Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA: KINH TẾ THẢO LUẬN
Chủ nghĩa xã hội khoa học
Đề tài: Nhận diện và phê phán luận điểm cho rằng Việt
Nam đi lên Chủ nghĩa xã hội là một sai lầm lịch sử
Giảng viên hướng dẫn: Đỗ Thị Thanh Hương
Nhóm thảo luận: Nhóm 6
Lớp HP: 251_HCMI0121_07 Hanoi, 2025 1 MỤC LỤC
DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN...........................................................................4
LỜI MỞ ĐẦU.............................................................................................................. 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN................................................................................6
1.1. Khái niệm chủ nghĩa xã hội và tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá
độ đi lên chủ nghĩa xã hội........................................................................................6
1.1.1 Khái niệm chủ nghĩa xã hội:.........................................................................6
1.1.2 Tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội....................................6
1.2. Đặc điểm của thời kì quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam..................7 1.2.1.
Bối cảnh trong nước và thế giới................................................................7 1.2.2.
Tính tất yếu của việc lựa chọn con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ
qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam................................................................7
1.2.3. Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ
qua chế độ Tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam..............................................................8
1.3. Những đặc trưng của Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay.......................8
1.3.1.Những đặc trưng bản chất của Chủ nghĩa xã hội Việt Nam...........................8
1.3.2. Phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay.................8
CHƯƠNG 2: NHẬN DIỆN VÀ PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM....................................9
2.1. Khái quát nội dung quan điểm “Việt Nam đi lên Chủ nghĩa xã hội là một
sai lầm lịch sử”.........................................................................................................9
2.1.1. Cơ sở hình thành quan điểm.........................................................................9
2.1.2. Nội dung quan điểm...................................................................................11
2.2. Nhận diện quan điểm......................................................................................12
2.3. Phê phán quan điểm.......................................................................................13
2.3.1. Việt Nam lựa chọn con đường đi lên CNXH là phù hợp với quy luật phát
triển của lịch sử xã hội loài người (phù hợp với học thuyết hình thái kinh tế – xã
hội của chủ nghĩa Mác – Lênin)...........................................................................13
2.3.2. Phù hợp với mục tiêu, cương lĩnh của cách mạng Việt Nam năm 1930.....13
2.3.3. Phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân Việt Nam......................14
2.3.4. Phù hợp với xu thế vận động, phát triển của thời đại ngày nay - thời đại quá
độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới......................16
2.4. Khẳng định tính đúng đắn, tất yếu của con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam..............................................................................................................16
CHƯƠNG 3: Ý NGHĨA THỰC TIỄN VÀ ĐỊNH HƯỚNG..................................18
3.1. Ý nghĩa.............................................................................................................18
3.2. Định hướng......................................................................................................19 2
KẾT LUẬN................................................................................................................21
LỜI CẢM ƠN............................................................................................................22
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................22 3
DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN
STT Họ tên Mã SV Nhiệm vụ Điểm 1 Trần Thị Ngọc Lan 23D16002 2.4 (nhóm trưởng) 2 2 Phạm Tùng Lâm 23D16023 Powerpoint 1 3 Nguyễn Thị Liên 23D16018 Mở đầu + Kết Luận 3 + 1.1 4 Cù Nguyễn Thùy Linh 23D16028 2.2 2 5 Lê Diệu Linh 23D16002 3.1 + 3.2 4 6 Lương Thùy Linh 23D16018 Word + 1.2 + 1.3 5 7 Ngô Diệu Linh 23D16023 2.3 ( 2 ý đầu) 4 8 Nguyễn Nhật Linh 23D16028 2.1 4 9 Vũ Kiều Linh 23D16018 2.3 ( 2 ý sau) 6 10 Bùi Đức Mạnh 23D16002 Thuyết trình 9 4
LỜI MỞ ĐẦU
C.Mác và Ph. Ăngghen đều cho rằng, phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa có tính chất lịch sử và xã hội tư bản tất yếu bị thay thế bằng xã hội mới – xã
hội cộng sản chủ nghĩa. Trong thời đại ngày nay, mỗi quốc gia – dân tộc đều có
quyền lựa chọn con đường phát triển phù hợp với quy luật khách quan của lịch sử,
xu thế thời đại và khát vọng của nhân dân. Việt Nam lựa chọn con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan, hoàn toàn phù hợp với yêu cầu phát triển
đất nước sau khi giành được độc lập dân tộc. Chủ nghĩa xã hội được hiểu với ba tư
cách: là một học thuyết, một phong trào và một chế độ xã hội. Mỗi tư cách ấy lại có
nhiều biểu hiện khác nhau, tùy theo thế giới quan và trình độ phát triển ở mỗi giai
đoạn lịch sử cụ thể. Chủ nghĩa xã hội để cập ở đây là chủ nghĩa xã hội khoa học
dựa trên học thuyết Mác – Lênin trong thời đại ngày nay. Sau hai cuộc kháng chiến
trường kỳ chống giặc ngoại xâm và giành được độc lập, đất nước ta tiếp tục con
đường con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta đang vững bước tiến vào thế kỷ
mới với những thách thức và khó khăn mới với con đường mà chúng ta đã chọn,
nhưng không vì thế mà ta chịu lùi bước, chịu khuất phục trước khó khăn. Để tiến
lên chủ nghĩa xã hội thành công, đòi hỏi cả dân tộc phải có nhận thức đúng đắn,
đoàn kết đồng lòng, kiên trì từng bước vượt qua giai đoạn quá độ đầy gian lao. Đặc
biệt, thế hệ trẻ phải ra sức học tập, rèn luyện và cống hiến để góp phần thực hiện
khát vọng phát triển đất nước. Đây chính là lý do nhóm 6 lựa chọn đề tài “Nhận
diện và phê phán luận điểm cho rằng Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội là một sai
lầm lịch sử”. Thông qua đề tài này, chúng em mong muốn mọi người hiểu sâu sắc
hơn về bản chất, ý nghĩa và tính tất yếu của con đường chúng ta đang đi, từ đó củng
cố niềm tin, ý chí và quyết tâm cùng cả nước xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1.
Khái niệm chủ nghĩa xã hội và tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá
độ đi lên chủ nghĩa xã hội
1.1.1 Khái niệm chủ nghĩa xã hội:
- Là phong trào thực tiễn, phong trao đấu tranh của nhân dân lao động chống lại
áp bức, chống giai cấp thống trị.
- Là phong trào tư tưởng, lý luận phản ánh ý tường giải phóng nhân dân lao
động ra khỏi ấp bức, bóc lột.
- Là một khoa học về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
- Là một chế độ xã hội tốt đẹp, giai đoạn đầu của hình thái kinh tế- xã hội cộng sản chủ nghĩa.
1.1.2 Tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Một là, giai cấp công nhân và nhân dân lao động cần có thời gian để từng bước
xóa bỏ tàn dư của xã hội cũ, xác lập các yếu tố tiến bộ của xã hội mới. Bất kỳ quá
trình chuyển biến từ một xã hội này lên một xã hội khác đều nhất định phải trải qua
một thời kỳ gọi là “thời kỳ quá độ”. Đó là thời kỳ còn sự đan xen lẫn nhau giữa các
yếu tố mới và cũ trong cuộc đấu tranh với nhau. Tính tất yếu này thể hiện ở chỗ cuộc
đấu tranh “ai thắng ai” giữa cái cũ và cái mới diễn ra trong thời kỳ này. Cái mới dần
dần thắng thế và cái mới thường chiến thắng cái cũ, cái lạc hậu. Từ chủ nghĩa tư bản
lên chủ nghĩa xã hội không là ngoại lệ lịch sử. Hơn nữa, từ chủ nghĩa tư bản lên chủ
nghĩa xã hội là một bước nhảy lớn và căn bản về chất so với các quá trình thay thế từ
xã hội cũ lên xã hội mới đã từng diễn ra trong lịch sử thì thời kỳ quá độ lại càng là
một tất yếu, thậm chí có thể kéo dài.
Hai là, giai cấp công nhân cần có thời gian để tổ chức, sắp xếp lại hoạt động của
nền sản xuất, từng bước đưa trình độ của nền sản xuất mới lên cao. Sự ra đời của một
xã hội mới bao giờ cũng có những sự kế thừa nhất định từ những nhân tố do xã hội cũ
tạo ra. Sự ra đời của chủ nghĩa xã hội là sự kế thừa đối với chủ nghĩa tư bản, đặc biệt
là trên phương diện kế thừa cơ sở vật chất kỹ thuật đã được tạo ra bởi sự phát triển của
nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên, cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội
mặc dù cũng là nền sản xuất đại công nghiệp nhưng đó là nền sản xuất đại công
nghiệp xã hội chủ nghĩa chứ không phải là nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa. Do
đó nó cũng cần phải có thời kỳ quá độ của bước cải tạo, kế thừa và tái cấu trúc nền
công nghiệp tư bản chủ nghĩa. Đối với những nước chưa từng trải qua quá trình công
nghiệp hóa tiến lên chủ nghĩa xã hội, thời kỳ quá độ cho việc xây dựng cơ sở vật chất,
kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội càng có thể kéo dài với nhiệm vụ trọng tâm của nó là
tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa.
Ba là, các quan hệ xã hội của chủ nghĩa xã hội không tự phát nảy sinh trong lòng
chủ nghĩa tư bản, chúng là kết quả của quá trình xây dựng và cải tạo xã hội chủ nghĩa.
Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, dù đã ở trình độ cao cũng chỉ có thể tạo ra những
điều kiện, tiền đề cho sự hình thành các quan hệ xã hội mới xã hội chủ nghĩa, do vậy 6
cũng cần phải có thời gian nhất định để cải tạo và phát triển những quan hệ này phục
vụ cho chủ nghĩa xã hội.
Bốn là, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là một công việc mới mẻ, khó khăn
và phức tạp. Với tư cách là người chủ của xã hội mới, giai cấp công nhân và nhân dân
lao động không thể ngay lập tức có thể đảm đương được công việc ấy, nó cần phải có
thời gian nhất định để làm quen, từng bước xây dựng rút kinh nghiệm.
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở các nước có trình độ phát triển kinh tế - xã
hội khác nhau có thể diễn ra khoảng thời gian dài, ngắn khác nhau. Đối với những
nước đã trải qua chủ nghĩa tư bản phát triển ở trình độ cao khi tiến lên chủ nghĩa xã
hội thì thời kỳ quá độ có thể tương đối ngắn. Những nước đã trải qua giai đoạn phát
triển chủ nghĩa tư bản ở trình độ trung bình, đặc biệt là những nước còn ở trình độ
phát triển tiền tư bản, có nền kinh tế lạc hậu thì thời kỳ quá độ thường kéo dài với rất
nhiều khó khăn, phức tạp 1.2.
Đặc điểm của thời kì quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Đặc điểm của thời kì quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa
1.2.1. Bối cảnh trong nước và thế giới
- Việt Nam quá độ lên CNXH từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, lực lượng
sản xuất thấp, chiến tranh kéo dài, các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại.
- Trên thế giới, cách mạng khoa học-công nghiệp diễn ra mạnh mẽ với quá trình
quốc tế hóa ngày càng sâu sắc tạo nhiều cơ hội và thách thức trong quá trình phát triển.
- Thời đại ngày nay vẫn là thời đạị quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã
hội. Các nước với các chế độ chính trị khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác,
vừa đấu tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia dân tộc.
1.2.2. Tính tất yếu của việc lựa chọn con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội
bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam
- Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam phù hợp với quy luật phát triển của
lịch sử xã hội loài người.
- Phù hợp với mục tiêu, cương lĩnh của cách mạng Việt Nam.
- Phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân Việt Nam.
- Phù hợp với xu thế phát triển của thời đại ngày nay. 7
1.2.3. Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về quá độ lên chủ nghĩa xã hội
bỏ qua chế độ Tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam
- Quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là con đường
cách mạng tất yếu, khách quan, con đường xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
- Bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của
quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa.
- Kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chủ nghĩa tư bản
để phát triển xã hội, phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại.
- Đây là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, lâu dài với nhiều chặng đường,
nhiều hình thúc tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ đòi hỏi phải có
quyết tâm chính trị cao và khát vọng lớn của toàn Đảng, toàn dân.
1.3. Những đặc trưng của Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay
1.3.1.Những đặc trưng bản chất của Chủ nghĩa xã hội Việt Nam
- Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. - Do nhân dân làm chủ.
- Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ
sản xuất tiến bộ, phù hợp.
- Có nền văn minh tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
- Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.
- Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng phát triển.
- Có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân do Đảng cộng sản lãnh đạo.
- Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.
1.3.2. Phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay
- Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát
triển bền vững về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường,...
- Hoàn thiện, đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Tạo đột phá căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài.
- Phát triển toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
- Quản lý phát triển xã hội có hiệu quả.
- Chủ động, thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu, phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai, dịch bệnh.
- Kiên quyết đấu tranh, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn
vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. 8
- Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa.
- Thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa.
- Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh
gọn, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước. - Tiếp tục xây dựng
, chỉnh đốn Đảng toàn diện, tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng.
- Tiếp tục nắm và xử lý tốt các mối quan hệ lớn trong xã hội.
CHƯƠNG 2: NHẬN DIỆN VÀ PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM
2.1. Khái quát nội dung quan điểm “Việt Nam đi lên Chủ nghĩa xã hội là một
sai lầm lịch sử”
2.1.1. Cơ sở hình thành quan điểm
Thứ nhất, sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội (CNXH) trong lịch sử đã tạo
ảnh hưởng mạnh mẽ.
Luận điểm cho rằng việc Việt Nam chọn con đường xây dựng chủ nghĩa xã hộ
là một sai lầm lịch sử thường xuất hiện đặc biệt mạnh mẽ sau Chiến tranh Lạnh. Trong
thời kỳ này, nhiều quốc gia theo mô hình xã hội chủ nghĩa gặp khủng hoảng, suy thoái
hoặc thậm chí sụp đổ hoàn toàn, làm nảy sinh ý kiến cho rằng mô hình này vốn không
bền vững. Nguyên nhân sâu xa của quan điểm này nằm ở chỗ có một sự so sánh một
chiều: người ta nhìn vào các thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia tư
bản phương Tây như GDP cao, công nghệ tiên tiến, trình độ sống của dân chúng tốt
hơn rồi đặt lên bàn cân với những khó khăn, hạn chế bước đầu mà các nước xã hội
chủ nghĩa phải trải qua.
Đặc biệt, khi còn Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa thế giới
vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam dường như không có gì phải bàn, nó mặc
nhiên coi như đã được khẳng định. Nhưng từ sau khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên
Xô tan rã (1991) và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái
trào thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút
mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt. Các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị
thì thừa cơ dấn tới để xuyên tạc, chống phá. Trong hàng ngũ cách mạng cũng có người
bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa xã hội, quy kết
nguyên nhân tan rã của Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu là do sai
lầm của chủ nghĩa Mác - Lênin và sự lựa chọn con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Từ đó họ cho rằng chúng ta đã chọn đường sai, cần phải đi con đường khác. Quan
điểm phê phán Việt Nam đi theo con đường ấy cho rằng nếu tiếp tục kiên định
CNXH, Việt Nam sẽ đối mặt những nguy cơ tương tự. 9
Thứ hai, xuất phát từ những khó khăn nội tại của Việt Nam trong thời kỳ
trước đổi mới (trước 1986) dẫn đến sự nghi ngờ tính khả thi của CNXH.
Trong giai đoạn này, nền kinh tế đất nước vẫn còn ở mức lạc hậu, cơ sở s
xuất yếu kém, hệ thống hạ tầng bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, trong khi các
nguồn lực lại vô cùng hạn chế. Phương thức quản lý chủ yếu dựa trên cơ chế bao cấp
quan liêu, dẫn tới hiệu quả sản xuất - kinh doanh thấp, và thiếu hụt trầm trọng những
hàng hóa, dịch vụ thiết yếu. Hệ quả là đời sống của phần đông nhân dân gặp nhiều
khó khăn. Chính trong bối cảnh đó, nhiều ý kiến phản biện cho rằng Việt Nam “chưa
đủ sức để tiến lên” con đường xã hội chủ nghĩa, bởi vẫn còn thiếu các điều kiện quan
trọng như một lực lượng sản xuất mạnh, một thị trường nội địa phát triển, năng suất
lao động cao, hay trình độ công nghệ và quản trị hiện đại. Quan điểm này dẫn đến sự
đánh giá sai lầm rằng việc lựa chọn đi lên CNXH khi ấy mang tính “ước vọng nhiều
hơn là thực tiễn”, chưa có cơ sở vững chắc trong điều kiện cụ thể của đất nước. Đồng
thời, sự thiếu hiểu biết hoặc thậm chí là sự cố tình phủ nhận bối cảnh đặc thù của Việt
Nam, một quốc gia vừa trải qua cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc kéo dài, đang rất
cần một con đường phát triển độc lập, tự chủ và phù hợp với hoàn cảnh lịch sử riêng,
cũng góp phần làm gia tăng cách nhìn phiến diện đó.
Thứ ba, quan điểm từ bên ngoài và các thế lực thù địch, truyền thông quốc
tế làm ảnh hưởng đến nhận thức trong nước.
Khi các nước phương Tây, hay các tổ chức quốc tế, các truyền thông quốc tế
cả dư luận trong nước so sánh Việt Nam với các nước tư bản phát triển, họ hay chọn
các chỉ số như GDP bình quân đầu người, độ mở thị trường, mức độ tiêu dùng, chất
lượng đời sống và tự do chính trị để làm thước đo. Những so sánh ấy thường bỏ qua
các khác biệt về lịch sử, văn hóa, điều kiện nguồn lực ban đầu (ví dụ sự tàn phá chiến
tranh, sự nghèo nàn trong cơ sở vật chất, hạn chế tài chính) và bỏ qua cả thời gian
thích hợp để phát triển. Việc truyền thông về những khó khăn – tham nhũng, chậm trễ,
bất bình đẳng – được dùng như minh chứng cho điểm yếu CNXH và khiến cho người
dân dễ tin rằng CNXH là lựa chọn sai.
Thứ tư, nhận thức một chiều về quy luật phát triển kinh tế - xã hội và hiểu
sai về “thời kỳ quá độ”.
Có nhiều người cho rằng để đi lên chủ nghĩa xã hội, trước tiên phải phát triể
hết giai đoạn tư bản chủ nghĩa, có công nghiệp hóa hoàn chỉnh, có thị trường tự do, có
sở hữu tư nhân mạnh, có tầng lớp trung lưu rộng lớn…, tức là mô hình giống như các
nước phương Tây hoặc một số nước châu Á đã phát triển sớm. Quan điểm này coi bỏ
qua giai đoạn đó là trái quy luật. Khi Việt Nam lựa chọn phát triển với khuôn khổ kinh
tế thị trường định hướng CNXH, thế lực thù địch cho rằng điều đó là pha trộn không
rõ ràng hoặc là “nửa CNXH nửa tư bản” từ đó sẽ không thành công được. Ngoài ra,
thiếu sự phân biệt rõ giữa lý thuyết CNXH, CNXH khoa học và các thực nghiệm cụ
thể - người ngoài nhìn vào những thất bại hoặc hạn chế của mô hình CNXH “hiện 10
thực” mà quên mất là các mô hình CNXH luôn có điều kiện lịch sử riêng, bước quá độ riêng.
2.1.2. Nội dung quan điểm
Thứ nhất, quan điểm này cho rằng CNXH là mô hình đã thất bại hoặc không còn
phù hợp, hiệu quả. Luận điệu rõ nhất là nói rằng “Việt Nam kiên định con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội là đi theo vết xe đổ của Liên Xô”, mô hình chủ nghĩa xã hội theo
kiểu “chính quyền tập trung, sở hữu xã hội hóa, quản lý tập trung” đã chứng minh thất
bại trong thực tiễn của nhiều quốc gia như: Liên Xô, Đông Âu, nhiều nước châu Phi,
Mỹ Latinh. Họ chỉ ra tình trạng suy thoái kinh tế, lạc hậu công nghệ, khủng hoảng
quản trị, tham nhũng, thiếu động lực sản xuất, thiếu cạnh tranh. Theo đó là những luận
điểm cho rằng nếu Việt Nam tiếp tục theo con đường CNXH, sẽ phải đối mặt với
những thử thách không nhỏ từ áp lực hội nhập toàn cầu, cạnh tranh quốc tế, đến việc
phải duy trì ổn định chính trị và xã hội trong khi có nhiều thành phần kinh tế, quan
điểm xã hội đa dạng, đòi hỏi minh bạch và hiệu quả cao. Quan điểm này cũng chỉ ra:
cái thất bại của các mô hình CNXH hiện thực là bằng chứng không thể bỏ qua, rằng lý
tưởng CNXH có thể tốt, nhưng trong thực hành đã chịu nhiều “đứt gãy” do quản lý,
lãng phí, độc quyền quyền lực…
Thứ hai, Việt Nam bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa là trái quy luật phát triển
Theo quan điểm này, lịch sử, kinh tế - xã hội đều cho thấy rằng để xây dựng chủ nghĩa
xã hội phải có một giai tầng tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh nền sản xuất công
nghiệp, kỹ thuật cao, lực lượng thị trường nội địa và xuất khẩu ổn định, tầng lớp trung
lưu lớn, khoa học - công nghệ phát triển và quản trị hiện đại. Vì Việt Nam chịu ảnh
hưởng chiến tranh, nguồn lực yếu, sản xuất còn lạc hậu, thị trường nội địa nhỏ, nên
chọn CNXH từ sớm được coi là bỏ qua bước phát triển “quan trọng”, dẫn tới rủi ro
chậm phát triển, thiếu vốn, thiếu công nghệ, phụ thuộc vào nước ngoài. Quan điểm
này cũng cho rằng nếu làm theo cách “chuẩn cổ điển” thì Việt Nam sẽ đạt được phát
triển nhanh hơn (về công nghiệp, xuất khẩu, tăng trưởng GDP) nếu tập trung vào mô
hình tư bản chủ nghĩa hiện đại hóa trước.
Thứ ba, so sánh bất lợi với các nước tư bản phát triển có kinh tế thị trường mạnh
Quan điểm này thường lấy các quốc gia có mức thu nhập cao, thể chế kinh tế thị
trường hoàn thiện (Nhật Bản, Hoa Kỳ, một số nước châu Âu, Singapore…) làm chuẩn
mực để so sánh. Họ chỉ ra rằng dân số Việt Nam vẫn còn lớn phần nông thôn, chênh
lệch giàu nghèo, hạ tầng còn yếu, môi trường kinh doanh có hạn chế, bất bình đẳng xã
hội, tham nhũng còn tồn tại; do vậy so với các quốc gia tư bản phát triển, Việt Nam
vẫn kém nhiều mặt như GDP/người, năng suất lao động, khả năng đổi mới sáng tạo,
môi trường pháp luật, môi trường kinh doanh v.v… Và theo quan điểm này, CNXH sẽ
khó vượt lên được những hạn chế nếu không áp dụng theo thị trường tư bản chủ nghĩa
hoàn chỉnh hơn, tức là từ bỏ hoặc hạn chế mục tiêu CNXH.
Thứ tư, những khó khăn thực tiễn trong việc hiện thực hóa chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam được dùng như bằng chứng “sai lầm”. Cụ thể, quản trị nhà nước đôi lúc có
hiện tượng quan liêu, yếu kém; công tác cán bộ có trường hợp tham nhũng, thiếu minh 11
bạch; phân phối tài sản, lợi ích chưa đồng đều giữa vùng miền, giữa thành thị và nông
thôn; trình độ lao động chưa đồng đều; cơ sở hạ tầng chưa phát triển đồng bộ; áp lực
quốc tế - đầu tư, cạnh tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, biến động kinh tế thế giới… tất
cả đã ảnh hưởng mạnh tới Việt Nam. Những hạn chế này được các quan điểm dựa vào
để đưa ra lập luận nếu tiếp tục kiên định CNXH mà không điều chỉnh kịp thì đất nước
sẽ tụt hậu, thiếu linh hoạt, chậm phát triển.
2.2. Nhận diện quan điểm
Quan điểm cho rằng “Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội là một sai lầm lịch sử”
thực chất xuất phát từ những lực lượng, cá nhân hoặc tổ chức có định kiến đối với con
đường phát triển xã hội chủ nghĩa. Đây thường là các thế lực thù địch, phản động,
hoặc những phần tử cơ hội chính trị muốn phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng
sản Việt Nam. Bản chất của quan điểm này là phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, phủ
nhận tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường phát triển mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã
lựa chọn ngay từ khi thành lập. Đây không phải là ý kiến khoa học, khách quan mà
mang tính chất công kích chính trị, nhằm chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, từng
bước làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự đúng
đắn của con đường xã hội chủ nghĩa.
Mục tiêu cốt lõi của quan điểm trên là tạo ra sự hoài nghi và dao động trong xã
hội, đặc biệt là trong thế hệ trẻ – những người dễ bị tác động bởi các luồng thông tin
trái chiều. Các thế lực thù địch lợi dụng sự phát triển vượt bậc của chủ nghĩa tư bản
hiện đại để so sánh một cách phiến diện với những hạn chế còn tồn tại trong công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Họ muốn gieo rắc vào tâm trí người dân
suy nghĩ rằng chủ nghĩa xã hội là một con đường “lỗi thời”, “đi ngược lại xu thế” và
do đó sự lựa chọn của Việt Nam là sai lầm. Đây là một chiêu bài tâm lý, tư tưởng hết
sức nguy hiểm, bởi nó đánh thẳng vào lòng tin, lý tưởng và bản lĩnh chính trị của cán
bộ, đảng viên cũng như toàn thể nhân dân.
Quan điểm này còn tìm cách lợi dụng những khó khăn, hạn chế trong quá trình
phát triển đất nước để xuyên tạc, bôi đen. Thực tế, Việt Nam vẫn còn tình trạng chênh
lệch giàu nghèo, năng suất lao động chưa cao, thể chế quản lý còn nhiều điểm bất cập,
hay nạn tham nhũng, tiêu cực vẫn tồn tại. Thay vì nhìn nhận đây là những hạn chế tạm
thời trong quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội, các thế lực thù địch lại cường điệu
hóa, biến nó thành bằng chứng để kết luận rằng con đường xã hội chủ nghĩa là sai lầm.
Họ cố tình lờ đi những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà đất nước ta đã đạt được
trong hơn 35 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Ngoài ra, luận điệu này còn gắn liền với âm mưu thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa” trong nội bộ. Khi niềm tin vào mục tiêu xã hội chủ nghĩa bị lung lay, cán
bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân dễ rơi vào tình trạng mơ hồ về lý tưởng, từ đó
suy giảm ý chí phấn đấu và dễ bị lôi kéo theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Chính vì vậy,
có thể khẳng định quan điểm “Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội là một sai lầm lịch
sử” không chỉ mang tính chất sai lầm về mặt lý luận mà còn ẩn chứa những ý đồ chính 12
trị thâm độc, phục vụ cho lợi ích của các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.
2.3. Phê phán quan điểm
Quan điểm cho rằng “Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội là một sai lầm lịch sử” là
một luận điệu sai trái, phiến diện và phản khoa học. Đây là chiêu trò quen thuộc của
các thế lực thù địch, phản động nhằm gieo rắc hoài nghi, phủ nhận thành quả cách
mạng và con đường phát triển mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Trên thực tế, cả
cơ sở lý luận và thực tiễn lịch sử đã chứng minh ngược lại: con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam là đúng đắn, phù hợp quy luật, hợp lòng dân và bắt
nhịp xu thế phát triển chung của thời đại.
2.3.1. Việt Nam lựa chọn con đường đi lên CNXH là phù hợp với quy luật
phát triển của lịch sử xã hội loài người (phù hợp với học thuyết hình thái
kinh tế – xã hội của chủ nghĩa Mác – Lênin)
Một trong những luận điệu sai trái mà các thế lực thù địch thường xuyên rêu rao
là: “Lựa chọn đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một sai lầm lịch sử, đi ngược quy
luật phát triển của loài người.” Chúng viện dẫn sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu để
cho rằng CNXH chỉ là “ảo tưởng”, “thiên đường bánh vẽ”, rằng con đường ấy không
có thật trong thực tiễn. Đây thực chất là sự xuyên tạc, bởi nó cố tình đánh đồng một
mô hình cụ thể với cả học thuyết, phủ nhận quy luật khách quan của lịch sử, đồng thời
gieo rắc hoài nghi nhằm lung lay niềm tin của nhân dân Việt Nam vào Đảng.
Theo học thuyết hình thái kinh tế – xã hội của chủ nghĩa Mác – Lênin, sự phát
triển của xã hội loài người diễn ra theo quy luật khách quan, đi từ thấp đến cao, từ
hình thái cộng sản nguyên thủy - chiếm hữu nô lệ - phong kiến - tư bản chủ nghĩa -
cộng sản chủ nghĩa. Chủ nghĩa xã hội là giai đoạn đầu tiên, tất yếu trước khi tiến lên
hình thái cộng sản hoàn thiện. Như vậy, sự ra đời của CNXH không phải là ngẫu
nhiên hay sản phẩm của ý chí chủ quan, mà là kết quả của sự vận động khách quan
trong lịch sử nhân loại. Chính vì vậy, khi Việt Nam lựa chọn con đường này, đó là sự
vận dụng sáng tạo học thuyết Mác – Lênin chứ không phải một sự “phiêu lưu chính trị”.
Lịch sử thế giới đã chứng minh CNXH hiện thực từng tạo nên những thành tựu
vượt trội. Liên Xô trong một thời gian ngắn đã từ nước nông nghiệp lạc hậu vươn lên
thành cường quốc công nghiệp, chiếm 20% sản lượng công nghiệp toàn cầu, dẫn đầu
nhiều lĩnh vực khoa học – công nghệ, y tế, giáo dục. Như báo Quân đội nhân dân đã
chỉ rõ, CNXH không phải là “giấc mơ hão huyền” mà từng là một hiện thực sinh
động, đối trọng với chủ nghĩa tư bản trong hơn bảy thập kỷ. Việc Liên Xô và Đông
Âu tan rã chỉ là sự khủng hoảng của một mô hình cụ thể trong bối cảnh lịch sử phức
tạp, chứ không phải sự phá sản của học thuyết Mác – Lênin hay con đường XHCN.
Trong bối cảnh đó, Việt Nam đi lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là
hoàn toàn có cơ sở. Nước ta vốn là thuộc địa nửa phong kiến, không trải qua quá trình
phát triển tư bản chủ nghĩa đầy đủ; nếu rập khuôn theo quy luật “phát triển tuần tự” thì 13
dân tộc khó có cơ hội thoát khỏi ách nô dịch. Lựa chọn đi thẳng lên CNXH thể hiện sự
sáng suốt của Đảng ta, vừa phù hợp với quy luật chung, vừa phù hợp với điều kiện
lịch sử đặc thù. Bài viết trên báo Lý luận Chính trị nhấn mạnh: đi lên CNXH ở Việt
Nam là sự kết hợp giữa quy luật khách quan và sự lựa chọn độc lập, sáng tạo của dân
tộc ta, chứ không phải “sai lầm” như các luận điệu xuyên tạc.
Thực tiễn Việt Nam trong gần 40 năm đổi mới càng khẳng định sự phù hợp đó.
Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, nay Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan
trọng: tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, đời sống nhân
dân được nâng cao, vị thế quốc tế ngày càng được củng cố. Báo Lào Cai nhận định:
chưa bao giờ đất nước ta có cơ đồ, tiềm lực, vị thế như ngày nay – và thành quả ấy
đến từ con đường phát triển theo định hướng XHCN. Điều đó cho thấy, luận điệu cho
rằng CNXH “trái quy luật” là hoàn toàn sai trái, bởi chính thực tiễn Việt Nam đã bác bỏ nó.
2.3.2. Phù hợp với mục tiêu, cương lĩnh của cách mạng Việt Nam năm 1930
Một luận điệu khác thường xuyên được tung ra là: “Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ
nên lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ, còn việc xây dựng CNXH là vượt quá khả
năng, là mơ tưởng viển vông.” Luận điệu này nhằm phủ nhận tính kế thừa và phát
triển liên tục của cách mạng Việt Nam, đồng thời phủ nhận ngay từ gốc mục tiêu
chiến lược mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định.
Sự thật là, ngay từ khi ra đời năm 1930, Đảng ta đã khẳng định mục tiêu gắn độc
lập dân tộc với CNXH. Trong Chánh cương vắn tắt do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và
được Hội nghị thành lập Đảng thông qua, đã xác định rõ: làm tư sản dân quyền cách
mạng và thổ địa cách mạng để tiến tới xã hội cộng sản. Như bài viết trên trang Thịnh
vượng Việt Nam phân tích, đây không phải là sự lựa chọn ngẫu nhiên, mà xuất phát từ
nhận thức sâu sắc rằng chỉ có cách mạng vô sản mới giải phóng được dân tộc và mang
lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân.
Lịch sử hơn 90 năm cách mạng đã minh chứng cho sự đúng đắn của đường lối
này. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, sự ra đời của Nhà nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa, hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp và Mỹ, rồi công cuộc
đổi mới từ năm 1986 đến nay – tất cả đều gắn liền với mục tiêu độc lập dân tộc và
CNXH. Các bản Cương lĩnh năm 1991 và bổ sung, phát triển năm 2011 tiếp tục khẳng
định rõ đặc trưng CNXH Việt Nam, với mục tiêu bao trùm là “dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh”. Như báo DMS (Cục Quản lý thị trường) nêu rõ, đây
chính là sự lựa chọn đúng đắn, kiên định và nhất quán của Đảng ta từ năm 1930 đến nay.
Bài báo trên Quân đội nhân dân cũng nhấn mạnh: nếu phủ nhận con đường
CNXH, tức là phủ nhận toàn bộ thành quả cách mạng gần một thế kỷ qua, phủ nhận cả
vai trò lãnh đạo của Đảng và những hy sinh to lớn của nhiều thế hệ nhân dân Việt
Nam. Do vậy, luận điệu “Đảng chỉ có thể lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ, còn 14
CNXH là mị dân” thực chất chỉ là âm mưu phản động, nhằm tách Đảng khỏi mục tiêu
chiến lược, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.
Trong thực tiễn hôm nay, Việt Nam kiên định mục tiêu ấy và đã đạt nhiều thành
tựu nổi bật. Sau gần 40 năm đổi mới, đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã
hội, tăng trưởng bình quân cao, cơ sở hạ tầng ngày càng hoàn thiện, đời sống nhân dân
không ngừng được cải thiện. Đó chính là minh chứng sống động, bác bỏ luận điệu sai
trái và khẳng định rằng: mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH không chỉ là
định hướng lý luận, mà còn là hiện thực được chứng minh trong cuộc sống.
2.3.3. Phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân Việt Nam.
Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hoàn toàn phù hợp với nhu cầu và
nguyện vọng của nhân dân. Chủ nghĩa xã hội mang mục tiêu cao cả là giải phóng giai
cấp, giải phóng xã hội và con người, hướng tới sự phát triển toàn diện và hạnh phúc
của mỗi cá nhân. Đây là một xã hội mà con người được sống tự do, hòa bình, đoàn
kết, không còn áp bức, bóc lột hay bất công. Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã
khẳng định, chủ nghĩa xã hội là con đường phát triển kinh tế gắn với tiến bộ, công
bằng xã hội, nhân ái, đoàn kết, hướng tới các giá trị nhân văn và bền vững, đồng thời
bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ mai sau. Những giá trị này không
chỉ là khát vọng của nhân dân Việt Nam mà còn là lý tưởng chung của nhân loại tiến bộ.
Thực tiễn lịch sử dân tộc càng minh chứng rõ ràng cho sự lựa chọn này. Hàng
trăm năm dưới ách đô hộ, áp bức của chế độ phong kiến và thực dân, đế quốc, nhân
dân Việt Nam đã kiên cường đấu tranh để giành độc lập, tự do và hạnh phúc. Ngay từ
khi thành lập, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định con đường chiến lược là
“Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”, bởi chỉ có CNXH mới giải quyết triệt
để mâu thuẫn cơ bản giữa độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân lao động. Sau
Cách mạng Tháng Tám 1945, chính quyền nhân dân ra đời lần đầu tiên trao quyền làm
chủ thực sự cho nhân dân, minh chứng sinh động rằng CNXH phù hợp với nguyện
vọng được sống trong một xã hội công bằng, dân chủ và tiến bộ.
Trong hơn 35 năm đổi mới, Việt Nam đã chứng minh rõ hơn sự phù hợp này. Từ
một quốc gia nghèo với thu nhập bình quân đầu người chưa đến 100 USD vào năm
1986, Việt Nam đã vươn lên trở thành quốc gia có thu nhập trung bình với GDP bình
quân hơn 4.600 USD vào năm 2023. Tỷ lệ nghèo giảm từ hơn 58% (1993) xuống dưới
3% (2023), hàng chục triệu người dân được thoát nghèo, cơ hội học tập, chăm sóc sức
khỏe và hưởng thụ văn hóa được nâng cao. Những thành tựu này chứng minh rằng
con đường CNXH không chỉ phù hợp với khát vọng chính trị – xã hội của nhân dân,
mà còn trực tiếp nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và quyền làm chủ của họ.
Ngoài ra, nhu cầu về hòa bình, ổn định và phát triển bền vững cũng là lý do quan
trọng để lựa chọn CNXH. Con đường phát triển mà Việt Nam theo đuổi đặt con người
làm trung tâm, tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với công bằng xã hội, bảo vệ môi
trường và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Điều này hoàn toàn đáp ứng nguyện vọng 15
của nhân dân về một xã hội không chỉ giàu mạnh về vật chất mà còn tiến bộ, nhân
văn. Đồng thời, khát vọng vươn lên khẳng định vị thế đất nước trên trường quốc tế
cũng được hiện thực hóa thông qua chính sách đối ngoại độc lập, đa phương hóa, đa
dạng hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, góp phần nâng cao vị thế Việt Nam và đem lại
lợi ích thiết thực cho nhân dân.
2.3.4. Phù hợp với xu thế vận động, phát triển của thời đại ngày nay - thời
đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới.
Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cũng hoàn toàn phù hợp với xu thế
vận động và phát triển của thời đại – thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa
xã hội trên phạm vi toàn cầu. Thực tiễn phát triển của thế giới và Việt Nam cho thấy,
chủ nghĩa xã hội không “sụp đổ” sau sự tan rã của Liên Xô và Đông Âu, mà đang
được đổi mới, thích ứng với bối cảnh mới. Các quốc gia như Trung Quốc và Việt Nam
đã tiến hành cải cách, đổi mới thành công, minh chứng rằng mô hình CNXH có thể
phát triển bền vững nếu biết vận dụng sáng tạo. Việt Nam, với hơn 35 năm đổi mới,
đã từ một quốc gia nghèo, GDP bình quân đầu người khoảng 100 USD (1986), vươn
lên trở thành nền kinh tế thứ 40 trên thế giới với GDP trên 430 tỷ USD và thu nhập
bình quân hơn 4.300 USD. Thành tựu này khẳng định rằng lựa chọn CNXH là sáng
tạo, phù hợp với hoàn cảnh dân tộc và xu thế phát triển toàn cầu.
Toàn cầu hóa và sự bùng nổ khoa học – công nghệ tạo ra cơ hội để các quốc gia đi
sau rút ngắn quá trình phát triển. Việt Nam đã tận dụng xu thế này thông qua hội nhập
quốc tế sâu rộng, tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP,
EVFTA, RCEP… Qua đó, Việt Nam tiếp cận công nghệ hiện đại, thu hút vốn FDI
chất lượng cao, phát triển các ngành kinh tế dựa trên công nghệ tiên tiến. Nhờ tận
dụng thành tựu của thời đại, Việt Nam đã trở thành một trong 20 quốc gia thương mại
hàng đầu thế giới, với kim ngạch xuất nhập khẩu vượt 700 tỷ USD vào năm 2023.
Điều này thể hiện đúng bản chất của thời đại quá độ lên CNXH: các nước đi sau có
thể “đi tắt, đón đầu”, không cần rập khuôn theo mô hình phát triển của chủ nghĩa tư bản.
Hơn nữa, xu thế vận động của nhân loại hiện nay càng làm nổi bật tính ưu việt của
CNXH. Chủ nghĩa tư bản tuy đạt nhiều thành tựu về kinh tế, công nghệ, nhưng vẫn
bộc lộ những giới hạn trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu như bất bình đẳng,
biến đổi khí hậu và khủng hoảng môi trường. Trong khi đó, CNXH hướng tới phát
triển bền vững, công bằng, lấy con người làm trung tâm. Việt Nam đang đóng góp tích
cực vào xu thế này thông qua cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 tại
COP26, tham gia gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc, đồng thời theo đuổi mô hình tăng
trưởng xanh và bao trùm. Những hành động này thể hiện rõ sự gắn kết giữa lợi ích dân
tộc và xu thế tiến bộ của nhân loại.
Việt Nam không hề tụt hậu khi bỏ qua mô hình CNTB, mà ngược lại, đã đưa hơn
40 triệu người thoát nghèo, nâng tuổi thọ trung bình lên 73,6 tuổi, chỉ số phát triển con
người (HDI) đạt mức trung bình cao, đồng thời nâng vị thế quốc tế. Đây là minh 16
chứng cụ thể cho thấy CNXH, được vận dụng sáng tạo, hoàn toàn phù hợp với xu thế
phát triển của thời đại ngày nay.
2.4. Khẳng định tính đúng đắn, tất yếu của con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội không phải là một sự lựa chọn
ngẫu nhiên hay một sai lầm lịch sử, mà là một sự lựa chọn tất yếu, phù hợp với quy
luật phát triển khách quan và đáp ứng nguyện vọng của nhân dân. Như đã phân tích ở
mục 2.3, con đường này phù hợp với học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ
nghĩa Mác-Lênin, phù hợp với mục tiêu cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam từ
năm 1930 và nguyện vọng của nhân dân. Sự đúng đắn của con đường này còn được
khẳng định rõ rệt qua những thành tựu toàn diện và to lớn trên nhiều lĩnh vực, từ kinh
tế đến xã hội đến chính trị và quốc phòng. Những thành tựu và vị thế mà Việt Nam có
được hiện nay là không thể phủ nhận. Sau hơn 38 năm đổi mới và 50 năm thống nhất
đất nước, Việt Nam đã có "thế và lực" mới, đất nước "chưa bao giờ có được cơ đồ,
tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay", điều này đã được minh chứng rõ ràng trong thực tế.
Về thành tựu kinh tế, Việt Nam từ một nước nghèo đói đến hội nhập toàn cầu.
Thực tế phát triển kinh tế của Việt Nam sau hơn 38 năm đổi mới là minh chứng hùng
hồn cho tính đúng đắn của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Từ một nền kinh tế
nông nghiệp lạc hậu, chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh, Việt Nam đã vươn lên
trở thành một nền kinh tế năng động với tốc độ tăng trưởng cao. Giai đoạn 1991-2000,
tốc độ tăng trưởng GDP trung bình đạt 7,5%. Giai đoạn 2001-2010, con số này là
7,26% và duy trì ở mức ổn định 6,21% trong giai đoạn 2011-2020, bất chấp các cuộc
khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Năm 2022, GDP của Việt Nam đạt hơn 400 tỷ USD,
tăng 8,02% so với năm 2021. Thu nhập bình quân đầu người đã tăng gấp 2,5 lần trong
10 năm qua, đạt gần 4.000 USD vào năm 2022. Sự phát triển này đã giúp Việt Nam
thoát khỏi tình trạng nghèo đói và vươn lên trở thành một nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu, là thành viên của
nhiều tổ chức thương mại và hiệp định tự do quan trọng. Đến nay, đã có hơn 70 quốc
gia công nhận Việt Nam là quốc gia có nền kinh tế thị trường, trong đó có các đối tác
thương mại lớn của Việt Nam đã ký kết 15 Hiệp định tự do thương mại (FTA) khu
vực và song phương. Các FTA Việt Nam tham gia bao phủ khoảng 60 nền kinh tế có
tổng GDP chiếm gần 90% GDP thế giới, trong đó có 15 nước thành viên G20 và 9/10
đối tác kinh tế-thương mại lớn nhất của Việt Nam thuộc 3 trung tâm kinh tế lớn nhất
thế giới là Bắc Mỹ, Tây Âu và Đông Á. Những thành tựu này cho thấy chủ trương
phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là hoàn toàn đúng đắn.
Về thành tựu xã hội, đời sống của nhân dân nước ta không ngừng được cải
thiện. Sự đúng đắn của con đường xã hội chủ nghĩa còn được thể hiện qua những
thành tựu nổi bật trong lĩnh vực xã hội. Một trong những thành tựu lớn nhất là việc
giảm nghèo bền vững. Tỉ lệ hộ nghèo đã giảm mạnh từ hơn 58% vào năm 1993 xuống
còn dưới 4,3% vào năm 2020. Chính sách xã hội được Đảng và Nhà nước quan tâm 17
hàng đầu, bao gồm hệ thống an sinh xã hội ngày càng hoàn thiện, các chương trình
xóa đói giảm nghèo, và chính sách hỗ trợ người có công. Lĩnh vực giáo dục và y tế
cũng được đầu tư mạnh mẽ, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, chỉ số phát triển
con người (HDI) và đảm bảo công bằng xã hội. Những thành tựu này khẳng định mục
tiêu cao cả của chủ nghĩa xã hội, đó là hướng tới một xã hội dân chủ, công bằng, văn
minh, nơi con người là trung tâm của mọi sự phát triển.
Về thành tựu chính trị và quốc phòng, nước Việt Nam dần được ổn định và nâng cao vị thế. Con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội đã giúp Việt Nam xây dựng được
một hệ thống chính trị ổn định và vững mạnh. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam đã được khẳng định là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Trên cơ
sở đó, Việt Nam đã bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì
môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Vị thế của Việt Nam trên trường
quốc tế ngày càng được nâng cao. Việt Nam đã chủ động và tích cực hội nhập, đóng
góp vào việc giải quyết các vấn đề chung của khu vực và thế giới. Đây là minh chứng
rõ nhất cho thấy con đường đi lên chủ nghĩa xã hội không chỉ mang lại lợi ích cho dân
tộc mà còn góp phần vào sự tiến bộ của nhân loại.
Những minh chứng trên cho thấy, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Việt
Nam đã lựa chọn không phải là một sai lầm mà là một quyết định chiến lược, đúng
đắn, mang tính lịch sử, đã và đang mang lại những lợi ích to lớn và bền vững cho đất
nước và nhân dân Việt Nam. Sự đúng đắn này càng được khẳng định khi Việt Nam
vượt qua những thách thức, khủng hoảng và tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong bối
cảnh quốc tế đầy biến động.
CHƯƠNG 3: Ý NGHĨA THỰC TIỄN VÀ ĐỊNH HƯỚNG 3.1. Ý nghĩa
Việc khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
cả về lý luận lẫn thực tiễn. Nó giúp củng cố nhận thức đúng đắn của toàn xã hội về
mục tiêu ‘dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh’, đồng thời bác bỏ
những quan điểm sai lệch cho rằng đây là một lựa chọn sai lầm lịch sử. Ý nghĩa này
không chỉ tăng cường nhận thức về con đường Việt Nam đã lựa chọn mà còn củng cố
niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.
- Tăng cường nhận thức về con đường Việt Nam đã lựa chọn
oChủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là mục tiêu xây dựng một xã hội ‘dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh’, được hiện thực hóa thông qua
phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà
nước pháp quyền XHCN, dưới sự lãnh đạo của Đảng và với Nhân dân là chủ thể.
oViệc lựa chọn đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam gắn liền với mục tiêu
giành độc lập dân tộc và phát triển đất nước; thực tiễn công cuộc Đổi mới
năm 1986 đã chứng minh năng lực tự điều chỉnh và hoàn thiện mô hình để 18
thích ứng với kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, từ đó bác bỏ suy diễn
cho rằng đây là một ‘sai lầm lịch sử’.
oCác hạn chế như năng suất lao động thấp, quản trị còn yếu hay tình trạng
tham nhũng thực chất là vấn đề của khâu thực thi và trình độ phát triển, chứ
không phải là sự phủ định mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội; nhận thức
đúng bản chất sẽ giúp tập trung sửa đổi chính sách và cải thiện thực tiễn
thay vì đánh đồng thành ‘đường lối sai’.
oViệc đánh giá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội cần dựa trên các bộ chỉ số
toàn diện như tăng trưởng bao trùm, chỉ số phát triển con người (HDI), hệ
số Gini, chất lượng môi trường và mức độ di động xã hội, đồng thời so sánh
theo đường cong phát triển và điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam, tránh
cách nhìn tĩnh tại hoặc so sánh phiến diện với các quốc gia đã phát triển trước hàng thập kỷ.
- Củng cố niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng
oNiềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng có cơ sở vững chắc khi
Đảng lãnh đạo thống nhất nhưng đồng thời chấp nhận và khuyến khích phản
biện, thường xuyên bổ sung và cập nhật cương lĩnh, nghị quyết, đồng thời
kiên quyết phòng chống tham nhũng, siết chặt kỷ luật và kỷ cương để xây
dựng một bộ máy trong sạch, vững mạnh.
oCơ chế bảo đảm niềm tin được thực hiện thông qua việc xây dựng nhà nước
pháp quyền, tăng cường kiểm soát quyền lực, nâng cao trách nhiệm giải
trình, công khai dữ liệu và mở rộng dân chủ ở cơ sở, nhờ đó niềm tin của
người dân được gắn chặt với những trải nghiệm hằng ngày như dịch vụ
công thuận lợi, an sinh xã hội bảo đảm và an ninh trật tự được duy trì.
oLiên minh giữa Đảng, Nhà nước, Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp cần
được củng cố để đường lối đúng đắn được chuyển hóa thành cơ hội làm ăn
thuận lợi, việc làm ổn định, dịch vụ công chất lượng cao và vị thế quốc tế
ngày càng nâng cao, qua đó tạo nên nền tảng bền vững cho niềm tin xã hội.
3.2. Định hướng
Trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động phức tạp và thời cơ, thách
thức đan xen, việc kiên định và phát triển con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam là một yêu cầu mang tính sống còn. Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần có
những định hướng chiến lược mang tính đột phá và toàn diện, tập trung vào việc
củng cố nền tảng tư tưởng, kinh tế, văn hóa và xã hội. Sau đây là một số định hướng
cụ thể nhằm tiếp tục củng cố và phát triển con đường mà Đảng và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn:
-Tiếp tục hoàn thiện nhận thức lý luận: Làm rõ bản chất mô hình kinh tế thị
trường định hướng XHCN, xác định vai trò Nhà nước – thị trường – xã hội
trong phân phối nguồn lực. Đổi mới giáo dục chính trị gắn với thực tiễn để thế
hệ trẻ hiểu vì sao CNXH là lựa chọn tất yếu. Đẩy mạnh nghiên cứu, bổ sung lý
luận trong bối cảnh hội nhập và CMCN 4.0. 19
-Phát triển kinh tế bền vững, nâng cao đời sống nhân dân: Hoàn thiện thể chế
kinh tế thị trường minh bạch, thúc đẩy cạnh tranh, cải cách thủ tục hành chính.
Phát triển khu vực tư nhân, thu hút FDI chọn lọc gắn chuyển giao công nghệ,
nâng năng suất lao động. Đẩy mạnh kinh tế xanh, kinh tế số, bảo đảm tăng
trưởng đi đôi với bảo vệ môi trường và phúc lợi xã hội.
-Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Hoàn thiện pháp luật minh
bạch, bảo đảm bình đẳng trước pháp luật. Mở rộng dân chủ, tăng giám sát xã
hội, phòng chống tham nhũng, xây dựng bộ máy tinh gọn, liêm chính. Đẩy
mạnh chính phủ số, cải cách hành chính, nâng chất lượng dịch vụ công.
-Bảo đảm công bằng xã hội và an sinh:Thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, ưu tiên
chính sách cho vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số. Nâng cao chất
lượng y tế, giáo dục, xây dựng hệ thống an sinh bao trùm, bảo vệ nhóm yếu
thế. Thúc đẩy giá trị công bằng, nhân văn để củng cố niềm tin xã hội.
-Xây dựng văn hóa và con người Việt Nam: Phát huy giá trị truyền thống, bản
sắc dân tộc, xây dựng hệ giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống lành mạnh. Đầu tư
phát triển con người toàn diện, chú trọng giáo dục, khoa học – công nghệ, kỹ
năng số, tinh thần sáng tạo và khởi nghiệp.
-Giữ vững quốc phòng – an ninh và chủ động hội nhập: Tăng cường tiềm lực
quốc phòng, bảo vệ chủ quyền và an ninh chính trị. Đẩy mạnh đối ngoại độc
lập, tự chủ, đa phương hóa, nâng cao vị thế quốc tế. Chủ động tham gia giải
quyết vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu, chuyển đổi năng lượng, khẳng định
hình ảnh Việt Nam trách nhiệm và tích cực. 20