z
TRƯỜNG ĐẠ C THƯƠNG MẠI H I
KHOA KINH T VÀ KINH DOANH QU C T
----------
BÀI TH O LU N
HC PH N CH I KHOA H NGHĨA XÃ HỘ C
Đề tài:
Mt s n và v xây d ng, hoàn thi c pháp đặc trưng cơ bả ấn đề ện Nhà nướ
quyn xã hi ch Vinghĩa ở t Nam hi n nay: Th c tr ng và gi i pháp
Hà N i, 2025
Giảng viên hướng dn : Đặ ếng Minh Ti n
Nhóm th c hi n : Nhóm 4
Lp h c ph n : 242_HCMI0121_24
MC L C
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. ii
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA .......................................................................................................................... 1
1.1. Cơ sở ển tư tưởng Nhà nướ hình thành và phát tri c pháp quyn ..................... 1
1.1.1. Cơ sở hình thành tư tưởng nhà nướ c pháp quyn trong lch s .......................... 1
1.1.2. Cơ sở hình thành tư ởng nhà nướ ền theo hướ c pháp quy ng xã hi ch nghĩa 2
1.2. Khái ni m v c pháp quy n xã h i ch nhà nướ nghĩa ...................................... 3
1.3. Nh n v c pháp quy n xã h i ch Viững đặc trưng cơ bả nhà nướ nghĩa ở t
Nam ............................................................................................................................... 4
1.4. Vai trò c c pháp quy n xã h i ch i k i m i..... ủa nhà nướ nghĩa trong thờ đổ 6
1.4.1. Ch c pháp quy n xã h i ch i k i m i ... ức năng của nhà nướ nghĩa trong thờ đổ 6
1.4.2. Vai trò của nhà nư nghĩa trong thờc pháp quyn xã hi ch i k đổi mi ....... 12
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC
PHÁP QUYỀN XHCN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ................................................ 15
2.1. Nh ng k t qu c ..................................................................................... ế đạt đượ 15
2.2. H n ch và b t c p .............................................................................................. ế 18
2.3. Nguyên nhân c a nh ng h n ch ...................................................................... ế 21
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ
NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ................................... 24
3.1. Gi i pháp v th ch và pháp lu t ..................................................................... ế 24
3.2. Gi i pháp v t ch c b máy và cán b ............................................................ 25
3.3. Phát huy vai trò c a nhân dân và các t ch c xã h i ...................................... 26
3.4. Tăng cườ lãnh đạ ủa Đảng s o c ng .................................................................... 26
3.5. Nâng cao nh n th c v pháp lu t c i dân ............................................. ủa ngườ 27
KẾT LUẬN ................................................................................................................. 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 32
i
LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá i m i toàn di c, vi c xây d ng hoàn thi n Nhà trình đổ ện đất nướ
nướ c pháp quy n h i ch nghĩa (XHCN) Việt Nam được Đảng Nhà nước xác
đị nh m t nhi m v tr c nh m b o quy n l c nhà ọng tâm, ý nghĩa chiến lượ ằm đả
nước thu c v nhân dân, b o v quy nl i ích h p pháp c ủa công dân, đồng th i thúc
đẩy phát tri n kinh t - xã h i b n v ng. Trong b i c nh h i nh p qu c t ế ế sâu r ng, yêu
cu v m c pháp quyột Nhà nướ n dân ch, công khai, minh b ch, ho ng hi u qu ạt độ
ch u s giám sát c a nhân dân tr nên c p thi h t. Xu t phát t t ết n bao giờ ế m
quan trọng đó, nhóm em lự ọn đề tài: “Mộa ch t s đặc trưng cơ bản và vấn đề xây d ng,
hoàn thiện Nhà nước pháp quyn xã h i ch nghĩa ở Vi t Nam hi n nay: Th c tr ng và
giải pháp” với mong mu n tìm hi ểu hơn những n i dung lu n và th c ti n c a vi c
xây d c pháp quy n XHCN c ta, nh n di n nh ng thành t u, h n ch ựng Nhà nướ nướ ế
còn t n t i, t xu t m t s gi đó đề i pháp góp ph n hoàn thi n mô hình này. M c tiêu
nghiên c u c ủa đề tài phân tích các đặc trưng bản của Nhà nước pháp quy n XHCN
Việt Nam; đánh giá thực trng quá trình xây d ng, hoàn thi n mô hình này trong th i
gian qua; đ ời đềng th xut mt s gii pháp nhm khc phc nhng tn ti, hn chế
trong quá trình th c hi m vi nghiên c u t p trung vào nh ng v lu n.Ph ấn đề ận
bn và th c ti n t i Vi n hi n nay, ch y u t th i k i m n ệt Nam trong giai đoạ ế đổ ới đế
nay.
ii
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy Đặng Minh Tiến -
giảng viên môn Chủ nghĩa hội học, người đã tận tình hướng dẫn và truyền đạt những
kiến thức quý báu trong suốt quá trình học. Nhờ những bài giảng sâu sắc thực tiễn
của thầy mà chúng em đã có cơ hội áp dụng các kiến thức từ giáo trình môn Chủ nghĩa
xã hội khoa học và các kiến thức thực tiễn từ thầy vào bài thảo luận này về chủ đề thực
trạng và giải pháp của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam . Sự hỗ trợ và
định hướng từ thầy không chỉ giúp chúng em hoàn thiện bài viết mà còn khơi dậy trong
em niềm đam mê khám phá lĩnh vực chủ nghĩa xã hội học. Cuối cùng, nhóm chúng em
chúc thầy luôn mạnh khỏe, thành công trong sự nghiệp giảng dạy của mình.
1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA
1.1. Cơ sở ển tư tưởng Nhà nướ hình thành và phát tri c pháp quyn
1.1.1. Cơ sở hình thành tư tưởng nhà nướ c pháp quyn trong lch s
Trong lịch sử tư tưởng chính trị pháp lý của nhân loại, tư tưởng nhà nước pháp
quyền đã hình thành tthời cổ đại. Ngay từ thời cổ đại, khi con người bị đặt dưới sự
cai trị tùy tiện, độc đoán của nhà cầm quyền thì cũng lúc trong hội xuất hiện ý
tưởng về một nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật, cai trị, quản lý
xã hội bằng pháp luật, cả vua, quan cũng như n chúng đều phải tôn trọng pháp luật,
phục tùng pháp luật... Sau hàng nghìn năm dưới những “đêm trường trung cổ”, bước
sang thời kỳ phục hưng, tưởng nhà nước pháp quyền tiếp tục được phát triển, hoàn
thiện. Thời kỳ này, tư tưởng đề cao vai trò của pháp luật trong đời sống nhà nước
hội luôn gắn liền với tư tưởng dân chủ, khẳng định chủ quyền nhân dân, chống lại sự
chuyên quyền, độc đoán của nhà cầm quyền, bảo đảm bảo vệ quyền con người...
tưởng nhà nước pháp quyền thời này một mặt khẳng định vai trò của pháp luật, nhưng
mặt khác nhấn mạnh tính chất của pháp luật, đòi hỏi pháp luật phải dân chủ, tiến bộ,
phản ánh ý chí nguyện vọng của nhân dân, pháp luật phải phù họp với quyền tự nhiên
của con người.
Từ cuối thế kỷ XIX trở lại đây, tư tưởng nhà nước pháp quyền từng bước được
hiện thực hoá, nhà nước pháp quyền trở thành một mẫu hình nhà nước tưởng, một xu
thế tất yếu cần hướng tới của tất cả các nhà nước dân chủ trên thế giới, một hình
cho việc thiết kế xây dựng nhà nước của các quốc gia đương đại. Có thể nói, cho đến
nay, “sự phát triển của văn minh nhân loại phần lớn được quy định bởi sự phát triển của
xã hội công dân và nhà nước pháp quyền".
Chính vì vậy, trong thời kỳ hiện đại, vấn đề nhà nước pháp quyền được nghiên
cứu rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới nhằm xây dựng cơ sở lí luận vững chắc cho việc
xây dựng hoàn thiện nhà nước theo xu hướng trở thành nhà nước pháp quyền, vấn
đề đặt ra, nhà nước pháp quyền là gì, nó có những đặc trưng nào, nguyên tắc tổ chức
hoạt động của ra sao... Đây những câu hỏi thể được trả lời theo nhiều cách khác
nhau, bởi vì nhà nước pháp quyền vốnhiện ợng phức tạp, đa diện, có thể được xem
xét dưới nhiều góc độ khác nhau.
Nhiều nhà khoa học cho rằng, trong ngôn ngữ hiện đại hai thuật ngđược
sử dụng với nghĩa tương tự nhau “Nhà nước pháp quyền" (Rechsstaat, L’état de droit)
“Chế độ pháp quyền" (The Rule of law), tuỳ theo ngôn ngữ của mỗi nước. Tuy nhiên,
trên thực tế, hai thuật ngữ này vừa điểm thống nhất vừa có điểm khác biệt nhau. Sự
2
thống nhất giữa chúng thể hiện chỗ cả “nhà nước pháp quyền” “chế độ pháp quyền”
đều bắt nguồn từ những nguyên tắc cơ bản là: tính phổ biến của các chuẩn mực pháp
lý, pháp luật phải công khai, các chuẩn mực phápphải rõ ràng và không hồi tố. Điểm
khác nhau giữa chúng chỗ “chế độ pháp quyền” có xu hướng nhấn mạnh nhiều hơn
đến sự tham gia của người dân vào một quá trình chính trị có trật tự không đề cập
ràng đến nhà nước, còn thuật ngữ “nhà nước pháp quyền” thì nhấn mạnh đến nhà
nước, chỉ các đặc trưng cụ thể của một nhà nước nào đó.
1.1.2. Cơ sở hình thành tư tưởng nhà nướ ền theo hướ c pháp quy ng xã hi ch
nghĩa
Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa (NNPQXHCN) một hình nhà
nước tiến bộ, lấy pháp luật làm nền tảng tối thượng, đồng thời gắn kết chặt chẽ với mục
tiêu công bằng, dân chủ, văn minh. Việt Nam, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền
định hướng hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản một tất yếu lịch
sử, phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Việc xây dựng Nhà
nước pháp quyền theo hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một quá trình tất yếu, xuất
phát từ yêu cầu khách quan của phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, đồng thời dựa trên
nền tảng tư tưởng – lý luận khoa học và cách mạng.
Cơ sở kinh tế
Cơ sở kinh tế hình thành nhà nước pháp quyền XHCN là nền kinh tế thị trường
định hướng hội chủ nghĩa, với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế cùng
phát triển, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Sự phát triển kinh tế đòi hỏi
cần có một khuôn khổ pháp lý minh bạch, công bằng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của các chủ thể kinh tế, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh hội nhập quốc tế. Nnước
pháp quyền chính là công cụ đảm bảo sự vận nh ổn định, hiệu quả của nền kinh tế,
đồng thời phân phối lại thành quả phát triển nhằm thực hiện tiến bộ công bằng
hội.
Cơ sở chính trị
Cơ sở chính trị cho sự hình thành NNPQXHCN là sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt
đối của Đảng Cộng sản Việt Nam, lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo Nhà nước
hội, như được Hiến pháp năm 2013 khẳng định. Nhà nước pháp quyền hội chủ
nghĩa Việt Nam lấy nhân dân làm trung tâm, thực hiện nguyên tắc quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân, thông qua chế bầu cử, tham vấn, giám sát phản biện hội.
Hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước vận hành theo nguyên tắc phân công, phối hợp và
kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Cơ sở tư tưởng – lý luận
3
Nền tảng lý luận cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền theo định hướng
hội chủ nghĩa chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ CMinh về nhà nước pháp
luật. Theo đó, nhà nước không chỉ là công cụ thống trị giai cấp, mà còn là tổ chức thực
hiện quyền lực nhân dân, nhằm mục tiêu giải phóng con người, phát triển toàn diện con
người, xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng tiếp thu có chọn
lọc những gtrị phổ quát của nhà nước pháp quyền hiện đại trên thế giới như thượng
tôn pháp luật, bảo vệ quyền con người, phân quyền và kiểm soát quyền lực.
1.2. Khái ni m v c pháp quy n xã h i ch nhà nướ nghĩa
Quan điểm của Đảng ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là
quá trình đúc kết, kế thừa, vận dụng tư tưởng về Nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư
tưởng nhân loại, quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng HChí Minh về Nhà -
nước, pháp luật kiểu mới và thực tiễn xây dựng Nhà nước kiểu mới ở nước ta, nhất
trong những năm đổi mới vừa qua.
tưởng về Nhà nước pháp quyền xuất hiện rất sớm trong lịch sử tư ởng nhân
loại, ngay từ khi xuất hiện Nhà nước cổ đại được tiếp tục phát triển, nhất trong
thời kỳ cách mạng tư sản, phản ánh khát vọng của nhân dân về một Nhà nước bảo đảm
tự do, dân chủ, nhân quyền, đối lập với sự độc đoán, độc i của Nhà nước chủ
chế độ chuyên chế hà khắc của Nhà nước phong kiến.
Nhà nước pháp quyền theo quan điểm của các nhà tưởng trong lịch sử nhân
loại là Nhà nước bảo đảm tính tối thượng của pháp luật trong đời sống xã hội, trong đó
pháp luật phải phản ánh ý chí chung, lợi ích chung của nhân dân; thực hiện bảo vệ
quyền tự do, dân chủ của nhân dân; chịu trách nhiệm trước công dân về những hoạt
động của mình yêu cầu công dân thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội;
có hình thức tổ chức quyền lực Nhà nước thích hợp bảo đảm chủ quyền thuộc về nhân
dân, tổ chức thực hiện có hiệu quả quyền lập pháp, hành pháp, pháp; ngăn chặn được
sự tùy tiện, lạm quyền từ phía Nhà nước, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp
luật, kể cả vi phạm pháp luật của các cơ quan và công chức nhà nước.
Như vậy, nhà nước pháp quyền không phải một kiểu nhà nước gắn với một
giai cấp là hình thức tổ chức quyền lực nhà nước, bảo đảm tổ chức hoạt động của
nhà nước tuân theo quy định của pháp luật, thực hiện được quản hội theo pháp
luật, bảo đảm chủ quyền và quyền tự do, dân chủ của nhân dân.
Quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tưởng Hồ Chí Minh về Nhà -
nước, pháp luật kiểu mới vận dụng phù hợp với thực tiễn xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta, trên quan điểm này có thể khái quát nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa là nhà nước xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân, dân;
4
tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp,
quản hội theo pháp luật nhằm phục vụ lợi ích hạnh phúc của nhân dân, do
Đảng tiền phong của giai cấp công nhân lãnh đạo đồng thời chịu trách nhiệm trước
nhân dân và sự giám sát của nhân dân.
1.3. Nh n v c pháp quy n xã h i ch Viững đặc trưng cơ bả nhà nướ nghĩa ở t
Nam
Thứ nhất, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Đặc trưng này sở pháp được hiến định tại Điều 2[5] Hiến pháp năm
2013, thể hiện được bản chất dân chủ của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, giúp
phân biệt Nnước pháp quyền hội chủ nghĩa Việt Nam ta với các Nhà nước khác
trên thế giới. Đúng như tinh thần của các bản Hiến pháp trước đó, Hiến pháp năm 2013
đã kế thừa thể hiện sâu sắc, nhất quán vấn đề chủ quyền nhân dân trong nội dung của
Hiến pháp; khẳng định quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ thể
tối cao của quyền lực nhà nước. Nhân dân được phép thực hiện quyền làm chủ của nh
dưới hai hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng
nhân dân các quan thẩm quyền khác của Nhà nước. Nhà nước theo đó phải bảo
đảm được trách nhiệm tôn trọng và thúc đẩy quyền làm chủ của nhân dân, đặt nhân dân
ở vị trí trung tâm, mọi chính sách đặt ra cũng đều nhằm mục tiêu xây dựng thực thi
một nền dân chủ thực sự, đồng nghĩa với việc thực hiện tốt cả dân chủ trực tiếp và dân
chủ đại diện, bám sát phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám
sát, dân thụ hưởng”.
Thứ hai, Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý
xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật.
Đặc trưng này có cơ sở pháp lý được hiến định tại Điều 8 Hiến pháp năm 2013,
là đặc trưng mang tính phổ biến, xuyên suốt bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp trong tổ
chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cụ thể:
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo
Hiến pháp pháp luật. Điều này đồng nghĩa với việc mọi quan nhà nước, mọi tổ
chức, nhân dưới chế độ của Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa đều phải thực
hiện nghĩa vụ tuân thủ, thi hành, sử dụng pháp luật, chỉ được phép hoạt động trong
khuôn khổ quy định của pháp luật.
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quản lý trật tự xã hội bằng Hiến
pháp và pháp luật. Điều đó nghĩa là, Hiến pháp quy định nhiệm vụ, quyền hạn của
các cơ quan nhà nước, xác định địa vị pháp của các tổ chức xã hội, quy chế pháp
của các nhân... Đồng thời, Hiến pháp quy định sự kiểm soát của nhân dân đối với
5
hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và các cá nhân, từ đó giúp duy
trì, quản lý trật tự xã hội.
Từ đó, có thể thấy, Hiến pháp trong Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa Việt
Nam được đặt ở vị trí tối thượng. Hiến pháp Việt Nam được coi là “đạo luật cơ bản của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất”[9]. “Mọi văn
bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp. Mọi hành vi vi phạm Hiến pháp đều bị
xử lý”[10]. Nhà nước trách nhiệm bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp. Tổ chức,
nhân phải tôn trọng, thực hiện nghiêm chỉnh Hiến pháp, pháp luật, mọi vi phạm pháp
luật phải được xử lý nghiêm minh, kịp thời.
Thứ ba, Quyền lực nhà nước là thống nhất, sự phân công rành mạch, phối hợp
chặt chẽ kiểm soát hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền
lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Đặc trưng này được hiến định tại khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013, thể hiện
tính đặc thù về nguyên tắc phân chia quyền lực trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam. Quyền lực nhà nước trong chế độ dân chủ pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là thống nhất ở nơi dân, toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
được nhân dân ủy quyền cho các cơ quan nhà nước thực hiện. Vì vậy, quyền lực nhà
nước phải được phân công, phối hợp kiểm soát chặt chẽ nhằm ngăn ngừa sự tập trung
chuyên chế, phát huy dân chủ và bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân.
Khác với hình tập quyền XHCN trước đây, quyền lực nhà nước không tập
trung ở một cơ quan mà được quy định trong Hiến pháp - biểu hiện của chủ quyền nhân
dân. Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân... chỉ là các cơ quan thực thi quyền lực chứ
không nắm giữ toàn bộ quyền lực. Quốc hội quan quyền lực nhà nước cao nhất,
thực hiện quyền lập hiến, lập pháp, đồng thời phân công, điều phối và kiểm soát quyền
lực giữa các cơ quan nhà nước.
Nghị quyết số 27 NQ/TW của Đảng nhấn mạnh thêm yêu cầu "phân công rành -
mạch", "phối hợp chặt chẽ" và "kiểm soát hiệu quả" trong việc thực hiện quyền lực nhà
nước. Đây vừa nguyên tắc chính trị quan trọng, vừa yêu cầu cấp thiết trong xây
dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới. Đồng
thời, Nghị quyết cũng đặt ra yêu cầu cần phát huy mạnh mẽ vai trò của nhân dân trong
việc giám sát, kiểm soát quyền lực nhà nước, coi đây nhiệm vụ trọng tâm trong thời
gian tới.
Thứ tư, Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa Việt Nam do Ðảng Cộng sản Việt
Nam lãnh đạo. Hoạt động của nhà nước được giám sát bởi nhân dân:”dân biết, dân
bàn, dân làm, dân kiểm tra.”
6
Đặc trưng này sở pháp được hiến định tại Điều 4[4] Hiến pháp năm
2013, thể hiện tính đặc thù của Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa Việt Nam, phù
hợp với hệ thống chính trị của Việt Nam khi Nhà nước được tổ chức và hoạt động dưới
sự lãnh đạo của một Đảng duy nhất cầm quyền - Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ đó càng
đề cao vtrí bất biến và vai trò quan trọng của Đảng, là kim chỉ nam đối với mọi hoạt
động trong công cuộc đi lên xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.
Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng chỉ thị, nghị quyết, đề ra chủ trương, đường lối
định hướng xây dựng tổ chức bộ máy, luật pháp, chính sách của Nhà nước; giới thiệu
đảng viên của nh để nhân dân bầu vào các vị trí lãnh đạo các quan nhà nước nhằm
thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành luật pháp, chính sách và tổ chức thực
hiện để chủ trương, đường lối của Đảng đi vào cuộc sống, đem lại những kết quả
bằng việc kiểm tra tổ chức đảng, đảng viên trong các quan nhà nước về việc thực
hiện chỉ thị, nghị quyết, chủ trương, đường lối của Đảng. Đồng thời, Đảng lãnh đạo các
tổ chức chính trị, hội tuyên truyền, vận động nhân dân ủng hộ, bảo vệ Nhà nước, tích
cực tham gia thực hiện luật pháp và giám sát các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức
trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, thực hiện luật pháp, chính sách.
Thứ năm, nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam tôn trọng quyền con người, coi
con người là trung tâm của sự phát triển.
Đặc trưng này sở pháp được hiến định tại Điều 14 Hiến pháp m
2013[7]. Công nhận, tôn trọng, bảo đảm bảo vệ quyền con người, quyền công dân
vừa là bản chất, vừa là mục tiêu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Các quyền bản, thiêng liêng của mỗi con người, mỗi công dân như quyền sống,
quyền bình đẳng, quyền mưu cầu hạnh phúc,… đều được Nhà nước công nhận, ghi nhận
trong Hiến pháp và được bảo đảm thực hiện thông qua các văn bản quy phạm pháp luật
liên quan. Nhà nước có trách nhiệm tạo mọi điều kiện cho công dân thực hiện và thụ
hưởng đầy đủ các quyền của mình theo đúng các quy định của pháp luật, bất cứ chủ thể
nào có hành vi xâm phạm đến quyền con người, quyền công dân đều sẽ bị xtheo
quy định của pháp luật. Suy cho cùng, tất cả đều nhằm bảo đảm mục tiêu lấy con
người làm trung tâm của nguồn lực phát triển hội, một mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, “lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”[8].
1.4. Vai trò c c pháp quy n xã h i ch i k i m i ủa nhà nướ nghĩa trong thờ đổ
1.4.1. Ch c pháp quy n xã h i ch ức năng của nhà nướ nghĩa trong thời k đổi mi
Tùy theo góc độ tiếp cận, chức năng của nhà nước hội chủ nghĩa được chia
thành các chức năng khác nhau.
7
Căn cứ vào phạm vi tác động của quyền lực nhà nước, chức năng của nhà
nước được chia thành chức năng đối nội và chức năng đối ngoại.
Chức năng đối nội:
Trong giai đoạn hiện nay, các chủ trương chính sách đối nội tại nước ta đều sẽ
được quốc hội (đại diện cho nhân dân), nhà nước ban hành thông qua sự tham khảo ý
kiến của toàn thể nhân dân; các chính sách đối nội này sẽ nhanh chóng được luật hóa
thành những văn bản cụ thể; các văn bản này sẽ được ban hành rộng rãi đến nhân dân
về các quy định, pháp lý, trong trường hợp nào thì các chủ thể là những người dân sẽ bị
cưỡng chế; tất cảc trường hợp không tuân thủ hay bất cứ ai nếu có hành vi chống đối
sẽ bị xử lý theo quy định của luật.
Các chính sách đối nội ở Việt Nam:
Chức năng bảo vệ chế độ hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an
toàn hội: Chức năng bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự
an toàn hội là một trong số những chức năng căn bản nhất của nhà nước ta. Muốn
tiến hành sự nghiệp đổi mới một cách thuận lợi nhanh chóng, thì Nhà nước ta cũng
sẽ cần phải bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên toàn bộ đất nước.
Chức năng bảo vệ quyền tự do, dân chủ của Nhân dân: Chức năng bảo vệ quyền
tự do, dân chủ của Nhân dân là một trong số các những chức năng của Nhà nước xã hội
chủ nghĩa Việt Nam và chức năng này có ý nghĩa và vai trò rất quan trọng; bởi vì, việc
thực hiện chức năng bảo vệ quyền tự do, dân chủ của Nhân dân này sẽ thể hiện trực tiếp
bản chất của nhà nước kiểu mới, đó nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, Nhân
dân. Bên cạnh đó thì việc thực hiện chức năng bảo vệ quyền tự do, dân chủ của Nhân
dân này cũng sẽ đảm bảo sức mạnh của Nhà nước trong việc thực hiện tất cả các chức
năng khác của Nhà nước, chức năng này có quan hệ đến sự tồn tại, phát triển của chính
bản thân Nhà nước và chế độ.
Chức năng bảo vệ trật tự pháp luật, tăng cường pháp chế hội chủ nghĩa: Chức
năng bảo vệ trật tự pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa chức năng, nhiệm
vụ của nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng là một chức năng rất quan trọng, chức năng
này có liên quan trực tiếp đến việc thực hiện tất cả các chức năng khác của N nước.
Pháp luật chính là phương tiện có vai tto lớn để Nhà nước có thể tổ chức thực hiện
hiệu quả tất cả các chức năng của mình, cũng chính bởi thế, việc bảo vệ trật tự
pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa cũng chính là một hoạt động cần làm
thường xuyên, việc bảo vệ trật tự pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa có ý
nghĩa quyết định đối với việc nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước.
8
Chức năng tổ chức và quản lý kinh tế: Tổ chức quản lý nền kinh tế đất nước
chính chức năng hàng đầu và là bản nhất của Nhà nước Cộng hòa hội chủ nghĩa
nhằm mục đích để có thể từ đó xây dựng mọi xã hội dựa trên cơ sở vật chất và kỹ thuật
phát triển cao.
Chức năng đối ngoại:
Các hoạt động đối ngoại thể do quan Đảng, Nhà nước, thể do tổ chức
xã hội tiến hành hoặc cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội phối hợp cùng thực hiện.
Các hoạt động đối ngoại được tiến hành theo những nguyên tắc nhất định nhằm
đảm bảo tính nhất quán, tính khoa học, đảm bảo lợi ích nhà nước, quyền lợi ích chính
đáng khác, tức là Quản lý tất cả các hoạt động và quan do các quan, tổ chức của
Việt Nam thực hiện với các nước, các tổ chức nước ngoài cũng như các tổ chức quốc tế
và khu vực.
Các chính sách đối ngoại ở Việt Nam:
Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hội chủ nghĩa: Nhà nước ta thực hiện chức năng
đối ngoại nhằm tranh thủ sự đồng tình ủng hộ giúp đỡ của nhân dân thế giới, mở
rộng hợp tác quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,
đồng thời làm tròn nghĩa vụ quốc tế đối với phong trào cách mạng thế giới. Đảng ta
nhấn mạnh: “Mục tiêu của chính sách đối ngoại tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho
công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đi lên chủ nghĩa hội, góp phần vào snghiệp
đấu tranh chung của nhân loại thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ
xã hội”.
Thiết lập, củng cố mối quan hệ quốc tế: Trong xu thế toàn cầu hóa hội nhập
kinh tế quốc tế, chúng ta phải làm tốt chức năng thiết lập, củng cố, phát triển các mối
quan hệ và sự hợp tác với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị
và xã hội khác nhau, trên cơ sở cùng tồn tại hòa bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền
toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng
các bên cùng có lợi. Thiết lập mối quan hệ quốc tế rộng mở có ý nghĩa cùng quan
trọng đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa hội ở nước ta hiện nay. Làm tốt chức
năng này, chúng ta sẽ tạo ra môi trường hòa bình, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy
mạnh phát triển kinh tế hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng-
bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm độc lập chủ quyền quốc gia. Thiết lập quan hệ quốc tế phải
thực hiện trên tất cả các mặt về kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, khoa học, công
nghệ, xã hội… Để thực hiện chức năng này, nhà nước phải xây dựng tổ chức thực
hiện chính sách, hệ thống pháp luật về đối ngoại kiểm tra, giám sát, xử các vi
phạm; mở rộng quan hệ nhiều mặt, song phương đa phương với các quốc gia vùng
9
lãnh thổ và các tổ chức quốc tế; chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh
thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ
định hướng hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc quốc gia, giữ gìn bản sắc văn
hóa dân tộc, bảo vệ môi trường, coi trọng và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với
các nước hội chủ nghĩa và các nước láng giềng, tăng cường công tác thông tin đối
ngoại, đẩy mạnh công tác giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đối ngoại; không ngừng
hoàn thiện chính sách, pháp luật về đối ngoại.
Tham gia vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới về hòa bình, độc lập
dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội: Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay với mục tiêu xây
dựng một thế giới mới tiến bộ thì Nhà nước ta phải tích cực tham giải quyết những vấn
đề toàn cầu nhằm bảo vệ hòa bình, chống nguy chiến tranh và chạy đua vũ trang; tôn
trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quyền tự do lựa chọn con đường phát
triển của mỗi dân tộc trên thế giới, ủng hộ các phong trào giải phóng dân tộc, các dân
tộc và các nước đang đấu tranh giành độc lập dân tộc. Chủ động tích cực góp phần vào
cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ
hội. Các hoạt động đối ngoại phong phú, đa dạng cả theo đường Đảng lẫn Nhà nước
các hoạt động quốc tế nhân dân đã góp phần duy trì củng cố quan hệ đoàn kết hữu
nghị với các đảng phái chính trị, trước hết c Đảng cộng sản công nhân, các tổ
chức tiến bộ đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, từ đó tranh thủ sự hỗ trợ
về chính trị có lợi cho công cuộc xây dựng bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam tiếp tục kiên
trì đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa
các quan hệ quốc tế theo phương châm “Việt nam muốn là bạn và là đối tác tin cậy của
c nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”. Nhiệm
vụ của hoạt động đối ngoại trong thời gian tới tiếp tục tạo môi trường và điều kiện
quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh phát triển kinh tế hội, công nghiệp hóa, hiện đại - hóa
đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh
chung của nhân dân thế giới hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Việt
Nam sẽ chủ động hội nhập kinh tế quốc tế khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội
lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ định hướng hội
chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững an ninh quốc gia, phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái.
Căn cứ vào lĩnh vực tác động của quyền lực nhà nước, chức năng của nhà
nước xã hội chủ nghĩa được chia thành chức năng chính trị, kinh tế, văn hóa,
hội,...
10
Chức năng chính trị:
Chức năng chính trị của Nhà nước hội chủ nghĩa (XHCN) thể hiện ở việc duy
trì, củng cố phát triển quyền lực chính trị của giai cấp công nhân nhân dân lao
động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Nhà nước thực hiện chức năng này thông
qua việc bảo vệ chế độ hội chủ nghĩa, bảo đảm ổn định chính trị hội, đồng thời -
tổ chức hệ thống chính trị vững mạnh. Việt Nam, chức năng chính trị được cụ thể hóa
qua việc Hiến pháp 2013 khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng (Điều 4), cũng như qua
việc tổ chức thành công các kỳ bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, góp phần
xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa rộng rãi, ổn định chính trị tăng cường khối
đại đoàn kết toàn dân tộc.
Chức năng kinh tế:
Chức năng kinh tế của Nhà nước XHCN là định hướng, quản lý và điều tiết các
hoạt động kinh tế nhằm bảo đảm tăng trưởng bền vững đi đôi với công bằng hội.
Nhà nước không trực tiếp can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh như trước đây,
chủ yếu thực hiện vai trò kiến tạo, ban hành chính sách, tạo môi trường thuận lợi
cho các thành phần kinh tế phát triển bình đẳng, đúng định hướng. Việt Nam, điều
này thể hiện qua việc xây dựng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng
hội chủ nghĩa, ban hành các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, thu hút đầu tư trong nước
nước ngoài, đồng thời phát triển các ngành mũi nhọn như công nghệ cao, công nghiệp
chế biến, kinh tế số, theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.
Chức năng văn hóa:
Trong lĩnh vực văn hóa, Nnước XHCN thực hiện chức năng bảo tồn phát
huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa
nhân loại để xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Nhà nước không chỉ hỗ trợ tài chính còn hoạch định chiến lược, chính sách phát
triển văn hóa lâu dài, đồng thời chủ động đấu tranh với các hiện tượng phi văn hóa, lai
căng, phản động. Việt Nam, chức năng này được thể hiện qua việc triển khai Chiến
lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2030, bảo tồn di sản như nghệ thuật Đông
Hồ, ca trù, nhã nhạc cung đình Huế, đồng thời thúc đẩy công nghiệp văn hóa gắn với
chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.
Chức năng xã hội:
Chức năng xã hội của Nhà nước XHCN thể hiện ở việc chăm lo, bảo vệ và nâng
cao đời sống vật chất, tinh thần cho toàn thể nhân dân, bảo đảm an sinh hội, chăm
sóc nhóm yếu thế thực hiện công bằng xã hội. Nnước thiết lập các hệ thống y tế,
giáo dục, bảo hiểm hội, chính sách trợ giúp hội cho người nghèo, người tàn tật,
11
trẻ em mồ côi và đồng bào dân tộc thiểu số. Tại Việt Nam, chức năng hội hiện nay
được triển khai mạnh mẽ qua các chương trình mục tiêu quốc gia như giảm nghèo bền
vững, xây dựng nông thôn mới, hỗ trợ vùng sâu vùng xa, và mở rộng bảo hiểm y tế toàn
dân, giúp tlệ hộ nghèo giảm xuống còn 2,93% vào năm 2023, góp phần thực hiện mục
tiêu "không ai bị bỏ lại phía sau" trong phát triển đất nước.
Căn cứ vào tính chất của quyền lực nhà nước, chức năng của nhà nước được
chia thành chức năng giai cấp (trấn áp) chức năng hội (tổ chức xây
dựng).
Xuất phát từ bản chất của nhà nước hội chủ nghĩa, nên việc thực hiện các chức
năng của nhà nước cũng có sự khác biệt so với các nhà nước trước đó. Đối với các nhà
nước bóc lột, nhà nước của thiểu số thống trị đối với đa số nhân dân lao động, nên việc
thực hiện chức năng trấn áp đóng vai trò quyết định trong việc duy trì địa vị của giai
cấp nắm quyền chiếm hữu tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội.
Còn trong nhà nước xã hội xã hội chủ nghĩa, mặc dù vẫn còn chức năng trấn áp,
nhưng đó là bộ máy do giai cấp công nhân nhân dân lao động tổ chức ra để trấn áp
giai cấp bóc lột đã bị lật đổ những phần tử chống đối để bảo vệ thành quả cách mạng,
giữ vững an ninh chính trị, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế hội.-
Mặc trong thời kỳ quá độ, sự trấn áp vẫn còn tồn tại như một tất yếu, nhưng đó là s
thật trấn áp của đa số nhân dân lao động đối với thiếu số bóc lột. V.I.Lênin khẳng định:
"Bất cứ một nhà nướ ào cũng đề ùng bạo lực; nhưng toàc n u có nghĩa là d n b s khác
nhau là chỗ dùng bạo lực đố i những người bị bóc lột hay đố ới kẻ đi ột”. i v i v c l
Theo V.I.Lênin, mặc dù trong giai đoạn đầu của ch nghĩa c ng sản, “cơ quan đặc biệt,
b máy trấn áp đặc biệt là “nhà nước” vẫn còn cần thiết, nhưng đã là nhà nước quá
độ à à à, m không còn l nh ng ngh a c nước theo đú ĩ ủa nó nữa”.
Trong nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chức năng trấn áp vẫn được duy trì,
nhưng có bản chất khác hoàn toàn so với nhà nước bóc lột trước đây. Đây công cụ
giai cấp công nhân nhân dân lao động sdụng để trấn áp những thế lực phản
động, chống đối, bảo vệ thành quả cách mạng; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn
hội; tạo điều kiện cho sự phát triển ổn định và bền vững của đất nước. Như vậy, trấn
áp không phải nhằm duy trì đặc quyền đặc lợi cho thiểu số, nhằm bảo vệ lợi ích
chung của toàn thể nhân dân.
Nhà nước Việt Nam nhận thức rằng để bảo vệ thành quả cách mạng giữ
vững an ninh chính trị, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật điều kiện tiên
quyết. Vì vậy, Việt Nam đã ban hành cập nhật nhiều đạo luật quan trọng như Luật
An ninh quốc gia (2004), Luật Phòng chống khủng bố (2013) đặc biệt Luật An
12
ninh mạng (2018). Các bộ luật này tạo hành lang pháp lý để phòng ngừa, đấu tranh với
âm mưu lật đổ, phá hoại của các thế lực thù địch, đồng thời bảo vệ vững chắc chủ quyền
quốc gia trên không gian thực và không gian mạng. Việc ban hành Luật An ninh mạng
2018 minh chứng nét, nhằm ngăn chặn hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, kích
động bạo loạn trên mạng xã hội, bảo vệ an toàn thông tin cá nhân và lợi ích quốc gia.
Cùng với việc hoàn thiện thể chế, Nhà nước Việt Nam đặc biệt chú trọng thực
hiện các biện pháp nghiệp vụ nhằm bảo van ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.
Các lực lượng chuyên trách như Công an Nhân dân, Quân đội Nhân dân, Cảnh sát
động thường xuyên tổ chức tuần tra, kiểm soát, triệt phá kịp thời những âm mưu phá
hoại, khủng bố, buôn bán ma túy các loại tội phạm nguy hiểm. Thực tế cho thấy,
trong năm 2023, lực lượng Công an Việt Nam đã phát hiện triệt phá thành công nhiều
tổ chức phản động, điển hình như tổ chức "Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời",
góp phần quan trọng trong việc givững ổn định chính trị, đảm bảo an toàn tuyệt đối
các sự kiện lớn của đất nước.
Khác với các hình thức trấn áp đơn thuần nhà nước bóc lột, Nnước Việt
Nam xã hội chủ nghĩa thực hiện biện pháp trấn áp một cách nhân văn, kết hợp hài hòa
với giáo dục, tuyên truyền cảm hóa. Bên cạnh việc kiên quyết xử các hành vi phạm
tội nghiêm trọng, Nnước còn thực hiện các chương trình hòa nhập cộng đồng dành
cho người sau cai nghiện, người chấp hành xong án phạt tù và các đối tượng lầm đường
lạc lối. Thông qua hệ thống cơ sở giáo dục, dạy nghề, chính sách hỗ trợ việc làm và tái
hòa nhập, nhiều nhân đã hội làm lại cuộc đời, đóng góp tích cực cho hội.
Điều này thể hiện bản chất nhân đạo, tiến bộ của Nhà nước Việt Nam, vừa giữ vững kỷ
cương phép nước, vừa phát huy tính nhân văn trong quản lý xã hội.
Nhà nước Việt Nam kiên định thực hiện chức năng trấn áp trong lĩnh vực bảo vệ
chủ quyền quốc gia toàn vẹn lãnh thổ. Trước những diễn biến phức tạp trên biển
Đông những hành vi xâm phạm chủ quyền từ bên ngoài, Việt Nam đã triển khai đồng
bộ các biện pháp ngoại giao, pháp lý và thực địa. Các lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển
và Bđội Biên phòng thường xuyên tuần tra, kiểm soát chặt chẽ biên giới, vùng biển
vùng trời của Tổ quốc. Điển hình, năm 2023, Việt Nam đã tăng cường hoạt động
tuần tra liên hợp trên biển với các quốc gia láng giềng, đồng thời đấu tranh kiên quyết
tại các diễn đàn quốc tế để phản bác yêu sách phi pháp, bảo vệ vững chắc chủ quyền
tạo môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển kinh tế xã hội.-
1.4.2. Vai trò c c pháp quy n xã h i ch i k i m i ủa nhà nướ nghĩa trong thờ đổ
Vai trò của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới thể hiện
qua các khía cạnh chính sau:
13
Thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng bảo đảm quyền làm chủ của
nhân dân: Nhà nước có vai trò thể chế hóa bằng pháp luật quyền hạn, lợi ích, nghĩa vụ
của nhân dân lao động quản kinh tế, xã hội theo pháp luật. Đại hội XI của Đảng
nhấn mạnh việc tiếp tục đẩy mạnh xây dựng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa, bảo đảm Nhà nước thực sự là của nhân dân, do nhân dân, nhân dân, do
Đảng lãnh đạo, thực hiện tốt chức năng quản lý kinh tế, quản lý xã hội.
Quản nhà nước bằng pháp luật và tăng cường pháp chế hội chủ nghĩa: Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, bảo
đảm vị ttối thượng của pháp luật trong đời sống hội. Nghị quyết Hội nghị Trung
ương 8 khóa VII đã xác định xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam quản lý xã hội
bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức xã hội chủ nghĩa.
Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân: Dân chủ xã
hội chủ nghĩa được xác định là thực chất của việc đổi mới và kiện toàn hệ thống chính
trị, vừa mục tiêu vừa động lực của công cuộc đổi mới. Nnước trách nhiệm
thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương hội, chuyên
chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc của nhân dân. Phương hướng
cơ bản hàng đầu trong giai đoạn mới là giữ vững và phát huy bản chất tốt đẹp của Nhà
nước, ngăn chặn và đẩy lùi tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, quan liêu.
Cải cách bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả: Đường lối
đổi mới của Đảng đã đặt ra yêu cầu cải cách bộ máy nhà nước, xóa bỏ cơ chế tập trung
quan liêu bao cấp, xây dựng cơ chế quản lý mới phù hợp với yêu cầu của cải cách kinh
tế. Đại hội VII chủ trương tiếp tục đẩy mạnh cải cách bộ máy nhà nước theo hướng Nhà
nước thực sự của dân, do dân, dân, quản lý hội bằng pháp luật, dưới sự lãnh đạo
của Đảng, tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện thống nhất
quyền lực nhưng phân công, phân cấp rành mạch.
Trước Đổi mới, bộ máy nhà nước hoạt động theo cơ chế tập trung quan liêu bao
cấp, cồng kềnh, chồng chéo chức năng, hiệu quả thấp. Vì vậy, Đại hội VI (1986) khởi
xướng “Đổi mới toàn diện”, trong đó có cải cách bộ máy nhà nước. Đại hội VII tiếp tục
nhấn mạnh việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, quản lý xã hội bằng
pháp luật, tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện thống nhất
quyền lực nhưng phân công, phân cấp rành mạch. Đại hội đã có những bước tiến trong
việc sắp xếp, tinh giản bộ máy, phân cấp, phân quyền, tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa.
14
Tuy đã có những nỗ lực nhất định trong việc tinh gọn bộ máy, hiện nay, bộ máy
nhà nước vẫn còn cồng kềnh, chi thường xuyên chiếm khoảng 70% ngân ch, gây khó
khăn cho việc tăng lương và đầu tư phát triển. Do đó, Tổng bí thư Tô Lâm đã chỉ đạo:
Cần tiếp tục tinh gọn bộ máy, giảm biên chế, giảm chi tiêu thường xuyên để dành
nguồn lực đầu tư phát triển.
Tinh giản không nghĩa cắt giảm học, mà là loại bỏ những vị trí không
cần thiết, giảm những công việc không hiệu quả, tập trung nguồn lực cho những
lĩnh vực then chốt.
Khẩn trương rà soát, sắp xếp lại tổ chức bộ máy, xác định chức năng, nhiệm
vụ, trách nhiệm cụ thể, khắc phục triệt để tình trạng chồng chéo.
Gắn cải cách tổ chức bộ máy với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng
lực, ngang tầm nhiệm vụ, có biên chế hợp lý.
Thực hiện nghiêm nguyên tắc một quan thực hiện nhiều việc; một việc chỉ
giao cho một cơ quan chủ trì và chịu trách nhiệm chính.
Đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội, Chính phủ các
quan pháp: Trong thời kỳ đổi mới, Đảng Nnước đặc biệt chú trọng đổi mới
công tác lập pháp giám sát của Quốc hội, cải cách nền hành chính nhà nước, cải
cách tổ chức và hoạt động tư pháp. Mục tiêu là xây dựng một hệ thống các cơ quan nhà
nước hoạt động hiệu lực, hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Tăng cường mối liên hệ giữa Nhà nước và nhân dân: Nnước pháp quyền
hội chủ nghĩa tôn trọng lắng nghe ý kiến của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân
dân. Việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân qua các hình thức dân chủ đại diện và
dân chủ trực tiếp để nhân dân tham gia xây dựng bảo vệ Nhà c một yêu cầu
quan trọng trong giai đoạn mới.
Bảo đảm an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội: Đây một trong những
chức năng bản nhất của Nnước pháp quyền hội chủ nghĩa, tạo điều kiện ổn
định cho công cuộc đổi mới.
Nhìn chung, trong thời kỳ đổi mới, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam đã từng bước được xây dựng và hoàn thiện, trở thành công cụ quan trọng để thực
hiện đường lối đổi mới của Đảng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, quản đất
nước bằng pháp luật, và hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh. Quá trình này vừa kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về một nhà nước của dân,
do dân, vì dân, vừa tiếp thu vận dụng những nguyên tắc phổ quát của nhà nước pháp
quyền phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.
15
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC
PHÁP QUYỀN XHCN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Nh ng k t qu c ế đạt đượ
Tăng cường dân chủ và bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân
Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đặc
biệt chú trọng nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Đảng Cộng sản
Việt Nam đã thể hiện nhận thức ngày càng đầy đủ sâu sắc về vai tchủ thể của
Nhân dân trong quản hội. Hiến pháp m 2013 cùng các văn bản pháp luật khác
đã thể chế hóa các chủ trương, tạo cơ chế để Nhân dân thực hiện quyền giám sát, phản
biện hội thông qua Mặt trận Tổ quốc các tổ chức chính trị hội. Quyền dân -
chủ trực tiếp như bầu cử, ứng cử, khiếu nại, tcáo và tiếp cận thông tin ngày càng được
củng cố và mở rộng trong thực tiễn.
Ví dụ: Nghị quyết Đại hội XII đã nhấn mạnh: “Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội
chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Mọi đường lối, chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều xuất phát từ nguyện vọng,
quyền lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến”(4). Hiến
pháp năm 2013 cũng đã khẳng định “Nước Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam do
nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân nền tảng liên
minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” (Ðiều 2),“Nhà
nước bảo đảm phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo v
bảo đảm quyền con người, quyền công dân” (Điều 3).“Nhân dân thực hiện quyền lực
nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng
Nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”
Bảo vệ quyền con người và quyền công dân trong mọi lĩnh vực
Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong việc công nhận, tôn trọng
bảo vệ quyền con người. Từ sau Đổi mới (1986), Đảng Nnước đã ban hành
nhiều chủ trương lớn và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người, bao gồm cả
dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, hội. Việt Nam đã tham gia nhiều công ước quốc
tế, trong đó 7/9 công ước cốt lõi về quyền con người của Liên hợp quốc. Quốc hội
các cơ quan nhà nước khác đã có nhiều nỗ lực trong bảo vệ các quyền và lợi ích hợp
pháp của người dân, nâng cao chất lượng giám sát, xét xử thi hành pháp luật, hạn
chế oan sai và lạm quyền.
dụ: Việt Nam đã tham gia hầu hết các Công ước quốc tế cơ bản về quyền con
người, cụ thể: Công ước về các Quyền Dân sự Chính trị 1966 (ICCPR), gia nhập
ngày 24-9-1982; Công ước về các Quyền Kinh tế, hội Văn hóa 1966, gia nhập
16
ngày 24-9-1982; Công ước về Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ 1979,
ký kết ngày 29 1980, phê chuẩn ngày 17 1982; Công ước về Xoá bỏ mọi hình thức -7- -2-
phân biệt chủng tộc 1969, gia nhập ngày 9 1982; Công ước về Quyền Trẻ em 1989, -6-
ký kết ngà 1990, phê chuẩn ngày 28 1990 và hai Nghị định thư bổ sung về trẻ y 26-1- -2-
em trong xung đột trang (ký kết ngày 8 2000, phê chuẩn ngày 20-9- -12-2001)
chống sử dụng trẻ em trong các hoạt động mại dâm và tranh ảnh khiêu dâm (ký kết ngày
8-9-2000, phê chuẩn ngày 20 2001); Công ước về Quyền của Người khuyết tật 2006, -12-
ký ngày 22-11- c c h nh 2007 và phê chuẩn ngày 5-2-2015; Công ước Chống tra tấn và á ì
thức đối x hoc trng pht tà n b o hoạo, vô nhân đạ c h nh i, ký ngày 7-ục con ngư
11-2013 v -2-2015. à phê chuẩn ngày 5
Thượng tôn Hiến pháp và pháp luật – nền tảng của Nhà nước pháp quyền
Tinh thần thượng tôn pháp luật được khẳng định rõ trong Hiến pháp và hệ thống
chính trị. Các văn bản pháp luật được xây dựng ngày càng đồng bộ, minh bạch, bảo
đảm nh hợp hiến, hợp pháp khả thi trong thực tiễn. chế kiểm soát quyền lực,
bảo đảm thực thi pháp luật được cải tiến với stham gia giám sát của Nhân dân. Việc
ban hành và tổ chức thực hiện luật được chú trọng, từ xây dựng đến phổ biến pháp luật
đều bước tiến rệt. Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và phòng, chống tham
nhũng cũng được đẩy mạnh, góp phần giữ gìn kỷ cương nâng cao hiệu lực quản
nhà nước.
Ví dụ: Báo cáo tổng kết công tác m 2022 phương hướng, nhiệm vụ trọng
tâm công tác m 2023 (ngày 22/12/2022) của Tòa án nhân dân tối cao đánh giá: số
lượng các loại vụ việc mà Tòa án phải thụ lý, giải quyết năm 2022 tăng gần 6% so với
năm 2021, với tính chất đa dạng, phức tạp. Trong năm 2022, các tòa án đã thụ 567.521
vụ việc; về hình sự, đã thụ lý 93.452 vụ với 178.830 bị cáo; đã xét xử nhiều vụ án kinh
tế, tham nhũng do những người chức vụ, quyền hạn gây ra những thiệt hại đặc biệt
lớn (đã tuyên thu hồi tiền, tài sản đối với 840 vụ, 1.995 bị cáo với số tiền trên 4.027 tỷ
đồng nhiều tài sản khác). Các tòa án cũng đã đưa ra xét xử 188 vụ với 297 bị cáo
liên quan đến phòng, chống dịch COVID 19. Các tòa án đã thụ lý 444.402 vụ việc dân -
sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại lao động; đã ban hành 176 quyết
định buộc thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Đã áp dụng
các biện pháp xử hành chính đối với 17.416/17.432 hồ sơ; đã thụ lý 07 yêu cầu bồi
thường theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; 31 vụ án dân sự mà người bị
oan, sai khởi kiện các quan nhà nước yêu cầu bồi thường(6). Số liệu đó cho thấy,
người vi phạm không chỉ cá nhân công dân, tổ chức trong xã hội, chủ thể vi phạm
có cả cán bộ, công chức, trong đó có cả cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước.

Preview text:

z
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH T VÀ KINH DOANH QUC T
----------
BÀI THO LUN
HC PHN CH NGHĨA XÃ HỘI KHOA HC Đề tài: Mt s
ố đặc trưng cơ bản và vấn đề xây dng, hoàn thiện Nhà nước pháp
quyn xã hi ch nghĩa ở Vit Nam hin nay: Thc tr ng và gi ạ ải pháp
Giảng viên hướng dn
: Đặng Minh Tiến
Nhóm thc hin : Nhóm 4 Lp h c ph ọ ần : 242_HCMI0121_24 Hà N i, 2025
MC LC
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. ii
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA .......................................................................................................................... 1
1.1. Cơ sở hình thành và phát triển tư tưởng Nhà nước pháp quyn ..................... 1
1.1.1. Cơ sở hình thành tư
tưởng nhà nước pháp quyn trong lch s .......................... 1
1.1.2. Cơ sở hình thành tư
tưởng nhà nước pháp quyền theo hướng xã hi ch nghĩa 2
1.2. Khái nim v nhà nước pháp quyn xã h i ch
nghĩa ...................................... 3
1.3. Những đặc trưng cơ bản v nhà nước pháp quyn xã h i ch
nghĩa ở Vit
Nam ............................................................................................................................... 4
1.4. Vai trò c
ủa nhà nước pháp quyn xã h i c
h nghĩa trong thời k
ỳ đổi mi..... 6
1.4.1. Chức năng của nhà nước pháp quyn xã h i ch
ủ nghĩa trong thời k i m đổ ới ... 6
1.4.2. Vai trò của nhà nước pháp quyn xã hi ch nghĩa trong thời k đổi mi ....... 12
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC
PHÁP QUYỀN XHCN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ................................................ 15
2.1. Nh
ng kết qu
ả đạt được ..................................................................................... 15 2.2. H n ch ạ ế và b t cp
.............................................................................................. 18
2.3. Nguyên nhân ca nhng h n ch
ế ...................................................................... 21
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ
NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ................................... 24 3.1. Gi i
pháp v th chế và pháp lu t
..................................................................... 24 3.2. Gi i
pháp v t ch ổ ức b máy và cán b
............................................................ 25
3.3. Phát huy vai trò ca nhân dân và các t chc xã h i
...................................... 26
3.4. Tăng cường sự lãnh đạ
o của Đảng .................................................................... 26 3.5. Nâng cao nh n th
c v pháp lu t c
ậ ủa người dân ............................................. 27
KẾT LUẬN ................................................................................................................. 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 32 LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình đổi mới toàn diện đất nước, việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp ề
quy n xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam được Đảng và Nhà nước xác định là một nhiệm v
ụ trọng tâm, có ý nghĩa chiến lược nhằm đảm bảo quyền lực nhà nước thu c
ộ về nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đồng thời thúc
đẩy phát triển kinh tế - xã h i ộ bền vững. Trong b i ố cảnh h i nh ộ ập qu c t ố ế sâu rộng, yêu
cầu về một Nhà nước pháp quyền dân chủ, công khai, minh bạch, hoạt ng độ hiệu quả
và chịu sự giám sát c a
ủ nhân dân trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Xuất phát từ tầm
quan trọng đó, nhóm em lựa chọn đề tài:
“Một số đặc trưng cơ bản và vấn đề xây dựng,
hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã h i ch ộ
ủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng và
giải pháp” với mong mu n
ố tìm hiểu rõ hơn những n i
ộ dung lý luận và thực tiễn c a vi ủ ệc
xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta, nhận diện những thành tựu, hạn chế còn t n t
ồ ại, từ đó đề xuất m t s ộ gi
ố ải pháp góp phần hoàn thiện mô hình này. Mục tiêu
nghiên cứu của đề tài là phân tích các đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền XHCN
ở Việt Nam; đánh giá thực trạng quá trình xây dựng, hoàn thiện mô hình này trong thời
gian qua; đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế
trong quá trình thực hiện.Phạm vi nghiên cứu tập trung vào những vấn đề lý luận cơ
bản và thực tiễn tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, ch y ủ ếu từ thời k ỳ i m đổ ới đến nay. i LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy Đặng Minh Tiến -
giảng viên môn Chủ nghĩa xã hội học, người đã tận tình hướng dẫn và truyền đạt những
kiến thức quý báu trong suốt quá trình học. Nhờ những bài giảng sâu sắc và thực tiễn
của thầy mà chúng em đã có cơ hội áp dụng các kiến thức từ giáo trình môn Chủ nghĩa
xã hội khoa học và các kiến thức thực tiễn từ thầy vào bài thảo luận này về chủ đề thực
trạng và giải pháp của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam . Sự hỗ trợ và
định hướng từ thầy không chỉ giúp chúng em hoàn thiện bài viết mà còn khơi dậy trong
em niềm đam mê khám phá lĩnh vực chủ nghĩa xã hội học. Cuối cùng, nhóm chúng em
chúc thầy luôn mạnh khỏe, thành công trong sự nghiệp giảng dạy của mình. ii
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
1.1. Cơ sở hình thành và phát triển tư tưởng Nhà nước pháp quyn
1.1.1. Cơ sở hình thành tư t
ưởng nhà nước pháp quyn trong lch s
Trong lịch sử tư tưởng chính trị pháp lý của nhân loại, tư tưởng nhà nước pháp
quyền đã hình thành từ thời cổ đại. Ngay từ thời cổ đại, khi con người bị đặt dưới sự
cai trị tùy tiện, độc đoán của nhà cầm quyền thì cũng là lúc trong xã hội xuất hiện ý
tưởng về một nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật, cai trị, quản lý
xã hội bằng pháp luật, cả vua, quan cũng như dân chúng đều phải tôn trọng pháp luật,
phục tùng pháp luật... Sau hàng nghìn năm dưới những “đêm trường trung cổ”, bước
sang thời kỳ phục hưng, tư tưởng nhà nước pháp quyền tiếp tục được phát triển, hoàn
thiện. Thời kỳ này, tư tưởng đề cao vai trò của pháp luật trong đời sống nhà nước và xã
hội luôn gắn liền với tư tưởng dân chủ, khẳng định chủ quyền nhân dân, chống lại sự
chuyên quyền, độc đoán của nhà cầm quyền, bảo đảm bảo vệ quyền con người... Tư
tưởng nhà nước pháp quyền thời kì này một mặt khẳng định vai trò của pháp luật, nhưng
mặt khác nhấn mạnh tính chất của pháp luật, đòi hỏi pháp luật phải dân chủ, tiến bộ,
phản ánh ý chí và nguyện vọng của nhân dân, pháp luật phải phù họp với quyền tự nhiên của con người.
Từ cuối thế kỷ XIX trở lại đây, tư tưởng nhà nước pháp quyền từng bước được
hiện thực hoá, nhà nước pháp quyền trở thành một mẫu hình nhà nước lý tưởng, một xu
thế tất yếu cần hướng tới của tất cả các nhà nước dân chủ trên thế giới, một mô hình
cho việc thiết kế và xây dựng nhà nước của các quốc gia đương đại. Có thể nói, cho đến
nay, “sự phát triển của văn minh nhân loại phần lớn được quy định bởi sự phát triển của
xã hội công dân và nhà nước pháp quyền".
Chính vì vậy, trong thời kỳ hiện đại, vấn đề nhà nước pháp quyền được nghiên
cứu rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới nhằm xây dựng cơ sở lí luận vững chắc cho việc
xây dựng và hoàn thiện nhà nước theo xu hướng trở thành nhà nước pháp quyền, vấn
đề đặt ra, nhà nước pháp quyền là gì, nó có những đặc trưng nào, nguyên tắc tổ chức và
hoạt động của nó ra sao... Đây là những câu hỏi có thể được trả lời theo nhiều cách khác
nhau, bởi vì nhà nước pháp quyền vốn là hiện tượng phức tạp, đa diện, có thể được xem
xét dưới nhiều góc độ khác nhau.
Nhiều nhà khoa học cho rằng, trong ngôn ngữ hiện đại có hai thuật ngữ được
sử dụng với nghĩa tương tự nhau là “Nhà nước pháp quyền" (Rechsstaat, L’état de droit)
và “Chế độ pháp quyền" (The Rule of law), tuỳ theo ngôn ngữ của mỗi nước. Tuy nhiên,
trên thực tế, hai thuật ngữ này vừa có điểm thống nhất vừa có điểm khác biệt nhau. Sự 1
thống nhất giữa chúng thể hiện ở chỗ cả “nhà nước pháp quyền” và “chế độ pháp quyền”
đều bắt nguồn từ những nguyên tắc cơ bản là: tính phổ biến của các chuẩn mực pháp
lý, pháp luật phải công khai, các chuẩn mực pháp lý phải rõ ràng và không hồi tố. Điểm
khác nhau giữa chúng là ở chỗ “chế độ pháp quyền” có xu hướng nhấn mạnh nhiều hơn
đến sự tham gia của người dân vào một quá trình chính trị có trật tự mà không đề cập
rõ ràng đến nhà nước, còn thuật ngữ “nhà nước pháp quyền” thì nhấn mạnh đến nhà
nước, chỉ các đặc trưng cụ thể của một nhà nước nào đó.
1.1.2. Cơ sở hình thành tư t
ưởng nhà nước phá ền theo hướ p quy
ng xã hi ch nghĩa
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (NNPQXHCN) là một mô hình nhà
nước tiến bộ, lấy pháp luật làm nền tảng tối thượng, đồng thời gắn kết chặt chẽ với mục
tiêu công bằng, dân chủ, văn minh. Ở Việt Nam, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền
định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là một tất yếu lịch
sử, phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Việc xây dựng Nhà
nước pháp quyền theo hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một quá trình tất yếu, xuất
phát từ yêu cầu khách quan của phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, đồng thời dựa trên
nền tảng tư tưởng – lý luận khoa học và cách mạng.
Cơ sở kinh tế
Cơ sở kinh tế hình thành nhà nước pháp quyền XHCN là nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế cùng
phát triển, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Sự phát triển kinh tế đòi hỏi
cần có một khuôn khổ pháp lý minh bạch, công bằng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của các chủ thể kinh tế, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh và hội nhập quốc tế. Nhà nước
pháp quyền chính là công cụ đảm bảo sự vận hành ổn định, hiệu quả của nền kinh tế,
đồng thời phân phối lại thành quả phát triển nhằm thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
Cơ sở chính trị
Cơ sở chính trị cho sự hình thành NNPQXHCN là sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt
đối của Đảng Cộng sản Việt Nam, lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo Nhà nước và
xã hội, như được Hiến pháp năm 2013 khẳng định. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam lấy nhân dân
làm trung tâm, thực hiện nguyên tắc quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân, thông qua cơ chế bầu cử, tham vấn, giám sát và phản biện xã hội.
Hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước vận hành theo nguyên tắc phân công, phối hợp và
kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Cơ sở tư tưởng – l ý luận 2
Nền tảng lý luận cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền theo định hướng xã
hội chủ nghĩa là chủ nghĩa Mác – Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp
luật. Theo đó, nhà nước không chỉ là công cụ thống trị giai cấp, mà còn là tổ chức thực
hiện quyền lực nhân dân, nhằm mục tiêu giải phóng con người, phát triển toàn diện con
người, xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng tiếp thu có chọn
lọc những giá trị phổ quát của nhà nước pháp quyền hiện đại trên thế giới như thượng
tôn pháp luật, bảo vệ quyền con người, phân quyền và kiểm soát quyền lực.
1.2. Khái nim v nhà nước pháp quyn xã h i ch ộ ủ nghĩa
Quan điểm của Đảng ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là
quá trình đúc kết, kế thừa, vận dụng tư tưởng về Nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư
tưởng nhân loại, quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà
nước, pháp luật kiểu mới và thực tiễn xây dựng Nhà nước kiểu mới ở nước ta, nhất là
trong những năm đổi mới vừa qua.
Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền xuất hiện rất sớm trong lịch sử tư tưởng nhân
loại, ngay từ khi xuất hiện Nhà nước cổ đại và được tiếp tục phát triển, nhất là trong
thời kỳ cách mạng tư sản, phản ánh khát vọng của nhân dân về một Nhà nước bảo đảm
tự do, dân chủ, nhân quyền, đối lập với sự độc đoán, độc tài của Nhà nước chủ nô và
chế độ chuyên chế hà khắc của Nhà nước phong kiến.
Nhà nước pháp quyền theo quan điểm của các nhà tư tưởng trong lịch sử nhân
loại là Nhà nước bảo đảm tính tối thượng của pháp luật trong đời sống xã hội, trong đó
pháp luật phải phản ánh ý chí chung, lợi ích chung của nhân dân; thực hiện và bảo vệ
quyền tự do, dân chủ của nhân dân; chịu trách nhiệm trước công dân về những hoạt
động của mình và yêu cầu công dân thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội;
có hình thức tổ chức quyền lực Nhà nước thích hợp bảo đảm chủ quyền thuộc về nhân
dân, tổ chức thực hiện có hiệu quả quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; ngăn chặn được
sự tùy tiện, lạm quyền từ phía Nhà nước, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp
luật, kể cả vi phạm pháp luật của các cơ quan và công chức nhà nước.
Như vậy, nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước gắn với một
giai cấp mà là hình thức tổ chức quyền lực nhà nước, bảo đảm tổ chức hoạt động của
nhà nước tuân theo quy định của pháp luật, thực hiện được quản lý xã hội theo pháp
luật, bảo đảm chủ quyền và quyền tự do, dân chủ của nhân dân.
Quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà
nước, pháp luật kiểu mới và vận dụng phù hợp với thực tiễn xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta, trên quan điểm này có thể khái quát nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa là
nhà nước xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân, vì dân; 3
tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp,
quản lý xã hội theo pháp luật nhằm phục vụ lợi ích và hạnh phúc của nhân dân, do
Đảng tiền phong của giai cấp công nhân lãnh đạo đồng thời chịu trách nhiệm trước
nhân dân và sự giám sát của nhân dân.
1.3. Những đặc trưng cơ bản v nhà nước pháp quyn xã h i ch
nghĩa ở Vit Nam
Thứ nhất, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Đặc trưng này có cơ sở pháp lý được hiến định tại Điều 2[5] Hiến pháp năm
2013, thể hiện được bản chất dân chủ của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, giúp
phân biệt Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam ta với các Nhà nước khác
trên thế giới. Đúng như tinh thần của các bản Hiến pháp trước đó, Hiến pháp năm 2013
đã kế thừa và thể hiện sâu sắc, nhất quán vấn đề chủ quyền nhân dân trong nội dung của
Hiến pháp; khẳng định rõ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ thể
tối cao của quyền lực nhà nước. Nhân dân được phép thực hiện quyền làm chủ của mình
dưới hai hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng
nhân dân và các cơ quan có thẩm quyền khác của Nhà nước. Nhà nước theo đó phải bảo
đảm được trách nhiệm tôn trọng và thúc đẩy quyền làm chủ của nhân dân, đặt nhân dân
ở vị trí trung tâm, mọi chính sách đặt ra cũng đều nhằm mục tiêu xây dựng và thực thi
một nền dân chủ thực sự, đồng nghĩa với việc thực hiện tốt cả dân chủ trực tiếp và dân
chủ đại diện, bám sát phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.
Thứ hai, Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý
xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật.
Đặc trưng này có cơ sở pháp lý được hiến định tại Điều 8 Hiến pháp năm 2013,
là đặc trưng mang tính phổ biến, xuyên suốt bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp trong tổ
chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cụ thể:
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo
Hiến pháp và pháp luật. Điều này đồng nghĩa với việc mọi cơ quan nhà nước, mọi tổ
chức, cá nhân dưới chế độ của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đều phải thực
hiện nghĩa vụ tuân thủ,
thi hành, sử dụng pháp luật, chỉ được phép hoạt động trong
khuôn khổ quy định của pháp luật.
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quản lý trật tự xã hội bằng Hiến
pháp và pháp luật. Điều đó có nghĩa là, Hiến pháp quy định nhiệm vụ, quyền hạn của
các cơ quan nhà nước, xác định địa vị pháp lý của các tổ chức xã hội, quy chế pháp lý
của các cá nhân... Đồng thời, Hiến pháp quy định sự kiểm soát của nhân dân đối với 4
hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và các cá nhân, từ đó giúp duy
trì, quản lý trật tự xã hội.
Từ đó, có thể thấy, Hiến pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam được đặt ở vị trí tối thượng. Hiến pháp Việt Nam được coi là “đạo luật cơ bản của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất”[9]. “Mọi văn
bản pháp l uật khác phải phù hợp với Hiến pháp. Mọi hành vi vi phạm Hiến pháp đều bị
xử lý”[10]. Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp. Tổ chức, cá
nhân phải tôn trọng, thực hiện nghiêm chỉnh Hiến pháp, pháp luật, mọi vi phạm pháp
luật phải được xử lý nghiêm minh, kịp thời.
Thứ ba, Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp
chặt chẽ và kiểm soát hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền
lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Đặc trưng này được hiến định tại khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013, thể hiện
tính đặc thù về nguyên tắc phân chia quyền lực trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam. Quyền lực nhà nước trong chế độ dân chủ và pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là thống nhất ở nơi dân, toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
và được nhân dân ủy quyền cho các cơ quan nhà nước thực hiện. Vì vậy, quyền lực nhà
nước phải được phân công, phối hợp và kiểm soát chặt chẽ nhằm ngăn ngừa sự tập trung
chuyên chế, phát huy dân chủ và bảo đảm quyền lực thự
c sự thuộc về nhân dân.
Khác với mô hình tập quyền XHCN trước đây, quyền lực nhà nước không tập
trung ở một cơ quan mà được quy định trong Hiến pháp - biểu hiện của chủ quyền nhân
dân. Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân... chỉ là các cơ quan thực thi quyền lực chứ
không nắm giữ t oàn bộ quyền lực. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất,
thực hiện quyền lập hiến, lập pháp, đồng thời phân công, điều phối và kiểm soát quyền
lực giữa các cơ quan nhà nước.
Nghị quyết số 27-NQ/TW của Đảng nhấn mạnh thêm yêu cầu "phân công rành
mạch", "phối hợp chặt chẽ" và "kiểm soát hiệu quả" trong việc thực hiện quyền lực nhà
nước. Đây vừa là nguyên tắc chính trị quan trọng, vừa là yêu cầu cấp thiết trong xây
dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới. Đồng
thời, Nghị quyết cũng đặt ra yêu cầu cần phát huy mạnh mẽ vai trò của nhân dân trong
việc giám sát, kiểm soát quyền lực nhà nước, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới.
Thứ tư, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Ðảng Cộng sản Việt
Nam lãnh đạo. Hoạt động của nhà nước được giám sát bởi nhân dân:”dân biết, dân
bàn, dân làm, dân kiểm tra.” 5
Đặc trưng này có cơ sở pháp lý được hiến định tại Điều 4[4] Hiến pháp năm
2013, thể hiện tính đặc thù của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phù
hợp với hệ thống chính trị của Việt Nam khi Nhà nước được tổ chức và hoạt động dưới
sự lãnh đạo của một Đảng duy nhất cầm quyền - Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ đó càng
đề cao vị trí bất biến và vai trò quan trọng của Đảng, là kim chỉ nam đối với mọi hoạt
động trong công cuộc đi lên xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng chỉ thị, nghị quyết, đề ra chủ trương, đường lối
định hướng xây dựng tổ chức bộ máy, luật pháp, chính sách của Nhà nước; giới thiệu
đảng viên của mình để nhân dân bầu vào các vị trí lãnh đạo các cơ quan nhà nước nhằm
thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành luật pháp, chính sách và tổ chức thực
hiện để chủ trương, đường lối của Đảng đi vào cuộc sống, đem lại những kết quả và
bằng việc kiểm tra tổ chức đảng, đảng viên trong các cơ quan nhà nước về việc thực
hiện chỉ thị, nghị quyết, chủ trương, đường lối của Đảng. Đồng thời, Đảng lãnh đạo các
tổ chức chính trị, xã hội tuyên truyền, vận động nhân dân ủng hộ, bảo vệ Nhà nước, tích
cực tham gia thực hiện luật pháp và giám sát các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức
trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, thực hiện luật pháp, chính sách.
Thứ năm, nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam tôn trọng quyền con người, coi
con người là trung tâm của sự phát triển.
Đặc trưng này có cơ sở pháp lý được hiến định tại Điều 14 Hiến pháp năm
2013[7]. Công nhận, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân
vừa là bản chất, vừa là mục tiêu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Các quyền cơ bản, thiêng liêng của mỗi con người, mỗi công dân như quyền sống,
quyền bình đẳng, quyền mưu cầu hạnh phúc,… đều được Nhà nước công nhận, ghi nhận
trong Hiến pháp và được bảo đảm thực hiện thông qua các văn bản quy phạm pháp luật
có liên quan. Nhà nước có trách nhiệm tạo mọi điều kiện cho công dân thực hiện và thụ
hưởng đầy đủ các quyền của mình theo đúng các quy định của pháp luật, bất cứ chủ thể
nào có hành vi xâm phạm đến quyền con người, quyền công dân đều sẽ bị xử lý theo
quy định của pháp luật. Suy cho cùng, tất cả đều là nhằm bảo đảm mục tiêu lấy con
người làm trung tâm của nguồn lực phát triển xã hội, vì một mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, “lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”[8].
1.4. Vai trò của nhà nước pháp quyn xã h i c
h nghĩa trong thời k
ỳ đổi mi
1.4.1. Chức năng của nhà nước pháp quyn xã h i ch
nghĩa trong thời k đổi mi
Tùy theo góc độ tiếp cận, chức năng của
nhà nước xã hội chủ nghĩa được chia
thành các chức năng khác nhau. 6
❖ Căn cứ vào phạm vi tác động của quyền lực nhà nước, chức năng của nhà
nước được chia thành chức năng đối nội và chức năng đối ngoại.
Chức năng đối nội:
Trong giai đoạn hiện nay, các chủ trương chính sách đối nội tại nước ta đều sẽ
được quốc hội (đại diện cho nhân dân), nhà nước ban hành thông qua sự tham khảo ý
kiến của toàn thể nhân dân; các chính sách đối nội này sẽ nhanh chóng được luật hóa
thành những văn bản cụ thể; các văn bản này sẽ được ban hành rộng rãi đến nhân dân
về các quy định, pháp lý, trong trường hợp nào thì các chủ thể là những người dân sẽ bị
cưỡng chế; tất cả các trường hợp không tuân thủ hay bất cứ ai nếu có hành vi chống đối
sẽ bị xử lý theo quy định của luật.
Các chính sách đối nội ở Việt Nam:
Chức năng bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an
toàn xã hội: Chức năng bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự
an toàn xã hội là một trong số những chức năng căn bản nhất của nhà nước ta. Muốn
tiến hành sự nghiệp đổi mới một cách thuận lợi và nhanh chóng, thì Nhà nước ta cũng
sẽ cần phải bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên toàn bộ đất nước.
Chức năng bảo vệ quyền tự do, dân chủ của Nhân dân: Chức năng bảo vệ quyền
tự do, dân chủ của Nhân dân là một trong số các những chức năng của Nhà nước xã hội
chủ nghĩa Việt Nam và chức năng này có ý nghĩa và vai trò rất quan trọng; bởi vì, việc
thực hiện chức năng bảo vệ quyền tự do, dân chủ của Nhân dân này sẽ thể hiện trực tiếp
bản chất của nhà nước kiểu mới, đó là nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân
dân. Bên cạnh đó thì việc thực hiện chức năng bảo vệ quyền tự do, dân chủ của Nhân
dân này cũng sẽ đảm bảo sức mạnh của Nhà nước trong việc thực hiện tất cả các chức
năng khác của Nhà nước, chức năng này có quan hệ đến sự tồn tại, phát triển của chính
bản thân Nhà nước và chế độ.
Chức năng bảo vệ trật tự pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa: Chức
năng bảo vệ trật tự pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa là chức năng, nhiệm
vụ của nhà nước xã hội chủ nghĩa và cũng là một chức năng rất quan trọng, chức năng
này có liên quan trực tiếp đến việc thực hiện tất cả các chức năng khác của Nhà nước.
Pháp luật chính là phương tiện có vai trò to lớn để Nhà nước có thể tổ chức thực hiện
có hiệu quả tất cả các chức năng của mình, cũng chính bởi vì thế, việc bảo vệ trật tự
pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa cũng chính là một hoạt động cần làm
thường xuyên, việc bảo vệ trật tự pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa có ý
nghĩa quyết định đối với việc nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước. 7
Chức năng tổ chức và quản lý kinh tế: Tổ chức và quản lý nền kinh tế đất nước
chính là chức năng hàng đầu và là cơ bản nhất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
nhằm mục đích để có thể từ đó xây dựng mọi xã hội dựa trên cơ sở vật chất và kỹ thuật phát triển cao.
Chức năng đối ngoại:
Các hoạt động đối ngoại có thể do cơ quan Đảng, Nhà nước, có thể do tổ chức
xã hội tiến hành hoặc cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội phối hợp cùng thực hiện.
Các hoạt động đối ngoại được tiến hành theo những nguyên tắc nhất định nhằm
đảm bảo tính nhất quán, tính khoa học, đảm bảo lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích chính
đáng khác, tức là Quản lý tất cả các hoạt động và quan hê do các cơ quan, tổ chức của
Việt Nam thực hiện với các nước, các tổ chức nước ngoài cũng như các tổ chức quốc tế và khu vực.
Các chính sách đối ngoại ở Việt Nam:
Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa: Nhà nước ta thực hiện chức năng
đối ngoại nhằm tranh thủ sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân thế giới, mở
rộng hợp tác quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,
đồng thời làm tròn nghĩa vụ quốc tế đối với phong trào cách mạng thế giới. Đảng ta
nhấn mạnh: “Mục tiêu của chính sách đối ngoại là tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho
công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần vào sự nghiệp
đấu tranh chung của nhân loại thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”.
Thiết lập, củng cố mối quan hệ quốc tế: Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập
kinh tế quốc tế, chúng ta phải làm tốt chức năng thiết lập, củng cố, phát triển các mối
quan hệ và sự hợp tác với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị
và xã hội khác nhau, trên cơ sở cùng tồn tại hòa bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền và
toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng
và các bên cùng có lợi. Thiết lập mối quan hệ quốc tế rộng mở có ý nghĩa vô cùng quan
trọng đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay. Làm tốt chức
năng này, chúng ta sẽ tạo ra môi trường hòa bình, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy
mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm độc lập và chủ quyền quốc gia. Thiết lập quan hệ quốc tế phải
thực hiện trên tất cả các mặt về kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, khoa học, công
nghệ, xã hội… Để thực hiện chức năng này, nhà nước phải xây dựng và tổ chức thực
hiện chính sách, hệ thống pháp luật về đối ngoại và kiểm tra, giám sát, xử lý các vi
phạm; mở rộng quan hệ nhiều mặt, song phương và đa phương với các quốc gia vùng 8
lãnh thổ và các tổ chức quốc tế; chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh
thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ
và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc quốc gia, giữ gìn bản sắc văn
hóa dân tộc, bảo vệ môi trường, coi trọng và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với
các nước xã hội chủ nghĩa và các nước láng giềng, tăng cường công tác thông tin đối
ngoại, đẩy mạnh công tác giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đối ngoại; không ngừng
hoàn thiện chính sách, pháp luật về đối ngoại.
Tham gia vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới về hòa bình, độc lập
dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội: Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay với mục tiêu xây
dựng một thế giới mới tiến bộ thì Nhà nước ta phải tích cực tham giải quyết những vấn
đề toàn cầu nhằm bảo vệ hòa bình, chống nguy cơ chiến tranh và chạy đua vũ trang; tôn
trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền tự do lựa chọn con đường phát
triển của mỗi dân tộc trên thế giới, ủng hộ các phong trào giải phóng dân tộc, các dân
tộc và các nước đang đấu t
ranh giành độc lập dân tộc. Chủ động tích cực góp phần vào
cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã
hội. Các hoạt động đối ngoại phong phú, đa dạng cả theo đường Đảng lẫn Nhà nước và
các hoạt động quốc tế nhân dân đã góp phần duy trì và củng cố quan hệ đoàn kết hữu
nghị với các đảng phái chính trị, trước hết là các Đảng cộng sản và công nhân, các tổ
chức tiến bộ đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, từ đó tranh thủ sự hỗ trợ
về chính trị có lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam tiếp tục kiên
trì đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa
các quan hệ quốc tế theo phương châm “Việt nam muốn là bạn và là đối tác tin cậy của
các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”. Nhiệm
vụ của hoạt động đối ngoại trong thời gian tới là tiếp tục tạo môi trường và điều kiện
quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã
hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh
chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Việt
Nam sẽ chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội
lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội
chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững an ninh quốc gia, phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái.
❖ Căn cứ vào lĩnh vực tác động của quyền lực nhà nước, chức năng của nhà
nước xã hội chủ nghĩa được chia thành chức năng chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,... 9
Chức năng chính trị:
Chức năng chính trị của Nhà nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) thể hiện ở việc duy
trì, củng cố và phát triển quyền lực chính trị của giai cấp công nhân và nhân dân lao
động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Nhà nước thực hiện chức năng này thông
qua việc bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội, đồng thời
tổ chức hệ thống chính trị vững mạnh. Ở Việt Nam, chức năng chính trị được cụ thể hóa
qua việc Hiến pháp 2013 khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng (Điều 4), cũng như qua
việc tổ chức thành công các kỳ bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, góp phần
xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa rộng rãi, ổn định chính trị và tăng cường khối
đại đoàn kết toàn dân tộc.
Chức năng kinh tế:
Chức năng kinh tế của Nhà nước XHCN là định hướng, quản lý và điều tiết các
hoạt động kinh tế nhằm bảo đảm tăng trưởng bền vững đi đôi với công bằng xã hội.
Nhà nước không trực tiếp can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh như trước đây, mà chủ yếu thực hi
ện vai trò kiến tạo, ban hành chính sách, tạo môi trường thuận lợi
cho các thành phần kinh tế phát triển bình đẳng, đúng định hướng. Ở Việt Nam, điều
này thể hiện qua việc xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, ban hành các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, thu hút đầu tư trong nước
và nước ngoài, đồng thời phát triển các ngành mũi nhọn như công nghệ cao, công nghiệp
chế biến, kinh tế số, theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.
Chức năng văn hóa:
Trong lĩnh vực văn hóa, Nhà nước XHCN thực hiện chức năng bảo tồn và phát
huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa
nhân loại để xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nhà nước không chỉ
hỗ trợ tài chính mà còn hoạch định chiến lược, chính sách phát
triển văn hóa lâu dài, đồng thời chủ động đấu tranh với các hiện tượng phi văn hóa, lai
căng, phản động. Ở Việt Nam, chức năng này được thể hiện qua việc triển khai Chiến
lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2030, bảo tồn di sản như nghệ thuật Đông
Hồ, ca trù, nhã nhạc cung đình Huế, … đồng thời thúc đẩy công nghiệp văn hóa gắn với
chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.
Chức năng xã hội:
Chức năng xã hội của Nhà nước XHCN thể hiện ở việc chăm lo, bảo vệ và nâng
cao đời sống vật chất, tinh thần cho toàn thể nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội, chăm
sóc nhóm yếu thế và thực hiện công bằng xã hội. Nhà nước thiết lập các hệ thống y tế,
giáo dục, bảo hiểm xã hội, chính sách trợ giúp xã hội cho người nghèo, người tàn tật, 10
trẻ em mồ côi và đồng bào dân tộc thiểu số. Tại Việt Nam, chức năng xã hội hiện nay
được triển khai mạnh mẽ qua các chương trình mục tiêu quốc gia như giảm nghèo bền
vững, xây dựng nông thôn mới, hỗ trợ vùng sâu vùng xa, và mở rộng bảo hiểm y tế toàn
dân, giúp tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 2,93% vào năm 2023, góp phần thực hiện mục
tiêu "không ai bị bỏ lại phía sau" trong phát triển đất nước.
❖ Căn cứ vào tính chất của quyền lực nhà nước, chức năng của nhà nước được
chia thành chức năng giai cấp (trấn áp) và chức năng xã hội (tổ chức và xây dựng).
Xuất phát từ bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa, nên việc thực hiện các chức
năng của nhà nước cũng có sự khác biệt so với các nhà nước trước đó. Đối với các nhà
nước bóc lột, nhà nước của thiểu số thống trị đối với đa số nhân dân lao động, nên việc
thực hiện chức năng trấn áp đóng vai trò quyết định trong
việc duy trì địa vị của giai
cấp nắm quyền chiếm hữu tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội.
Còn trong nhà nước xã hội xã hội chủ nghĩa, mặc dù vẫn còn chức năng trấn áp,
nhưng đó là bộ máy do giai cấp công nhân và nhân dân lao động tổ chức ra để trấn áp
giai cấp bóc lột đã bị lật đổ và những phần tử chống đối để bảo vệ thành quả cách mạng,
giữ vững an ninh chính trị, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
Mặc dù trong thời kỳ quá độ, sự trấn áp vẫn còn tồn tại như một tất yếu, nhưng đó là sự
thật trấn áp của đa số nhân dân lao động đối với thiếu số bóc lột. V.I.Lênin khẳng định:
"Bất cứ một nhà nước ào n
cũng đều có nghĩa là ùng d
bạo lực; nhưng toàn bộ sự khác
nhau là ở chỗ dùng bạo lực đối ớ
v i những người bị bóc lột hay đối ới v kẻ đi bóc lột”.
Theo V.I.Lênin, mặc dù trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa c ng
ộ sản, “cơ quan đặc biệt,
bộ máy trấn áp đặc biệt là “nhà nước” vẫn còn cần thiết, nhưng
nó đã là nhà nước quá độ, mà không còn là à
nh nước theo đúng nghĩa của nó nữa”.
Trong nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chức năng trấn áp vẫn được duy trì,
nhưng có bản chất khác hoàn toàn so với nhà nước bóc lột trước đây. Đây là công cụ
mà giai cấp công nhân và nhân dân lao động sử dụng để trấn áp những thế lực phản
động, chống đối, bảo vệ thành quả cách mạng; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn
xã hội; tạo điều kiện cho sự phát triển ổn định và bền vững của đất nước. Như vậy, trấn
áp không phải nhằm duy trì đặc quyền đặc lợi cho thiểu số, mà nhằm bảo vệ lợi ích
chung của toàn thể nhân dân.
Nhà nước Việt Nam nhận thức rõ rằng để bảo vệ thành quả cách mạng và giữ
vững an ninh chính trị, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật là điều kiện tiên
quyết. Vì vậy, Việt Nam đã ban hành và cập nhật nhiều đạo luật quan trọng như Luật
An ninh quốc gia (2004), Luật Phòng chống khủng bố (2013) và đặc biệt là Luật An 11
ninh mạng (2018). Các bộ luật này tạo hành lang pháp lý để phòng ngừa, đấu tranh với
âm mưu lật đổ, phá hoại của các thế lực thù địch, đồng thời bảo vệ vững chắc chủ quyền
quốc gia trên không gian thực và không gian mạng. Việc ban hành Luật An ninh mạng
2018 là minh chứng rõ nét, nhằm ngăn chặn hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, kích
động bạo loạn trên mạng xã hội, bảo vệ an toàn thông tin cá nhân và lợi ích quốc gia.
Cùng với việc hoàn thiện thể chế, Nhà nước Việt Nam đặc biệt chú trọng thực
hiện các biện pháp nghiệp vụ nhằm bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.
Các lực lượng chuyên trách như Công an Nhân dân, Quân đội Nhân dân, Cảnh sát cơ
động thường xuyên tổ chức tuần tra, kiểm soát, triệt phá kịp thời những âm mưu phá
hoại, khủng bố, buôn bán ma túy và các loại tội phạm nguy hiểm. Thực tế cho thấy,
trong năm 2023, lực lượng Công an Việt Nam đã phát hiện và triệt phá thành công nhiều
tổ chức phản động, điển hình như tổ chức "Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời",
góp phần quan trọng trong việc giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an toàn tuyệt đối
các sự kiện lớn của đất nước.
Khác với các hình thức trấn áp đơn thuần ở nhà nước bóc lột, Nhà nước Việt
Nam xã hội chủ nghĩa thực hiện biện pháp trấn áp một cách nhân văn, kết hợp hài hòa
với giáo dục, tuyên truyền và cảm hóa. Bên cạnh việc kiên quyết xử lý các hành vi phạm
tội nghiêm trọng, Nhà nước còn thực hiện các chương trình hòa nhập cộng đồng dành
cho người sau cai nghiện, người chấp hành xong án phạt tù và các đối tượng lầm đường
lạc lối. Thông qua hệ thống cơ sở giáo dục, dạy nghề, chính sách hỗ trợ việc làm và tái
hòa nhập, nhiều cá nhân đã có cơ hội làm lại cuộc đời, đóng góp tích cực cho xã hội.
Điều này thể hiện bản chất nhân đạo, tiến bộ của Nhà nước Việt Nam, vừa giữ vững kỷ
cương phép nước, vừa phát huy tính nhân văn trong quản lý xã hội.
Nhà nước Việt Nam kiên định thực hiện chức năng trấn áp trong lĩnh vực bảo vệ
chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ. Trước những diễn biến phức tạp trên biển
Đông và những hành vi xâm phạm chủ quyền từ bên ngoài, Việt Nam đã triển khai đồng
bộ các biện pháp ngoại giao, pháp lý và thực địa. Các lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển
và Bộ đội Biên phòng thường xuyên tuần tra, ki
ểm soát chặt chẽ biên giới, vùng biển
và vùng trời của Tổ quốc. Điển hình, năm 2023, Việt Nam đã tăng cường hoạt động tuần tra liên hợp trên b
iển với các quốc gia láng giềng, đồng thời đấu tranh kiên quyết
tại các diễn đàn quốc tế để phản bác yêu sách phi pháp, bảo vệ vững chắc chủ quyền và
tạo môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển kinh tế - xã hội.
1.4.2. Vai trò của nhà nước pháp quyn xã h i ch
nghĩa trong thời k i m đổ ới
Vai trò của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới thể hiện
qua các khía cạnh chính sau: 12
Thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng và bảo đảm quyền làm chủ của
nhân dân: Nhà nước có vai trò thể chế hóa bằng pháp luật quyền hạn, lợi ích, nghĩa vụ
của nhân dân lao động và quản lý kinh tế, xã hội theo pháp luật. Đại hội XI của Đảng
nhấn mạnh việc tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa, bảo đảm Nhà nước thực sự là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do
Đảng lãnh đạo, thực hiện tốt chức năng quản lý kinh tế, quản lý xã hội.
Quản lý nhà nước bằng pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa: Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, bảo
đảm vị trí tối thượng của pháp luật trong đời sống xã hội. Nghị quyết Hội nghị Trung
ương 8 khóa VII đã xác định xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam quản lý xã hội
bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức xã hội chủ nghĩa.
Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân: Dân chủ xã
hội chủ nghĩa được xác định là thực chất của việc đổi mới và kiện toàn hệ thống chính
trị, vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới. Nhà nước có trách nhiệm
thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên
chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân. Phương hướng
cơ bản hàng đầu trong giai đoạn mới là giữ vững và phát huy bản chất tốt đẹp của Nhà
nước, ngăn chặn và đẩy lùi tiêu c
ực, tham nhũng, lãng phí, quan liêu.
Cải cách bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả: Đường lối
đổi mới của Đảng đã đặt ra yêu cầu cải cách bộ máy nhà nước, xóa bỏ cơ chế tập trung
quan liêu bao cấp, xây dựng cơ chế quản lý mới phù hợp với yêu cầu của cải cách kinh
tế. Đại hội VII chủ trương tiếp tục đẩy mạnh cải cách bộ máy nhà nước theo hướng Nhà
nước thực sự là của dân, do dân, vì dân, quản lý xã hội bằng pháp luật, dưới sự lãnh đạo
của Đảng, tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện thống nhất
quyền lực nhưng phân công, phân cấp rành mạch.
Trước Đổi mới, bộ máy nhà nước hoạt động theo cơ chế tập trung quan liêu bao
cấp, cồng kềnh, chồng chéo chức năng, hiệu quả thấp. V
ì vậy, Đại hội VI (1986) khởi
xướng “Đổi mới toàn diện”, trong đó có cải cách bộ máy nhà nước. Đại hội VII tiếp tục
nhấn mạnh việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, quản lý xã hội bằng
pháp luật, tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện thống nhất
quyền lực nhưng phân công, phân cấp rành mạch. Đại hội đã có những bước tiến trong
việc sắp xếp, tinh giản bộ máy, phân cấp, phân quyền, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. 13
Tuy đã có những nỗ lực nhất định trong việc tinh gọn bộ máy, hiện nay, bộ máy
nhà nước vẫn còn cồng kềnh, chi thường xuyên chiếm khoảng 70% ngân sách, gây khó
khăn cho việc tăng lương và đầu tư phát triển. Do đó, Tổng bí thư Tô Lâm đã chỉ đạo:
• Cần tiếp tục tinh gọn bộ máy, giảm biên chế, giảm chi tiêu thường xuyên để dành
nguồn lực đầu tư phát triển.
• Tinh giản không có nghĩa là cắt giảm cơ học, mà là loại bỏ những vị trí không
cần thiết, giảm những công việc không hiệu quả, tập trung nguồn lực cho những lĩnh vực then chốt.
• Khẩn trương rà soát, sắp xếp lại tổ chức bộ máy, xác định rõ chức năng, nhiệm
vụ, trách nhiệm cụ thể, khắc phục triệt để tình trạng chồng chéo.
• Gắn cải cách tổ chức bộ máy với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng
lực, ngang tầm nhiệm vụ, có biên chế hợp lý.
• Thực hiện nghiêm nguyên tắc một cơ quan thực hiện nhiều việc; một việc chỉ
giao cho một cơ quan chủ trì và chịu trách nhiệm chính.
Đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội, Chính phủ và các cơ
quan tư pháp: Trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước đặc biệt chú trọng đổi mới
công tác lập pháp và giám sát của Quốc hội, cải cách nền hành chính nhà nước, và cải
cách tổ chức và hoạt động tư pháp. Mục tiêu là xây dựng một hệ thống các cơ quan nhà
nước hoạt động hiệu lực, hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Tăng cường mối liên hệ giữa Nhà nước và nhân dân: Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân
dân. Việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân qua các hình thức dân chủ đại diện và
dân chủ trực tiếp để nhân dân tham gia xây dựng và bảo vệ Nhà nước là một yêu cầu
quan trọng trong giai đoạn mới.
Bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội: Đây là một trong những
chức năng cơ bản nhất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện ổn
định cho công cuộc đổi mới.
Nhìn chung, trong thời kỳ đổi mới, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam đã từng bước được xây dựng và hoàn thiện, trở thành công cụ quan trọng để thực
hiện đường lối đổi mới của Đảng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, quản lý đất
nước bằng pháp luật, và hướng tới mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh. Quá trình này vừa kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về một nhà nước của dân,
do dân, vì dân, vừa tiếp thu và vận dụng những nguyên tắc phổ quát của nhà nước pháp
quyền phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. 14
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC
PHÁP QUYỀN XHCN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Nhng kết qu ả đạt được
Tăng cường dân chủ và bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân
Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đặc
biệt chú trọng nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Đảng Cộng sản
Việt Nam đã thể hiện nhận thức ngày càng đầy đủ và sâu sắc về vai trò chủ thể của
Nhân dân trong quản lý xã hội. Hiến pháp năm 2013 cùng các văn bản pháp luật khác
đã thể chế hóa các chủ trương, tạo cơ chế để Nhân dân thực hiện quyền giám sát, phản
biện xã hội thông qua Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Quyền dân
chủ trực tiếp như bầu cử, ứng cử, khiếu nại, tố cáo và tiếp cận thông tin ngày càng được
củng cố và mở rộng trong thực tiễn.
Ví dụ: Nghị quyết Đại hội XII đã nhấn mạnh: “Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội
chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Mọi đường lối, chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều xuất phát từ nguyện vọng,
quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến”(4). Hiến
pháp năm 2013 cũng đã khẳng định “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do
nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên
minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” (Ðiều 2),“Nhà
nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ
và bảo đảm quyền con người, quyền công dân” (Điều 3).“Nhân dân thực hiện quyền lực
nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng
Nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”
Bảo vệ quyền con người và quyền công dân trong mọi lĩnh vực
Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong việc công nhận, tôn trọng
và bảo vệ quyền con người. Từ sau Đổi mới (1986), Đảng và Nhà nước đã ban hành
nhiều chủ trương lớn và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người, bao gồm cả
dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Việt Nam đã tham gia nhiều công ước quốc
tế, trong đó có 7/9 công ước cốt lõi về quyền con người của Liên hợp quốc. Quốc hội
và các cơ quan nhà nước khác đã có nhiều nỗ lực trong bảo vệ các quyền và lợi ích hợp
pháp của người dân, nâng cao chất lượng giám sát, xét xử và thi hành pháp luật, hạn
chế oan sai và lạm quyền.
Ví dụ: Việt Nam đã tham gia hầu hết các Công ước quốc tế cơ bản về quyền con
người, cụ thể: Công ước về các Quyền Dân sự và Chính trị 1966 (ICCPR), gia nhập
ngày 24-9-1982; Công ước về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa 1966, gia nhập 15
ngày 24-9-1982; Công ước về Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ 1979,
ký kết ngày 29-7-1980, phê chuẩn ngày 17-2-1982; Công ước về Xoá bỏ mọi hình thức
phân biệt chủng tộc 1969, gia nhập ngày 9-6-1982; Công ước về Quyền Trẻ em 1989,
ký kết ngày 26-1-1990, phê chuẩn ngày 28-2-1990 và hai Nghị định thư bổ sung về trẻ
em trong xung đột vũ trang (ký kết ngày 8-9-2000, phê chuẩn ngày 20-12-2001) và
chống sử dụng trẻ em trong các hoạt động mại dâm và tranh ảnh khiêu dâm (ký kết ngày
8-9-2000, phê chuẩn ngày 20-12-2001); Công ước về Quyền của Người khuyết tật 2006,
ký ngày 22-11-2007 và phê chuẩn ngày 5-2-2015; Công ước Chống tra tấn và các hình
thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo ặ ho c ạ
h nhục con người, ký ngày 7-
11-2013 và phê chuẩn ngày 5-2-2015.
Thượng tôn Hiến pháp và pháp luật – nền tảng
của Nhà nước pháp quyền
Tinh thần thượng tôn pháp luật được khẳng định rõ trong Hiến pháp và hệ thống
chính trị. Các văn bản pháp luật được xây dựng ngày càng đồng bộ, minh bạch, bảo
đảm tính hợp hiến, hợp pháp và khả thi trong thực tiễn. Cơ chế kiểm soát quyền lực,
bảo đảm thực thi pháp luật được cải tiến với sự tham gia giám sát của Nhân dân. Việc
ban hành và tổ chức thực hiện luật được chú trọng, từ xây dựng đến phổ biến pháp luật
đều có bước tiến rõ rệt. Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và phòng, chống tham
nhũng cũng được đẩy mạnh, góp phần giữ gìn kỷ cương và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước.
Ví dụ: Báo cáo tổng kết công tác năm 2022 và phương hướng, nhiệm vụ trọng
tâm công tác năm 2023 (ngày 22/12/2022) của Tòa án nhân dân tối cao đánh giá: số
lượng các loại vụ việc mà Tòa án phải thụ lý, giải quyết năm 2022 tăng gần 6% so với
năm 2021, với tính chất đa dạng, phức tạp. Trong năm 2022, các tòa án đã thụ lý 567.521
vụ việc; về hình sự, đã thụ lý 93.452 vụ với 178.830 bị cáo; đã xét xử nhiều vụ án kinh
tế, tham nhũng do những người có chức vụ, quyền hạn gây ra những thiệt hại đặc biệt
lớn (đã tuyên thu hồi tiền, tài sản đối với 840 vụ, 1.995 bị cáo với số tiền trên 4.027 tỷ
đồng và nhiều tài sản khác). Các tòa án cũng đã đưa ra xét xử 188 vụ với 297 bị cáo
liên quan đến phòng, chống dịch COVID-19. Các tòa án đã thụ lý 444.402 vụ việc dân
sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động; đã ban hành 176 quyết
định buộc thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Đã áp dụng
các biện pháp xử lý hành chính đối với 17.416/17.432 hồ sơ; đã thụ lý 07 yêu cầu bồi
thường theo Luật Trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước; 31 vụ án dân sự mà người bị
oan, sai khởi kiện các cơ quan nhà nước yêu cầu bồi thường(6). Số liệu đó cho thấy,
người vi phạm không chỉ là cá nhân công dân, tổ chức trong xã hội, mà chủ thể vi phạm
có cả cán bộ, công chức, trong đó có cả cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước. 16