







Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ 2 NĂM HỌC 2024 – 2025
(Phần dành cho sinh viên/ học viên)
Bài thi học phần: Lịch sử Đảng Số báo danh: 67 Mã số đề thi: 31
Mã số SV/HV: 22D120143 Ngày thi: 12/06/2025 Lớp: 242_HCMI0131_04 Tổng số trang: 07
Họ và tên: Nguyễn Hải Nam Điểm kết luận:
GV chấm thi 1: …….………………………......
GV chấm thi 2: …….………………………...... Bài làm SV/HV không được viết vào cột Câu 1: này)
* Quan điểm của Đảng về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm Điểm từng câu,
đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ đổi mới: diểm thưởng (nếu có) và điểm toàn bài
Thời kỳ đổi mới của đất nước ta được đánh dấu sự bắt đầu từ Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12- 1986). Sau gần 40 năm đổi mới và
phát triển, bên cạnh những đổi mới về kinh tế, dưới sự lãnh đạo của Đảng và GV chấm 1:
sự quản lý của Nhà nước các lĩnh vực trong đời sống xã hội từ chính trị, văn Câu 1: ……… điểm
hóa, đến an ninh - quốc phòng và đối ngoại đã đạt được những thành tựu Câu 2: ……… điểm
vượt bậc. Trong công cuộc đổi mới đó, đổi mới về văn hóa đã tạo nên sức ………………….
sống mới, diện mạo mới cho nền văn hóa Việt Nam.
Văn hóa Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, ………………….
đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, là kết quả giao Cộng …… điểm
lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới. Vǎn hóa Việt Nam
tiếp tục được gìn giữ và phát huy, qua đó đã góp phần quyết định vào những GV chấm 2:
thắng lợi to lớn của nhân dân ta trong sự nghiệp đổi mới. Câu 1: ……… điểm
Theo Hội nghị Trung ương 5, khóa VIII (7-1998) đã ban hành Nghị
quyết xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc Câu 2: ……… điểm
dân tộc. Trung ương nhấn mạnh quan điểm: “Nền vǎn hóa mà chúng ta xây ………………….
dựng là nền vǎn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Tiên tiến là yêu nước ………………….
và tiến bộ mà nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH theo chủ Cộng …… điểm
nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm mục tiêu tất cả vì con
người, vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự do, toàn diện của con
người trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và
Họ tên SV/HV: Nguyễn Hải Nam - Mã LHP: 242_HCMI0131_04 Trang 1/7
tự nhiên. Tiên tiến không chỉ về nội dung tư tưởng mà cả trong hình thức biểu hiện, trong các
phương tiện chuyển tải nội dung. Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh
hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, được vun đắp lên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu
tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần
đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân – gia đình – làng xã – tổ quốc, lòng nhân ái khoan
dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, cần cù sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, giản dị
trong lối sống. Bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc kết hợp với mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp thu
có chọn lọc văn hóa các dân tộc khác. Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc đi đôi với chống lạc
hậu, lỗi thời trong phong tục, tập quán, lề thói cũ. Nghị quyết cũng đề ra mười nhiệm vụ cụ thể
xây dựng và phát triển vǎn hóa là: Xây dựng con người Việt Nam; xây dựng môi trường vǎn
hóa; phát triển sự nghiệp vǎn học - nghệ thuật; bảo tồn và phát huy các di sản vǎn hóa; phát
triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ; phát triển đi đôi với quản lý tốt hệ
thống thông tin đại chúng; bảo tồn, phát huy và phát triển vǎn hóa các dân tộc thiểu số; chính
sách vǎn hóa đối với tôn giáo; củng cố, xây dựng và hoàn thiện thể chế vǎn hóa; mở rộng hợp
tác quốc tế về vǎn hóa.
Trong đại hội IX (2001), Đảng ta một lần nữa nhấn mạnh chủ trương xây dựng nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục
tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội; làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của nhân dân; góp phần xây
dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất,
về năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối
sống văn hoá, quan hệ hài hòa trong gia đình, cộng đồng và xã hội. Quan điểm xây dựng nền
văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc tiếp tục được duy trì trong phương hướng thứ ba của
tám phương hướng cơ bản xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta được đưa ra trong “Cương lĩnh
2011”. Cương lĩnh 2011 làm rõ xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát
triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến
bộ, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc. Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa
tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây
dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người,
với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao.
Qua 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII, nước ta đã đạt những thành
tựu rất nổi bật trong việc xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Hội nghị Trung ương 9 (5-2014) đã chủ trương tiếp tục xây dựng và phát triển văn hoá, con
người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Quan điểm chỉ đạo của Trung
ương: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất
nước. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội. Xây dựng nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân
tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Trong xây dựng văn
hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính
cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo.
Thông qua các Đại hội, Hội nghị cùng với những Nghị quyết, Cương lĩnh đề ra, Đảng đã
khẳng định tầm quan trọng cũng như quyết tâm trong công cuộc xây dựng nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Họ tên SV/HV: Nguyễn Hải Nam - Mã LHP: 242_HCMI0131_04 Trang 2/7
* Liên hệ thức tiễn việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ngày nay:
Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, văn hóa luôn là nền tảng tinh thần
vững chắc, là cội nguồn sức mạnh nội sinh giúp dân tộc Việt Nam vượt qua muôn vàn thử
thách cam go. Bản sắc văn hóa dân tộc không chỉ thể hiện trong các giá trị vật chất và tinh
thần được lưu giữ qua các thời kỳ lịch sử, mà còn thể hiện sinh động trong cách nghĩ, cách
sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng, đạo lý và lối ứng xử của con người Việt Nam. Ngày
nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc giữ gìn và
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc đang đặt ra những yêu cầu và thách thức mới, đòi hỏi mỗi
cá nhân, đặc biệt là thế hệ trẻ, phải nhận thức đúng đắn vai trò của văn hóa dân tộc, từ đó có
hành động thiết thực để bảo vệ và phát triển những giá trị quý báu ấy.
Đảng ta từ rất sớm đã xác định rõ vai trò đặc biệt quan trọng của văn hóa đối với sự phát
triển bền vững của đất nước. Hội nghị Trung ương 5, khóa VIII (7-1998) đã ban hành Nghị
quyết xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đánh
dấu một bước tiến mới cho nền văn hóa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Đảng khẳng định
những khẳng định giá trị nội tại của văn hóa đối với con người và cho thấy văn hóa là thành
tố cấu thành nên mô hình phát triển bền vững, góp phần tạo nên bản lĩnh, khí phách, nhân
cách con người Việt Nam trong thời đại mới.
Trong thời kỳ hiện nay, khi đất nước ta đang đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện
đại hóa và hội nhập quốc tế, nền văn hóa dân tộc đứng trước những cơ hội và thách thức to
lớn. Một mặt, quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa tạo điều kiện cho chúng ta tiếp cận với
tinh hoa văn hóa nhân loại, làm phong phú thêm đời sống tinh thần và nâng cao dân trí. Mặt
khác, sự xâm nhập ồ ạt của các trào lưu văn hóa ngoại lai, đặc biệt là các sản phẩm phản văn
hóa, lại đang trực tiếp đe dọa đến sự bền vững của các giá trị truyền thống, làm mai một
nhiều phong tục, tập quán tốt đẹp và khiến một bộ phận thanh niên mất phương hướng văn hóa.
Trước thực trạng đó, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cần được thực
hiện một cách toàn diện, đồng bộ, với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, các tổ chức xã
hội và từng cá nhân. Trong đó, nhiệm vụ hàng đầu là tiếp tục khẳng định những giá trị cốt
lõi, đặc trưng của văn hóa Việt Nam – đó là lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần đoàn kết
cộng đồng, lòng nhân ái, trọng nghĩa tình, tính cần cù, sáng tạo trong lao động và tinh thần
hiếu học. Tinh thần đoàn kết cộng đồng, lòng nhân ái, trọng nghĩa tình đã được quân và dân
ta thể hiện cực rõ qua đại dịch Covid 19 hay gần đây nhất là siêu bão Yagi đều khiến bạn bè
quốc tế đều nể phục. Hoặc gần đây nhất là lễ kỷ niệm 50 năm giải phóng miền Nam thống
nhất đất nước đã được toàn dân ta hưởng ứng vô cùng mãnh liệt cho thấy lòng yêu nước
nồng nàn vẫn luôn chảy trong máu của từng người dân Việt Nam,… Bên cạnh đó, Đảng và
Nhà nước đã ban hành những chính sách phù hợp để khuyến khích, bảo tồn các di sản văn
hóa vật thể và phi vật thể, từ nghệ thuật dân gian, lễ hội truyền thống, đến các làn điệu dân
Họ tên SV/HV: Nguyễn Hải Nam - Mã LHP: 242_HCMI0131_04 Trang 3/7
ca, nghề thủ công cổ truyền. Và có một điều vô cùng đáng mừng là hiện nay các giá trị về
văn hóa ngày càng được tôn vinh và quan tâm nhiều hơn. Việc sử dụng những hình ảnh,
nghệ thuật truyền giống của dân tộc ngày càng phổ biến và được các bạn trẻ yêu thích, đón
nhận nhiều hơn qua các chương trình như “Anh trai vượt ngàn trông gai” hay MV Bắc Bling
của Hòa Minzy kết hợp với nghệ sĩ Xuân Hinh nhanh chóng viral sau vài giờ ra mắt hoặc
gần nhất là sự kiện Sea Of Hope TMU2025 với chủ đề “Làn sóng di sản” cũng đã thể hiện
được sự yêu quý bản sắc văn hóa dân tộc và gìn giữ nó của sinh viên Trường Đại học Thương mại.
Về phía bản thân em, tự hào là một người Việt Nam máu đỏ da vàng, là một sinh viên
đang học tập trong thời đại công nghệ số và hội nhập sâu rộng, em nhận thức sâu sắc rằng
việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc không chỉ là của toàn dân tộc mà còn là
trách nhiệm của mỗi người dân Việt Nam. Cá nhân em luôn cố gắng gìn giữ và phát huy
những bản sắc tốt đẹp của văn hóa dân tộc từ thái độ, ứng xử lễ phép, chuẩn mực với mọi
người xung quanh hay việc học hỏi, tìm hiểu những nghệ thuật truyền thống, độc đáo của
dân tộc thông qua các làn điệu dân ca ngọt ngào hay những chuyến thăm quan di tích văn
hóa, lịch sử, bảo tàng càng làm em hiểu và yêu văn hóa nước nhà hơn. Và đặc biệt là tinh
thần đoàn kết cũng như lòng nồng nàn yêu nước là điều làm em luôn tự hào và biết ơn vì
mình là người Việt Nam, những phẩm chất tốt đẹp đó tự nhiên chảy trong máu khi em được
sinh ra và lớn lên ở đất nước tươi đẹp này. Luôn sẵn sàng giúp đỡ mọi người xung quanh khi
gặp khó khăn và lên án, tố cáo, bài trừ những hành động xuyên tạc, phá hoại văn hóa hay
những trào lưu lệch chuẩn, độc hại.
Bên cạnh đó, em cho rằng cần phát huy vai trò của văn hóa trong việc xây dựng hình ảnh
đất nước, con người Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế. Việc đưa văn hóa truyền thống ra
thế giới không chỉ thông qua lễ hội, ẩm thực, du lịch để thu hút sự quan tâm của bạn bè quốc
tế mà còn cần có những tác phẩm văn học, nghệ thuật, điện ảnh chất lượng cao, hay đặc biệt
là việc cư sử văn minh trên không gian mạng cho thấy truyền thống đạo đức tốt đẹp của
người dân Việt Nam. Muốn làm được điều đó, thế hệ trẻ ngày nay cần phải không ngừng
học tập, rèn luyện cả về tri thức, lẫn đạo đức và kỹ năng hội nhập.
Tóm lại, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là một nhiệm vụ thiêng
liêng, lâu dài và đầy thử thách. Đó không chỉ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước hay các cơ
quan chức năng mà là nghĩa vụ của mọi công dân, đặc biệt là thế hệ trẻ - những người sẽ
quyết định tương lai của đất nước. Chỉ khi mỗi người Việt Nam biết yêu quý, trân trọng và
phát huy những giá trị văn hóa dân tộc thì dân tộc ta mới có thể trường tồn, phát triển bền
vững giữa dòng chảy toàn cầu hóa đầy biến động. Câu 2:
* Nội dung của Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc” được Đảng đề ra vào ngày 25-11-1945:
Họ tên SV/HV: Nguyễn Hải Nam - Mã LHP: 242_HCMI0131_04 Trang 4/7
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành
lập, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.
Tuy nhiên, chính quyền cách mạng còn non trẻ đã phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thử
thách cả trong nước lẫn quốc tế. Trong bối cảnh đó, ngày 25 tháng 11 năm 1945, Ban
Thường vụ Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc” nhằm xác định rõ
phương hướng, nhiệm vụ chiến lược cấp bách để bảo vệ và xây dựng chính quyền cách
mạng. Đây là một văn kiện có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn, thể hiện sự nhạy bén, sáng
suốt của Đảng trong việc đánh giá tình hình và xác định kẻ thù chính.
Trước hết, để hiểu được nội dung và giá trị của Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc”, cần đặt
văn kiện này trong bối cảnh lịch sử cụ thể lúc bấy giờ. Sau khi nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa ra đời, nhân dân ta vô cùng phấn khởi và tin tưởng vào tương lai tươi sáng của đất
nước. Tuy nhiên, những thế lực phản cách mạng và thù địch cả trong và ngoài nước đã
nhanh chóng lợi dụng tình hình để âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng. Từ bên trong, các
thế lực phản động như Việt Quốc, Việt Cách câu kết với bọn tay sai của Tưởng Giới Thạch
gây rối loạn, kích động bạo loạn, âm mưu cướp chính quyền. Ở miền Bắc, hơn 20 vạn quân
Tưởng kéo vào với danh nghĩa “giải giáp quân Nhật” nhưng thực chất là để can thiệp, thao
túng chính trị, cấu kết với các phe nhóm phản động. Ở miền Nam, thực dân Pháp với sự giúp
sức của quân đội Anh đã trắng trợn tiến hành các hành động quân sự nhằm tái chiếm các
vùng đất mà cách mạng đã giành được. Những biến động phức tạp và nguy hiểm đó đã đe
dọa trực tiếp đến thành quả của cách mạng và sự tồn vong của chế độ dân chủ nhân dân non trẻ.
Trước tình hình đó, ngày 25/11/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị
“Kháng chiến kiến quốc”, trong đó xác định rõ hai nhiệm vụ chiến lược hàng đầu là: “Kháng
chiến và kiến quốc”. Đây là sự kết tinh tư duy chiến lược của Đảng trong giai đoạn đầy cam
go, thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng nền
móng cho một nhà nước kiểu mới.
Về nội dung, Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc” đã nêu rõ: “Lúc này cuộc cách mạng của
chúng ta là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc chống thực dân Pháp xâm lược, bảo vệ nền
độc lập dân tộc”. Đây là một sự xác định dứt khoát, rõ ràng và chính xác về tính chất của
cuộc cách mạng giai đoạn mới. Đồng thời, Đảng nhấn mạnh: “Kẻ thù chính của nhân dân
Đông Dương lúc này là thực dân Pháp xâm lược”. Quan điểm này có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng, đặt cơ sở cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tập trung lực lượng vào một mục tiêu
duy nhất là đánh bại thực dân Pháp, bảo vệ nền độc lập non trẻ của dân tộc.
Cùng với việc xác định kẻ thù chính là thực dân Pháp, Chỉ thị cũng khẳng định những
phương châm cơ bản về chiến lược cách mạng: về đối nội, phải phát triển lực lượng của dân
tộc, đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân, kể cả những người từng làm việc với chính quyền
cũ nhưng không phản động, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân; về đối ngoại, kiên quyết
Họ tên SV/HV: Nguyễn Hải Nam - Mã LHP: 242_HCMI0131_04 Trang 5/7
thực hiện chính sách ngoại giao độc lập, mềm dẻo, tranh thủ sự ủng hộ của các lực lượng
tiến bộ, kể cả thỏa hiệp tạm thời với quân Tưởng và Pháp trong những giới hạn cần thiết để
bảo vệ chính quyền và lực lượng cách mạng.
Bên cạnh đó, Chỉ thị nhấn mạnh yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang, chuẩn bị cho
kháng chiến lâu dài. Đảng nhận định rằng, không thể chủ quan trước âm mưu và hành động
của kẻ thù, do đó cần tích cực tổ chức, huấn luyện và vũ trang cho lực lượng tự vệ, dân
quân, từng bước nâng cao năng lực chiến đấu của toàn dân, sẵn sàng đối phó với mọi cuộc
tấn công của thực dân Pháp.
Chỉ thị cũng đặt ra yêu cầu phải tăng cường công tác tuyên truyền, giác ngộ quần chúng,
chống tư tưởng hoang mang, chủ quan, khơi dậy tinh thần yêu nước và ý thức tự chủ trong
toàn dân. Mặt khác, cần khẩn trương củng cố bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa
phương, chống tham nhũng, quan liêu, thực hiện cải cách ruộng đất, chăm lo đời sống nhân
dân, nhất là giải quyết nạn đói, nạn mù chữ và các hậu quả của chiến tranh, từ đó củng cố
lòng tin của nhân dân vào chính quyền cách mạng.
Một điểm nổi bật nữa trong Chỉ thị là sự kết hợp giữa “kháng chiến” và “kiến quốc”.
Đảng khẳng định rằng, hai nhiệm vụ này có quan hệ mật thiết, không thể tách rời: chỉ có
kháng chiến thành công thì mới bảo vệ được nền độc lập, đồng thời chỉ có kiến quốc thành
công mới tạo ra sức mạnh bền vững để đánh thắng kẻ thù. Điều đó thể hiện tầm nhìn chiến
lược của Đảng, không chỉ nhằm bảo vệ thành quả cách mạng trước mắt mà còn hướng đến
xây dựng một nước Việt Nam dân chủ, độc lập, giàu mạnh và tiến bộ.
* Lý do Đảng xác định thực dân Pháp là kẻ thù chính của cách mạng Việt Nam
Việc Đảng xác định thực dân Pháp là kẻ thù chính của nhân dân Việt Nam trong Chỉ thị
“Kháng chiến kiến quốc” (25/11/1945) không chỉ là một kết luận chính trị kịp thời và đúng
đắn, mà còn là kết quả của sự phân tích toàn diện các mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt
Nam thời kỳ sau Cách mạng Tháng Tám. Đó là thời điểm đất nước vừa giành được độc lập,
chính quyền cách mạng còn non trẻ, trong khi thù trong giặc ngoài đang cấu kết với nhau
nhằm phá hoại thành quả của cách mạng.
Thứ nhất, về bối cảnh lịch sử quốc tế và trong nước. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, trật
tự quốc tế có nhiều biến động mạnh mẽ. Các nước thực dân, trong đó có Pháp, đều tìm cách
khôi phục lại hệ thống thuộc địa để cứu vãn nền kinh tế và vị thế quốc tế. Thực dân Pháp,
vốn đã áp đặt ách cai trị ở Đông Dương gần một thế kỷ, không dễ dàng chấp nhận sự ra đời
của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngay sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh, Pháp tìm
cách quay trở lại Việt Nam với dã tâm tái chiếm Đông Dương. Chúng lợi dụng lực lượng
quân Anh và Tưởng Giới Thạch để thực hiện mưu đồ tái xâm lược miền Nam nước ta. Vì
vậy, Đảng ta chủ trương “hòa hoãn với Tưởng để tập trung đối phó với Pháp”.
Họ tên SV/HV: Nguyễn Hải Nam - Mã LHP: 242_HCMI0131_04 Trang 6/7
Thứ hai, xét về mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam thời kỳ đó, mâu thuẫn chủ yếu
nhất, chi phối toàn bộ tình hình cách mạng, chính là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với
chủ nghĩa thực dân Pháp xâm lược. Đây là mâu thuẫn có tính chất đối kháng trực tiếp, vì
Pháp không chỉ can thiệp về chính trị mà còn hành động quân sự trắng trợn, tàn sát đồng bào
ta, cướp bóc tài nguyên, đặt ách cai trị thực dân trở lại. Trong khi đó, mâu thuẫn nội bộ giai
cấp hoặc mâu thuẫn với các thế lực phản động trong nước như Việt Quốc, Việt Cách tuy có
gay gắt, nhưng không phải là mối đe dọa chính ngay thời điểm ấy. Hơn nữa, về bản chất,
chủ nghĩa thực dân Pháp không chỉ là lực lượng quân sự mà còn là biểu hiện của chế độ áp
bức, bóc lột hà khắc nhất trong lịch sử dân tộc ta. Dưới ách đô hộ của Pháp trước năm 1945,
người dân Việt Nam bị tước đoạt hoàn toàn quyền tự do dân chủ, bị cưỡng bức lao động, bị
áp đặt chính sách văn hóa nô dịch, giáo dục ngu dân và cướp bóc tài nguyên. Mâu thuẫn
giữa nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp do đó không chỉ là mâu thuẫn về độc lập dân tộc,
mà còn là mâu thuẫn giai cấp, văn hóa và lợi ích sống còn. Đặc biệt, chính những hành động
cụ thể của Pháp ngay sau Cách mạng Tháng Tám đã cho thấy rõ bản chất phản động, xâm
lược của chúng. Chúng không chấp nhận một nước Việt Nam độc lập; ngược lại, bằng mọi
giá, chúng muốn biến Việt Nam trở lại thành thuộc địa, thậm chí tàn sát cả dân thường để
đạt được mục tiêu đó. Do vậy, việc xác định thực dân Pháp là kẻ thù chính không chỉ xuất
phát từ nhận định lý luận, mà còn là phản ánh thực tiễn khách quan và cấp bách.
Thứ ba, về chiến lược cách mạng. Việc xác định đúng kẻ thù chính là điều kiện tiên
quyết để tập trung nguồn lực, xác định đường lối và sách lược đúng đắn. Nếu không xác
định đúng đối tượng tác chiến chính, cách mạng có thể bị phân tán lực lượng, mắc sai lầm về
chiến lược. Trong tình thế “thù trong giặc ngoài”, nếu vừa chống Pháp, vừa chống Tưởng,
vừa chống phản động trong nước một cách không có trọng tâm, chính quyền cách mạng sẽ
sụp đổ. Vì thế, Đảng đã thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng khi ưu tiên đấu tranh chống kẻ
thù nguy hiểm nhất – thực dân Pháp, đồng thời tìm cách hòa hoãn hoặc trung lập hóa các lực
lượng khác để bảo toàn lực lượng.
Cuối cùng, nhận thức rõ ràng về kẻ thù chính còn giúp củng cố tinh thần đại đoàn kết
toàn dân. Chỉ khi nào xác định rõ kẻ thù xâm lược, thì toàn thể nhân dân, không phân biệt
giai cấp, tôn giáo, thành phần xã hội, mới có thể đoàn kết lại dưới ngọn cờ kháng chiến bảo
vệ nền độc lập. Đây cũng chính là tinh thần cốt lõi trong Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc”:
tập hợp lực lượng toàn dân tộc, củng cố khối đại đoàn kết để tiến hành cuộc kháng chiến lâu
dài, toàn diện, chính nghĩa và nhất định thắng lợi.
Từ những phân tích trên, có thể khẳng định rằng, trong bối cảnh lịch sử cuối năm 1945,
việc Đảng xác định thực dân Pháp là kẻ thù chính của dân tộc là một quyết định mang tính
chiến lược đúng đắn, phản ánh sâu sắc sự hiểu biết toàn diện về thực tiễn, bản chất giai cấp
và tương quan lực lượng trong và ngoài nước. Chính nhờ đường lối đúng đắn này, Đảng đã
lãnh đạo nhân dân ta chuẩn bị và bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
Họ tên SV/HV: Nguyễn Hải Nam - Mã LHP: 242_HCMI0131_04 Trang 7/7
với tư thế chủ động, tinh thần quyết chiến, quyết thắng – đưa đến thắng lợi vĩ đại tại Điện
Biên Phủ năm 1954, kết thúc vẻ vang chín năm trường kỳ kháng chiến.
Họ tên SV/HV: Nguyễn Hải Nam - Mã LHP: 242_HCMI0131_04 Trang 8/7