Còn khi quy
mô gia đình bị biến đổi, người cao tuổi phải đối mặt với sự cô đơn, thiếu thốn về tình cảm. Những biến đổi trong
quan hệ gia đình cho thấy, thách thức lớn nhất đặt ra cho gia đình Việt Nam là mâu thuẫn giữa các thế hệ, do có
sự khác biệt về tuổi tác, khi cùng chung sống với nhau, người già thường hướng về các giá trị truyền thống, có xu
hướng bảo thủ, áp đặt nhận thức của mình đối với người trẻ. Ngược lại, tuổi trẻ thường hướng tới những giá trị
hiện đại, có xu hướng phủ nhận yếu tố truyền thống. Gia đình càng nhiều thế hệ, mâu thuẫn thế hệ càng lớn.
Ngày càng xuất hiện nhiều hiện tượng mà trước đây chưa hề hoặc ít có như: bạo lực gia đình, ly hôn, ly thân,
ngoại tình, sống thử… Chúng đã làm rạn nứt, phá hoại sự bền vững của gia đình, làm cho gia đình trở nên mong
manh, dễ tan vỡ hơn. Ngoài ra, các tệ nạn như trẻ em lang thang, nghiện hút, buôn bán phụ nữ qua biên giới... cũng
đang đe dọa, gây nhiều nguy cơ làm tan rã gia đình.
2. Nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi quan hệ trong gia đình VN hiện nay so với gia đình truyền thống Sự
biến đổi nào cũng là quy luật. Nó thực sự có ý nghĩa khi đem đến một hơi thở mới, một luồng gió mới mang lại
những giá trị văn hóa tích cực. Nhưng nó cũng thực sự là vấn đề nguy hiểm khi đánh mất đi chính mình, những
giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp mà bao năm qua chúng ta đã gây dựng.
Có khá nhiều nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi quan hệ trong gia đình Việt Nam. Nguyên nhân chính của việc
tỉ lệ những người lựa chọn sống độc thân và ly hôn gia tăng theo thời gian có lẽ là do sự độg lập về kinh tế của cá lOMoAR cPSD| 46342819
nhân cùng với nó là quan hệ bình đẳng dân chủ trong gia đình. Khi mức sống tăng lên, chất lượng cuộc sống được
cải thiện thì yêu cầu của con người về điều kiện sống ngày càng cao. Do đó, không phải ai cũng có thể đáp ứng nhu
cầu đó nên một số người tự thấy không có khả năng đảm bảo một cuộc sống gia đình theo tiêu chuẩn họ mong muốn
nên sẽ trì hoãn hôn nhâm từ chối hôn nhân. Ngoài ra, sức ép từ cuộc sống hiện đại (công việc căng thẳng, không ổn
định, …), nhiều người mải mê theo đuổi sự nghiệp cũng là một yếu tố khiến hôn nhân trở nên khó khăn với họ. Ly
hôn cũng tăng vì mâu thuẫn giữa vợ chồng, sự độc lập kinh tế. Mặt khác, sự cởi mở của xã hội trong cách nhìn nhận
về ly hôn giúp cho họ mạnh dạn hơn trong việc ra quyết định ly hôn.
Họ tên SV/HV: Phạm Thị Minh Trang - Mã LHP: 21104HCMI0121 Trang 3/6
Việt Nam từ mô hình truyền thống sang mô hình hiện đại xuất phát từ chính những nguyên nhân bên trong nó,
đó là mâu thuẫn trong các quan hệ xã hội. Sự du nhập ồ ạt của các nền văn hóa phương Tây đang dần ảnh hưởng
đến lối sống, nhận thức của các thành viên trong gia đình, đặc biệt là giới trẻ. Mặt trái của nền kinh tế thị trường
kéo theo lối sống buông thả, vị kỉ, chủ nghĩa cá nhân, quá đề cao vấn đề vật chất khiến cho con người ngày càng
đánh mất giá trị đạo đức gia đình truyền thống.
Dưới góc nhìn xã hội học, có thể thấy rằng sự biến đổi quy mô gia đình Việt Nam là một tất yếu không thể tránh
khỏi do tác động của toàn cầu hóa. Sự thay đổi đó điều chỉnh chính bản thân gia đình cho phù hợp với xã hội và
đồng thời cũng điều chỉnh xã hội cho phù hợp với điều kiện cụ thể bên ngoài. Hệ quả tạo ra là một mô hình gia đình
mới có khả năng thích ứng tốt hơn với sự biến đổi của xã hội để thay thế gia đình truyền thống cũ. Đó là xu hướng
tiến bộ chung dù cho cũng còn tồn tại nhiều mặt hạn chế. Điều quan trọng nhất là phải biết tiếp thu một cách có
chọn lọc các tinh hoa, giá trị tiên tiến của gia đình hiện đại đồng thời bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống
quý báu và cải biến, loại bỏ những giá trị cũ không còn phù hợp để tạo ra một khuôn mẫu gia đình Việt Nam tiến bộ, phát triển.
Câu 2: Hãy làm rõ nội dung sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân? Điều kiện chủ quan nào là quan trọng
nhất để giai cấp công nhân thế giới thực hiện thắng lợi sức mệnh lịch sử của mình. Tại sao?
Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội, hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền công
nghiệp hiện đại; họ lao động bằng phương thức CN ngày càng hiện đại và gắn liền với quá trình sản xuất vật chất
mang tính hiện đại, là đại biểu cho phương thức sản xuất mang tính xã hội hóa ngày càng cao. Họ là người làm thuê
do không có tư liệu sản xuất, buộc phải bán sức lao động để sống và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư; vì
vậy lợi ích cơ bản của họ đối lập với lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản. Đó là giai cấp có sứ mệnh phủ định chế độ
tư bản chủ nghĩa, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới.
1. Nội dung sứ mệnh lịch sử thế giới của gia cấp công nhân: (3 nội dung cơ bản) Nội dung sứ mệnh lịch
sử của giai cấp công nhân: Là những nhiệm vụ mà giai cấp công nhân cần phải thực hiện với tư cách là giai cấp
tiên phong, là lực lượng đi đầu trong cuộc cách mạng xác lập hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Nói về
sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, C. Mác đã viết: “Thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy, - đó là sứ
mệnh lịch sử của giai cấp vô sản hiện đại”.
- Sứ mệnh lịch sử tổng quát của giai cấp công nhân: thông qua chính đảng tiền phong, giai cấp công nhân tổ
chức, lãnh đạo nhân dân lao động đấu tranh xóa bỏ các chế độ người bóc lột người, xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, giải
phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng xã hội cộng
sản chủ nghĩa văn minh. Cụ thể:
Sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân bắt nguồn từ địa vị kinh tế - xã hội khách quan:
Giai cấp công nhân đại biểu cho quan hệ sản xuất mới, tạo tiền đề vật chất – kỹ thuật cho sự ra đời của xã hội
mới. Giai cấp công nhân ra đời và phát triển dưới chủ nghĩa tư bản, là bộ phận quan trọng nhất, cách mạng nhất của
lực lượng sản xuất có trình độ xã hội hóa cao.
Giai cấp công nhân tiến hành xóa bỏ chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, xây dựng chế độ công hữu về tư
liệu sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội. => Nâng cao năng suất lao động, thỏa mãn
từng bước nhu cầu phát triển của nhân dân. lOMoAR cPSD| 46342819
Ở các nước xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân thông qua quá trình công nghiệp hóa và thực hiện “một kiểu
tổ chức xã hội mới lao động”. Thực tế thì hầu hết các nước XHCN ra đời từ phương thức rút ngắn, bỏ qua chế độ
tư bản chủ nghĩa. Do đó, giai cấp công nhân đóng vai trò nòng cốt thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, tạo cơ sở
cho quan hệ sản xuất mới, xã hội chủ nghĩa ra đời.
Họ tên SV/HV: Phạm Thị Minh Trang - Mã LHP: 21104HCMI0121 Trang 4/6
Sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân về nội dung chính trị - xã hội: Giai cấp công nhân,
nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, đã lật đổ chính quyền của giai cấp thống trị, xóa bỏ chế
độ bóc lột, áp bức, giành quyền lực về tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Thiết lập Nhà nước kiểu mới,
mang bản chất giai cấp công nhân. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Giai cấp công nhân và nhân dân lao
động cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, thực hiện dân chủ, công bằng, bình đẳng, và tiến bộ xã hội theo lý
tưởng và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.
Sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân về nội dung văn hóa, tư tưởng Thực hiện sứ mệnh
của mình, giai cấp công nhân cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới tiến bộ trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng: Lao
động, công bằng, dân chủ, bình đẳng và tự do.
Xây dựng và củng cố ý thức hệ tiên tiến của giai cấp công nhân, đó là chủ nghĩa Mác – Lenin, đấu tranh khắc
phúc ý thức hệ tư sản, các tàn dư còn sót lại của các hệ tư tưởng cũ.
Theo chiều dài của lịch sử, phát triển văn hóa, xây dựng con người mới, đạo đức và lối sống mới xã hội chủ
nghĩa là một trong những nội dung căn bản mà cách mạng xã hội chủ nghĩa đặt ra đối với sứ mệnh lịch sử của giai
cấp công nhân hiện đại.
2. Điều kiện chủ quan nào là quan trọng nhất để giai cấp công nhân thế giới thực hiện thắng lợi sức
mệnh lịch sử của mình. Tại sao?
Điều kiện chủ quan để giai cấp công nhân thế giới thực hiện thắng lợi sức mệnh lịch sử của mình:
- Sự phát triển của bản thân giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng + Phát triển về quy mô (số lượng).
+ Phát triển về chất lượng, thể hiện ở: trình độ trưởng thành về ý thức chính trị; năng lực và trình độ làm chủ về
khoa học, công nghệ; trình độ học vấn, tay nghề, chuyên môn, nghiệp vụ.
+ Để phát triển Giai cấp công nhân về số lượng và chất lượng, phải đặc biệt chú ý đến 2 biện pháp cơ bản: phát
triển công nghiệp - “tiền đề thực tiễn tuyệt đối cần thiết”; xây dựng Đảng Cộng sản - hạt nhân chính trị của giai cấp công nhân.
- Đảng Cộng Sản là nhân tố chủ quan quan trọng nhất để giai cấp công nhân thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình.
- Sự liên minh giai cấp giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác. ❖ Điều
kiện Đảng Cộng Sản là nhân tố chủ quan quan trọng nhất để giai cấp công nhân thực hiện thắng lợi
sức mệnh lịch sử của mình là vì:

- Đảng Cộng Sản là đội tiên phong của giai cấp công nhân ra đời, đảm nhận vai trò lãnh đạo của cuộc cách
mạng, là dấu hiệu về sự trưởng thành vượt bậc của giai cấp công nhân.
- Đảng Cộng Sản ra đời là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa xã hội khoa học và phong trào công nhân.
Bộ tham mưu của giai cấp vô sản là đảng cộng sản. Sự kết hợp giữa lý luận cách mạng khoa học và phong
trào công nhân, trước hết là một quá trình tất yếu của việc thành lập đảng. V. Lênin đã chỉ ra rằng, việc thành
lập đảng cộng sản - quá trình kết hợp chủ nghĩa xã hội khoa học với phong trào công nhân. Nhưng con đường lOMoAR cPSD| 46342819
kết hợp này lại phụ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể của từng nước. V.Lênin viết: “Trong tất cả các nước, đã
có thời kỳ phong trào công nhân và chủ nghĩa xã hội tồn tại biệt lập với nhau, mỗi bên đi theo con đường
riêng biệt của mình và trong tất cả nước, sự biệt lập ấy đã làm yếu cả chủ nghĩa xã hội lẫn phong trào công
nhân. Trong tất cả nước, chỉ có sự kết hợp chủ nghĩa xã hội với phong trào công nhân đem lại cơ sở vững
vàng cho cả hai bên. Nhưng ở mỗi nước, sự kết hợp chủ nghĩa xã hội với phong trào công nhân đã được diễn
ra với tính chất lịch sử, theo con đường riêng biệt, phụ thuộc vào những điều kiện địa phương và thời gian”.
- Đảng Cộng Sản xuất hiện trên cơ sở phong trào công nhân. V.Lênin viết: “Chính là từ quy luật kinh tế của
sự phát triển xã hội hiện đại mà Mác đã rút ra tính tất yếu của sự chuyển biến từ chế độ tư bản chủ nghĩa sang
chế độ xã hội chủ nghĩa. Động lực tri thức và tinh thần của sự chuyển biến này, lực lượng vật chất thực hiện
sự chuyển biến này, là giai cấp công nhân, giai cấp đã được đào luyện bởi bản thân chủ nghĩa tư bản. Cuộc
đấu tranh của vô sản chống lại giai cấp tư sản, với hình thức khác nhau và nội dung phong phú, tất dẫn đến
cuộc đấu tranh chính trị, nhằm giành lại chính quyền về tay giai cấp vô sản”. Giai cấp công nhân chỉ có thể
hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình là kẻ đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản và xây dựng xã hội cộng sản chủ
nghĩa, nếu được lãnh đạo bởi bộ tham mưu và đội tiên phong của mình là Đảng Cộng Sản.
- Trước khi có sự xuất hiện của Đảng Cộng Sản, ở giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, phong trào công nhân
của chủ nghĩa tư bản, phong trào công nhân còn mang tính chất tự phát. Công nhân tự phát đấu tranh chống
lại trật tự tư bản chủ nghĩa tại các công xưởng riêng lẻ. Họ tổ chức bãi công và lập ra các nghiệp đoàn, nhưng
phong trào còn rời rạc và chưa có ý nghĩa chính trị độc lập, vì cuộc đấu tranh chưa được chỉ đạo bởi lý luận
cách mạng khoa học, chưa được lãnh đạo bởi đảng cộng sản. Phong trào tự phát của công nhân, về nội dung,
chưa có ý thức giác ngộ về giai cấp, nó chưa vượt ra ngoài giới hạn của ý thức nghiệp đoàn, mà ý thức nghiệp
đoàn thì còn lệ thuộc vào ý thức hệ tư sản. Vào thời kỳ này, những người có tư tưởng XHCN còn đứng ngoài
phong trào công nhân. Họ công kích chế độ tư bản chủ nghĩa nhưng quan điểm của họ chưa khoa học, họ chỉ
là những người có thiện chí, những nhà không tưởng cho nên chưa có tác động thúc đẩy xã hội phát triển.
Thậm chí còn mơ ước rằng bản thân các giai cấp thống trị và bóc lột tự nguyện xây dựng xã hội chủ nghĩa.
Họ nhìn giai cấp vô sản là vết thương của xã hội và rất lo lắng rằng, công nghiệp càng phát triển thì giai cấp
vô sản càng dông đúc. “Ngược lại với tâm lý hốt hoảng trước sự phát triển thì giai cấp vô sản, Mác và Ăng-
ghen đặt tất cả hy vọng của mình vào sự lớn lên không ngừng của giai cấp này. Vô sản càng nhiều, lực lượng
của họ như là một giai cấp cách mạng càng mạnh, chủ nghĩa xã hội lại càng gần gũi và càng có thể thực hiện
được”. “Chủ nghĩa Mác chính là lý luận của cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp vô sản”. Lý luận này, giai
cấp công nhân chỉ có thể thực hiện được, nhờ có sự lãnh đạo của đảng cộng sản được vũ trang bằng học
thuyết mác-xít khoa học.
- Giai cấp công nhân là cơ sở, là nền tảng, là toàn thể, là nguồn bổ sung lực lượng quan trọng nhất của Đảng;
Đảng Cộng Sản là bộ phận tiên tiến nhất của giai cấp công nhân, mang bản chất giai cấp công nhân, trở thành
đội tiên phong, bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân.
Kết luận: Đảng Cộng Sản là nhân tố chủ quan quan trọng nhất để giai cấp công nhân thực hiện thắng lợi sứ
mệnh lịch sử của mình. Giai cấp công nhân chỉ có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình nếu được lãnh đạo
bởi bộ tham mưu và đội tiên phong của mình là Đảng Cộng Sản.

Trong suốt những năm qua, giai cấp công nhân Việt Nam đã khẳng định được vai trò của mình, xứng đáng
là bộ phận của giai cấp công nhân thế giới, tiếp tục lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng
tư tưởng. Ngày nay, công nhân Việt Nam chủ động tham gia giải quyết các vấn đề là thu hút sự quan tâm hàng đầu
của Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung. Các vấn đề đó có tính thời sự cao như dân số, môi trường, văn hóa,
năng lượng, lương thực, …
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam là xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xóa bỏ chế độ bóc lột,
tự giải phóng, giải phóng nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi sự áp bức, bóc lột, xây dựng thành công xã
hội cộng sản chủ nghĩa. Phát triển về số lượng và chất lượng, nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ học
vấn và nghề nghiệp thực hiện “tri thức hóa công nhân”, nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ vào sản xuất nhằm
tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả làm việc, xứng đáng với vai trò lãnh đạo cách mạng trong thời kỳ mới. lOMoAR cPSD| 46342819 ---Hết---
Họ tên SV/HV: Phạm Thị Minh Trang - Mã LHP: 21104HCMI0121 Trang 6/6