



















Preview text:
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
------------------&------------------
KHOA: LUẬT QUỐC TẾ LỚP: AUF46
MÔN HỌC: CÔNG PHÁP QUỐC TẾ BÀI THUYẾT TR)NH NHÓM 2
TÊN ĐỀ TÀI : DỰ ÁN GABČIKOVO-NAGYMAROS (HUNGARY/SLOVAKIA)
Giáo viên giảng dạy: Ths Lê Minh Nhựt NĂM 2022
Danh sách thành viên Nhóm 2: HỌ TÊN MSSV Nguyễn Văn Tuấn Kiệt 2153801011080 Đinh Hoàng Bảo Thiên 2153801011210 Nguyễn Ngọc Hồng Minh 2153801012133 Huỳnh Quốc Như Anh 2153801015006 Tô Trần Hồng Hợp 2153801015095 Lương Bội Linh 2153801015132 MỤC LỤC
1. Tóm tắt vụ việc....................................................................................................4
1.1. Tóm tắt sự kiện.............................................................................................4
1.2. Lập luận của các bên....................................................................................6
1.2.1. Lập luận của nguyên đơn (Hungary).....................................................6
1.2.2. Lập luận của bị đơn (Slovakia)..............................................................9
1.3. Lập luận và phán quyết của tòa án...........................................................12
1.3.1. Lập luận của tòa án..............................................................................12
1.3.2. Tòa đưa ra phán quyết đối với vụ tranh chấp như sau........................15
2. Trình bày quan điểm của nhóm.......................................................................17
2.1. Quan điểm của các học giả về vụ án..........................................................17
2.2. Quan điểm của Tòa án hoặc đương sự về vụ việc tương tự.....................18
2.2.1. Phán quyết của cơ quan tài phán và vụ việc có liên quan...................18
2.2.2. Lập luận của các bên............................................................................18
2.2.3. Phán quyết của Tòa..............................................................................19
2.3. Quan điểm của nhóm.................................................................................19
2.4. Bài học kinh nghiệm...................................................................................24
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................27 3
1. Tóm tắt vụ việc
1.1. Tóm tắt sự kiện
Dự án bắt đầu từ những năm 1950 khi Cộng hòa Nhân dân Hungary và
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Czechoslovakia (Séc-Slovakia) lần đầu tiên thảo luận về
kế hoạch xây dựng hai nhà máy điện tại Gabcikovo và Nagymaros.
Sau hơn 10 năm hoạch định, ngày 16/9/1977 hai quốc gia đã tiến hành ký
một Hiệp ước song phương tại Budapest gọi là “Hiệp ước ngày 16 tháng 9 năm
1977 liên quan đến việc hỗ trợ lẫn nhau trong xây dựng hệ thống đập Gabčíkovo-
Nagymaros” (sau đây gọi là Treaty 1977) [1] về xây dựng và vận hành Hệ thống đập
Gabčíkovo-Nagymaros trên sông Danube nhằm tăng độ sâu cũng như làm chệch
hướng một phần con sông, qua đó ngăn chặn lũ lụt thảm khốc, tăng cường giao
thông trên sông và sản xuất thuỷ điện.
Theo thoả thuận của hai nước, việc xây dựng bắt đầu vào năm 1978. Cụ
thể, khu vực Nagymaros thuộc Hungary nên sẽ do Hungary đảm nhiệm việc xây
dựng và còn đảm nhận thêm phần việc ở cửa cống tại Dunakiliti thuộc Gabcikovo,
còn về phía Czechoslovakia sẽ trực tiếp đảm nhận phần việc ở Gabcikovo.
Năm 1983, Hungary và Czechoslovakia ký với nhau một nghị định quyết
định tạm đình chỉ việc xây dựng và dời ngày vận hành nhà máy thuỷ điện do phía
Hungary cho rằng dự án có các tác động xấu đến môi trường. Nhưng
Czechoslovakia đã tiếp tục với việc xây dựng dự án tại Gabcikovo, họ sửa đổi một
phần các dự án ban đầu để nó có thể vận hành nó một cách đơn phương. Giải pháp
đơn phương này có tên gọi Variant C (Biến Thể C), xây dựng ở đoạn sông cách
Duna Kiliti 10km về phía thượng nguồn để đảm bảo hệ thống đập được chính thức
đi vào vận hành. Giữa năm 1991, Czechoslovakia quyết định sẽ xây dựng và triển
khai Variant C. Ngày 19/5/1992, Hungary gửi tới Cộng hoà Czechoslovakia một
công hàm tuyên bố chấm dứt “ Treaty 1977” với hiệu lực bắt đầu từ ngày
25/5/1992. Để đáp lại, vào cuối tháng 10 năm 1992, Czechoslovakia bắt đầu vận
hành Variant C. Hoạt động của họ đã ảnh hưởng đến việc Hungary tiếp cận nguồn
1 United Nations, Treaty Series, Treaty of 16 September 1977 concerning the construction
and operation of the Gabčíkovo-Nagymaros System of Locks, vol. 1109, p. 211 4
nước sông Danube. Bởi việc xây đập đã làm giảm lượng nước chảy đến Hungary
khoảng 80% (2m - 4m) vì dự án được thực hiện vào thời điểm mùa nước sông ở
mức thấp nhất. Trước sự việc này, phía Hungary đã đơn phương tuyên bố hủy bỏ
“Hiệp ước Treaty 1977” với lý do bảo vệ môi trường sinh thái.
Năm 1993, Cộng hòa Slovakia tuyên bố độc lập, chính thức tách khỏi
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Czechoslovakia. Theo thoả thuận, Slovakia thừa kế
Hiệp ước này sau khi Czechoslovakia tan rã. Tuy nhiên, Hungary muốn đình chỉ thi
hành và hủy bỏ Hiệp ước về Xây dựng và vận hành hệ thống đập Gabcikovo-
Nagymaros mà hai bên đã ký kết trước đó vào năm 1977.
Trước những biến động giữa hai quốc gia, Hungary và Slovakia kí với
nhau một “Thỏa thuận đặc biệt” [2] được ký kết vào ngày 07/04/1993 tại Brussels mà
thông qua đó bày tỏ ý chí của mình, đồng ý cùng đưa vụ việc này ra tòa công lý quốc tế ICJ.
Tại phiên tòa, Hungary trình bày lý do “tình trạng cấp thiết” - State of
necessity làm cơ sở cho tuyên bố rằng họ không còn bị ràng buộc vào Hiệp ước mà
họ đã ký với Czechoslovakia và sau đó từ bỏ việc hoàn thành dự án khi Chính phủ
Hungary mới lên nắm quyền với cáo buộc rằng nó dẫn đến những rủi ro nghiêm
trọng đối với môi trường Hungary và nguồn cung cấp nước của Budapest từ tháng
10 năm 1989. Phía Hungary tạm dừng công việc của mình ở khu vực Nagymaros và
từ bỏ các phần việc thuộc về trách nhiệm của mình mà trước đó hai bên đã ký kết
trong Hiệp ước, bởi Hungary đã gặp phải những vấn đề gây nên tổn thất tài chính,
các vấn nạn báo động về ảnh hưởng môi trường, vấn đề chính trị cùng với áp lực từ
người dân khi họ cho rằng dự án này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh thái ở
khu vực sông Danube. Ngược lại, Slovakia (kế thừa của Czechoslovakia) đã phủ
nhận những cáo buộc này và khẳng định Hungary phải thực hiện các nghĩa vụ theo
Hiệp ước của mình. Mặc dù đã có nhiều vụ cuộc đàm phán, thoả thuận giữa hai
nước diễn ra sau đó như Nghị định thư trình trì hoãn công việc, Nghị định thư thúc
đẩy tiến trình dự án. Thế nhưng cuối cùng trước những lời chỉ trích, phía Chính phủ
Hungary đã quyết định ngừng hẳn công việc tại Nagymaros đồng thời vẫn tiếp tục
tạm thời đình chỉ thi hành Điều ước đó.
2 “Special Agreement” 5
Vì để sự việc có hướng giải quyết cho những bất đồng quan điểm, Cộng
hòa Nhân dân Hungary và Cộng hòa Slovakia quyết định để Toà án Công lý Quốc tế đưa ra phán quyết:
- Hungary có được quyền đình chỉ và từ bỏ (vào năm 1989) các hoạt
động các công việc trong dự án Nagymaros và một phần của dự án
Gabčíkovo đã thoả thuận của mình hay không.
- Cộng hòa Liên bang Séc và Slovakia có thật sự có quyền thực hiện kế
hoạch dự phòng (vào tháng 11 năm 1991) với “giải pháp tạm thời” và
đưa vào hoạt động (từ tháng 10 năm 1992) để đáp lại việc Hungary từ chối Hiệp ước.
- Hiệu lực pháp lý của thông báo vào ngày 19 tháng 5 1992 về việc
chấm dứt Hiệp ước từ phía Cộng hòa Hungary. Xác định hậu quả
pháp lý, bao gồm các quyền và nghĩa vụ đối với các bên phát sinh từ
phán quyết của mình đối với các vấn đề nêu trên.
1.2. Lập luận của các bên
1.2.1. Lập luận của nguyên đơn (Hungary)
Hungary viện dẫn ra năm luận chứng trong việc hỗ trợ về tính pháp lý và
hiệu lực của thông báo chấm dứt bao gồm: Việc hủy bỏ Hiệp ước Treaty 1977 là 1
tình trạng cấp thiết, Treaty 1977 không còn khả năng thực thi, sự thay đổi cơ bản
của hoàn cảnh, vi phạm nghiêm trọng Treaty 1977 từ phía Slovakia, sự phát triển
của những quy định mới của luật môi trường quốc tế.
Luận chứng đầu tiên bên phía Hungary đưa ra là “Việc hủy bỏ Hiệp ước
Treaty 1977 là một tình trạng khẩn cấp”. Hungary cho rằng việc Slovakia đã
“remained inflexible”[3] và tiếp tục hoàn thành dự án Variant C dẫn tới việc
Hungary phải đình chỉ, hủy bỏ Hiệp ước. Hành động tiếp tục dự án tạo nên mối đe
dọa về kinh tế lẫn môi trường, cụ thể là tổn hại nghiêm trọng đối với nền nông
3 Tạm dịch : Không linh hoạt 6
nghiệp của Hungary và về vấn đề này đã được bên Hungary liên tục thảo luận với
Slovakia trong giai đoạn trước khi có thông báo hủy bỏ Treaty 1977. Hungary đưa
ra bằng chứng là sự suy giảm lượng nước ở dòng chính của sông Danube - nơi cung
cấp nước cho hệ thống thủy lợi của cả vùng Szigetkoz.
Luận chứng thứ hai mà phía Hungary đưa ra là vì “Treaty 1977 không
còn khả năng thực thi”. Với lập luận này Hungary đưa ra những lý lẽ của mình
bằng việc viện dẫn khoản 1 Điều 61 của Công ước Viên 1969[4], theo quan điểm của
Hungary, “đối tượng không thể thiếu để thực hiện” Hiệp ước đã biến mất. Đối
tượng mà Hungary nhắc đến chính là mục tiêu cơ bản của Hiệp ước - một khoản
đầu tư kinh tế chung phù hợp với việc bảo vệ môi trường và do hai bên cùng vận
hành. Tuy nhiên do sự thay đổi về Luật Môi trường dẫn đến việc xây dựng một hệ
thống đập ngăn trên lãnh thổ của mình mà có thể gây ra thiệt hại môi trường không
thể khắc phục được đã vi phạm tới đối tượng cơ bản đó chính là “phù hợp với bảo
vệ môi trường”. Hungary cho rằng ở đối tượng ở Điều 61 không chỉ bao gồm “đối
tượng vật chất” mà còn bao gồm “một tình huống pháp lý là căn cứ để xác lập các
quyền và nghĩa vụ” (a legal situation which was the raison d'etre of the rights and obligations)
Luận chứng tiếp theo mà Hungary kể đến là về việc do sự thay đổi cơ
bản của hoàn cảnh. Ở đây Hungary muốn đề cập đến việc hoàn cảnh hiện tại đã
không còn phù hợp để tiếp tục Hiệp ước năm 1977. Theo Hungary, Hiệp ước năm
1977 được ký kết dựa trên tinh thần “đoàn kết xã hội chủ nghĩa” và tinh thần này đã
không còn phù hợp với tình hình hiện tại khi có sự chuyển biến về nền kinh tế thị
trường, đó là việc Hội đồng tương trợ Kinh tế COMECON tự giải tán. Cùng với
việc Slovakia đã xây dựng Variant C dẫn đến không còn sự đồng nhất và toàn vẹn của hệ thống đập.
Với luận chứng thứ tư, Hungary cho rằng việc Slovakia đã vi phạm
nghiêm trọng đến Hiệp ước Treaty 1977. Ở đây, Hungary đã viện dẫn khoản 1 Điều
4 “Một bên có thể nêu lên việc không thể thi hành một Điều ước là lý do cho việc chấm dứt
hoặc rút khỏi Điều ước đó nếu việc không thể thi hành đó là do một đối tượng cần thiết
cho việc thi hành Điều ước đó bị mất đi hoặc bị tiêu hủy hoàn toàn. Nếu việc không thể thi
hành đó là tạm thời, thì nó chỉ có thể được nêu lên làm lý do cho việc tạm đình chỉ việc thi
hành Điều ước đó.” 7
60 của Công ước Viên 1969 về Luật Điều ước quy định “Việc một trong các bên vi
phạm nghiêm trọng Điều ước song phương sẽ cho phép bên kia lấy vi phạm đó làm
cơ sở để chấm dứt hoặc đình chỉ toàn bộ hoặc một phần hoạt động của Hiệp ước.”[5].
Cụ thể trong tuyên bố của mình Hungary đã cáo buộc Slovakia đã vi phạm Hiệp
ước năm 1977 về việc tiến hành xây dựng và đưa vào hoạt động dự án Variant C
nên đó là lý do mà Hungary chấm dứt thi Hiệp ước. Không chỉ vậy, Hungary cũng
cho rằng Slovakia đã không tuân thủ các nghĩa vụ tại Điều 15 và 19[6] của Hiệp ước,
cùng với đó là vi phạm các công ước quốc tế bao gồm Công ước ngày 31/5/1976 về
Điều lệ quản lý các vấn đề về vùng nước biên giới và luật quốc tế chung.
Luận chứng cuối cùng mà bên Hungary đưa ra chính là do sự phát triển
của những quy định mới của luật môi trường quốc tế. Hungary lập luận rằng các
yêu cầu của Luật quốc tế về bảo vệ môi trường đã làm cho việc thực thi Hiệp ước
Treaty 1977 là không phù hợp, ví dụ như nghĩa vụ không gây thiệt hại đáng kể cho
nước khác hay nguyên tắc phòng ngừa.
Trong cáo buộc bổ sung, phía Hungary cho biết “không có quy tắc nào
của luật pháp quốc tế quy định về việc tự động kế thừa các hiệp ước song phương
khi có sự biến mất của một bên” và một hiệp ước như thế sẽ không tồn tại trừ khi có
một quốc gia khác kế thừa nó bằng một thỏa thuận rõ ràng giữa quốc gia đó và bên
còn lại. Ngay cả khi trong đoạn thứ hai phần lời nói đầu của Thỏa thuận đặc biệt chỉ
ra rằng “Slovakia là một trong hai quốc gia kế thừa của Cộng hòa Liên bang Séc và
Slovak và cũng là quốc gia kế thừa duy nhất các quyền và nghĩa vụ liên quan đến
Dự án Gabcikovo-Nagymaros". Tuy vậy, phía Hungary tìm cách phân biệt giữa một
bên là các quyền và nghĩa vụ liên quan như “tiếp tục quyền tài sản” theo như thỏa
thuận của Treaty 1977 và một bên là bản thân của hiệp ước. Mặc dù, trong các cuộc
đàm phán dẫn đến việc ký kết Thỏa thuận đặc biệt, Slovakia đã đề xuất một văn bản
5 “A material breach of a bilateral treaty by one of the parties entitles the other to invoke
the breach as a ground for terminating the treaty or suspending its operation in whole or in part”
6 "The Contracting Parties shall, through the means specified in the joint contractual
plan, ensure compliance with the obligations for the protection of nature arising in
connection with the construction and operation of the System of Locks." 8
và văn bản đó sẽ được công nhận rõ ràng rằng Slovakia “là chính phủ kế thừa
CSFR7” đối với Treaty 1977, nhưng Hungary đã bác bỏ đề xuất đó và cho rằng họ
chưa bao giờ đồng ý chấp nhận Slovakia là người kế thừa Treaty 1977. Cùng với đó
họ đề cập đến các trao đổi ngoại giao rằng hai bên từng đệ trình danh sách khác của
hiệp ước song phương mà các bên mong muốn sẽ tiếp tục có hiệu lực giữa họ để
đàm phán trên cơ sở từng trường hợp và Hungary nhấn mạnh rằng không có thỏa
thuận nào liên quan đến Hiệp ước 1977.
Với những lý do trên, Hungary khẳng định việc đình chỉ, chấm dứt Hiệp
ước là phù hợp với Điều ước quốc tế và phù hợp với tình trạng có thể xảy ra các tổn
hại về môi trường không thể khắc phục được nếu tiếp tục thực hiện dự án tại Nagymaros.
1.2.2. Lập luận của bị đơn (Slovakia)
Nhằm đáp trả lại những lập luận của Hungary, về phần mình, Slovakia
cũng đưa ra những lập luận đáp trả nhằm chứng minh rằng việc Hungary đơn
phương đình chỉ, và sau đó dừng hẳn việc làm tròn nghĩa vụ của mình đã vi phạm
nghiêm trọng “Treaty 1977”:
Đến với lập luận đầu tiên, phía Slovakia cho rằng việc Hungary đơn
phương đình chỉ thực hiện nghĩa vụ, rồi sau đó chấm dứt hẳn nghĩa vụ là vi phạm
nghiêm trọng Treaty 1977, cũng như các văn kiện khác cấu thành nên Hiệp ước này.
Các điều khoản trong Hiệp ước đã nêu rõ: “Cùng hợp tác thực hiện là một nguyên
tắc cơ bản và Hungary phải thực hiện đúng những gì đã cam kết.”
Ngoài ra, Slovakia đã nhấn mạnh thêm rằng, cho dù tại thời điểm 1977 cả
Hungary và Slovakia đều chưa phải là thành viên của Công ước Viên về Luật Điều
ước quốc tế năm 1969, nhưng về phía Hungary vẫn phải tuân thủ những quy tắc, và
tôn trọng các cam kết quốc tế (pacta sunt servanda), tức là mọi quốc gia đều có
nghĩa vụ thực hiện tự nguyện; thiện chí; trung thực và đầy đủ các nghĩa vụ Điều ước quốc tế của mình.
7 as the successor to the Government of the CSFR 9
Lập luận thứ hai, Slovakia tiếp tục bác bỏ lập luận dựa trên Điều 61 Công
ước Viên năm 1969[8] mà Hungary cho rằng Hiệp ước Treaty 1977 mất đi khả năng
thực thi do Hiệp ước đã mất đi “đối tượng không thể thiếu để thực thi Điều ước”
bằng cách tuyên bố rằng lập luận trên của Hungary chính là cơ sở duy nhất để viện
dẫn và ngụy tạo việc không thể thực hiện được, làm cơ sở chấm dứt. Nếu dựa trên
khoản 1 Điều 61 đã dự tính rõ ràng về trường hợp “mất đi hoặc bị tiêu hủy hoàn
toàn” vật lý của đối tượng trong bất kì trường hợp nào, chỉ áp dụng cho đối tượng
hữu hình và việc đình chỉ đơn phương của Hungary là không hề phù hợp với
nguyên tắc đã được ấn định từ trước trong “Joint contractual plan”[9] , do đó phía bị
đơn cho rằng lập luận của Hungary mang tính chất của “ngôn ngữ tự lực và trả đũa.”
Kế đến lập luận thứ ba, Slovakia đã phản bác lại lập luận dựa trên Điều
62 của Công ước viên về Luật Điều ước mà Hungary đã đặt ra, rằng những thay đổi
mà Hungary đã nếu ra trước đó không làm thay đổi bản chất của các nghĩa vụ theo
Hiệp ước so với những nghĩa vụ đã cam kết ban đầu. Chính vì lý do đó mà Hungary
không có quyền chấm dứt nó như họ đã thực hiện.
Lập luận thứ tư, Slovakia đưa ra chính là cho rằng dự án Variant C thực
ra chỉ đơn thuần là giải pháp khả thi và phù hợp nhất với những quy tắc của Luật
Quốc tế để thực thi trọn vẹn Hiệp ước Treaty 1977 trong khi Hungary đang trì hoãn
phần việc của mình. Lý do bên Slovakia đưa ra lập luận trên vì Hungary đã chủ
động hủy bỏ Hiệp ước trước khi Variant C được vận hành để quản lý dòng chảy của
sông Danube (và việc xây dựng Variant C không vi phạm bất kì Điều ước nào trong
Hiệp ước), tức Hungary không còn bất kỳ quyền hành gì khác để hủy bỏ Hiệp ước
do chính mình đã đình chỉ và từ bỏ phần việc từ trước. Chính lập luận này của
Slovakia đã hoàn toàn bác bỏ lập luận dựa trên Điều 60 của Công ước Viên năm
8 “Một bên có thể nêu lên việc không thể thi hành một điều ước là lý do cho việc chấm dứt
hoặc rút khỏi điều ước đó nếu việc không thể thi hành đó là do một đối tượng cần thiết cho
việc thi hành điều ước đó bị mất đi hoặc bị tiêu hủy hoàn toàn. Nếu việc không thể thi
hành đó là tạm thời, thì nó chỉ có thể được nêu lên làm lý do cho việc tạm đình chỉ việc thi
hành điều ước đó.”
9 Kế hoạch hợp đồng chung. 10
1969 cho rằng Slovakia đã đơn phương xây dựng dự án Variant C để một mình độc
chiếm hệ thống đập và vi phạm nghiêm trọng đến Hiệp ước Treaty 1977.
Slovakia tuyên bố, có một nguyên tắc chung của Luật quốc tế là một bên
bị thiệt hại bởi việc không hoàn thành nghĩa vụ của bên ký kết khác thì cần phải tìm
kiếm giải pháp để giảm nhẹ những thiệt hại mà mình phải gánh chịu[10]. Đây cũng
được coi là một biện pháp “trả đũa” trước hành vi đơn phương chấm dứt của
Hungary, bởi hành vi đó đã làm phương hại đến lợi ích của Slovakia.
Lập luận cuối cùng mà Slovakia đưa ra cho phần lập luận của mình chính
là về sự phát triển của những quy định mới của Luật môi trường Quốc tế mà
Hungary đã dùng để cho rằng những yêu cầu của Luật quốc tế về bảo vệ môi trường
đã khiến cho việc thực thi Hiệp ước Treaty 1977 không còn phù hợp. Slovakia đã
bác bỏ kết quả từ những báo cáo về môi trường của Viện Hàn Lâm khoa học của
Hungary vì cho rằng những thông tin về môi trường được liệt kê ra chưa hẳn là đầy
đủ, chính xác, và những ảnh hưởng về môi trường đó cũng chưa đủ để gây ra những
thiệt hại đáng kể khiến Hungary phải chấm dứt những Điều khoản đặt ra, rằng
không có sự phát triển nào can thiệp vào luật môi trường, làm phát sinh các chỉ tiêu
về nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế thay thế Hiệp ước. Hơn nữa, bị đơn cho
rằng Hungary yêu cầu được quyền hành động trong bất kỳ trường hợp nào không
thể coi là lý do pháp lý cho việc chấm dứt Hiệp ước.
Với tất cả những lí do trên, Slovakia đã chỉ ra những điểm sai phạm
nghiêm trọng từ việc “đơn phương chấm dứt” của Hungary để bác bỏ hoàn toàn lập
luận của bên còn lại. Dĩ nhiên giữa hai nước đã diễn ra việc cố gắng hòa giải nhưng
do có sự “không thiện chí” đến từ Hungary khiến hai nước chưa thể tìm ra những
thỏa thuận về giải pháp phù hợp nhất.
10 Nguyên văn là: “It is a general principle of international law that a party injured by the
non - performance of another contract party must seek to mitigate the damage he has sustained”. 11
1.3. Lập luận và phán quyết của tòa án
1.3.1. Lập luận của tòa án
Thẩm quyền xét xử của ICJ trong vụ kiện giữa Cộng hòa Hungary và
Cộng hòa Liên bang Séc và Slovakia liên quan đến việc xây dựng và vận hành hệ
thống đập Gabčíkovo-Nagymaros và thực hiện “ giải pháp tạm thời”.
Thứ nhất, Hiệp ước Treaty 1977 được ký kết trước khi Công ước Viên
1969 có hiệu lực, Tòa cho rằng không cần thiết đến việc áp dụng Công ước viên
năm 1969 và xác định luật áp dụng sẽ là các quy định tập quán quốc tế được phản
ánh từ Điều 60 đến Điều 62 về việc hủy bỏ, đình chỉ thi hành Điều ước quốc tế.
Những quy định trên, thực tế đã xảy ra một vài lần. Kết luận này phù hợp với các án
lệ đối với những vụ việc trước đây.
Thứ hai, Tòa bác bỏ lập luận của Hungary cho rằng mình không đình chỉ
thi hành Hiệp ước Treaty 1977 vào năm 1989 và sau đó từ bỏ những công việc mà
Hungary có trách nhiệm ở Nagymaros vì về bản chất, Hungary đình chỉ và từ bỏ
công việc mà Hungary có trách nhiệm. Hơn nữa, hành vi của Hungary vào thời
điểm đó được xem như một sự không tuân thủ và tương đương với đình chỉ thi hành
Hiệp ước Treaty 1977. Điều đó thể hiện rõ ràng ý chí không thực thi Hiệp ước này
của Hungary và ảnh hưởng bởi những hành vi đó của Hungary đã gây ra hệ quả là
làm cho cả hệ thống đập ( một tại Gabcikovo (thuộc lãnh thổ Slovakia) và một tại
Nagymaros (thuộc lãnh thổ Hungary), không thể thực hiện như được quy định trong
Điều ước như là một hệ thống “đơn nhất” - single and indivisible[11].
Về việc Hungary thông báo đơn phương hủy bỏ Hiệp ước Treaty 1977 vào
năm 1992, viện dẫn 5 căn cứ cho việc hủy bỏ Hiệp ước này.
Tòa đã xem xét có tình trạng cấp thiết - state of necessity để Hungary
đình chỉ, hủy bỏ việc cam kết thực hiện Hiệp ước được ký kết năm 1977, như
Hungary đã viện dẫn hay không. Nhưng theo Điều 33 dự thảo Điều khoản về trách
nhiệm quốc tế của các quốc gia bởi ILC[12] thì một trong những trường hợp ngoại lệ
11 See sketch-map No. 2 - 85 kb
12 In Article 33 of the Draft Articles on the International Responsibility of States 12
là “khi việc thực hiện hành động này là phương tiện duy nhất để bảo vệ lợi ích thiết
yếu - “essential interest[13]” của Quốc gia, nhưng buộc phải đáp ứng ba điều kiện
theo Luật quốc tế là quốc gia đang đứng trước nguy cơ nghiêm trọng và sắp xảy ra”
- “grave and imminent peril[14]”; hành động đó không được "nghiêm trọng đến mức
làm suy yếu một lợi ích thiết yếu" đối với phía quốc gia; quốc gia thực hiện hành
động đó không được "góp phần vào sự xuất hiện của tình trạng cần thiết" đã nêu.
Theo đó, Tòa án cho biết, ngay cả khi tình trạng cấp thiết được phát hiện là tồn tại,
nó không phải là căn cứ để chấm dứt một Hiệp ước, nó chỉ có thể được viện dẫn để
minh oan cho trách nhiệm của một quốc gia đã không thực hiện một Hiệp ước,
Hungary tự ý huỷ bỏ Hiệp ước là không có cơ sở.
Theo nhận định của Toà, không cần thiết phải xác định “đối tượng” trong
Điều 61 mà Hungary đã viện dẫn cho lập luận không còn khả năng thực thi do đã
mất đi “đối tượng không thể thiếu đề thực thi Điều ước”, nguyên đơn cho rằng “đối
tượng” trong Điều 61 bao gồm không chỉ đối tượng vật chất (physical objects) mà
cả đối tượng vô hình, ví dụ như “một tình trạng pháp lý là căn cứ để xác lập các
quyền và nghĩa vụ”. Đối tượng không tồn tại liên tục mà phía Hungary dùng từ
“object” để chỉ là "một khoản đầu tư kinh tế chung phù hợp với việc bảo vệ môi
trường và do hai bên cùng vận hành", tuy nhiên Toà xét thấy đây là chưa đủ cơ sở
để chấm dứt hoặc rút khỏi Hiệp ước vì các Điều 15, 19 và 20, thực sự cung cấp cho
các bên phương tiện cần thiết để tiến hành công việc bất cứ lúc nào, bằng cách
thương lượng, điều chỉnh lại “economic imperatives and ecological imperatives[ ] 15 ”
theo yêu cầu từ các bên sao cho dự án được tiến hành thuận lợi nhất
Tòa án đã bác bỏ lập luận của Hungary về việc cho rằng Slovakia đơn
phương xây dựng dự án Variant C để vận hành hệ thống đập là vi phạm nghiêm
trọng Hiệp ước Treaty 1977 với quan điểm rằng việc thực hiện Variant C là giải
pháp của Slovakia đối với việc Hungary đình chỉ, chấm dứt những công việc mà 13 Ibid., para. 1 14 Ibid., para. 1
15 Tạm dịch: mệnh lệnh kinh tế và mệnh lệnh sinh thái (một tập hợp các nguyên tắc hướng
dẫn các tổ chức thay đổi đạo đức làm việc, phương thức làm việc lành mạnh với môi
trường và các giá trị văn hóa của họ khi thời gian thay đổi). 13
được quy định đối với Hungary, và hành động xây dựng này của Slovakia là “did
not act unlawfully[16]” ; việc Hungary đơn phương đình chỉ dự án là đang này là
đang trực tiếp chống lại Slovakia. Do đó, các thông báo chấm dứt thi hành Hiệp ước
của Hungary vào ngày 19 tháng 5 năm 1992 là “premature[ ]
17 ”, thiếu cơ sở . Nhưng
bên cạnh đó, Tòa án ghi nhận rằng Slovakia, khi đưa Variant C vào hoạt động, đã
không áp dụng Treaty 1977 mà ngược lại, đã vi phạm một số các “Điều khoản phải
được giữ” của mình, và khi làm như vậy, đã thực hiện một hành vi sai trái quốc tế.
Tòa án không chấp nhận lập luận của Hungary trong việc cho rằng là do
sự thay đổi của hoàn cảnh bởi vì Tòa án lưu ý rằng Hungary đã quyết định ký kết
Hiệp ước năm 1977, một Hiệp ước - bất kể hoàn cảnh chính trị nào xảy ra tại thời
điểm ký kết - được Hungary coi là hợp lệ và có hiệu lực cho đến ngày tuyên bố
chấm dứt. Tòa cũng nhận xét rằng sự phát triển mới của tình trạng môi trường và
luật môi trường có thể được xem là hoàn toàn đã nằm trong dự kiến của hai quốc
gia tham gia Hiệp ước. Vì vậy, khi Hungary cho rằng Luật quốc tế về bảo vệ môi
trường đã làm cho việc thực thi Hiệp ước Treaty 1977 là không phù hợp, Tòa nhấn
mạnh ý, cả hai bên đều không đưa ra thắc mắc về sự xuất hiện của Luật môi trường
mới kể từ khi ký kết Hiệp ước 1977; nên Tòa án sẽ không bắt buộc phải kiểm tra
Điều 64 của Công ước Viên về Luật Hiệp ước 1969 (xử lý sự vô hiệu và chấm dứt
của một Hiệp ước bởi vì sự xuất hiện của một tiêu chuẩn bắt buộc mới của luật quốc
tế chung (ius cogens)). Mặt khác, Tòa án đã chỉ ra rằng các bên đã có lường trước
về sự thay đổi, cũng như nhận thức được hệ quả đối với thiên nhiên và nghĩa vụ bảo
vệ môi trường thông qua các quy định trong Hiệp ước (các Điều 15, 19, 20 về các
trường hợp thay đổi có thể xảy ra). Cụ thể, khi có các thay đổi trong luật quốc tế thì
các bên có thể áp dụng thay đổi kết hợp với các điều luật trên, và các biến đổi này
hoàn toàn không ảnh hưởng đến hiệu lực pháp luật của Hiệp ước miễn là việc thực
hiện nghĩa vụ theo Hiệp ước vẫn đảm bảo chất lượng của nước ở sông Danube
không bị suy giảm và môi trường xung quanh được bảo vệ. Điều đó chứng minh
Hiệp ước không mang tính bảo thủ và sẵn sàng thích ứng với các chuẩn mực mới
của luật quốc tế. Kết luận, Tòa đã bác bỏ lập luận trên của Hungary và cho rằng
16 Không trái pháp luật
17 Hấp tấp, vội vã 14
những quy định mới của luật môi trường quốc tế đối với Hiệp ước là không có ảnh
hưởng lớn và Hiệp ước không bị “lỗi thời”.
Tòa án ghi chú rằng việc thực hiện dự án Variant C là không tôn trọng
tính tương xứng mà luật pháp quốc tế yêu cầu. Vì Slovakia đơn phương thừa nhận
quyền kiểm soát nguồn nước sử dụng chung, tước quyền được chia sẻ một cách
công bằng và hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên của sông Danube - của
Hungary với những tác động liên tục của sự chuyển hướng của các vùng nước này
đối với sinh thái của khu vực ven sông Szigetkoz. Hơn nữa, Tòa án đã chỉ ra rằng,
Hungary đình chỉ những công việc không thể được hiểu là đã cho phép Slovakia
đơn phương tiến hành việc chuyển dòng quan trọng này mà không có sự đồng ý của Hungary.
Khi Hungary đưa ra cáo buộc bổ sung rằng: “Điều ước 1977 vẫn có hiệu
lực dù cho có tuyên bố hủy bỏ nó của Hungary ngày 19/5/1992 và việc thực hiện
đơn phương Variant C của Slovakia. Nhưng Điều ước 1977 lại chấm dứt hiệu lực vì
Czechoslovakia không còn tồn tại từ ngày 31/12/1992, mà thay vào đó là Cộng hòa
Séc và Cộng hòa Slovakia vào ngày 1/1/1993 vì Họ chưa bao giờ đồng ý chấp nhận
Slovakia là người kế thừa Hiệp ước Treaty 1977”. Toà đã có những quan điểm của
riêng mình, cụ thể, Toà thấy không cần thiết xét đến Điều 34 của Công ước Viên
1978 về Thừa kế quốc gia đối với các Hiệp ước (trong đó một quy tắc tự động kế
thừa tất cả các Hiệp ước được quy định) mà ở đây cần xét riêng đối với trường hợp
đặc thù vụ việc của Treaty 1977
Vì thế, tòa cho rằng mặc dù tòa nhận thấy rằng cả Hungary và Slovakia
đều không làm đúng theo với nghĩa vụ của họ theo Điều ước 1977, nhưng hành vi
sai trái ở cả đôi bên này không có ý nghĩa, chấm dứt hiệu lực của Điều ước.
1.3.2. Tòa đưa ra phán quyết đối với vụ tranh chấp như sau
Thứ nhất, Hungary đưa ra 5 lý lẽ để biện minh cho tính hợp pháp và dẫn
đến hiệu quả của việc tuyên bố chấm dứt Điều ước. Đó là sự tồn tại của tình trạng
cấp thiết; việc không thể thực hiện Điều ước; sự xuất hiện của sự thay đổi cơ bản
của hoàn cảnh; sự vi phạm Điều ước của Slovakia, và cuối cùng là sự xuất hiện của
quy tắc mới của luật môi trường quốc tế. Về việc tình thế cấp thiết ở đây là do ô
nhiễm môi trường và thay đổi hoàn cảnh thì Tòa cho rằng những hậu quả này vẫn 15
có thể tìm thấy cách khắc phục khác, không nhất thiết phải dừng việc thực hiện
Hiệp ước. Tòa cho rằng việc Hungary tự ý chấm dứt việc thực hiện Hiệp ước 1997
dựa trên việc Slovakia đã vi phạm trước là không đúng. Vì đây là giải pháp của
Slovakia đối với hành vi vô trách nhiệm của Hungary.
Tiếp theo, Tòa án cho rằng việc Slovakia đưa Variant C vào hoạt động đã
không áp dụng Treaty 1977 mà ngược lại, đã vi phạm một số Điều khoản nằm trong
“các Điều khoản phải được giữ” của Hiệp ước, đây là một hành vi sai trái quốc tế.
Tòa án lưu ý rằng từ tháng 11 năm 1991 đến tháng 10 năm 1992, Slovakia muốn “
trả đũa” việc Hungary tự ý dừng công việc của mình trên khu vực Nagymaros và
việc thực hiện Variant C đã làm thay đổi hương của sông Danube làm cho 80-90%
lượng nước sông này đều chảy vào Slovakia trong khi đây là nguồn nước của quốc
tế chia sẻ chung đồng thời cũng là biên giới quốc tế là hoàn toàn là một hành vi vi
phạm luật Quốc tế vì trước đó thì nước này cũng không yêu cầu Hungary phải thực
hiện nhiệm vụ của mình và ngay từ đầu việc lập nên dự án này là hành vi đơn
phương của Slovakia, hậu quả của nó là quá to lớn so với những thiệt hại Hungary
gây cho bên Slovakia cụ thể là tạo ra những ảnh hưởng liên tục đối với môi trường
sinh thái khu vực ven sông Szigetkoz do dòng chảy bị lệch hướng nên dự án này không thể tiếp tục.
Cuối cùng, Tòa kết luận rằng nội dung của Treaty 1977 cho biết nó là hệ
thống những công việc được vận hành đơn nhất (a single and indivisible operational
system of works) và thuộc sở hữu chung. Nó tạo ra quyền và nghĩa vụ đối với
những quốc gia liên quan đến sông Danube; do đó bản thân Treaty 1977 không thể
bị ảnh hưởng bởi một sự kế thừa quốc gia. Vì vậy
tòa kết luận rằng Treaty 1977 trở
nên có hiệu lực với Slovakia kế thừa Hiệp ước vào tháng 1 năm 1993. Hungary phải
tiếp tục dự án đập Gabcikovo và Variant C phải dừng hoạt động. Tòa quyết rằng
Hungary và Slovakia đều có trách nhiệm bồi thường và được quyền hưởng bồi
thường các khoản thiệt hại đã xảy ra. Nhưng Tòa không quy định mức tiền bồi
thường mà do 2 nước tự thỏa thuận. 16
2. Trình bày quan điểm của nhóm
2.1. Quan điểm của các học giả về vụ án
Về câu hỏi rằng sự tham gia của ICJ bấy giờ có giúp được gì cho vụ việc,
và nếu có giúp như thế nào. Ngài Peter Tomka, một vị thẩm phán người Slovakia
thuộc ICJ, tuy không tham gia vụ việc đó nhưng ông là học giả cho vụ án
Gabcikovo – Nagymaros, cho rằng:
Đầu tiên, việc ICJ tham gia là giúp được rất nhiều vì nó giảm bớt được
căng thẳng, gây khó dễ đối với những kẻ muốn can thiệp vào để kiểm soát, bởi khi
hai bên “kéo nhau ra” ICJ thì nó sẽ trở thành một đề tài nóng với báo chí quốc tế.
Đó là một nước đi thông minh từ Slovakia. Ông bày tỏ sự thỏa mãn với kết quả cuối
cùng ở mọi Điều khoản trong bộ luật. Sự phản đối từ Slovakia đã được chấp thuận
bởi hầu hết số phiếu bầu.
Tiếp theo, tuy bản thân ông không tham gia trực tiếp nhưng ông là học
giả cho vụ án Gabcikovo – Nagymaros, trên quan điểm của bản thân, ông cho rằng
Slovakia là bên gặp nhiều bất lợi trong vụ việc. Ông chỉ rõ, Hungary và Slovakia
cùng nhau hợp tác xây dựng một dự án lớn trị giá hàng tỷ đô và gần như đã hoàn
thành thì lại bị trì hoãn bởi sự “bất hợp tác” của bên Hungary, việc kéo dài sự trì
hoãn có thể sẽ gây ra sự xuống cấp của công trình. Vậy nên, Slovakia không còn
cách nào khác ngoài tự mình đưa nó vào hoạt động, bởi nếu phía họ cũng bỏ rơi thì
dự án sẽ đổ bể, và khoản đầu tư khổng lồ vào đây sẽ hoàn toàn bị bỏ phí. Và thời
gian đã chứng minh rằng có lẽ đó là nước đi phù hợp, vì không một thảm họa môi
trường nào đã xảy ra. Ông không phủ nhận rằng có thể đã có vài vấn đề cần giải
quyết trong khu vực địa phương, nhưng sau 25 năm kể từ khi đi vào hoạt động thì
thiên nhiên xung quanh không còn chịu hậu quả nào nặng nề. Ở Gabcikovo thậm
chí còn có cả cơ sở thể thao trên nước như bộ môn vượt thác chẳng hạn, nhờ có nó
mà những vận động viên người Slav-Slovakia đoạt được cho nước nhà những huy chương vàng Olympic.
Cuối cùng, Peter Tomka cũng thể hiện sự bằng lòng về những Điều luật
được diễn giải trong phán quyết này. Đưa ra nhận định rằng nếu các nhà nghiên cứu
môi trường cùng chứng minh được rằng có nguy cơ cao về thiệt hại môi trường
không thể khắc phục, thì Slovakia sẽ sẵn sàng đồng ý về việc từ bỏ vận hành dự án 17
thay thế. Và Luật đã kết luận rằng Dự án Nagymaros là không cần thiết, và Tòa án
đã thỏa mãn hai bên: Slovakia thì có con đập, còn Hungary không cần phải xây đập nữa.
Tiến sĩ người Hungary Boldizsár Nagy thuộc Trường Đại học Trung Âu
tại Áo thể hiện sự ủng hộ quan điểm trên của thẩm phán Tomka. Ông cho rằng phán
quyết hoàn toàn có tiềm năng giải quyết vụ việc này. Tòa án nói rằng không cần
phải xây con đập thứ hai, rằng Gabcikovo có thể đi vào hoạt động nếu lành mạnh về
môi trường (đây cũng là Điều mà Hungary muốn) và không phá hủy môi trường
vùng sông Danube. Vậy nên có lợi cho đôi bên. Tuy nhiên phán quyết chưa thể thực
hiện được việc tìm cách vận hành dự án (trong trường hợp được thông qua) một
cách thân thiện với môi trường.
Và đó không phải lỗi của tòa, hay của phán quyết. Phán quyết hoàn toàn
có tiềm năng giải quyết vụ việc này như đã nêu ở trên, nếu Điều đó không thực hiện
được thì là do lỗi của hai bên. Có lẽ đó là Điều tốt, vì nếu thực sự muốn thì hai bên
cũng hoàn toàn có thể tự mình tìm ra giải pháp.
2.2. Quan điểm của Tòa án hoặc đương sự về vụ việc tương tự
2.2.1. Phán quyết của cơ quan tài phán và vụ việc có liên quan
Phán quyết của Tòa án Công Lý Quốc tế đối với vụ Ngư trường nghề cá
(Anh kiện Iceland) năm 1973.
Năm 1959, Iceland tuyên bố thiết lập vùng đặc quyền đánh bắt hải sản
vào khoảng 50 hải lý kể từ đường cơ sở của nước này. Vì thế, Chính Phủ Anh đã
kiện Iceland liên quan đến một tranh chấp về quyền tài phán nghề cá của Iceland
đến Tòa án Công lý Quốc tế. Mặc dù vậy, Iceland tuyên bố rằng Tòa án thiếu thẩm
quyền và từ chối không có mặt trong quá trình tố tụng hoặc nộp đơn yêu cầu.
Nhưng theo Phán quyết ngày 2 tháng 2 năm 1973, Tòa án nhận thấy rằng mình có
thẩm quyền giải quyết đơn do Anh đệ trình và giải quyết các vấn đề liên quan đến tranh chấp. 18
2.2.2. Lập luận của các bên
Lập luận của Anh: Anh cho rằng không có cơ sở pháp lý nào trong luật
pháp quốc tế cho thấy việc Iceland tuyên bố được hưởng một khu vực đặc quyền về
nghề cá kéo dài 50 hải lý tính từ các đường cơ sở xung quanh bờ biển Iceland và
Anh dựa vào Trao đổi công hàm 1961 cho rằng Iceland không được quyền đơn
phương loại trừ các tàu cá của Anh ra khỏi khu vực biển cả vượt quá giới hạn đã
thỏa thuận trong Công hàm trao đổi năm 1961 hoặc đơn phương áp đặt các hạn chế
đối với hoạt động của các tàu đó trong khu vực đó.
Lập luận của Iceland: Iceland không tham gia vụ kiện nhưng đã gửi đến
Tòa lập luận bằng văn bản rằng họ không chấp nhận hoặc chấp thuận bất kỳ tuyên
bố nào về sự thật hoặc cáo buộc hoặc thỏa mãn pháp luật của các bên liên quan đệ trình.
2.2.3. Phán quyết của Tòa
Dựa trên bản án có thể nhận thấy năm 1972, Anh và Đức khởi kiện
Iceland ra Toà án Quốc tế, cáo buộc việc Iceland dự kiến mở rộng vùng đặc quyền
đánh bắt cá của mình từ 12 hải lý thành 50 hải lý vi phạm quyền của hai nước này.
Sau đó, Iceland cho rằng Toà án Quốc tế không có thẩm quyền và từ chối tham gia
tiến trình tố tụng. Tuy nhiên, đến năm 1973, Toà án Quốc tế ra Phán quyết khẳng
định mình có thẩm quyền, và năm 1974 Tòa ra Phán quyết về nội dung, xác định
hành vi của Iceland vi phạm luật quốc tế.
Tòa quyết định rằng Iceland và Vương quốc Anh phải tiến hành các cuộc
đàm phán trên cương vị hai bên đều chấp thuận và thỏa Hiệp để tìm ra giải pháp
công bằng cho những khác biệt liên quan đến quyền nghề cá của họ. Tòa án cho
rằng, các bên phải cân nhắc rằng Iceland được hưởng một phần ưu đãi trong việc
phân phối các nguồn đánh bắt do sự phụ thuộc đặc biệt của người dân vào nghề cá
ven biển, cũng như nguyên tắc mỗi quốc gia phải quan tâm đến lợi ích của quốc gia
kia trong bảo tồn và khai thác công bằng các tài nguyên này. 19
2.3. Quan điểm của nhóm
Theo nhóm em, việc Slovakia và Hungary ký “Thỏa thuận đặc biệt” để đưa
vụ việc cho Tòa án ICJ xét xử là hợp lý vì trong vụ việc, cả hai đất nước này đều
phải chịu những tổn thất mà đối phương gây ra và mâu thuẫn xảy ra nên do Tòa án
Quốc tế - cơ quan đại diện cho công lý phán xét.
Đối với phán quyết của Tòa:
Có thể thấy, phán quyết cuối cùng của Tòa án đã khá công bằng và khách
quan tuy nhiên còn những vấn đề tồn đọng chưa được Tòa giải quyết triệt để. Việc
này thể hiện qua việc Tòa án quyết định cả hai có trách nhiệm cùng nhau tiếp tục
thực hiện Hiệp ước 1997 nhưng chưa đưa ra được hướng thực thi công việc rõ ràng
và bảo vệ được môi trường.
Bên phía Tòa án cho rằng không cần phải xây con đập thứ hai, Gabcikovo có
thể đi vào hoạt động nếu có những biện pháp đảm bảo (đây cũng là Điều mà
Hungary muốn) và không phá hủy môi trường vùng sông Danube. Nhóm nhận thấy,
phán quyết này của Tòa có lợi cho đôi bên. Tuy nhiên vấn đề đặt ra ở đây, liệu Toà
đã có nghĩ đến hướng vận hành dự án (trong trường hợp được thông qua) vừa thoả
mãn ý chí của hai phía, vừa bảo đảm sự thân thiện, lành mạnh với môi trường chưa
hay đây vẫn là điểm bất đồng, là cái cớ để vịn vào và đặt ra những giả thuyết chủ quan.
Việc khẳng định nghĩa vụ bồi thường của cả hai quốc gia là phù hợp. Vì hai
quốc gia đều đã gây thiệt hại nhất định đến đối phương và hai bên cùng có lỗi nên
cả hai có trách nhiệm bồi thường tổn thất. Với việc cho hai quốc gia tự thỏa thuận
mức bồi thường cũng đảm bảo được quyền lợi của các bên, Toà đã không can thiệp
quá sâu vào khía cạnh nhạy cảm, dễ mang lại sự bất mãn này.
Đối với hành động của Hungary:
Đầu tiên, việc Hungary đưa ra 5 căn cứ để biện minh cho việc hủy bỏ Hiệp
ước Budapest, theo nhóm, có những quan điểm sau đây.
Thứ nhất, Hungary viện dẫn Điều 60 quy định về quyền hủy bỏ, đình chỉnh
thi hành một điều ước nếu có vi phạm nghiêm trọng của một bên thành viên để cho