



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA MARKETING ---------------------- BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC ĐỀ TÀI
Phân tích sự ảnh hưởng của tôn giáo đối với đời sống nhân dân trong
xã hội Việt Nam hiện nay. Và từ lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về
tôn giáo, đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục những ảnh hưởng tiêu
cực của tôn giáo trong đời sống xã hội ở Việt Nam hiện nay Nhóm thực hiện : 03 Lớp học phần : 242_HCMI0121_12
Giảng viên hướng dẫn
: Khuất Thị Nga Hà Nội - 2025
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 1
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÔN GIÁO THEO QUAN ĐIỂM CHỦ NGHĨA
MÁC - LÊNIN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 2
1.1. Khái niệm, bản chất và nguồn gốc của tôn giáo . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 2
1.1.1. Khái niệm tôn giáo . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 2
1.1.2. Bản chất của tôn giáo . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
1.1.3. Phân biệt tôn giáo với tín ngưỡng và mê tín dị đoan . . . . . . . . . . . . . . . . . 4
1.1.4. Nguồn gốc của tôn giáo . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1.2. Tính chất của tôn giáo . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 6
1.2.1. Tính lịch sử . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 6
1.2.2. Tính quần chúng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
1.2.3. Tính chính trị . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 8
1.3.Nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 9
1.3.1. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng . . . . . . . . . . . . . 9
1.3.2. Khắc phục ảnh hưởng tiêu cực gắn với cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã
hội mới . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 10
1.3.3. Phân biệt hai mặt chính trị và tư tưởng trong vấn đề tôn giáo . . . . . . . 11
1.3.4. Quan điểm lịch sử cụ thể trong giải quyết vấn đề tôn giáo . . . . . . . . . . . 12
PHẦN II: THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA TÔN GIÁO TRONG XÃ HỘI
VIỆT NAM HIỆN NAY . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 13
2.1. Đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 13
2.1.1. Đa dạng về loại hình tôn giáo. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 13
2.1.2. Đặc trưng chung sống hòa bình, không xung đột tôn giáo . . . . . . . . . . . 14
2.1.3. Tín đồ tôn giáo có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc . . . . . . . . . . . . . . . . 15
2.1.4. Vai trò quan trọng của hàng ngũ chức sắc . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 16
2.1.5. Mối quan hệ quốc tế của các tôn giáo . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 18
2.2. Ảnh hưởng tích cực của tôn giáo trong xã hội Việt Nam . . . . . . . . . . . . . . . 19
2.2.1. Góp phần giữ gìn đạo đức, lối sống . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 19
2.2.2. Đóng góp vào hoạt động từ thiện, nhân đạo . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 20
2.2.3. Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống . . . . . . . . . . . . . . 21
PHẦN III: GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA TÔN
GIÁO TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 31
3.1. Thực hiện nhất quán chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước . . . . . . . . 31
3.1.1. Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 31
3.1.2. Thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 32
3.1.3. Vấn đề theo đạo và truyền đạo . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 33
3.2. Giải pháp về kinh tế-xã hội . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 35
3.2.1. Phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 35
3.2.2. Phát triển giáo dục, nâng cao dân trí . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 36
3.2.3. Giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 37
3.3. Giải pháp về chính trị-pháp lý . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 38
3.3.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về tôn giáo . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 38
3.3.2. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về tôn giáo . . . . . . . . . . . . . . . . 39
3.3.3. Đấu tranh với các hành vi lợi dụng tôn giáo . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 40
3.4. Giải pháp về văn hóa - tư tưởng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 41
3.4.1. Đẩy mạnh công tác giáo dục thế giới quan khoa học . . . . . . . . . . . . . . . 41
3.4.2. Phát triển văn hóa, tạo đời sống tinh thần lành mạnh . . . . . . . . . . . . . . 42
3.4.3. Phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của tôn giáo . . . . . . . . . . . 43
3.5. Giải pháp về công tác tôn giáo . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 44
3.5.1. Nâng cao nhận thức về công tác tôn giáo . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 44
3.5.2. Tăng cường đào tạo cán bộ làm công tác tôn giáo . . . . . . . . . . . . . . . . . . 46
3.5.3. Phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức trong công tác tôn giáo . . 47
KẾT LUẬN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 50 MỞ ĐẦU
Tôn giáo từ lâu đã là một phần không thể tách rời trong đời sống tinh thần của
nhân dân Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh xã hội đang phát triển và hội nhập quốc tế
ngày nay. Là một hiện tượng văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo không chỉ ảnh hưởng đến tư
duy, hành vi mà còn gắn kết chặt chẽ với các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa. Những
giá trị tích cực của tôn giáo như củng cố đạo đức, đoàn kết cộng đồng cần được phát
huy, nhưng các hệ lụy tiêu cực như mê tín dị đoan hay lợi dụng tôn giáo để trục lợi đang
đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu và khắc phục. Vì vậy, đề tài “Phân tích sự ảnh
hưởng của tôn giáo đối với đời sống nhân dân trong xã hội Việt Nam hiện nay. Và từ lý
luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo, đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục những
ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo trong đời sống xã hội ở Việt Nam hiện nay” được lựa
chọn nhằm phân tích thực trạng, đánh giá tác động và đề xuất giải pháp từ góc độ lý luận
Mác-Lênin, góp phần định hướng phát triển xã hội bền vững.
Mục tiêu của nghiên cứu là làm rõ thực trạng ảnh hưởng của tôn giáo trong đời
sống nhân dân Việt Nam hiện nay, bao gồm cả khía cạnh tích cực và tiêu cực, để hiểu
rõ vai trò của nó trong bối cảnh hội nhập. Đề tài sẽ vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác-
Lênin về tôn giáo như một hiện tượng xã hội để phân tích bản chất và đề xuất các giải
pháp thiết thực, như nâng cao nhận thức, hoàn thiện chính sách quản lý và thúc đẩy giáo
dục khoa học, nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực. Với ý nghĩa lý luận và thực
tiễn, nghiên cứu không chỉ góp phần làm sáng tỏ ảnh hưởng của tôn giáo mà còn hỗ trợ
xây dựng một xã hội Việt Nam tiến bộ, văn minh, đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời kỳ mới. 1
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÔN GIÁO THEO QUAN ĐIỂM CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
1.1. Khái niệm, bản chất và nguồn gốc của tôn giáo
1.1.1. Khái niệm tôn giáo
Theo chủ nghĩa Mác-Lênin, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phản ánh hư ảo
hiện thực khách quan, nghĩa là một hệ thống niềm tin và quan niệm mà con người xây
dựng để giải thích thế giới xung quanh, nhưng thay vì phản ánh đúng bản chất khoa học
của hiện thực, nó tạo ra những hình ảnh siêu nhiên, ảo tưởng để đối phó với sự bất lực
trước tự nhiên và xã hội.
Tuy nhiên, cách tiếp cận tôn giáo theo chủ nghĩa Mác-Lênin và cách tiếp cận tôn
giáo như một thực thể xã hội cho thấy sự khác biệt sâu sắc trong việc hiểu và đánh giá
vai trò của tôn giáo trong xã hội, dựa trên năm tiêu chí cơ bản: niềm tin, giáo thuyết, cơ
sở thờ tự, tổ chức nhân sự, và hệ thống tín đồ. Theo chủ nghĩa Mác-Lênin, tôn giáo là
một hình thái ý thức xã hội phản ánh hư ảo hiện thực khách quan, xuất phát từ sự bất
lực của con người trước tự nhiên và áp bức xã hội; trong đó, niềm tin tôn giáo bị xem là
sự méo mó mang tính ảo tưởng, thường bị giai cấp thống trị lợi dụng để duy trì quyền
lực, giáo thuyết trở thành công cụ biện minh cho trật tự xã hội bất công, cơ sở thờ tự và
tổ chức nhân sự đóng vai trò củng cố niềm tin và kiểm soát xã hội, còn hệ thống tín đồ
là những người dễ bị thao túng bởi ý thức tôn giáo. Ngược lại, cách tiếp cận tôn giáo
như một thực thể xã hội nhìn nhận tôn giáo một cách trung lập hơn, như một tổ chức xã
hội với cấu trúc và chức năng cụ thể: niềm tin là yếu tố cốt lõi gắn kết cộng đồng, giáo
thuyết cung cấp khung lý thuyết và đạo đức, cơ sở thờ tự là không gian thiêng liêng cho
các hoạt động tôn giáo, tổ chức nhân sự đảm nhận vai trò lãnh đạo tinh thần, và hệ thống
tín đồ hình thành cộng đồng chia sẻ niềm tin, hỗ trợ lẫn nhau. Dù cả hai cách tiếp cận
đều thừa nhận tôn giáo là một hiện tượng xã hội quan trọng, chủ nghĩa Mác-Lênin mang
tính phê phán, nhấn mạnh bản chất ảo tưởng của tôn giáo, trong khi cách tiếp cận thực
thể xã hội tập trung mô tả và phân tích cấu trúc, hoạt động của nó một cách khách quan.
Mỗi cách tiếp cận đều có giá trị riêng, tùy thuộc vào mục đích và bối cảnh nghiên cứu. 2
1.1.2. Bản chất của tôn giáo
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội văn hóa do con người sáng tạo, ra đời để đáp
ứng nhu cầu giải thích những bí ẩn của tự nhiên và xã hội mà con người chưa thể lý giải
hay kiểm soát. Trong lịch sử, con người xây dựng các tín ngưỡng và nghi lễ để định
hướng tinh thần, cầu mong sự che chở từ các thế lực siêu nhiên, như cầu mưa thuận gió
hòa trong hạn hán hay bình an trong chiến tranh. Tuy nhiên, từ chỗ là sản phẩm của trí
tuệ con người, tôn giáo dần khiến con người lệ thuộc vào chính những giáo điều họ tạo
ra, dẫn đến sự phụ thuộc quá mức vào niềm tin siêu nhiên, đôi khi làm mất đi tính chủ
động trong việc đối mặt với thực tế.
Sự lệ thuộc này phần nào phản ánh sự bất lực và bế tắc của con người trước những
thách thức của tự nhiên và xã hội. Khi đối diện với thiên tai, bệnh tật hay biến động như
chiến tranh, con người thường cảm thấy bất lực, không đủ sức kiểm soát hoàn cảnh. Tôn
giáo trở thành nơi gửi gắm niềm tin, mang lại sự an ủi trước những khó khăn không thể
vượt qua. Chẳng hạn, người xưa cầu xin thần linh để vượt qua hạn hán hay chiến loạn,
nhưng điều này cũng bộc lộ hạn chế: thay vì tìm cách giải quyết thực tế, con người tìm
kiếm sự cứu rỗi từ tâm linh, phản ánh trạng thái bế tắc trước những trở ngại lớn.
Bên cạnh đó, tôn giáo mang thế giới quan duy tâm, khác biệt rõ rệt với thế giới
quan duy vật biện chứng. Trong khi duy tâm cho rằng thế giới được quyết định bởi ý
thức hay các thế lực siêu nhiên, như thần thánh tạo ra vũ trụ, duy vật biện chứng khẳng
định thế giới vận động theo các quy luật vật chất khách quan. Ví dụ, một trận lũ lụt có
thể được tôn giáo giải thích là sự trừng phạt của thần linh, nhưng duy vật biện chứng sẽ
phân tích dựa trên khoa học, như biến đổi khí hậu hay yếu tố địa lý. Sự khác biệt này
làm nổi bật tính duy tâm của tôn giáo, ưu tiên niềm tin vào siêu nhiên hơn là lý giải thực tế một cách khoa học.
Mặc dù vậy, tôn giáo không chỉ dừng lại ở những hạn chế mà còn mang trong mình
những giá trị nhân văn và nhân đạo sâu sắc. Các tôn giáo lớn như Phật giáo với giáo lý
từ bi hỷ xả hay Kitô giáo với tình yêu thương và sự tha thứ đều khuyến khích con người
sống hướng thiện, giúp đỡ lẫn nhau và xây dựng một xã hội hòa hợp. Những giá trị này
không chỉ là nguồn động lực tinh thần giúp con người vượt qua khó khăn mà còn góp
phần tạo nên một cộng đồng gắn kết, nơi lòng nhân ái và sự chia sẻ được đề cao. Vì thế, 3
tôn giáo, dù có những mặt trái, vẫn là một phần không thể thiếu trong việc nuôi dưỡng
ý nghĩa cuộc sống và giá trị nhân văn của nhân loại.
1.1.3. Phân biệt tôn giáo với tín ngưỡng và mê tín dị đoan
Tôn giáo, tín ngưỡng và mê tín dị đoan đều có điểm tương đồng cơ bản là dựa trên
niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, thần thánh hay những hiện tượng vượt ra ngoài
nhận thức thông thường của con người. Cả ba hiện tượng này đều thể hiện nhu cầu tâm
linh của con người trong việc tìm kiếm sự hỗ trợ, che chở và giải thích cho những điều
chưa hiểu được trong tự nhiên và xã hội. Về hình thức biểu hiện, chúng thường được
thực hiện thông qua các nghi lễ, lễ bái, cúng tế với những biểu tượng và đối tượng thờ
cúng cụ thể. Trong cả ba hình thức này, con người đều có xu hướng quy kết nguyên
nhân của các hiện tượng tự nhiên và xã hội vào sự tác động của các lực lượng siêu nhiên,
từ đó hình thành những cách thức ứng xử và hành vi tương ứng để thích nghi hoặc cầu
mong sự may mắn, bình an.
Tín ngưỡng được hiểu là hệ thống những niềm tin, sự ngưỡng mộ, cũng như cách
thức thể hiện niềm tin của con người trước các sự vật, hiện tượng, lực lượng có tính thần
thánh, linh thiêng để cầu mong sự che chở, giúp đỡ. Đây là một nhu cầu tinh thần tự
nhiên của con người, thể hiện qua các hoạt động lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán
truyền thống nhằm mang lại sự bình an về mặt tinh thần. Trong khi đó, tôn giáo mang
tính hệ thống và tổ chức cao hơn, thường có hệ thống giáo lý hoàn chỉnh, đội ngũ giáo
sĩ chuyên nghiệp, cơ cấu tổ chức chặt chẽ với hệ thống cơ sở thờ tự quy mô và các nghi
lễ được quy định rõ ràng. Ngoài ra, tôn giáo còn có cộng đồng tín đồ rộng lớn với những
quy tắc ứng xử và lối sống đặc thù. Điểm khác biệt này cho thấy tôn giáo là một dạng
phát triển cao hơn, có tính tổ chức và ảnh hưởng xã hội sâu rộng hơn so với tín ngưỡng
vốn mang tính cộng đồng địa phương và ít chặt chẽ về mặt tổ chức.
Mê tín dị đoan, mặc dù cũng xuất phát từ niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên
giống như tín ngưỡng và tôn giáo, nhưng đã bị biến dạng đến mức độ mê muội, cuồng
tín, dẫn đến những hành vi cực đoan, sai lệch quá mức, trái với các giá trị văn hóa, đạo
đức, pháp luật. Khác với tín ngưỡng và tôn giáo vốn hướng đến giá trị tích cực cho cá
nhân và cộng đồng, mê tín dị đoan thường gây tổn hại cho cá nhân, gia đình và xã hội
thông qua việc lãng phí tài sản cho những hoạt động vô nghĩa, bỏ qua phương pháp khoa
học (đặc biệt trong lĩnh vực y tế), làm suy giảm đạo đức xã hội và cản trở sự phát triển. 4
Như vậy, mê tín dị đoan chính là sự biến tướng tiêu cực của niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng
khi thiếu đi nền tảng văn hóa, giáo dục và tư duy khoa học.
Cần hiểu rằng ranh giới giữa tín ngưỡng lành mạnh và mê tín dị đoan đôi khi không
rõ ràng, phụ thuộc vào cách thức thực hành và mức độ ảnh hưởng đến đời sống cá nhân
và xã hội. Một hoạt động tín ngưỡng khi được thực hiện một cách điều độ, hợp lý, không
gây tổn hại và phù hợp với văn hóa truyền thống sẽ có giá trị tích cực; ngược lại, cùng
một hoạt động đó nhưng được thực hiện một cách mê muội, cuồng tín, vượt quá giới
hạn hợp lý sẽ trở thành mê tín dị đoan. Vì vậy, việc giáo dục thế giới quan khoa học,
nâng cao nhận thức và hiểu biết về giá trị văn hóa truyền thống là cần thiết để phân biệt
và phát huy những giá trị tích cực của tôn giáo, tín ngưỡng, đồng thời hạn chế những tác
động tiêu cực của mê tín dị đoan.
1.1.4. Nguồn gốc của tôn giáo
a) Nguồn gốc tự nhiên và kinh tế - xã hội
Theo quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, trong thời kỳ sơ khai, trình độ phát
triển lực lượng sản xuất còn rất thấp, con người hoàn toàn bất lực trước thiên nhiên. Các
hiện tượng tự nhiên như sấm sét, mưa bão, động đất, bệnh dịch... chưa thể lý giải bằng
khoa học, nên con người gán cho chúng tính chất siêu nhiên. Họ tin rằng các thế lực
thần bí hoặc các vị thần điều khiển thế giới, từ đó hình thành nên niềm tin tôn giáo.
Trong các xã hội có đấu tranh giai cấp, tôn giáo trở thành công cụ phản ánh nỗi
đau khổ hiện thực, là sự an ủi tinh thần cho người nghèo khổ, bị áp bức. Mác nói: “Tôn
giáo là tiếng thở dài của sinh vật bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, là
tinh thần của một trật tự xã hội không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân
dân.” Như vậy, tôn giáo ra đời không chỉ vì thiên nhiên khắc nghiệt, mà còn vì những
bất công trong xã hội giai cấp, nơi con người không tìm được lối thoát nào khác ngoài
sự nương nhờ vào thần linh.
b) Nguồn gốc nhận thức
Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, xuất phát từ hạn chế trong khả
năng nhận thức thế giới khách quan của con người trong điều kiện lịch sử nhất định. Khi
chưa có khoa học, con người lý giải thế giới bằng tư duy thần thoại, tưởng tượng. Ví dụ
như : mưa là do thần mưa ban xuống, động đất do thần nổi giận… 5
Chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định rằng tôn giáo là kết quả của sự nhận thức sai
lầm về thế giới, nhưng sai lầm này mang tính lịch sử, gắn liền với trình độ phát triển của
xã hội loài người trong một giai đoạn nhất định. c) Nguồn gốc tâm lý
Tôn giáo còn xuất phát từ nhu cầu tinh thần, nhu cầu tìm kiếm chỗ dựa khi con
người gặp phải những bất lực, khổ đau và lo âu. Những cảm xúc như sợ hãi trước cái
chết, mất mát, bất công, bệnh tật, hay bất an trong đời sống đã khiến con người tìm đến
thần linh như một sự an ủi, cứu rỗi. Theo chủ nghĩa Mác-Lênin, chính tâm lý lo âu và
hy vọng vào thế giới siêu hình đã góp phần nuôi dưỡng và duy trì tôn giáo, nhất là trong
các thời kỳ mà con người cảm thấy bị cô lập hoặc tuyệt vọng trong cuộc sống. Những
tình cảm tích cực như tình yêu, lòng biết ơn, kính trọng đối với những người có công
với nước, với dân cũng dễ dẫn con người đến với tôn giáo.
1.2. Tính chất của tôn giáo
1.2.1. Tính lịch sử
Tính lịch sử của tôn giáo thể hiện qua đặc điểm: tôn giáo là một hiện tượng xã hội
có sự hình thành, tồn tại, phát triển và có khả năng biến đổi trong những giai đoạn lịch
sử nhất định để thích nghi với nhiều chế độ chính trị - xã hội. Tôn giáo xuất hiện trong
bối cảnh lịch sử mà con người chưa làm chủ được các điều kiện tự nhiên và xã hội, đồng
thời bị chi phối bởi những mâu thuẫn và áp lực về mặt tinh thần. Trong các xã hội nguyên
thủy, khi trình độ nhận thức còn thấp, con người chưa thể giải thích các hiện tượng tự
nhiên như sấm, chớp, mưa, gió, hạn hán, bệnh tật, và cái chết. Trước sự bất lực đó, họ
đã nhân cách hóa các hiện tượng tự nhiên, tin vào những thế lực siêu nhiên và thần thánh
để tìm kiếm sự an ủi và bảo vệ. Đây là cơ sở ban đầu cho sự hình thành của các tín
ngưỡng và tôn giáo sơ khai, như thờ vật tổ, thờ cúng tổ tiên, và thờ các vị thần tự nhiên.
Khi xã hội loài người phát triển từ chế độ cộng sản nguyên thủy sang các hình thái kinh
tế - xã hội có sự phân hóa giai cấp như xã hội nô lệ và phong kiến, tôn giáo cũng chuyển
mình và trở thành một công cụ ý thức hệ phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị.
Trong các xã hội này, tôn giáo không chỉ đơn thuần là niềm tin tinh thần mà còn được
tổ chức thành các hệ thống giáo lý, nghi lễ và tổ chức giáo hội. Điều này minh chứng
rằng tôn giáo có khả năng thích nghi với những điều kiện lịch sử khác nhau, tồn tại và
phát triển qua nhiều hình thái xã hội. 6
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, đến một giai đoạn lịch sử nào đó, khi
khoa học và giáo dục giúp đại đa số nhân dân nhận thức được bản chất của các hiện
tượng tự nhiên và xã hội thì tôn giáo sẽ dần mất đi vị trí của nó trong đời sống xã hội và
cả trong nhận thức, niềm tin của mỗi người. Sự tồn tại của tôn giáo gắn liền với những
điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, đặc biệt là những mâu thuẫn, bất công và áp bức
trong xã hội có giai cấp. Khi con người bị bất lực trước các sức mạnh tự nhiên và xã hội,
họ tìm đến tôn giáo như một hình thức giải thoát tinh thần. Tuy nhiên, trong một xã hội
mà con người làm chủ hoàn toàn các điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội, những mâu
thuẫn và bất công đó sẽ được xóa bỏ. Khi đó, cơ sở tồn tại của tôn giáo cũng sẽ dần mất
đi. Mác đã khẳng định: "Xóa bỏ tôn giáo với tư cách là ảo tưởng về hạnh phúc của nhân
dân là yêu cầu về hạnh phúc thực sự của họ." Quan điểm này cho thấy rằng tôn giáo sẽ
không còn cần thiết trong một xã hội mà con người đạt được tự do và hạnh phúc thực
sự, khi khoa học và giáo dục đủ phát triển để giúp con người hiểu được bản chất thực
của thế giới tự nhiên và xã hội.
1.2.2. Tính quần chúng
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội phổ biến, hiện diện ở mọi dân tộc, quốc gia và
châu lục trên thế giới. Tính quần chúng của tôn giáo thể hiện rõ nét qua số lượng tín đồ
khổng lồ, với gần 3/4 dân số thế giới là tín đồ của các tôn giáo khác nhau như Cơ đốc
giáo, Hồi giáo, Phật giáo, Ấn Độ giáo và nhiều tín ngưỡng khác. Điều này cho thấy sức
ảnh hưởng sâu rộng của tôn giáo đến đời sống xã hội.
Tính quần chúng của tôn giáo còn thể hiện ở vai trò của nó như một không gian
sinh hoạt văn hóa và tinh thần của một bộ phận quan trọng trong nhân dân. Tôn giáo là
nơi tổ chức các lễ hội, nghi lễ và hoạt động cộng đồng, tạo ra không gian văn hóa chung
cho quần chúng. Ví dụ, các lễ hội như Giáng Sinh, Ramadan hay Tết Nguyên Đán không
chỉ là dịp để thể hiện niềm tin mà còn là cơ hội để cộng đồng gắn kết, chia sẻ giá trị văn hóa và tinh thần.
Mặc dù tôn giáo thường hướng con người đến niềm tin về hạnh phúc ở thế giới
bên kia, nó vẫn phản ánh khát vọng thực tế của những người lao động về một xã hội tự
do, bình đẳng và bác ái. Trong nhiều giáo lý, các giá trị như tình thương, sự chia sẻ và
công lý được đề cao, trở thành nguồn an ủi và hy vọng cho những người chịu nhiều thiệt
thòi trong xã hội. Ví dụ, khái niệm "bác ái" trong Cơ đốc giáo hay "từ bi" trong Phật 7
giáo không chỉ là lý tưởng tinh thần mà còn là lời kêu gọi hành động để xây dựng một
thế giới tốt đẹp hơn.
Đồng thời, nhiều tôn giáo mang tính nhân văn, nhân đạo và hướng thiện, thu hút
không chỉ quần chúng lao động mà còn các tầng lớp khác trong xã hội. Nhiều giáo lý
tôn giáo khuyến khích con người sống đạo đức, yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau. Các
hoạt động thiện nguyện của các tổ chức tôn giáo, như cứu trợ thiên tai hay hỗ trợ người
nghèo, là minh chứng cho tính hướng thiện của tôn giáo. Điều này cho thấy tôn giáo
không chỉ là niềm tin cá nhân mà còn là một phần không thể thiếu của đời sống xã hội,
góp phần duy trì sự ổn định và hài hòa trong cộng đồng.
1.2.3. Tính chính trị
Khi xã hội chưa có giai cấp, tôn giáo không mang tính chính trị mà nó chỉ phản
ánh nhận thức hồn nhiên, ngây thơ của con người về bản thân và thế giới xung quanh
mình. Vì vậy, tính chính trị của tôn giáo chỉ xuất hiện khi xã hội đã phân chia giai cấp,
có sự khác biệt, sự đối kháng về lợi ích giai cấp.
Ngoài ra, tôn giáo mang tính chính trị do tôn giáo là sản phẩm của những điều kiện
kinh tế - xã hội, phản ánh lợi ích, nguyện vọng của các giai cấp khác nhau trong cuộc
đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc. Trong thời kỳ chống thực dân Pháp, một số tổ
chức tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo, đã tham gia vào các phong trào yêu nước. Các lãnh
đạo tôn giáo không chỉ giảng dạy về đạo đức và sự giải thoát tinh thần mà còn tham gia
vào cuộc đấu tranh dân tộc. Mặc dù tôn giáo không phải lúc nào cũng đứng ở phía đối
lập với chính quyền thực dân, nhưng trong nhiều trường hợp, các tôn giáo đã là nguồn
động viên tinh thần cho người dân và cung cấp cơ sở cho các hoạt động chống lại sự
xâm lược. Chẳng hạn như trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, ngày
27/02/1947, tại chùa Cổ Lễ (Nam Định), Hòa thượng Thích Thế Long đã chủ trì một
buổi lễ trọng thể để phát nguyện cho 27 vị nhà sư - những người đã quyết chí “cởi áo cà
sa, khoác chiến bào ra trận” để bảo vệ quê hương. Đây là minh chứng cho việc tôn giáo
có thể phản ánh nguyện vọng dân tộc, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong đấu tranh giành độc lập.
Tuy nhiên, khi các giai cấp bóc lột, thống trị sử dụng tôn giáo để phục vụ lợi ích
cho giai cấp của mình, chống lại các giai cấp lao động và tiến bộ xã hội, tôn giáo lại
mang tính chính trị tiêu cực. Ví dụ, trong thời kỳ phong kiến Nhật Bản, giới quý tộc 8
Samurai và các lãnh chúa đã lợi dụng tư tưởng Thần đạo để củng cố quyền lực, tuyên
truyền rằng Thiên hoàng là hậu duệ trực tiếp của nữ thần mặt trời Amaterasu, do đó có
quyền lực thiêng liêng không thể chống đối. Tương tự, tại Tây Tạng trước thế kỷ 20, hệ
thống phong kiến thần quyền đã sử dụng Phật giáo Tây Tạng để duy trì chế độ nông nô,
biện minh cho việc tập trung đất đai và của cải vào tay các tu viện và quý tộc trong khi
đại đa số dân chúng phải sống trong cảnh nghèo khổ, bị trói buộc vào đất và chủ đất của
họ. Những hình thức lợi dụng tôn giáo này đã góp phần kìm hãm sự phát triển xã hội và
duy trì bất công trong thời gian dài.
1.3.Nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
1.3.1. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng
Tín ngưỡng, tôn giáo là niềm tin sâu sắc và thiêng liêng của con người vào một lực
lượng siêu nhiên nào đó. Việc tin hay không tin, theo đạo, đổi đạo hay không theo đạo
hoàn toàn là sự lựa chọn cá nhân, phản ánh quyền tự do tư tưởng và hơn thế nữa, là một
trong những quyền con người cơ bản. Hiến pháp Việt Nam năm 2013, tại Điều 24, đã
khẳng định rõ: “Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo;
nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử, ép buộc hay cản trở cá nhân thực hiện quyền
này.” Điều đó cho thấy quyền tự do tín ngưỡng là một phần không thể tách rời của quyền
tự do tư tưởng – một quyền cá nhân bất khả xâm phạm. Việc bảo vệ quyền này không
chỉ là trách nhiệm pháp lý mà còn thể hiện sự tôn trọng đối với phẩm giá và lựa chọn cá
nhân trong một xã hội dân chủ.
Từ nền tảng quyền con người trên, có thể thấy rõ ràng chế độ xã hội chủ nghĩa luôn
đề cao và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, không tín ngưỡng. Việc tôn trọng và bảo đảm
quyền này không chỉ phản ánh nguyên tắc công bằng và dân chủ, mà còn khẳng định
rằng xã hội chủ nghĩa không áp đặt hay cưỡng bức con người về niềm tin, tư tưởng. Nhà
nước không sử dụng tôn giáo như một công cụ chính trị, cũng không cấm đoán hay triệt
tiêu tôn giáo, mà ngược lại, thông qua các quy định trong Hiến pháp và Luật Tín ngưỡng,
Tôn giáo năm 2016, đảm bảo cho mỗi người quyền tự do lựa chọn, thực hành hoặc từ
bỏ tín ngưỡng một cách tự nguyện. Điều này thể hiện tính nhân văn sâu sắc và sự khoan
dung trong mô hình quản lý nhà nước, đồng thời củng cố niềm tin vào con đường phát
triển dân chủ, tiến bộ mà chế độ xã hội chủ nghĩa đang theo đuổi. 9
1.3.2. Khắc phục ảnh hưởng tiêu cực gắn với cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới
Chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định rõ ràng rằng mục tiêu của nó là giải quyết các
ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo đối với quần chúng nhân dân, chứ không phải can thiệp
vào công việc nội bộ của các tổ chức tôn giáo. Điều này có nghĩa là chủ nghĩa Mác-
Lênin không trực tiếp xóa bỏ tôn giáo mà nhìn nhận tôn giáo trong một bối cảnh xã hội
cụ thể, nơi những tác động tiêu cực có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của con người
và xã hội. Tuy nhiên, tôn giáo không phải là đối tượng bị bài xích mà chỉ bị tác động
theo cách mà nó ảnh hưởng đến nhận thức, hành vi của con người trong xã hội.
Hơn nữa, chủ nghĩa Mác-Lênin cũng chỉ ra rằng muốn thay đổi ý thức xã hội của
con người, trước hết phải thay đổi bản thân tồn tại xã hội, tức là điều kiện vật chất và tổ
chức xã hội. Ý thức xã hội, bao gồm tôn giáo, chính trị, văn hóa, sẽ không thể thay đổi
nếu không có sự thay đổi căn bản trong điều kiện sống của con người. Việc giải quyết
các vấn đề xã hội như nghèo đói, bất công, thất học hay các tệ nạn xã hội chính là những
yếu tố dẫn đến sự xuất hiện của những "ảo tưởng" trong tư tưởng con người, trong đó
có cả niềm tin tôn giáo. Không chỉ dừng lại ở việc thay đổi nhận thức, chủ nghĩa Mác-
Lênin còn nhấn mạnh rằng, các ảo tưởng trong tư tưởng con người thực chất bắt nguồn
từ những bất công và mâu thuẫn sâu sắc trong đời sống xã hội. Chính vì vậy, để xóa bỏ
những ảo tưởng này, cần đi đến tận gốc của vấn đề, tức là xóa bỏ các nguyên nhân đã
sản sinh ra chúng, bao gồm các hình thức áp bức, bóc lột, nghèo đói và sự thiếu hiểu
biết. Điều này đồng nghĩa với việc phải tiến hành một quá trình cải tạo xã hội toàn diện,
hướng đến xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, không còn sự phân biệt giai cấp,
không còn áp bức và bất công.
Bên cạnh đó, chủ nghĩa Mác-Lênin còn nhấn mạnh rằng việc giải quyết ảnh
hưởng tiêu cực của tôn giáo chỉ có thể thực hiện được khi việc cải tạo xã hội cũ và xây
dựng xã hội mới diễn ra đồng thời. Đây là một quá trình dài lâu, cần có sự thay đổi toàn
diện về cơ cấu xã hội, kinh tế và chính trị, từ đó tạo ra môi trường thuận lợi cho sự thay
đổi nhận thức của con người. Không thể thực hiện việc cải cách xã hội mà không thay
đổi căn bản về điều kiện sống của nhân dân, và cũng không thể có một xã hội mới mà
không giải quyết được những vấn đề xã hội đã tồn tại từ trước. 10
1.3.3. Phân biệt hai mặt chính trị và tư tưởng trong vấn đề tôn giáo
a) Mặt chính trị: Phản ánh mâu thuẫn đối kháng về lợi ích
Mặt chính trị trong vấn đề tôn giáo, theo quan điểm của chủ nghĩa xã hội khoa học,
thể hiện các mâu thuẫn đối kháng về lợi ích giữa các giai cấp, nhóm xã hội hoặc lực
lượng chính trị. Tôn giáo không chỉ là hệ thống niềm tin mà còn là công cụ được sử
dụng để củng cố hoặc thách thức quyền lực. Trong lịch sử, các giai cấp thống trị thường
lợi dụng tôn giáo để duy trì trật tự xã hội, hợp thức hóa quyền lực của mình, ví dụ như
quan niệm "quyền thần thánh" của vua chúa trong xã hội phong kiến. Ngược lại, các
phong trào tôn giáo của quần chúng bị áp bức, như các cuộc khởi nghĩa nông dân mang
màu sắc tôn giáo, lại sử dụng tôn giáo để đấu tranh chống bất công, đòi hỏi lợi ích cho
giai cấp yếu thế. Trong bối cảnh hiện đại, tôn giáo có thể bị các thế lực chính trị lợi dụng
để kích động xung đột sắc tộc hoặc tôn giáo, nhằm phục vụ mục tiêu tranh giành tài
nguyên, lãnh thổ hoặc quyền lực. Những mâu thuẫn này mang tính đối kháng vì chúng
xuất phát từ sự xung đột trực tiếp về lợi ích vật chất và quyền lực, phản ánh bản chất giai cấp của xã hội.
b) Mặt tư tưởng: Phản ánh sự khác biệt về niềm tin không mang tính đối kháng
Mặt tư tưởng của tôn giáo liên quan đến các niềm tin, giá trị tinh thần và thế giới
quan của cá nhân hoặc cộng đồng, vốn không nhất thiết dẫn đến xung đột. Theo chủ
nghĩa xã hội khoa học, tư tưởng tôn giáo là một hình thức phản ánh ý thức xã hội, chịu
ảnh hưởng từ điều kiện kinh tế - xã hội nhưng mang tính chất tinh thần. Các tôn giáo
khác nhau, như Phật giáo, Thiên Chúa giáo hay Hồi giáo, có những giáo lý và niềm tin
riêng, nhưng sự khác biệt này không tự động gây ra mâu thuẫn. Chẳng hạn, một người
theo Phật giáo và một người theo Thiên Chúa giáo có thể cùng sống hòa bình trong một
cộng đồng, vì niềm tin của họ thuộc về lĩnh vực cá nhân và không nhằm tranh giành lợi
ích vật chất. Tôn giáo, ở khía cạnh này, đáp ứng nhu cầu tinh thần, mang lại sự an ủi, hy
vọng hoặc cảm giác cộng đồng, đặc biệt trong những hoàn cảnh khó khăn. Chủ nghĩa xã
hội khoa học nhìn nhận rằng, nếu không bị chính trị hóa, các niềm tin tôn giáo có thể
đóng vai trò tích cực trong đời sống tinh thần và không mang tính đối kháng. 11
1.3.4. Quan điểm lịch sử cụ thể trong giải quyết vấn đề tôn giáo
Chủ nghĩa xã hội khoa học khẳng định tôn giáo là một hiện tượng xã hội, chịu sự
chi phối trực tiếp của các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa trong từng giai
đoạn lịch sử. Tôn giáo không phải là một thực thể bất biến mà luôn vận động, biến đổi
theo sự phát triển của các quan hệ sản xuất và bối cảnh xã hội. Về nguồn gốc, tôn giáo
hình thành từ sự bất lực của con người trước tự nhiên và các mâu thuẫn xã hội. Chẳng
hạn, trong xã hội nguyên thủy, các tín ngưỡng sơ khai như thờ cúng tự nhiên phản ánh
sự phụ thuộc vào môi trường sống. Khi xã hội chuyển sang giai đoạn phân hóa giai cấp,
tôn giáo mang tính hệ thống hơn, thường được giai cấp thống trị sử dụng để củng cố
quyền lực, như trong các xã hội phong kiến, nơi tôn giáo hợp thức hóa quyền cai trị của
vua chúa. Đến thời kỳ tư bản chủ nghĩa, tôn giáo tiếp tục biến đổi, vừa là công cụ duy
trì trật tự xã hội, vừa đáp ứng nhu cầu tinh thần của các tầng lớp lao động bị áp bức. Như
vậy, sự phát triển và chuyển hóa của tôn giáo luôn gắn chặt với các điều kiện lịch sử cụ
thể, phản ánh rõ nét tính chất động của hiện tượng này.
Nguyên tắc lịch sử cụ thể, một nền tảng của chủ nghĩa duy vật lịch sử, nhấn mạnh
rằng mỗi tôn giáo cần được nghiên cứu và giải quyết trong bối cảnh lịch sử, văn hóa và
xã hội riêng biệt. Tài liệu nêu rõ việc áp dụng một mô hình chung cho mọi tôn giáo là
không khả thi, do mỗi tôn giáo có nguồn gốc, đặc điểm và vai trò xã hội riêng. Ví dụ,
Phật giáo ở Việt Nam hòa quyện sâu sắc với văn hóa dân tộc, trong khi Công giáo chịu
ảnh hưởng từ lịch sử truyền giáo và bối cảnh thuộc địa. Cách tiếp cận lịch sử cụ thể cho
phép nhận diện chính xác bản chất, chức năng và tác động của từng tôn giáo, từ đó xây
dựng các chính sách phù hợp, tránh thái độ cực đoan như phủ nhận hoàn toàn hoặc đề
cao quá mức vai trò của tôn giáo. Trong bối cảnh Việt Nam, cách tiếp cận này đặc biệt
quan trọng để đảm bảo tôn trọng tự do tín ngưỡng, thúc đẩy đoàn kết dân tộc và hỗ trợ
mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Việc áp dụng nguyên tắc này giúp xử lý các vấn đề
tôn giáo một cách khoa học, linh hoạt và hiệu quả, phù hợp với thực tiễn xã hội. 12
PHẦN II: THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA TÔN GIÁO TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam
2.1.1. Đa dạng về loại hình tôn giáo
Việt Nam có sự đa dạng tôn giáo phong phú với 16 tôn giáo được công nhận và
khoảng 27% dân số theo đạo. Phật giáo, du nhập từ thế kỷ I, là tôn giáo lớn nhất với
khoảng 14 triệu tín đồ (14,91%) và hơn 18.500 ngôi chùa trên cả nước. Công giáo, đến
từ thế kỷ 16, có khoảng 7 triệu tín đồ (7,1%), tập trung ở Nam Định, Nghệ An và Đồng
Nai. Tin Lành với 1,21 triệu tín đồ (1,09%) phổ biến trong cộng đồng dân tộc thiểu số
ở Tây Nguyên và miền núi phía Bắc. Các tôn giáo nội sinh như Cao Đài (ra đời 1926)
và Hòa Hảo (sáng lập 1939) có lần lượt 1,1 và 1,5 triệu tín đồ, chủ yếu ở Nam Bộ. Ngoài
ra còn có Hồi giáo (khoảng 80.000 tín đồ người Chăm), Bà La Môn và Baha'i. Mỗi tôn
giáo đều có những đóng góp tích cực cho xã hội qua hoạt động từ thiện, giáo dục và văn
hóa, đồng thời cũng đối mặt với thách thức như hiện tượng mê tín, mâu thuẫn giữa các
hệ phái, hay vấn đề quản lý các nhóm chưa được công nhận.
Tại Việt Nam, sự đan xen giữa tôn giáo và tín ngưỡng dân gian tạo nên một bức
tranh tâm linh đặc trưng và phong phú. Các tôn giáo lớn như Phật giáo, Công giáo, Tin
Lành, Cao Đài và Hòa Hảo đều hòa quyện với tín ngưỡng dân gian bao gồm thờ cúng
tổ tiên và thần linh. Phật giáo chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất khi nhiều chùa vừa thờ
Phật vừa thờ các vị thần dân gian như Thánh Mẫu Liễu Hạnh hay Trần Hưng Đạo. Trong
khi đó, các tín đồ Công giáo dù theo giáo lý chính thống vẫn duy trì thờ cúng tổ tiên, đặt
bàn thờ tổ tiên cạnh bàn thờ Chúa và tổ chức lễ giỗ theo phong tục Việt Nam. Tương tự,
tín đồ Tin Lành ở vùng dân tộc thiểu số vẫn giữ các tập tục truyền thống như cúng cơm
mới hay thờ thần núi, thần sông. Các tôn giáo nội sinh như Cao Đài và Hòa Hảo càng
gắn bó chặt chẽ với tín ngưỡng dân gian khi tích hợp nhiều yếu tố bản địa vào giáo lý
và nghi lễ. Theo lý luận Mác-Lênin, hiện tượng này phản ánh hình thái ý thức xã hội hư
ảo, xuất phát từ sự bất lực trước tự nhiên và áp bức xã hội, đặc biệt trong bối cảnh trình
độ nhận thức khoa học chưa đồng đều ở Việt Nam. Sự kết hợp này, dù làm phong phú
đời sống tâm linh, cũng có thể dẫn đến các thực hành mê tín dị đoan gây lãng phí và cản
trở nhận thức khoa học, đòi hỏi cần nâng cao giáo dục và phát triển kinh tế - xã hội để
người dân có nhận thức đúng đắn về hiện thực khách quan. 13
2.1.2. Đặc trưng chung sống hòa bình, không xung đột tôn giáo
Việt Nam nổi bật với truyền thống chung sống hòa bình giữa các tôn giáo mà không
xảy ra xung đột tôn giáo trong suốt chiều dài lịch sử, dù là quốc gia đa tôn giáo với 16
tôn giáo được công nhận và khoảng 27 triệu tín đồ (chiếm gần 30% dân số). Truyền
thống này được hình thành từ ba yếu tố cốt lõi. Thứ nhất, về mặt văn hóa - lịch sử, người
Việt có bản tính khoan dung, nhân ái và tinh thần đoàn kết dân tộc, thể hiện qua sự dung
hợp tín ngưỡng dân gian với các tôn giáo lớn, tạo nên sự giao thoa không đối kháng.
Các tôn giáo du nhập như Phật giáo, Công giáo, Tin Lành đều trải qua quá trình bản địa
hóa, hòa quyện với văn hóa truyền thống như thờ cúng tổ tiên, lễ hội làng. Thứ hai,
không có tôn giáo nào giữ vai trò "quốc đạo", mà các tôn giáo như Phật giáo (14 triệu
tín đồ), Công giáo (7 triệu), Tin Lành (1,21 triệu), Cao Đài, Hòa Hảo đều bình đẳng
trước pháp luật, được bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng theo Hiến pháp. Thứ ba, chính
sách đoàn kết tôn giáo của Đảng và Nhà nước luôn tôn trọng tự do tín ngưỡng, khuyến
khích các tôn giáo gắn bó với dân tộc qua các phương châm như "Đạo pháp - Dân tộc -
Chủ nghĩa xã hội" (Phật giáo), "Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc" (Công giáo), hay
"Nước vinh, Đạo sáng" (Cao Đài), giúp các tôn giáo đồng hành cùng dân tộc, tránh mâu thuẫn phát sinh.
Khác với Việt Nam, nhiều quốc gia trên thế giới đang chứng kiến các xung đột tôn
giáo nghiêm trọng, điển hình là Myanmar và Ấn Độ. Tại Myanmar, xung đột giữa cộng
đồng Phật giáo (chiếm đa số) và Hồi giáo (người Rohingya) từ năm 2012 đã gây ra bạo
lực khiến hàng trăm người thiệt mạng và hơn 700.000 người phải tị nạn, bắt nguồn từ
sự kỳ thị sắc tộc, tuyên truyền cực đoan từ một số nhà sư, và sự bất lực của chính quyền
trong việc giải quyết bất bình đẳng. Tại Ấn Độ, cạnh tranh gay gắt giữa Ấn Độ giáo
(80% dân số) và Hồi giáo (14%) thường xuyên dẫn đến bạo lực, như vụ bạo loạn Gujarat
2002 với hơn 1.000 người chết. Xung đột này nảy sinh từ sự khác biệt về giáo lý, lợi ích
chính trị (đảng BJP thúc đẩy chủ nghĩa dân tộc Ấn Độ giáo), và bất bình đẳng kinh tế -
xã hội. Theo lý luận Mác-Lênin, tại Myanmar và Ấn Độ, tôn giáo bị lợi dụng như công
cụ chính trị để chia rẽ và củng cố quyền lực của giai cấp thống trị, trong khi ở Việt Nam,
nhờ điều kiện kinh tế - xã hội ổn định và chính sách quản lý tôn giáo hiệu quả, các tôn
giáo không bị lợi dụng để gây xung đột chính trị hay chia rẽ giai cấp. Việt Nam cũng
chủ động ngăn chặn các thế lực lợi dụng tôn giáo gây chia rẽ, thể hiện qua việc xử lý 14
nghiêm các nhóm tôn giáo cực đoan.
Tinh thần đoàn kết, hợp tác giữa các tôn giáo tại Việt Nam được thể hiện cụ thể
qua nhiều hoạt động liên tôn đa dạng, góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Thứ
nhất, các sự kiện tầm quốc tế như Đại lễ Vesak Liên Hợp Quốc được Giáo hội Phật giáo
Việt Nam đăng cai tổ chức ba lần (2008, 2014, 2019) với sự tham gia hỗ trợ từ các tôn
giáo khác như Công giáo, Tin Lành, Cao Đài. Thứ hai, các tổ chức tôn giáo thường
xuyên phối hợp trong các chương trình từ thiện, như hỗ trợ người nghèo, xây dựng
trường học, bệnh viện, và cứu trợ thiên tai; điển hình năm 2020, các tôn giáo cùng đóng
góp hàng trăm tỷ đồng hỗ trợ người dân miền Trung khắc phục bão lũ. Thứ ba, các diễn
đàn đối thoại liên tôn được tổ chức thường xuyên, như Hội nghị "Đồng hành cùng dân
tộc" (2022) quy tụ đại diện nhiều tôn giáo để thảo luận về vai trò tôn giáo trong phát
triển xã hội. Thứ tư, nhiều lễ hội tôn giáo đã trở thành sự kiện văn hóa chung, thu hút sự
tham gia của nhiều tôn giáo khác và cả người không theo đạo, như lễ Giáng sinh hay lễ
hội Bà Chúa Xứ. Cuối cùng, trong đại dịch COVID-19 (2020 - 2021), các tôn giáo đã
phối hợp chặt chẽ với chính quyền và cùng nhau hỗ trợ cộng đồng thông qua việc quyên
góp vật tư y tế, cung cấp cơ sở cách ly, và hỗ trợ nhu yếu phẩm, minh chứng rõ nét cho
tinh thần đoàn kết liên tôn vì lợi ích chung của xã hội.
2.1.3. Tín đồ tôn giáo có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc
Truyền thống yêu nước của tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam được hình thành dựa
trên nền tảng tinh thần dân tộc cố hữu và giá trị nhân văn của tôn giáo. Người Việt Nam
luôn mang trong mình lòng yêu nước trước khi tiếp nhận tôn giáo, đồng thời các tôn
giáo khi du nhập vào Việt Nam đều trải qua quá trình Việt hóa để phù hợp với bản sắc
dân tộc. Chính quá trình Việt hóa này đã tạo nên sự gắn kết mật thiết giữa tín ngưỡng
tôn giáo và tinh thần yêu nước trong đời sống của tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam. Trong
suốt chiều dài lịch sử, tín đồ tôn giáo luôn thể hiện tinh thần "khi quốc gia lâm nguy,
đạo pháp cũng không an", sẵn sàng đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên, gác lại mọi dị
biệt để bảo vệ nền độc lập, tự do của Tổ quốc.
Xuất phát từ tinh thần yêu nước đó, các tôn giáo ở Việt Nam đã tham gia tích cực
vào các phong trào yêu nước qua từng giai đoạn lịch sử. Phật giáo đã có những đóng
góp quan trọng với các cuộc khởi nghĩa của sư sãi ở Nam Kỳ trong thời kỳ chống Pháp
và phong trào đấu tranh năm 1963 góp phần làm sụp đổ chế độ Ngô Đình Diệm. Công 15
giáo thể hiện tinh thần yêu nước qua hoạt động của nhiều linh mục và giáo dân tham gia
kháng chiến, đặc biệt là phong trào "Công giáo kháng chiến" và sau này là "Ủy ban
Đoàn kết Công giáo Yêu nước". Cao Đài và Phật giáo Hòa Hảo đã tích cực thành lập
các lực lượng vũ trang kháng chiến tại vùng Tây Nam Bộ, tham gia Mặt trận Việt Minh
chống thực dân Pháp. Đạo Tin Lành cũng có nhiều mục sư và tín đồ tham gia các phong
trào yêu nước, đóng góp vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất
nước. Từ sau năm 1975 đến nay, tất cả các tôn giáo đều tiếp tục đồng hành cùng dân tộc
thông qua các hoạt động xã hội, từ thiện, giáo dục, y tế và tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước.
Tinh thần yêu nước của tín đồ các tôn giáo còn được thể hiện qua những tấm gương
tiêu biểu đã đi vào lịch sử dân tộc. Hòa thượng Thích Quảng Đức là biểu tượng tiêu biểu
cho tinh thần yêu nước, bảo vệ đạo pháp của Phật giáo Việt Nam. Ngài đã tự thiêu ngày
11/6/1963 để phản đối chính sách kỳ thị tôn giáo, góp phần làm sụp đổ chế độ Ngô Đình
Diệm và thúc đẩy phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong hàng ngũ Công giáo,
Linh mục Nguyễn Văn Vàng là một trong những linh mục tiêu biểu đã tích cực vận động
giáo dân ủng hộ cách mạng từ năm 1945, tham gia Mặt trận Liên Việt và Mặt trận Tổ
quốc, đi tiên phong trong việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Đối với Phật giáo
Hòa Hảo, Đức Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ, người sáng lập, đã xác định con đường "Vì Đạo,
vì Dân tộc", lãnh đạo tín đồ tham gia Mặt trận Việt Minh và thành lập lực lượng vũ trang
chống thực dân Pháp tại vùng Tây Nam Bộ, để lại di sản tư tưởng yêu nước cho hàng
triệu tín đồ. Những tấm gương tiêu biểu này minh chứng cho sự gắn bó máu thịt giữa
đạo pháp và dân tộc trong lịch sử Việt Nam.
2.1.4. Vai trò quan trọng của hàng ngũ chức sắc
Chức sắc tôn giáo giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong cấu trúc tổ chức và hoạt động
của mỗi tôn giáo ở Việt Nam. Họ là những người dẫn dắt tinh thần cho cộng đồng tín
đồ, có hiểu biết sâu sắc về giáo lý và truyền thống, hướng dẫn tín đồ thực hành đúng đắn
các nghi lễ và truyền tải các giá trị đạo đức. Bên cạnh đó, chức sắc còn đóng vai trò điều
phối, quản lý các hoạt động tôn giáo, tổ chức nghi lễ, lễ hội, quản lý cơ sở thờ tự và điều
hành các tổ chức tôn giáo. Với tư cách đại diện cho tôn giáo, họ tham gia vào việc xây
dựng quan hệ với các tôn giáo khác, với xã hội và nhà nước, tích cực đóng góp vào các
hoạt động đối thoại liên tôn và các hoạt động xã hội. Đặc biệt, chức sắc còn góp phần 16
quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống của
dân tộc thông qua các hoạt động tôn giáo.
Xuất phát từ vai trò đa dạng và quan trọng này, ảnh hưởng của chức sắc đối với tín
đồ thể hiện trên nhiều phương diện khác nhau. Về mặt tinh thần, chức sắc có uy tín cao,
được tín đồ kính trọng và tin tưởng, lời nói và hành động của họ có sức ảnh hưởng lớn
đến tư tưởng và hành vi của tín đồ. Về mặt tổ chức, chức sắc có khả năng vận động, tập
hợp tín đồ tham gia vào các hoạt động tôn giáo và xã hội, triển khai các chủ trương của
tôn giáo đến từng cộng đồng tín đồ. Về mặt xã hội, họ có vị thế và uy tín không chỉ trong
cộng đồng tôn giáo mà còn trong xã hội rộng lớn hơn, có thể tác động đến dư luận và
chính sách liên quan đến tôn giáo, đồng thời làm cầu nối hiệu quả giữa tín đồ với xã hội
và nhà nước. Tùy thuộc vào nhận thức và quan điểm của từng cá nhân, ảnh hưởng này
có thể mang tính tích cực khi chức sắc có nhận thức đúng đắn, yêu nước, hoặc tiêu cực
nếu họ có tư tưởng lệch lạc, cực đoan.
Lịch sử Việt Nam đã ghi nhận nhiều tấm gương chức sắc tôn giáo tiêu biểu với
ảnh hưởng tích cực đối với cộng đồng tín đồ và xã hội. Hòa thượng Thích Thiện Hoa,
chức sắc cao cấp của Phật giáo Việt Nam, người sáng lập Trường Phật học Ấn Quang
và là Viện trưởng Viện Hóa Đạo, đã có đóng góp to lớn trong việc phổ biến giáo lý.
Ngài đã chuyển hóa giáo lý Phật giáo thành những bài học đạo đức dễ hiểu qua các tác
phẩm phổ thông, giúp hàng triệu tín đồ hiểu và thực hành đúng giáo lý, đồng thời vận
động tín đồ tham gia hoạt động từ thiện và đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong Công
giáo, Giám mục Lê Đắc Trọng là chức sắc tiêu biểu đã hướng dẫn giáo dân sống theo
tinh thần "kính Chúa yêu nước", tiên phong thực hiện đường hướng "hội nhập và phát
triển", góp phần xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa Nhà nước và Giáo hội. Đối với đạo
Cao Đài, Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, chức sắc cao cấp, đã để lại dấu ấn sâu đậm
trong lịch sử tôn giáo và dân tộc thông qua việc xây dựng hệ thống giáo lý mang đậm
bản sắc dân tộc, lãnh đạo tín đồ tham gia phong trào yêu nước và tổ chức quân đội Cao
Đài tham gia kháng chiến chống Pháp. Những tấm gương này minh chứng cho sức ảnh
hưởng to lớn và vai trò quan trọng của chức sắc tôn giáo trong việc định hướng cho cộng
đồng tín đồ và đóng góp vào sự phát triển của xã hội Việt Nam. 17