



















Preview text:
D
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI —— —— BÀI THẢO LUẬN
MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Đề tài: Quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo. Đề xuất giải pháp khắc
phục ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay. Nhóm: 01 Giáo viên hướng dẫn: Lớp HP: 231-HCMI0121_13 GV Nguyễn Thị Thu Hà Hà Nội, 9 -2023 1 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU................................................................................................................ 3
1.Tầm quan trọng của đề tài:........................................................................................... 3
2. Nội dung bài thảo luận:............................................................................................... 3
DANH SÁCH THÀNH VIÊN.......................................................................................4
BIÊN BẢN HỌP............................................................................................................ 6
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VỀ TÔN GIÁO
1.1 Bản chất, nguồn gốc và tính chất của tôn giáo.......................................................... 9
1.1.1. Bản chất của tôn giáo................................................................................. 9
1.1.2. Nguồn gốc của tôn giáo..............................................................................9
1.1.3. Tính chất của tôn giáo.............................................................................. 10
1.2. Nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội 11
CHƯƠNG 2: GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA TÔN
GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiện nay................................................................ 13
2.2. Ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo............................................................................14
2.2.1. Tôn giáo làm cho nhận thức của nhân dân đi vào hư ảo, nhận thức sai lầm
sẽ dẫn tới hành động sai lầm.............................................................................. 14
2.2.2. Những sinh hoạt tôn giáo đã và đang bị thương mại hoá và lạm dụng quá
mức..................................................................................................................... 15
2.2.3. Tôn giáo trở thành phương tiện để kẻ thù lợi dụng thúc đẩy nhân dân
chống phá Đảng và chính quyền........................................................................ 15
2.2.4. Tôn giáo không biến đổi kịp với sự tiến hóa về mặt khoa học, xã hội lẫn
cả về mặt tâm linh của con người do đó trở thành chướng ngại vật trên đường
tiến hóa của nhân loại. .......................................................................................17
2.2.5. Tôn giáo được xây dựng dựa trên niềm tin và sự sợ hãi của con người...17
2.2.6. Bản chất mơ hồ, phức tạp và chuyển đổi không ngừng của tôn giáo làm
cho đại đa số tín đồ không thể nhận ra được những bản chất tiêu cực cơ bản và
quan trọng của nó............................................................................................... 17 2
2.3. Giải pháp khắc phục............................................................................................... 19
2.3.1. Đảng và Nhà nước....................................................................................19
2.3.2. Trách nhiệm của sinh viên........................................................................23
KẾT LUẬN.................................................................................................................. 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................................26 3 LỜI MỞ ĐẦU
1.Tầm quan trọng của đề tài:
Trong đời sống tinh thần của con người, tôn giáo luôn đóng một vai trò nhất định.
Tôn giáo là sự tự do tín ngưỡng của mỗi công dân. Vấn đề tôn giáo từ lâu đã là một
trong những vấn đề nhạy cảm đối với Việt Nam cũng như các nước trên toàn thế giới.
Trong lịch sử Việt Nam, vấn đề tôn giáo đã từng bị lợi dụng cho mục đích chính trị,
chống phá cách mạng Việt Nam và ngày nay vẫn còn một số thành phần tìm cách lợi
dụng tôn giáo để chống lại Nhà nước xã hội chủ nghĩa nước ta.
Chính vì thế mà mỗi người dân chúng ta cần phải có những sự hiểu biết thấu đáo và
chính xác về tôn giáo để không bị kẻ gian lợi dụng sự tín ngưỡng tôn giáo vào những
mục đích xấu. Xuất phát từ thực tiễn ấy, nhóm 1 chúng em xin trình bày bài thảo luận
với nội dung chính là “Phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo? Từ
đó đề xuất giải pháp nhằm khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo trong đời sống
xã hội Việt Nam hiện nay”.
2. Nội dung bài thảo luận:
Bản báo cáo của chúng em gồm 2 chương chính:
- Chương 1: Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo
- Chương 2: Đề xuất giải pháp nhằm khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo
trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay
Do thời gian và trình độ có hạn nên bản báo cáo không tránh khỏi thiếu sót, vì vậy
chúng em rất mong nhận được những lời nhận xét từ cô để bản báo cáo của nhóm em được hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn! 4 DANH SÁCH THÀNH VIÊN STT Họ và tên Mã Sinh Viên Chức Vụ Nhiệm Vụ 1 Đặng Thị Thùy Anh 22D107001 Thành Viên Nội Dung 2 Lê Thị Ngọc Anh 22D107005 Nhóm Trưởng Nội Dung, Word 3 Lương Vân Anh 22D107008 Thành Viên PPT 4 Nguyễn Diệu Anh 22D107009 Thành Viên Thuyết trình 5 Nguyễn Thị Mai Anh 22D107010 Thành Viên Nội Dung 6
Nguyễn Thị Trung Anh 22D107011 Thành Viên Thuyết trình 7 Nông Thị Vân Anh 22D107013 Thành Viên Nội Dung 8 Phạm Vân Anh 22D107014 Thành Viên Nội Dung 9 Trần Huy Anh 22D105143 Thư Ký Nội Dung, Word 10 Trần Ngọc Anh 22D107016 Thành Viên PPT 11 Trần Thị Phương Anh 22D107017 Thành Viên Nội Dung 5
BIÊN BẢN ĐÁNH GIÁ CÁC THÀNH VIÊN TRONG NHÓM Mức độ đánh giá thực STT Họ và tên Lớp học Mã Sinh hiện phần Viên Nhóm Giáo viên trưởng 1 Đặng Thị Thùy Anh K58QT1 22D107001 2 Lê Thị Ngọc Anh K58QT1 22D107005 3 Lương Vân Anh K58QT4 22D107008 4 Nguyễn Diệu Anh K58QT1 22D107009 5 Nguyễn Thị Mai Anh K58QT3 22D107010 6 Nguyễn Thị Trung K58QT4 22D107011 Anh 7 Nông Thị Vân Anh K58QT2 22D107013 8 Phạm Vân Anh K58QT3 22D107014 9 Trần Huy Anh K57Q2 22D105143 10 Trần Ngọc Anh K58QT2 22D107016 11
Trần Thị Phương Anh K58QT4 22D107017 6
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc BIÊN BẢN HỌP NHÓM
1. Thời gian và địa điểm
Thời gian: 21h – 22h ngày 16/09/2023. Địa điểm: Google Meeting 2. Thành phần tham dự:
Thành viên nhóm 1 Chủ nghĩa xã hội khoa học ( Có mặt đủ) 3. Nội dung cuộc họp
Nhắc lại đề tài thảo luận :
- Quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo.
- Đề xuất giải pháp nhằm khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo trong đời
sống xã hội Việt Nam hiện nay.
- Nội dung cùng hướng đi qua các chương đã học 4. Tổng kết cuộc họp
Mọi người nắm bắt được công việc và tinh thần làm việc.
5. Yêu cầu các thành viên:
Hiểu rõ được đề bài mà nhóm phải chuẩn bị.
Hà Nội, ngày 16 tháng 09 năm 2023 Trưởng nhóm Thư ký Lê Thị Ngọc Anh Trần Huy Anh 7
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc BIÊN BẢN HỌP NHÓM
1. Thời gian và địa điểm
Thời gian: 21h – 22h ngày 19/09/2023. Địa điểm: Google Meeting 2. Thành phần tham dự:
Thành viên nhóm 1 Chủ nghĩa xã hội khoa học ( Có mặt đủ) 3. Nội dung cuộc họp:
Xây dựng dàn ý bài thảo luận
Đóng góp ý kiến và phân chia công việc 4. Tổng kết cuộc họp:
Mọi người nắm bắt được công việc và tinh thần làm việc.
Cuối buổi phân chia công việc 5. Phân chia công việc:
Word : Lê Thị Ngọc Anh, Trần Huy Anh
Powerpoint : Trần Ngọc Anh, Lương Vân Anh
Nội dung : Trần Thị Phương Anh, Phạm Vân Anh, Nông Thị Vân Anh,
Nguyễn Thị Mai Anh, Lê Thị Ngọc Anh, Đặng Thị Thùy Anh, Trần Huy Anh.
Thuyết Trình : Nguyễn Diệu Anh, Nguyễn Thị Trung Anh
6. Yêu cầu các thành viên:
Hiểu rõ được đề tài mà nhóm chuẩn bị
Nắm bắt được công việc được giao và hoàn thành đúng thời hạn.
Hà Nội, ngày 19 tháng 09 năm 2023 Trưởng nhóm Thư ký Lê Thị Ngọc Anh Trần Huy Anh 8
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc BIÊN BẢN HỌP NHÓM
1. Thời gian và địa điểm
Thời gian: 21h – 22h ngày 23/09/2023. Địa điểm: Google Meeting 2. Thành phần tham dự:
Thành viên nhóm 1 Chủ nghĩa xã hội khoa học ( Có mặt đủ) 3. Nội dung cuộc họp:
Tổng duyệt lại nội dung
Đóng góp ý kiến và chỉnh sửa nội dung 4. Tổng kết cuộc họp:
Mọi người nắm bắt được công việc và tinh thần làm việc.
Giao deadline hoàn thành nốt công việc
5. Yêu cầu các thành viên:
Hoàn thành nốt nhiệm vụ được giao
Hà Nội, ngày 23 tháng 09 năm 2023 Trưởng nhóm Thư ký Lê Thị Ngọc Anh Trần Huy Anh 9
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN MÁC- LÊNIN VỀ TÔN GIÁO
1.1 Bản chất, nguồn gốc và tính chất của tôn giáo
1.1.1. Bản chất của tôn giáo
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội - văn hoá do con người sáng tạo ra. Tôn giáo hay
thánh thần không sáng tạo ra con người mà chính con người đã sáng tạo ra tôn giáo vì
mục đích, lợi ích của họ, phản ánh những ước mơ, nguyện vọng, suy nghĩ của họ.
Nhưng, sau khi sáng tạo ra tôn giáo, con người lại bị lệ thuộc vào tôn giáo, tuyệt đối
hoá và phục tùng tôn giáo vô điều kiện. C.Mác: “Tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm
giác của con người chưa tìm được bản thân mình hoặc đã lại để mất bản thân mình một lần nữa.”
Về phương diện thế giới quan, nói chung, các tôn giáo mang thế giới quan duy tâm, có
sự khác biệt với thế giới quan duy vật biện chứng, khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Chủ nghĩa Mác-Lênin và tôn giáo khác nhau về thế giới quan, về cách nhìn nhận thế
giới và con người. Trong thực tiễn, những người cộng sản có lập trường mác xít luôn
tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của nhân dân, không
bao giờ có thái độ xem thường hoặc trấn áp những nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân.
Tín ngưỡng và tôn giáo không đồng nhất, nhưng có giao thoa nhất định.
- Tín ngưỡng: là hệ thống những niềm tin, sự ngưỡng mộ, cũng như cách thể hiện
niềm tin của con người trước các sự vật, hiện tượng, lực lượng có tính thần
thánh, linh thiêng để cầu mong sự che chở, giúp đỡ.
- Phân biệt giữa tôn giáo và tín ngưỡng. ●Sự giống nhau:
Đều là niềm tin của con người vào cái siêu thực, đấng linh thiêng. Hướng con người
đến tính thiện và qua đó điều chỉnh hành vi ứng xử con người với nhau. 10 ●Sự khác nhau:
Tôn giáo được hình thành bốn yếu tố: giáo chủ, giáo lý, giáo luật và tín đồ. Trong
một thời điểm cụ thể, một người chỉ có thể theo một tôn giáo. Tôn giáo đều có các
giáo sĩ chuyên nghiệp và theo nghề đến suốt đời. Hệ thống kinh điển của tôn giáo rất
đầy đủ và đồ sộ: những bộ kinh, Luật, Luận của Phật giáo.
Tín ngưỡng thường được sinh hoạt không có ai làm một cách chuyên nghiệp, thường
theo nghi thức mà tiền bối để lại và hậu bối tiếp tục. Và trong cùng một thời điểm thì
con người có thể theo nhiều tín ngưỡng khác nhau.
- Mê tín dị đoan: niềm tin của con người vào các lực lượng siêu nhiên, thần
thánh đến mức độ mê muội, cuồng tín, dẫn đến các hành vi cực đoan, sai lệch
quá mức, trái với các giá trị văn hóa, đạo đức, pháp luật, gây tổn hại cho cá
nhân, xã hội và cộng đồng.
1.1.2. Nguồn gốc của tôn giáo
* Nguồn gốc tự nhiên, kinh tế - xã hội:
Trong xã hội công xã nguyên thuỷ, do lực lượng sản xuất chưa phát triển, trước thiên
nhiên hùng vĩ tác động và chi phối khiến cho con người cảm thấy yếu đuối và bất lực,
không giải thích được, nên con người đã gán cho tự nhiên những sức mạnh, quyền lực thần bí.
Khi xã hội xuất hiện các giai cấp đối kháng, có áp bức bất công, do không giải thích
được nguồn gốc của sự phân hoá giai cấp và áp bức bóc lột bất công, tội ác v.v…,
cộng với lo sợ trước sự thống trị của các lực lượng xã hội, con người trông chờ vào sự
giải phóng của một lực lượng siêu nhiên ngoài trần thế. * Nguồn gốc nhận thức:
Ở một giai đoạn lịch sử nhất định, sự nhận thức của con người về tự nhiên, xã hội và
chính bản thân mình là có giới hạn. Khi mà khoảng cách giữa “biết” và “chưa biết”
vẫn tồn tại, khi những điều mà khoa học chưa giải thích được, thì điều đó thường được
giải thích thông qua lăng kính các tôn giáo. Ngay cả những vấn đề đã được khoa học
chứng minh, nhưng do trình độ dân trí thấp, chưa thể nhận thức đầy đủ, thì đây vẫn là
điều kiện, là mảnh đất cho tôn giáo ra đời, tồn tại và phát triển. Thực chất nguồn gốc
nhận thức của tôn giáo chính là sự tuyệt đối hoá, sự cường điệu mặt chủ thể của nhân
thức con người, biến cái nội dung khách quan thành cải siêu nhiên, thần thái. * Nguồn gốc tâm lý: 11
Sự sợ hãi trước những hiện tượng tự nhiên, xã hội, hay trong những lúc ốm đau, bệnh
tật, ngay cả những may, rủi bất ngờ xảy ra, hoặc tâm lý muốn được bình yên khi làm
một việc lớn, con người cũng dễ tìm đến với tôn giáo. Thậm chí, cả những tình cảm
tích cực như tình yêu, lòng biết ơn, lòng kính trọng đối với những người có công với
nước, với dân cũng dễ dẫn con người đến với tôn giáo.
1.1.3. Tính chất của tôn giáo
* Tính lịch sử của tôn giáo
Tôn giáo có sự hình thành, tồn tại và phát triển và có khả năng biến đổi trong những
giai đoạn lịch sử nhất định để thích nghi với nhiều chế độ chính trị - xã hội. Khi các
điều kiện kinh tế – xã hội, lịch sử thay đổi, tôn giáo cũng có sự thay đổi theo. Trong
quá trình vận động của các tôn giáo, chính các điều kiện kinh tế - xã hội, lịch sử cụ thể
đã làm cho các tôn giáo bị phân liệt, chia tách thành nhiều tôn giáo, hệ phái khác nhau.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, đến một giai đoạn lịch sử nào đó, khi
khoa học và giáo dục giúp cho đại đa số quần chúng nhân dân nhận thức được bản
chất các hiện tượng tự nhiên và xã hội thì tôn giáo sẽ dần dần mất đi vị trí của nó
trong đời sống xã hội và cả trong nhận thức, niềm tin của mỗi người.
* Tính quần chúng của tôn giáo
Tính quần chúng của tôn giáo không chỉ biểu hiện ở số lượng tín đồ rất đông đảo (gần
3/4 dân số thế giới), mà còn thể hiện ở chỗ, các tôn giáo là nơi sinh hoạt văn hoá, tinh
thần của một bộ phận quần chúng nhân dân. Dù tôn giáo hướng con người vào niềm
tin hạnh phúc hư ảo của thế giới bên kia, song nó luôn luôn phản ánh khát vọng của
những người lao động về một xã hội tự do, bình đẳng, bác ái. Mặt khác, nhiều tôn giáo
có tính nhân văn, nhân đạo và hướng thiện, vì vậy, được nhiều người ở các tầng lớp
khác nhau trong xã hội, đặc biệt là quần chúng lao động, tin theo.
* Tính chính trị của tôn giáo
Tính chất chính trị của tôn giáo chỉ xuất hiện khi xã hội đã phân chia giai cấp, có sự
khác biệt, sự đối kháng về lợi ích giai cấp. Trước hết, do tôn giáo là sản phẩm của
những điều kiện kinh tế - xã hội, phản ánh lợi ích, nguyện vọng của các giai cấp khác
nhau trong cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, nên tôn giáo mang tính chính trị.
Mặt khác, khi các giai cấp bóc lột, thống trị sử dụng tôn giáo để phục vụ cho lợi ích
giai cấp mình, chống lại các giai cấp lao động và tiến bộ xã hội, tôn giáo mang tính
chính trị tiêu cực, phản tiến bộ. 12
1.2. Nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Thứ nhất, tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng,
tôn giáo của quần chúng nhân dân.
Tín ngưỡng, tôn giáo là niềm tin sâu sắc của quần chúng vào đấng tối cao, đấng
thiêng liêng nào đó mà họ tôn thờ, thuộc lĩnh vực ý thức tư tưởng. Do đó, tự do tín
ngưỡng và tự do không tín ngưỡng thuộc quyền tự do tư tưởng của nhân dân.
Tôn trọng tự do tín ngưỡng cũng chính là tôn trọng quyền con người, thể hiện bản
chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Nhà nước xã hội chủ nghĩa không can thiệp
và không cho bất cứ ai can thiệp, xâm phạm đến quyền tự do tín ngưỡng, quyền lựa
chọn theo hay không theo tôn giáo của nhân dân. Các tôn giáo và hoạt động tôn giáo
bình thường, các cơ sở thờ tự, các phương tiện phục vụ nhằm thoả mãn nhu cầu tín
ngưỡng của người dân được Nhà nước xã hội chủ nghĩa tôn trọng và bảo hộ.
Thứ hai, khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo phải gắn liền với
quả trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.
Nguyên tắc này để khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ hướng vào giải quyết
những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo đối với quần chúng nhân dân mà không chủ
trương can thiệp vào công việc nội bộ của các tôn giáo. Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra
rằng, muốn thay đổi ý thức xã hội, trước hết cần phải thay đổi bản thân tồn tại xã hội;
muốn xóa bỏ ảo tưởng nảy sinh trong tư tưởng con người, phải xóa bỏ nguồn gốc
sinh ra ảo tưởng ấy. Đó là một quá trình lâu dài, và không thể thực hiện được nếu
tách rời việc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.
Thứ ba, phân biệt hai mặt chính trị và tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín
ngưỡng, tôn giáo trong quá trình giải quyết vấn đề tôn giáo
Trong xã hội công xã nguyên thuỷ, tín ngưỡng, tôn giáo chỉ biểu hiện thuần túy về tư
tưởng. Nhưng khi xã hội đã xuất hiện giai cấp thi dấu ấn giai cấp chính trị ít nhiều
đều in rõ trong các tôn giáo. Từ đó, hai mặt chính trị và tư tưởng thường thể hiện và
có mối quan hệ với nhau trong vấn đề tôn giáo và bản thân mỗi tôn giáo.
Mặt chính trị phản ánh mối quan hệ giữa tiến bộ với phản tiến bộ, phản ánh mâu
thuẫn đối kháng về lợi ích kinh tế, chính trị giữa các giai cấp, mâu thuẫn giữa những
thế lực lợi dụng tôn giáo chống lại sự nghiệp cách mạng với lợi ích của nhân dân lao
động. Mặt tư tưởng biểu hiện sự khác nhau về niềm tin, mức độ tin giữa những 13
người có tín ngưỡng tôn giáo và những người không theo tôn giáo, cũng như những
người có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau, phản ánh mâu thuẫn không mang tính đối kháng.
Phân biệt hai mặt chính trị và tư tưởng trong giải quyết vấn đề tôn giáo thực chất là
phân biệt tính chất khác nhau của hai loại mâu thuẫn luôn tồn tại trong bản thân tôn
giáo và trong vấn đề tôn giáo. Việc phân biệt hai mặt này là cần thiết, nhằm tránh
khuynh hướng cực đoan trong quá trình quản lý, ứng xử những vấn đề liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo.
Quan điểm lịch sử cụ thể trong giải quyết vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo. Tôn giáo
không phải là một hiện tượng xã hội bất biến, ngược lại, nó luôn luôn vận động và
biến đổi không ngừng tuỳ thuộc vào những điều kiện kinh tế - xã hội - lịch sử cụ thể.
Cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xét, đánh giá và ứng xử đối với những
vấn đề có liên quan đến tôn giáo và đối với từng tôn giáo cụ thể. 14
CHƯƠNG 2: GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA TÔN
GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
Việt Nam là một quốc gia có nhiều tôn giáo. Nước ta hiện nay có 43 tổ chức thuộc
16 tôn giáo đã được công nhận và cấp đăng ký hoạt động với khoảng 57.000 chức sắc,
157.000 chức việc và hơn 29.000 cơ sở thờ tự. Các tổ chức tôn giáo có nhiều hình thức
tồn tại khác nhau. Có tôn giáo du nhập từ bên ngoài, với những thời điểm, hoàn cảnh
khác nhau, như Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo; có tôn giáo nội sinh như
Cao Đài, Hòa Hảo. Phật giáo là tôn giáo lớn nhất ở Việt Nam, với hàng trăm chùa và
hàng triệu phật tử. Tôn giáo này có vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của
người dân Việt Nam từ hàng thế kỷ trước.
Tôn giáo ở Việt Nam đa dạng, đan xen, chung sống hòa bình và không có xung
đột, chiến tranh tôn giáo. Việt Nam là nơi giao lưu của nhiều nền văn hóa trên thế giới.
Các tôn giáo ở Việt Nam có sự đa dạng về nguồn gốc và truyền thống lịch sử. Mỗi tôn
giáo ở Việt Nam có quá trình lịch sử tồn tại và phát triển khác nhau nên sự gắn bó với
dân tộc cũng khác nhau. Tín đồ của các tôn giáo khác nhau cùng chung sống trên một
địa bàn, giữa họ có sự tôn trọng niềm tin của nhau và chưa từng xảy ra xung đột, chiến
tranh tôn giáo. Thực tế cho thấy không có một tôn giáo nào du nhập vào Việt Nam mà
không mang dấu ấn, không chịu ảnh hưởng bởi bản sắc văn hóa Việt Nam.
Tín đồ các tôn giáo Việt Nam phần lớn là nhân dân lao động, có lòng yêu nước,
tinh thần dân tộc. Tín đồ các tôn giáo Việt Nam có thành phần đa dạng, chủ yếu là
người lao động,... đa số tín đồ các tôn giáo đều có tinh thần yêu nước, chống giặc
ngoại xâm, tôn trọng công lý, gắn bó với dân tộc, đi theo Đảng, theo cách mạng, hăng
hái tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam.
Hàng ngũ chức sắc các tôn giáo có vai trò, vị trí quan trọng trong giáo hội, có uy
tín ảnh hưởng với tín đồ. Chức sắc tôn giáo là tín đồ có chức vụ, phẩm sắc trong tôn
giáo, họ tự nguyện thực hiện nếp sống riêng theo giáo lý, giáo luật của tôn giáo họ tin
theo. Về mặt tôn giáo, chức năng của họ là truyền bá, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ
nghi, quản lý tổ chức của tôn giáo, duy trì, củng cố, phát triển tôn giáo, chuyên chăm
lo đến đời sống tâm linh của tín đồ. Trong giai đoạn hiện nay hàng ngũ chức sắc các
tôn giáo ở Việt Nam luôn chịu sự tác động của tình hình chính trị - xã hội trong và 15
ngoài nước, nhưng nhìn chung xu hướng tiến bộ trong hàng ngũ chức sắc ngày càng phát triển.
Các tôn giáo ở Việt Nam đều có quan hệ với các tổ chức, cá nhân tôn giáo ở nước
ngoài. Nhìn chung, các tôn giáo ở nước ta không chỉ các tôn giáo ngoại nhập, mà cả
các tôn giáo nội sinh đều có quan hệ với các tổ chức, cá nhân tôn giáo ở nước ngoài
hoặc các tổ chức tôn giáo quốc tế.
2.2. Ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo
2.2.1. Tôn giáo làm cho nhận thức của nhân dân đi vào hư ảo, nhận thức sai lầm sẽ
dẫn tới hành động sai lầm.
Trong thế giới quan của tôn giáo, con người là sinh vật nhỏ bé. Chính vì vậy con người
không hề có khả năng trong việc cải biến xã hội. Nếu chỉ con người chỉ nhận thức thế
giới dưới thế giới quan tôn giáo thì chắc chắn cuộc sống của chúng ta sẽ không bao giờ
phát triển tốt đẹp hơn mà chúng ta sẽ mãi mãi chỉ là những sinh vật nhỏ bé và chịu ảnh
hưởng hoàn toàn của các sức mạnh tự nhiên.
Ở phương Tây đã có một thời Thiên chúa giáo chi phối hoàn toàn nhận thức của con
người. Khi đó những ai đi ngược lại những suy nghĩ của đạo Thiên chúa đều phải nhận
lấy những hình phạt nặng nề, như Galile chứng minh được rằng Trái đất quay xung
quanh mặt trời nhưng nhà thờ lại quan niệm rằng trái đất là trung tâm và mặt trời phải
quay quanh trái đất và kết cục là Galile đã phải lĩnh án hoả thiêu.
Cũng chính bởi nhận thức sai lệch mà trong một số giáo phái xuất hiện những tư tưởng
rất cực đoan : như vụ đầu độc bằng khí độc tại ga tàu điện ngầm của giáo phái Aum
mấy năm trước tại Nhật Bản, hoặc những vụ khủng bố của những phần tử Hồi giáo cực
đoan như vụ khủng bố 11/9 tại trung tâm thương mại Thế Giới Mỹ vừa rồi của những
phần tử này mà cầm đầu là Bin Laden.
Hay tại Việt Nam, Phật giáo quan niệm cuộc đời là bể khổ không bờ bến, thoát khổ
bằng tu tâm, dưỡng tính để diệt trừ vô minh đạt giác ngộ. Phật giáo đưa lại quan niệm
sống bi quan, yếu thế, coi cuộc đời chỉ là phù hoa, thoáng qua, là sống gửi, thác về.
Nhìn cuộc đời một cách bi quan thụ động nên không ít người Việt dễ chùn bước khi
gặp khó khăn, sống buông trôi cho qua ngày, đoạn tháng với niềm tin chỉ lo tu tâm
dưỡng tính là đủ. Khi gặp trắc trở một số người thường đổ lỗi cho số phận, nghiệp
chướng, nhân quả, khiến con người hình thành tính cách thụ động, ít chịu vươn lên,
hạn chế năng lực đấu tranh xã hội của những con người hiện thực, thậm chí thờ ơ, do 16
dự đối với cái tiêu cực, cái ác đang gây bất bình trong xã hội, mà chờ đợi, tin vào nhân quả tự đến.
2.2.2. Những sinh hoạt tôn giáo đã và đang bị thương mại hoá và lạm dụng quá mức.
Có thể thấy, nhiều hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ngày nay đã bị thương mại hóa một
cách ngang nhiên và bất kỳ ai cũng thấy rất rõ khi tới các cơ sở thờ tự. Đến đâu người
ta cũng thấy những hòm công đức được đặt khắp các gian thờ, khay đĩa để người dân
thả tiền “giọt dầu” vào cũng được bố trí khắp nơi. Chưa kể, dịp đầu năm, rất nhiều cơ
sở thờ tự, nhất là các đền đều phát huy mạnh việc bốc quẻ thẻ dự đoán vận mệnh năm
mới. Có một số cơ sở thờ tự còn thương mại cả việc phát lộc cho người dân, ai muốn
có được cành “lộc” hay chiếc bật lửa, gói muối “lộc” đều phải trả một khoản tiền nhất
định theo kiểu “tùy tâm”, du khách cứ phải bỏ tiền lên khay đặt trước người phát lộc
mới được phát “lộc”. Hay như vụ việc xảy ra tại chùa Ba Vàng (Uông Bí, Quảng
Ninh) mà báo chí phản ánh nhờ việc tổ chức "giải oan gia trái chủ", “chữa bệnh nhờ
thỉnh vong”, "trả nợ cho vong" chùa đã thu lại hàng trăm tỷ đồng.
2.2.3. Tôn giáo trở thành phương tiện để kẻ thù lợi dụng thúc đẩy nhân dân chống phá Đảng và chính quyền.
Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo. Những năm qua, cùng với đẩy mạnh phát triển kinh
tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, Đảng, Nhà nước ta đã
thực hiện nhiều chủ trương, chính sách về tôn giáo, được đa số chức sắc, tín đồ các tôn
giáo trong nước và các tổ chức quốc tế đồng tình hưởng ứng và thừa nhận. Trong quá
trình lãnh đạo, quản lý đất nước, Đảng, Nhà nước ta vừa tuyên truyền, giáo dục nâng
cao nhận thức cho nhân dân về đường lối, chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo, vừa
quan tâm tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để các tôn giáo hoạt động, phát triển bình
đẳng trong khuôn khổ pháp luật. Thế nhưng, các thế lực thù địch đã không chỉ phủ
nhận kết quả đó, mà còn lợi dụng tôn giáo, coi tôn giáo là vũ khí lợi hại để chống phá
sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, với nhiều chiêu thức thâm độc, tinh vi, xảo
quyệt; khi thì bí mật, lúc thì trắng trợn, công khai. Nhiều tôn giáo được tổ chức nhằm
lôi kéo, tập hợp quần chúng nhân dân chống phá cách mạng, gây rối trật tự, an ninh xã
hội, như: “Tà đạo Vàng Chứ”, “Hội thánh đức chúa trời mẹ”, “Pháp luân công”. Nguy
hiểm hơn, chúng còn lôi kéo, lập ra một số loại hình tôn giáo riêng cho người dân tộc
thiểu số, như: “Tin lành Đề ga” ở Tây Nguyên; “Phật giáo riêng của người Khơ
Me”,… nhằm “tôn giáo hóa” vùng dân tộc thiểu số, tập hợp lực lượng, khống chế quần 17
chúng, kích động biểu tình, phá rối an ninh, bạo loạn, gây mất ổn định chính trị - xã
hội, hình thành lực lượng đối trọng với chính quyền và cao hơn là gây mâu thuẫn,
xung đột dân tộc, tôn giáo tại các địa bàn chiến lược Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam
Bộ, tiến tới phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Điển hình là vị linh mục Nguyễn Ngọc Nam Phong. Năm 2016, thay vì rao giảng đạo
đức, răn dạy những điều hay lẽ phải, khuyên bảo giáo dân “sống phúc âm trong lòng
dân tộc” thì vị linh mục này lại lợi dụng các bài giảng thánh lễ để rao giảng những lời
lẽ xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc Chủ tịch Hồ Chí Minh, kích động giáo dân chống đối
Đảng, Nhà nước, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước
về tôn giáo. Chính vị này đã nhiều lần kích động đòi chính quyền địa phương trả các
khu đất cho cơ sở tôn giáo mà không có căn cứ pháp lý.
2.2.4. Tôn giáo không biến đổi kịp với sự tiến hóa về mặt khoa học, xã hội lẫn cả về
mặt tâm linh của con người do đó trở thành chướng ngại vật trên đường tiến hóa của nhân loại.
Một số quan niệm hoặc lễ nghi cổ truyền trong tôn giáo ở Việt Nam có thể không phù
hợp hoặc không còn phù hợp với nhận thức khoa học hiện đại. Ví dụ, việc coi các hiện
tượng tự nhiên như bão táp hay thiên tai là do ông Trời hay oan gia có thể gây ra sự
hiểu lầm và ngăn chặn sự phát triển của khoa học và công nghệ trong việc giải thích và
ứng phó với những hiện tượng này.
Phật giáo: Trong Phật giáo, các hiện tượng tự nhiên được coi là kết quả của luật nhân
quả, tức là hậu quả của hành động trong kiếp trước. Bão táp hay thiên tai có thể được
xem là một phần của sự biến đổi tự nhiên và không liên quan trực tiếp đến ôn thiên hay oan gia.
Hồi giáo: Trong Hồi giáo, các hiện tượng tự nhiên được coi là ý muốn và là sự điều
khiển của Allah (Thượng Đế). Bão táp hay thiên tai có thể được xem là một phần của kế hoạch Thiêng Liêng.
Ấn Độ giáo: Trong Hindu giáo, các hiện tượng tự nhiên được coi là sự biểu hiện của
các vị thần và linh hồn trong vũ trụ. Mỗi loại bão táp hoặc thiên tai có thể được liên
kết với một vị thần cụ thể hoặc một khía cạnh của thiên nhiên. Nó có thể được xem là
một phần của quá trình tái sinh và luân hồi. 18
2.2.5. Tôn giáo được xây dựng dựa trên niềm tin và sự sợ hãi của con người.
Từ đó tôn giáo trở thành một công cụ hữu hiệu của thiểu số cầm quyền dùng để cai trị
và kiểm soát quần chúng ở mọi tầng lớp, từ thời xưa cổ cho đến ngay cả chính ngày
hôm nay. Các tôn giáo này được sử dụng để tạo ra một hệ thống giáo dục và pháp luật
mà các quy tắc và quy định của chúng được sử dụng để kiểm soát hành vi của người
dân. Ngoài ra trong thời hiện đại, các tôn giáo vẫn được sử dụng để kiểm soát và cai trị quần chúng.
Ở Việt Nam, một ví dụ về tôn giáo được xây dựng dựa trên niềm tin và sự sợ hãi của
con người là đạo Cao Đài. Đạo Cao Đài được thành lập vào năm 1926 và kết hợp các
yếu tố từ các tôn giáo khác nhau như đạo Phật, Thiên Chúa giáo. Đạo Cao Đài tin rằng
có một thực thể tối cao gọi là "Cao Đài" đã chọn ra một vị thần trung gian để truyền bá
thông điệp của Người. Tôn giáo này coi việc tuân theo lời chỉ dẫn của vị thần trung
gian là cách để đạt được cứu rỗi và tiến bước vào thiên đàng. Trong tín ngưỡng Cao
Đài, niềm tin vào quyền năng của vị thần trung gian và sự sợ hãi trước hậu quả của vi
phạm các quy tắc tuân theo được coi là rất quan trọng. Người theo đạo Cao Đài tin
rằng việc không tuân theo lời chỉ dẫn có thể mang lại tai ương hoặc hiểm họa cho cá nhân và gia đình.
2.2.6. Bản chất mơ hồ, phức tạp và chuyển đổi không ngừng của tôn giáo làm cho đại
đa số tín đồ không thể nhận ra được những bản chất tiêu cực cơ bản và quan trọng của nó.
Các tổ chức tôn giáo nếu có nhận ra được các bản chất tiêu cực này đi nữa thì cũng vì
quyền lợi riêng mà ém dấu hay không truyền bá chúng đến cho tín đồ. Cái mà đại đa
số chúng ta không nhìn thấy là chúng ta đã mê hoặc chính chúng ta và biến mình thành
nô lệ của các tổ chức tôn giáo. Con người thường cảm thấy bất lực và vô vọng trước
những sự đau khổ và hủy diệt trong cuộc sống hàng ngày. Từ đó, lời hứa hẹn được
thương yêu chăm sóc bảo vệ trong kiếp này và một sự sống vĩnh hằng ở kiếp sau mang
lại một ảo giác an lành khó gì sánh bằng, mặc dù ảo giác an lành này chỉ tạm bợ, mơ
hồ và giả tạo (cũng giống như thuốc phiện). Để hưởng thụ cái ảo giác an lành này một
cách trọn vẹn hơn, cũng giống như một gã nghiện, con người sẵn sàng nhắm mắt cố ý
không nhận thấy những khuyết điểm lộ liễu và sự tai hại của tôn giáo. Để đón nhận cái
ảo giác an lành này, con người sẵn sàng từ đánh đổi một tài sản quý giá đó là tri thức
cùng khả năng phán xét bằng khối óc biết lý luận của mình để nhận lấy những giáo 19
điều vô căn cứ và phản khoa học gọi là “đức tin”. Những người điều hành các tổ chức
này sử dụng tôn giáo như một công cụ kiểm soát và điều khiển từng cá nhân nói riêng
và xã hội nói chung để củng cố địa vị, quyền lực và tài sản của riêng họ.
Điển hình là tại Việt Nam, “Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ” du nhập vào khoảng năm
2001, thông qua nhập cảnh của người Hàn Quốc tới Việt Nam và một số người lao
động Việt Nam tại Hàn Quốc về nước. Đến khoảng năm 2005 - 2006, hình thành điểm,
nhóm đầu tiên tại TP. Hồ Chí Minh. Họ hoạt động chủ trương phát triển một cách cực
đoan, bất chấp quy định của pháp luật Việt Nam. Trong đó, bộc lộ những tác hại tiêu
cực, trái với truyền thống, đạo đức của người Việt, như: cưỡng ép, xúi giục người theo
từ bỏ phong tục thờ cúng ông bà, tổ tiên, bất hiếu với cha mẹ, dùng mê tín, thần quyền
o ép tín đồ. Những hành vi này gây ra những bất ổn về an ninh, trật tự.Về thần quyền,
họ dọa dẫm tín đồ nếu không theo, không đi sinh hoạt, không từ bỏ gia đình, bàn thờ…
sẽ không được làm “lễ vượt qua”, khi chết sẽ bị đày xuống “hồ lửa”. Ngược lại nếu tin,
làm theo, khi chết sẽ được lên “nước thiên đàng, làm tiên, hoàng tử”. Hoặc họ tuyên
truyền về “ngày tận thế”, “chúa tái lâm” để hù dọa. Họ còn cử người “chăm sóc” để
củng cố đức tin. Có trường hợp họ cưỡng ép, “áp giải” đi sinh hoạt. Nhiều người lỡ
theo muốn thoát ra cũng rất khó.
Bên cạnh đó, các tín đồ bị ép buộc dâng hiến 1/10 thu nhập, nhưng đây lại là điểm họ
không công khai, minh bạch về tài chính. Đây là hành vi “Lợi dụng hành nghề mê tín
để trục lợi”, bị pháp luật ngăn cấm. Không những thế, luật bất thành văn, ngoài đóng
góp 10% tổng quỹ lương, mỗi ngày lễ, người tham gia lại rỉ tai nhau dâng hiến ít nhất
50.000 đồng/lần, thông thường một tuần 2 lần, vào ngày học giáo lý để “thông công”
với Đức Chúa Trời. Thậm chí có người chi tiêu tằn tiện, có tiền dư ra là mang đóng
cho điểm nhóm dưới danh nghĩa làm từ thiện. Thời gian đầu, người mới tham gia
không phải đóng tiền, có người hoàn cảnh khó khăn còn được hỗ trợ, nhưng sau khi tin
theo, họ phải đóng tiền đều đặn. Song, số tiền này được sử dụng vào mục đích gì, như
thế nào không ai được biết. Một số được dùng cho duy trì hoạt động của hội thánh, còn
lại là để “xây nhà trên trời”.
Các đối tượng cầm đầu quản lý thành viên của mình bằng một mã định danh trong mỗi
phong bì, do vậy, nắm rõ được các khoản dâng hiến của thành viên. Khi nhận thấy việc
đóng góp không đảm bảo, có sa sút, trưởng nhóm sẽ gọi để chăm sóc riêng với những
phương thức đặc biệt, một kèm một. 20