BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
------------------  ------------------
KHOA: Luật Quốc Tế
LỚP: Quốc Tế 47.2
NHÓM: 15
MÔN HỌC: CÔNG PHÁP QUỐC TẾ
Giảng viên hướng dẫn: Ths. Lê Minh Nhựt
BÀI THUYẾT TRÌNH GIỮA KỲ
ĐỀ TÀI
LAS PALMAS CASE
Năm học: 2022 – 2023
LỚP QUỐC TẾ 47.2 - NHÓM 15
HỌ VÀ TÊN MSSV
Phạm Lê Như Huỳnh 2253801015129
Nguyễn Vân Khánh 2253801015136
Lê Thanh Liêm 2253801015149
Huỳnh Khánh Linh 2253801015151
Dương Khánh Ly 2253801015164
Nguyễn Ban Mai 2253801015168
Nguyễn Phan Trọng Nghĩa 2253801015205
Mai Phương Bích Ngọc 2253801015208
Nguyễn Hoàng Nhạn 2253801015217
Lâm Uyển Nhi 2253801015222
Lê Nguyễn Yến Nhi 2253801015224
MỤC LỤC
1. Tóm tắt vụ việc.............................................................................................................
1.1. Tóm tắt sự kiện......................................................................................................
1.2. Lập luận của các bên.............................................................................................
1.2.1. Lập luận của nguyên đơn (Hoa Kỳ)..................................................................
1.2.2. Lập luận của bị đơn (Hà Lan)...........................................................................
1.3. Lập luận và phán quyết của Tòa án.....................................................................
1.3.1. Lập luận của Tòa án.........................................................................................
1.3.2. Tòa án đưa ra phán quyết đối với vụ tranh chấp như sau..................................
2. Trình bày quan điểm của nhóm..................................................................................
2.1. Quan điểm của các học giả về vụ án....................................................................
2.2. Quan điểm của Tòa án hoặc đương sự về vụ việc tương tự...............................
2.2.1. Phán quyết của cơ quan tài phán và vụ việc có liên quan.................................
2.2.2. Lập luận của các bên........................................................................................
2.2.3. Phán quyết của Tòa..........................................................................................
2.3. Quan điểm của nhóm............................................................................................
2.4. Bài học kinh nghiệm..............................................................................................
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................
1
1. Tóm tắt vụ việc
1.1. Tóm tắt sự kiện
Hòn đảo Palmas tọa lạc ở phía Bắc Indonesia, hiện nay là lãnh thổ thuộc quần
đảo của nước Cộng hòa Indonesia.
Vụ kiện đảo Palmas một vụ tranh chấp liên quan đến chủ quyền lãnh thổ
giữa Lan Hoa Kỳ. Hai nước nhất trí quyết định nộp hồ lên Tòa án Trọng
tài Thường trực (PCA) để xử lý vụ việc.1
Vụ việc tranh chấp xảy ra sau chuyến thăm đầu tiên của tướng Hoa Kỳ
Leonard Wood đến đảo Palmas vào ngày 21 tháng 1 năm 1906. Ông thấy trên đảo2
cắm cờ của Lan đảo đã được tuyên bố thuộc về lãnh thổ của Đông Ấn
Lan3. Sau khi tướng Wood rời đảo đã gửi báo cáo với Bộ trưởng quốc phòng Hoa
Kỳ và Bộ cũng đã tiến hành điều tra.
Sau cuộc đấu tranh Tây Ban Nha và Hoa Kỳ. Tây Ban Nha đã ký với Hoa Kỳ
Hiệp ước Paris năm 1898. Từ đó chuyển giao quyền cai trị Philippines từ Tây Ban4
Nha sang Hoa Kỳ, trong đó hòn đảo Palmas. Bên Hoa Kỳ cho rằng đảo Palmas
được phát hiện vào thế kỉ XVI, có thể vào năm 1526 nằm gần tiếp giáp lãnh
thổ với Philippines. Nhưng đảo Palmas đã được cắm cờ Hà Lan và bên phía Hà Lan
cho rằng đã sở hữu, quảncông khai quần đảo này đủ lâu để xác nhận chủ quyền
đối với hòn đảo này.
Vị trọng tài viên duy nhất của vụ việc là ông Max Huber đã đưa ra phán quyết5
quyết định chủ quyền đối với Palmas theo hướng có lợi cho Lan. ông kết
luận đảo Palmas thuộc về Đông Ấn Lan cho rằng Lan đã “thực hiện liên
tục và hoà bình quyền lực nhà nước trong một thời gian dài”. Đây là bản án cực kỳ
quan trọng trong hệ thống luật quốc tế khi lần đầu tiên xây dựng nền tảng giải
thích khái niệm chủ quyền và vấn đề liên quan.
1 Tòa án Trọng tài thường trực (viết tắt là PCA) là một trong những cơ quan tài phán quốc tế được thành lập
sớm có trụ sở tại La Haye, Hà Lan.
2 Leonard Wood là một thiếu tướng, nhân viên y tế và sĩ quan trong Quân đội Hoa Kỳ. Ông từng là Tham
mưu trưởng Quân đội Hoa Kỳ, Thống đốc Quân đội Cuba và Toàn quyền Philippines.
3 Công ty Đông Ấn (East India Company) là công ty đa quốc gia đầu tiên trên thế giới, đây là 1 công ty đầy
quyền lực, sở hữu gần như toàn bộ quyền lực của chính phủ, bao gồm có khả năng phát động chiến tranh, bỏ
tù và hành hình các tù nhân, thay mặt trong các đàm phán hiệp ước, đúc tiền và thành lập thuộc địa.
4 Hiệp ước Paris năm 1898 là hiệp ước ký giữa Hoa Kỳ và Tây Ban Nha để chấm dứt cuộc chiến tranh Hoa
Kỳ - Tây Ban Nha. Theo Hiệp ước, Tây Ban Nha phải trao nhượng toàn bộ thuộc địa Philippines cho Hoa
Kỳ.
5 Max Huber là luật gia người Thụy Sĩ, trọng tài viên duy nhất trong vụ tranh chấp đảo Palmas giữa Hà Lan
và Hoa Kỳ năm 1928.
2
1.2. Lập luận của các bên
1.2.1. Lập luận của nguyên đơn (Hoa Kỳ)
Tây Ban Nha là chủ thể đầu tiên phát hiện ra đảo. Tây Ban Nha nhượng lại
chủ quyền đối với lãnh thổ của Philippines cho Hoa Kỳ thông qua Hiệp ước
Paris ngày 10/12/1898 trong đó có đảo Palmas. Năm 1899, Hoa Kỳ đã thông báo
cho Lan về Hiệp ước Paris Lan không ý kiến gì. Hoa Kỳ đã sử
dụng quyền thụ đắc lãnh thổ, vì Tây Ban Nha tìm ra đảo Palmas đầu tiên, Hoa
Kỳ được thụ đắc lãnh thổ từ Tây Ban Nha nên Hoa Kỳ có chủ quyền đối với hòn
đảo Palmas.
Bên cạnh đó, Hoa Kỳ đã viện dẫn Công ước Munster ngày 30/11/16486
giữa Tây Ban Nha Lan đã kết. Hoa Kỳ đã nhắc tới việc xác định chủ
quyền lãnh thổ không thông qua hành vi vẽ bản đồ mà phải thông qua Công ước.
Trong nội dung của Công ước Munster có đề cập vấn đề tuyên bố hòa bình giữa
Tây Ban Nha Lan. Với viện dẫn đó, đảo Palmas thuộc Philippines, đồng
thời ở thời điểm đó Philippines bị Hoa Kỳ thống trị sau khi thắng Tây Ban Nha.
Từ đó suy ra Hoa Kỳ đã thực hiện quyền chiếm hữu của người đầu tiên phát
hiện thông qua sự chuyển nhượng.
Đảo Palmas là một phần lãnh thổ tiếp giáp với đất liền Philippines. Thông
qua bản đồ địa Hoa Kỳ cho rằng đảo Palmas gần với Philippines hơn
Indonesia.
1.2.2. Lập luận của bị đơn (Hà Lan)
Lan thực hiện sự chiếm hữu liên tục cũng như sự thể hiện chủ quyền
trên thực tế đối với đảo Palmas.
Trước đó đảo Palmas thuộc chủ quyền của Nhà nước Tabukan . nghĩa7
Nhà nước Tabukan mới chủ thể chiếm hữu trực tiếp thực tế trên đảo
không phải Tây Ban Nha mặc dù Tây Ban Nha phát hiện ra đảo.
Hà Lan cũng viện dẫn Công ước Munster 1648. Năm 1677 Hà Lan đã được
thỏa thuận với Nhà nước Tabukan về việc quản lí, kiểm soát đảo từ Thế kỷ
XVII. Khác với Hoa Kỳ không đưa ra được bằng chứng việc Tây Ban Nha
bất cứ chủ quyền nào đối với hòn đảo này ngoại trừ việc phát hiện đầu tiên.
6 Công ước Munster (Treaty of Munster) là một hiệp ước giữa Cộng hòa Hà Lan và Đế quốc Tây Ban Nha,
nội dung hiệp ước giữa hai bên đã được ký kết vào ngày 30/01/1648. Hiệp ước là sự kiện quan trọng trong
lịch sử Hà Lan, đánh dấu việc công nhận độc lập chính thức của Cộng hòa Hà Lan, và là một phần của Hòa
ước Westfalen. Vào tháng 10 cùng năm, chính thức kết thúc Chiến tranh Ba Mươi Năm và Chiến tranh Tám
Mươi Năm.
7 Nhà nước Tabukan cai trị các đảo Nanusa, đảo Talauer và đảo Palmas (gọi chung là các đảo Talaud).
3
1.3. Lập luận và phán quyết của Tòa án
1.3.1. Lập luận của Tòa án
Vụ tranh chấp đảo Palmas giữa Hoa Kỳ Lan được xét xử bởi Tòa án
Trọng tài Thường trực (PCA).
Đảo Palmas được PCA tuyên bố là một phần của Đông Ấn Hà Lan.
Chủ tọa: Thẩm phán Max Huber
Lập luận của Toà án được thông qua Thẩm phán Max Huber đưa ra lập
luận của ông dựa trên các cơ sở như sau:
Phải người phát hiện ra đầu tiên: Tại cuộc tranh luận đầu tiên giữa hai
bên, Hoa Kỳ lập luận rằng chính Hoa Kỳ là quốc gia có chủ quyền trên đảo Palmas
bởi lẽ Tây Ban Nha đã trao toàn bộ chủ quyền về lãnh thổ của Philippines cho Hoa
Kỳ theo Hiệp ước Paris ngày 10/12/1898 (trong đó có đảo Palmas) và Tây Ban Nha
chủ thể đầu tiên phát hiện ra đảo Palmas. Theo Hoa Kỳ thì chủ quyền trên một
vùng lãnh thổ không nên xác lập đơn thuần bằng việc vẽ bản đồ còn thông qua
một Công ước Hoa Kỳ đã sử dụng Công ước Munster ngày 30/01/1648 của Tây
Ban Nha Lan. Công ước Munster năm 1648 nội dung tuyên bố hòa bình
giữa Tây Ban NhaLan. Theo Hoa Kỳ, trong Điều V Công ước đề cập tới
vấn đề lãnh thổ giữa Tây Ban NhaCông ty Đông Ấn của Lan. Như vậy, đảo
Palmas một bộ phận của lãnh thổ Philippines Hoa Kỳ đã chiếm đóng
Philippines sau chiến thắng trong cuộc chiến tranh với Tây Ban Nha m 1896.
Như vậy, Hoa Kỳ đã thực hiện quyền chiếm hữu của người phát hiện đầu tiên thông
qua sự chuyển giao quyền sở hữu hợp pháp từ Tây Ban Nha. Trọng tài viên cũng đã
đồng ý rằng không có quy định nào của pháp luật quốc tế hiện đại không công nhận
việc chuyển giao lãnh thổ qua chuyển nhượng.
Tuy nhiên, Trọng tài viên đã nhấn mạnh thêm rằng, Tây Ban Nha không thể
chuyển giao một cách hợp pháp vùng lãnh thổ họ không phải người sở hữu
hợp pháp như vậy do đó Hiệp định Paris không thể chuyển giao đảo Palmas cho
Hoa Kỳ một cách hợp pháp nếu Tây Ban Nha không thực hiện quyền của người
chiếm hữu nó trên thực tế. Trọng tài viên đã kết luận rằng, Tây Ban Nha đã là người
quyền sở hữu đối với đảo Palmas ngay khi Tây Ban Nha phát hiện ra đảo. Tuy
nhiên, Trọng tài viên cũng nhấn mạnh để duy trì chủ quyền của mình đối với vùng
lãnh thổ đã phát hiện ra thì quốc gia đó cần duy trì thường xuyên trên thực tế quyền
lực của nhà nước đối với vùng lãnh thổ đó, thậm chí chỉ bằng một hành động đơn
giản như cắm quốc kỳ trên bờ của hòn đảo đó. Trong trường hợp này, Tây Ban Nha
4
đã không thực hiện chủ quyền của mình trên thực tế đối với đảo Palmas sau khi Tây
Ban Nha phát hiện ra đảo. Chính vậy, lập luận của Hoa Kỳ đối với vụ kiện về
việc Hoa Kỳ có chủ quyền đối với đảo Palmas vì là chủ thể phát hiện ra đầu tiên đã
dựa trên một cơ sở pháp lý tương đối yếu.
Phải có sự tiếp giáp: Hoa Kỳ cũng đưa ra lập luận rằng, đảo Palmas là một bộ
phận lãnh thổ tiếp giáp với đất liền của lãnh thổ Philippines là thuộc địa của Hoa Kỳ
bởi lẽ gần lãnh thổ của Philippines hơn lãnh thổ của Indonesia, lãnh thổ
thuộc địa của Hà Lan. Trọng tài viên đã lập luận rằng, không có bất kỳ quy định nào
của pháp luật pháp quốc tế sở cho lập luận của Hoa Kỳ bởi lẽ vị trí của đảo
không phải là cơ sở quyết định chủ quyền của đảo thuộc về quốc gia nào. Trọng tài
viên cũng cho rằng, nếu chỉ dựa vào vị trí thì không đủ cơ sở pháp lý khi giải quyết
một vụ kiện đòi chủ quyền về một vùng đất. Nếu cộng đồng quốc tế làm theo hướng
lập luận của Hoa Kỳ nó sẽ dẫn đến những kết quả giải quyết rất vội vàng không
có cơ sở pháp lý.
Phải khẳng định chủ quyền một cách liên tục và công khai: Quan điểm đầu
tiên mà Lan đưa ra Lan chủ thể chủ quyền đối với đảo Palmas từ
năm 1677 Lan đã thực hiện quyền chiếm hữu trên thực tế đối với đảo Palmas.
Theo Lan, đảo Palmas các đảo Nanusa, đảo Talauer, gọi chung các đảo
Talaud (Talaud Islands) trước đó thuộc về Nhà nước Tabukan. Như vậy, Nhà nước
bản địa Tabukan mới chủ thể chiếm hữu chính thức trên thực tế đảo Palmas chứ
không phải Tây Ban Nha dù Tây Ban Nha đã phát hiện ra đảo Palmas. Hà Lan cũng
cho rằng, dựa vào Công ước Munster năm 1648, năm 1677 Hà Lan đã đạt được thỏa
thuận với Nhà nước Tabukan về việcLan sẽ quản lý, kiểm soát đảo Palmas tiếp
quản thông qua một Hiệp định giữa Công ty Đông Ấn với Nhà nước Tabukan, theo
một yêu cầu đặt ra đối với những người theo đạo Tin lành từ chối quyền kiểm
soát của các quốc gia khác đối với hòn đảo. Như vậy, Lan đã chứng minh
ràng Công ty Đông Ấn đã thực hiện quyền kiểm soát đối với đảo Palmas từ thế kỷ
XVII. Trong khi đó, Hoa Kỳ đã không thể đưa ra được các bằng chứng chứng minh
rằng Tây Ban Nha đã thực hiện chủ quyền đối với đảo Palmas ngoại trừ những tài
liệu về việc Tây Ban Nha đã phát hiện ra hòn đảo. Ngoài ra, cũng không bất kỳ
bằng chứng nào chứng minh rằng đảo Palmas chịu sự quản hành chính hoặc
một đơn vị hành chính của chính quyền Tây Ban Nha ở Philippines.
Trọng tài viên đã chấp nhận lập luận của Lan cho rằng, nếu Tây Ban
Nha cũng đã thực hiện chủ quyền với đảo Palmas thì chắc chắn đã phải xảy ra tranh
5
chấp giữa Lan Tây Ban Nha chủ quyền đối với đảo, nhưng thực tế không
có bằng chứng cụ thể cho thấy đãsự xung đột như thế xảy ra. Như vậy, cho đến
khi vụ kiện xảy ra thì Lan đã thực hiện chủ quyền của mình đối với đảo Palmas
một cách liên tục công khai không sự phản đối của bất kỳ quốc gia hay
chủ thể nào khác, kể cả của Tây Ban Nha.
1.3.2. Tòa án đưa ra phán quyết đối với vụ tranh chấp như sau.
Sau khi phân tích lập luận của hai bên, trọng tài Max Huber đã tuyên đảo
Palmas thuộc chủ quyền Lan: "như vậy, danh nghĩa về chủ quyền của Lan
giành được do việc thực hiện liên tục hòa bình quyền lực Nhà nước trong một
thời gian dài khả năng trước năm 1700 giá trị. Đúng chủ quyền đó
chưa thể hiện đầy đủ nhưng một danh nghĩa chưa hoàn chỉnh dựa vào việc thực
hiện quyền lực Nhà nước vẫn có giá trị hơn một danh nghĩa chưa đầy đủ dựa vào
việc phát hiện một vùng lãnh thổ nhất danh nghĩa này trong một thời gian dài
không được việc chiếm hữu thực sự bổ sung thêm".
*Nội dung của phán quyết:
Một quốc gia không thể chuyển giao một vùng lãnh thổ sang quốc gia khác khi
quốc gia đó không quyền sở hữu hợp pháp đối với vùng lãnh thổ chuyển giao.
Như vậy, Tây Ban Nha không thể chuyển giao một cách hợp pháp đảo Palmas cho
Hoa Kỳ nếu Tây Ban Nha không phải là chủ thể sở hữu đảo Palmas trong quá trình
thực hiện quyền của người chiếm hữu trên thực tế. Tây Ban Nha đã người
quyền sở hữu đối với đảo Palmas ngay khi Tây Ban Nha phát hiện ra đảo. Tuy
nhiên, Tây Ban Nha đã không thực hiện chủ quyền của mình trên thực tế đối với
đảo Palmas sau khi Tây Ban Nha phát hiện ra đảo và vì vậy, Tây Ban Nha chưa xác
lập chủ quyền của mình đối với đảo Palmas trên thực tế.thế, quan đểm của Hoa
Kỳ đối với vụ kiện về việc Hoa Kỳ có chủ quyền đối với đảo Palmas trên cơ sở thừa
kế thừa của chủ thể phát hiện ra đầu tiên đảo Palmas của Tây Ban Nhakhông
cơ sở.
Không bất kỳ quy định nào của pháp luật quốc tế cho rằng vị trí của một
hòn đảo gần với đất liền, lãnh thổ của quốc gia khác là hòn đảo thuộc chủ quyền của
quốc gia ấy. Như vậy, quan điểm của Hoa Kỳ cho rằng đảo Palmas thuộc chủ quyền
của Philippines mà không phải Hà Lan bởi lẽ vị trí của đảo gần lãnh thổ Philippines
hơn là lãnh thổ của Hà Lan là không có cơ sở pháp lý.
Một quốc gia tuy không phải chủ thể đầu tiên phát hiện ra một vùng lãnh
thổ song cũng có cơ sở tuyên bố và thiết lập chủ quyền đối với vùng lãnh thổ ấy nếu
6
đã thực hiện quyền chiếm hữu vùng lãnh thổ trên thực tế một cách công khai,
thường xuyên không vấp phải sự phản đối hoặc can thiệp của bất kỳ quốc gia
hay chủ thể nào khác. Như vậy, Hà Lan dù không phải là chủ thể đầu tiên phát hiện
ra đảo Palmas nhưng đã thực hiện quyền kiểm soát đối với đảo Palmas hoàn toàn,
thường xyên không sự phản đối của Tây Ban Nha hay bất kỳ quốc gia nào
khác.
2. Trình bày quan điểm của nhóm
2.1. Quan điểm của các học giả về vụ án
Trong Luận văn thạc sĩ Luật học đề tài “Danh nghĩa lịch sử” trong thực tiễn
giải quyết tranh chấp quốc tế về chủ quyền và hải đảo dưới góc độ luật quốc tế, học
giả Đỗ Quốc Cường đánh giá về phán quyết của Trọng tài viên như sau:
Vụ việc Palmas đặc biệt được nhớ đến Trọng tài viên duy nhất trong vụ
việc – Max Huber đã ra phán quyết rằng bản thân sự khám phá, như được viện dẫn
bởi Hoa Kỳ, chỉ làm phát sinh một danh nghĩa khai phải được hoàn thiện
thông qua những hành động công khai diễn ra liên tục đủ để làm bằng chứng
chứng minh cho sự chiếm cứ hữu hiệu. Như vậy, yếu tố đáng chú ý đây danh
nghĩa lịch sử Hoa Kỳ viện dẫn, tức việc Tây Ban Nha quốc gia đầu tiên
khám phá ra hòn đảo, có thể vào thời điểm diễn ra sự khám phá đó là đủ để thiết lập
nên chủ quyền lãnh thổ. Nhưng nếu sau đó quốc gia khám phá ra vùng lãnh thổ đó,
và những quốc gia kế thừa nó sau này, không tiếp tục có những hành động thể hiện
chủ quyền một cách liên tục hữu hiệu thì cuối cùng danh nghĩa chủ quyền cũng
sẽ bị đánh mất. Trong vụ việc này, bên cạnh lập luận chính yếu được xây dựng trên
sở sự khám phá, Hoa Kỳ đã không chra được hành động cụ thể nào thể
thuyết phục được Trọng tài viên rằng nước này đã thực thi sự chiếm cứ hữu hiệu
trên đảo Palmas, trong khi đó Lan lại làm được điều này. Do vậy, mặc dù trong
vụ việc Đảo Palmas, đối tượng tranh chấp là một hòn đảo chứ không phải là “vùng
nước lịch sử” hay “vịnh lịch sử” – những khái niệm mà từ đó đã hình thành nên học
thuyết độc lập về “danh nghĩa lịch sử”, thể kh€ng định một cách tương đối chắc
chắn rằng quy tắc theo đó một danh nghĩa ban đầu phải được duy trì liên tục và hòa
bình thông qua những hành động thể hiện sự chiếm cứ hữu hiệu có ảnh hưởng đáng
kể đến việc Báo cáo năm 1962 của Ban Thư coi một trong ba yếu tố then chốt
cấu thành nên danh nghĩa lịch sử sự thể hiện hữu hiệu quyền lực nhà nước trên
vùng lãnh thổ được yêu sách danh nghĩa. Cũng từ đây mà sau này trong các vụ việc
liên quan đến chủ quyền đối với một vùng lãnh thổ nhất định mà trong vụ việc đó,
7
một trong các bên tranh chấp viện dẫn danh nghĩa lịch sử, cái các tòa án tòa
trọng tài quốc tế đặc biệt xem trọng và từ đó lấy làm cơ sở để ra quyết định trao chủ
quyền những hành động thể hiện chủ quyền đó trên thực tế, điều sẽ được
chứng minh trong vụ việc xảy ra sau thời điểm vụ việc Đảo Palmas được phân tích
ở dưới đây”.
2.2. Quan điểm của Tòa án hoặc đương sự về vụ việc tương tự
2.2.1. Phán quyết của cơ quan tài phán và vụ việc có liên quan
Phán quyết của Tòa án Thường trực Công Quốc tế (PCIJ) đối với vụ án8
tranh chấp Đông Greenland giữa Na Uy và Đan Mạch giai đoạn 1931-1933.
Greenland là lãnh thổ cực bắc Trái đất, rộng khoảng 4.650km , 81% diện tích2
băng phủ không thể sinh sống. Năm 1931, Na Uy chiếm đóng tuyên bố chủ
quyền phía Đông Greenland - phần đất không người ở -cho rằng đóđất vô
chủ chưa thuộc sở hữu của bất kỳ quốc gia nào. Đan Mạch lại đòi chủ quyền với
toàn bộ Greenland trong khi chỉ chiếm hữu thực sự một phần diện tích của đảo.
Năm 1933, hai nước đồng ý giải quyết tranh chấp chủ quyền tại Tòa án Thường trực
Công lý Quốc tế, mà sau này là Tòa án Công lý Quốc tế.
2.2.2. Lập luận của các bên.
* Lập luận của Na Uy:
Na Uy cho rằng họ đã chiếm Đông Greenland vùng đất chủ chưa thuộc
quyền sở hữu của bất kỳ quốc gia nào.
* Lập luận của Đan Mạch.
Đan Mạch đã chứng minh chủ quyền đối với toàn bộ đảo không bằng hành vi
chiếm hữu cụ thể nào bằng một loạt các sắc lệnh, luật thực thi pháp luật, hành
chính trải dài khoảng 1.000 năm trước, đặt Greenland dưới sự điều hành của Đan
Mạch. Quá trình Đan Mạch thực hiện các hành động đó diễn ra trong hòa bình.
2.2.3. Phán quyết của Tòa.
Việc xác lập chủ quyền đối với vùng đất không thể sinh sống chỉ cần quốc gia
ý định chiếm hữu thực hiện một số hoạt động mang tính quyền lực nhà nước
là đủ.
Tòa xác định Đan Mạch đã có ý định và thẩm quyền quốc gia đã nêu là đầy đủ
để có chủ quyền với toàn bộ Greenland. Với những khu vực không thể sinh sống thì
8 Tòa án Thường trực Công lý Quốc tế (viết tắt là PCIJ) là cơ quan tư pháp chính của Liên Hợp Quốc. Tòa án
Quốc tế nhiệm vụ xét xử các vụ kiện giữa các nước vấn pháp về các vấn đề luật quốc tế, là cơ
quan pháp quốc tế duy nhất xét xử cho các nước. Quyết định kết luận pháp của Tòa án Quốc tế
một phần của luật quốc tế.
8
yêu cầu để duy trì chủ quyền trên lãnh thổ là ít nghiêm ngặt hơn so với các khu vực
có thể qua lại và đông dân cư. Đây chính là sự thay đổi một phần trong nội dung của
nguyên tắc chiếm hữu thật sự khi được vận dụng trong một điều kiện lãnh thổ
mới. Như vậy, chủ quyền của đảo Greenland thuộc về Đan Mạch.
2.3. Quan điểm của nhóm
Chính phủ Hoa Kỳ chính phủ Lan đã kết thoả thuận đưa vụ việc
ra giải quyết tại Tòa trọng tài thường trực La Haye cùng hợp để vụ
việc có thể mang tính công bằng cho cả hai bên.
Theo quyết định của Trọng tài viên duy nhất, ông Max Huber đã giải quyết
theo hướng có lợi cho Hà Lan. Các quy tắc của trọng tài dựa vào các sự kiện liên
quan có được tại thời điểm quy tắc đó có hiệu lực.
Thứ nhất, theo lập luận của Hoa Kỳ thì Hoa Kỳ là nướcchủ quyền đối
với đảo Palmas Tây Ban Nha đã nhượng lại chủ quyền đối với lãnh thổ của
Philippines cho Hoa Kỳ bằng Hiệp ước Paris ngày 10/02/1898. Ngoài ra, Hoa
Kỳ còn viện dẫn Công ước Munster tại Điều V liên hệ tới vấn đề lãnh thổ
giữa Tây Ban Nha Công ty Đông Ấn của Lan Hoa Kỳ cũng cho rằng
Tây Ban Nha phát hiện ra đảo sớm nhất.
Với lập luận trên của Hoa Kỳ là chưa đủ căn cứ để chứng minh Hoa Kỳ có
chủ quyền với đảo Palmas. Nếu Tây Ban Nha phát hiện ra đảo Palmas sớm nhất
qua học thuyết quyền khám phá trước tiên nhưng đó cũng chỉ xác lập chủ
quyền dựa theo nguyên tắc tượng trưng. Nhưng sau đó, nhà nước Tây Ban Nha
không tổ chức hành chính hay các biện pháp cai trị nào và cũng chưa có công bố
văn bản nào liên quan đến chủ quyền đối với hòn đảo Palmas, hơn nữa Tây Ban
Nha chưa từng tranh chấp với Lan về việc chiếm hữu đảo Palmas. Điều này
đồng nghĩa với việc quyền chiếm hữu đảo Palmas của Tây Ban Nha không
thực tế và hữu hiệu, trong khi Hà Lan lại làm được điều này.
Tiếp đến lập luận của Hoa Kỳ về vị trí đảo Palmas: Trọng tài cũng cho
rằng, không có quy định nào cho rằng vị trí của một hòn đảo gần với đất liền của
quốc gia nào thì thuộc chủ quyền của quốc gia đó. Chính vậy quan điểm
của Hoa Kỳ về hòn đảo Palmas nằm gần Philippines hơn thì thuộc lãnh thổ của
Philippines là không có cơ sở pháp lý.
Thứ hai, với quan điểm Lan đưa ra Lan đã thực hiện quyền
chiếm hữu thực tế đối với đảo Palmas, Hà Lan cũng trích dẫn Công ước Munster
9
năm 1648 Lan đã đạt thỏa thuận giữa Công ty Đông Ấn Nhà nước
Tabukan.
Việc Lan thực hiện quyền chiếm hữu thực tế đối với đảo Palmas
căn cứ. Để chiếm hữu thực tế Hà Lan phải đã thực hiện đủ các điều kiện sau:
- Phải do Nhà nước tiến hành: đây Công ty Đông Ấn đã được Quốc hội
Lan trao cho nắm độc quyền thực thi những hoạt động thực dân tại châu Á,
có nghĩa là Công ty Đông Ấn đã được Chính phủ Hà Lan uỷ quyền cho.
- Phải là lãnh thổ vô chủ và không nằm hoặc không còn nằm trong hệ thống
hành chính của một quốc gia nào.
- Việc chiếm hữu phải hoà bình: Lan đã thoả thuận với nhà nước
Tabukan về việc Lan sẽ quản lý, kiểm soát đảo Palmas thông qua một hiệp
định giữa Công ty Đông Ấn với nhà nước Tabukan.
- Việc chiếm hữu phải liên tục: Lan đã liên tục thực hiện quyền kiểm
soát từ lúc thoả thuận hiệp định.
2.4. Bài học kinh nghiệm.
Gần đây, Trung Quốc đã gia tăng các hoạt động phi pháp trên khu vực biển
Đông, xâm phạm đến chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa
Trường Sa. Việt Nam nhiều nước khác kịch liệt phản đối hành động ngang
ngược của Trung Quốc nhưng họ vẫn bất chấp thực hiện hành động phi đó với
những yêu sách mà mình đặt ra.
Trung Quốc đang thụ đắc chủ quyền? Được hỏi về chủ quyền của mình đối
với hai quần đảo là Hoàng Sa Trường Sa, Trung Quốc luôn đưa ra lập luận rằng
các quần đảo này đất đai của họ đã rất lâu đời trước. Nói cách khác, Trung
quốc có danh nghĩa thụ đắc chủ quyền đối với một lãnh thổ vô chủ (tức là một lãnh
thổ chưa thuộc quyền quản lý của bất cứ một quốc gia nào khác) trước Việt Nam từ
rất lâu. Họ trích dẫn các ghi chép trong các thư tịch cổ để đi đến kết luận người
Trung Quốc đến biển Đông sớm nhất thế, họ là người chiếm hữu đầu tiên tại
đây. Một điềuhơn nữa, khihọ đã đưa ra bằng chứng các di vật khảo cổ
mà được họ kh€ng định là tìm thấy trên trên quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.
Vào thời đó, từ khoảng cuối thế kỷ thứ XV, việc sát nhập lãnh thổ do quốc
gia phát hiện, được thực hiện như danh nghĩa nguyên thủy của việc chiếm hữu.
Nhưng các nguyên tắc này đã sớm trở thành các kh€ng định căn cứ qua các vụ
tranh chấp biển đảo trước đây, tiêu biểu vụ tranh chấp đảo Palmas giữa Hoa Kỳ
Lan ngày 4-4-1928. Vụ kiện Palmas vào thời kỳ đó, Hoa Kỳ cũng đã kh€ng
10
định rằng Tây Ban Nha là nước đầu tiên phát hiện ra hòn đảo sau đó nhượng quyền
cho Hoa Kỳ, tuy nhiên Tây Ban Nha đã không thực hiện chủ quyền của mình trên
thực tế đối với đảo Palmas sau khi Tây Ban Nha phát hiện ra đảo vậy, Tây
Ban Nha chưa thiết lập chủ quyền của mình đối với hòn đảo này. cũng dựa vào
đó, Trung Quốc hoàn toàn không căn cứ để xác định chủ quyền đối với 2 quần
đảo là Hoàng Sa và Trường Sa dựa vào việc là người đầu tiên phát hiện hoặc là các
di tích khảo cổ đã được tìm thấy trên quần đảo.
Trung Quốc với những yêu sách phi của mình về “đường lưỡi bò”, “đường
chữ U” hay “đường chín đoạn”... những cách gọi khác nhau các học giả trên
thế giới dùng để chỉ yêu sách của Trung Quốc, chạy sát bờ biển của các nước
chung biển Đông, trong đó bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt
Nam. Trung Quốc lại không chứng minh được là các chính quyền của họ đã thực thi
“chủ quyền” trong “đường lưỡi bò” một cách thực sự, liên tục hòa bình trong
lịch sử. ràng, Việt Nam không chỉ sự hiểu biết lâu đời đến hai quần đảo này
còn chiếm hữu thực sự chúng ít nhất từ thế kỷ XVII, nhà nước đầu tiên xác
lập chủ quyền trên các quần đảo này. Các tài liệu lịch sử của Việt Nam rất nhiều
khớp với các tài liệu nước ngoài đáng tin cậy cho phép kết luận rằng, từ lâu và liên
tục trong hàng mấy trăm năm, từ triều đại này đến triều đại khác, Nhà nước Việt
Nam đã làm chủ và luôn duy trì quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa
Trường Sa.
Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử - pháp lý để kh€ng định chủ quyền đối
với hai quần dảo Hoàng Sa Trường Sa. Việt Nam là quốc gia duy nhất đã chiếm
hữu, quản hai quần đảo một cách liên tục, hòa bìnhphù hợp với các quy định
luật pháp quốc tế. Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan
trọng, kh€ng định 2 quần đảo Hoàng Sa Trường Sa một bộ phận không thể
tách rời khỏi lãnh thổ Việt Nam.
Trên cương vịquốc gia có biển đảo cũng đang trong tình trạng xung đột
chủ quyền thì phán quyết của PCA về vụ kiện đảo Palmas chính bài học kinh
nghiệm quý giá đối với Việt Nam, cụ thể như sau:
Trước hết là ý nghĩa về mặt pháp lý:
Thứ nhất, một quốc gia không thể lấy do mình chủ thể phát hiện ra đầu
tiên để xác lập chủ quyền đối với một vùng lãnh thổ khi mà sau đó không thực hiện
bất cứ một hành động nào để thể hiện chủ quyền thực tế của mình đối với vùng lãnh
thổ đó. Đây sở hình thành nguyên tắc chiếm hữu hiệu quả trong việc xác
11
lập chủ quyền đối với lãnh thổ quốc gia. Thứ hai, một quốc gia hoàn toàn sở
thiết lập chủ quyền đối với một vùng lãnh thổ dù không phải là chủ thể phát hiện ra
đầu tiên nếu như quốc gia đó đã công khai thực hiện sự kiểm soát thể hiện chủ
quyền đối với vùng lãnh thổ đó mà không có sự phản đối từ bất cứ một quốc gia nào
khác. Đây là cơ sở hình thành nguyên tắc chiếm hữu lâu dài trong việc xác định chủ
quyền đối với lãnh thổ của quốc gia, đặc biệt đối với các đảo ven bờ của những
quốc gia có bờ biển.
Tiếp đến ý nghĩa đối với quá trình giải quyết xung đột về tuyên bố chủ
quyền biển đảo của Việt Nam: Khimột quốc giabiển đảo và cũng đang trong
tình trạng xung đột về tuyên bố chủ quyền biển đảo với các quốc gia khác. Để có
sở pháp vững chắc nhằm kh€ng định chủ quyền của mình đối với các quần đảo
đang có tranh chấp chủ quyền cần chú ý một số vấn đề sau đây được rút ra từ phán
quyết PCA. Thứ nhất, thực hiện việc chiếm hữu hiệu quả thể hiện chủ quyền
của mình trên thực tế một cách công khai, thường xuyên, liên tục đối với những đảo
đang nằm dưới sự kiểm soát của mình, việc hiện giờ Việt Nam đã và đang làm tốt.
Thứ hai, Việt Nam phải thường xuyên, liên tục kh€ng định chủ quyền đối với những
đảo và vùng biển thuộc chủ quyền của mình nhưng đang chịu sự kiểm soát của quốc
gia khác. Thứ ba, Việt Nam phải liên tục phản đối một cách kiên quyết và công khai
nhằm chống lại hành động của quốc gia khác trong việc âm mưu tạo ra những
chứng cứ giả nhằm chứng minh sự chiếm hữu thực tế đối với các đảo thuộc chủ
quyền của mình nhưng đang tạm thời nằm dưới sự kiểm soát của quốc gia khác.
cuối cùng, Việt Nam phải thường xuyên, liên tục củng cố và công bố các chứng cứ
pháp lý kh€ng định chủ quyền của mình đối với các quần đảo đang có tranh chấp.
12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Sách, Giáo Trình
Ngô Hữu Phước, của Trường Đại học LuậtGiáo trình Công pháp quốc tế (Quyển 1)
TP. Hồ Chí Minh, Nxb Hồng Đức, Chương IV.
Bành Quốc Tuấn, Nguyễn Chí Thắng (2018), Phán quyết điển hình của cơ quan tài
phán quốc tế và giải quyết tranh chấp biển đảo, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự
thật, trang 20 – 24.
Luận văn
Đỗ Quốc Cường (2015), “Danh nghĩa lịch sử” trong thực tiễn giải quyết tranh
chấp quốc tế về chủ quyền hải đảo dưới góc độ luật quốc tế, Luận văn thạc
Luật học, Trường Đại học Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, trang 40,41.
Tạp chí
1. Bành Quốc Tuấn (2016), “Phán quyết kinh điển của Tòa trọng tài thường trực
La Haye về giải quyết tranh chấp biển đảobài học kinh nghiệm”, Tạp chí Tổ
chức nhà nước.
2. Nguyễn Thanh Minh (2016), “Một số phán quyêt của trọng tài và Tòa án công lý
quốc tế trong việc giải quyết tranh chấp chủ quyền biển đảo trên thế giới từ năm
1928 đến năm 2016”, Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 3 (129)/ 2016, trang
85.
Trang thông tin điện tử (Website)
1. NT (Theo tài liệu tuyên truyền pháp luật về biển - đảo, “Vài nét về yêu sách
“đường lưỡi bò” hay “đường chữ U” hay “đường 9 đoạn” của Trung Quốc”,
https://tinyurl.com/2amn3z5y, truy cập ngày 06/10/2014.
2. Việt Hoàng, “Cuộc thi viết về chủ quyền biển đảo: Vạch trần các luận điểm sai
trái của Trung Quốc”, https://nld.com.vn/bien-dao/vach-tran-cac-luan-diem-sai-
trai-cua-trung-quoc-20210107214831974.htm, truy cập ngày 08/01/2021.
1

Preview text:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ------------------  ------------------
KHOA: Luật Quốc Tế
LỚP: Quốc Tế 47.2 NHÓM: 15
MÔN HỌC: CÔNG PHÁP QUỐC TẾ
Giảng viên hướng dẫn: Ths. Lê Minh Nhựt
BÀI THUYẾT TRÌNH GIỮA KỲ ĐỀ TÀI LAS PALMAS CASE
Năm học: 2022 – 2023
LỚP QUỐC TẾ 47.2 - NHÓM 15 HỌ VÀ TÊN MSSV Phạm Lê Như Huỳnh 2253801015129 Nguyễn Vân Khánh 2253801015136 Lê Thanh Liêm 2253801015149 Huỳnh Khánh Linh 2253801015151 Dương Khánh Ly 2253801015164 Nguyễn Ban Mai 2253801015168 Nguyễn Phan Trọng Nghĩa 2253801015205 Mai Phương Bích Ngọc 2253801015208 Nguyễn Hoàng Nhạn 2253801015217 Lâm Uyển Nhi 2253801015222 Lê Nguyễn Yến Nhi 2253801015224 MỤC LỤC
1. Tóm tắt vụ việc.............................................................................................................
1.1. Tóm tắt sự kiện......................................................................................................
1.2. Lập luận của các bên.............................................................................................
1.2.1. Lập luận của nguyên đơn (Hoa Kỳ)..................................................................
1.2.2. Lập luận của bị đơn (Hà Lan)...........................................................................
1.3. Lập luận và phán quyết của Tòa án.....................................................................
1.3.1. Lập luận của Tòa án.........................................................................................
1.3.2. Tòa án đưa ra phán quyết đối với vụ tranh chấp như sau..................................
2. Trình bày quan điểm của nhóm..................................................................................
2.1. Quan điểm của các học giả về vụ án....................................................................
2.2. Quan điểm của Tòa án hoặc đương sự về vụ việc tương tự...............................
2.2.1. Phán quyết của cơ quan tài phán và vụ việc có liên quan.................................
2.2.2. Lập luận của các bên........................................................................................
2.2.3. Phán quyết của Tòa..........................................................................................
2.3. Quan điểm của nhóm............................................................................................
2.4. Bài học kinh nghiệm..............................................................................................
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................... 1 1. Tóm tắt vụ việc
1.1. Tóm tắt sự kiện

Hòn đảo Palmas tọa lạc ở phía Bắc Indonesia, hiện nay là lãnh thổ thuộc quần
đảo của nước Cộng hòa Indonesia.
Vụ kiện đảo Palmas là một vụ tranh chấp liên quan đến chủ quyền lãnh thổ
giữa Hà Lan và Hoa Kỳ. Hai nước nhất trí quyết định nộp hồ sơ lên Tòa án Trọng
tài Thường trực (PCA) để xử lý vụ vi 1 ệc.
Vụ việc tranh chấp xảy ra sau chuyến thăm đầu tiên của tướng Hoa Kỳ
Leonard Wood 2đến đảo Palmas vào ngày 21 tháng 1 năm 1906. Ông thấy trên đảo
cắm cờ của Hà Lan và đảo đã được tuyên bố thuộc về lãnh thổ của Đông Ấn Hà
Lan3. Sau khi tướng Wood rời đảo đã gửi báo cáo với Bộ trưởng quốc phòng Hoa
Kỳ và Bộ cũng đã tiến hành điều tra.
Sau cuộc đấu tranh Tây Ban Nha và Hoa Kỳ. Tây Ban Nha đã ký với Hoa Kỳ
Hiệp ước Paris4 năm 1898. Từ đó chuyển giao quyền cai trị Philippines từ Tây Ban
Nha sang Hoa Kỳ, trong đó có hòn đảo Palmas. Bên Hoa Kỳ cho rằng đảo Palmas
được phát hiện vào thế kỉ XVI, có thể là vào năm 1526 nằm gần và tiếp giáp lãnh
thổ với Philippines. Nhưng đảo Palmas đã được cắm cờ Hà Lan và bên phía Hà Lan
cho rằng đã sở hữu, quản lý công khai quần đảo này đủ lâu để xác nhận chủ quyền
đối với hòn đảo này.
Vị trọng tài viên duy nhất của vụ việc là ông Max Huber đã đưa ra phán quyết 5
quyết định chủ quyền đối với Palmas theo hướng có lợi cho Hà Lan. Và ông kết
luận đảo Palmas thuộc về Đông Ấn Hà Lan và cho rằng Hà Lan đã “thực hiện liên
tục và hoà bình quyền lực nhà nước trong một thời gian dài”. Đây là bản án cực kỳ
quan trọng trong hệ thống luật quốc tế khi nó lần đầu tiên xây dựng nền tảng giải
thích khái niệm chủ quyền và vấn đề liên quan.
1 Tòa án Trọng tài thường trực (viết tắt là PCA) là một trong những cơ quan tài phán quốc tế được thành lập
sớm có trụ sở tại La Haye, Hà Lan.
2 Leonard Wood là một thiếu tướng, nhân viên y tế và sĩ quan trong Quân đội Hoa Kỳ. Ông từng là Tham
mưu trưởng Quân đội Hoa Kỳ, Thống đốc Quân đội Cuba và Toàn quyền Philippines.
3 Công ty Đông Ấn (East India Company) là công ty đa quốc gia đầu tiên trên thế giới, đây là 1 công ty đầy
quyền lực, sở hữu gần như toàn bộ quyền lực của chính phủ, bao gồm có khả năng phát động chiến tranh, bỏ
tù và hành hình các tù nhân, thay mặt trong các đàm phán hiệp ước, đúc tiền và thành lập thuộc địa.
4 Hiệp ước Paris năm 1898 là hiệp ước ký giữa Hoa Kỳ và Tây Ban Nha để chấm dứt cuộc chiến tranh Hoa
Kỳ - Tây Ban Nha. Theo Hiệp ước, Tây Ban Nha phải trao nhượng toàn bộ thuộc địa Philippines cho Hoa Kỳ.
5 Max Huber là luật gia người Thụy Sĩ, trọng tài viên duy nhất trong vụ tranh chấp đảo Palmas giữa Hà Lan và Hoa Kỳ năm 1928. 2
1.2. Lập luận của các bên
1.2.1. Lập luận của nguyên đơn (Hoa Kỳ)

Tây Ban Nha là chủ thể đầu tiên phát hiện ra đảo. Tây Ban Nha nhượng lại
chủ quyền đối với lãnh thổ của Philippines cho Hoa Kỳ thông qua Hiệp ước
Paris ngày 10/12/1898 trong đó có đảo Palmas. Năm 1899, Hoa Kỳ đã thông báo
cho Hà Lan về Hiệp ước Paris mà Hà Lan không có ý kiến gì. Hoa Kỳ đã sử
dụng quyền thụ đắc lãnh thổ, vì Tây Ban Nha tìm ra đảo Palmas đầu tiên, Hoa
Kỳ được thụ đắc lãnh thổ từ Tây Ban Nha nên Hoa Kỳ có chủ quyền đối với hòn đảo Palmas.
Bên cạnh đó, Hoa Kỳ đã viện dẫn Công ước Munster 6 ngày 30/11/1648
giữa Tây Ban Nha và Hà Lan đã ký kết. Hoa Kỳ đã nhắc tới việc xác định chủ
quyền lãnh thổ không thông qua hành vi vẽ bản đồ mà phải thông qua Công ước.
Trong nội dung của Công ước Munster có đề cập vấn đề tuyên bố hòa bình giữa
Tây Ban Nha và Hà Lan. Với viện dẫn đó, đảo Palmas thuộc Philippines, đồng
thời ở thời điểm đó Philippines bị Hoa Kỳ thống trị sau khi thắng Tây Ban Nha.
Từ đó suy ra Hoa Kỳ đã thực hiện quyền chiếm hữu của người đầu tiên phát
hiện thông qua sự chuyển nhượng.
Đảo Palmas là một phần lãnh thổ tiếp giáp với đất liền Philippines. Thông
qua bản đồ địa lý Hoa Kỳ cho rằng đảo Palmas gần với Philippines hơn Indonesia.
1.2.2. Lập luận của bị đơn (Hà Lan)
Hà Lan thực hiện sự chiếm hữu liên tục cũng như sự thể hiện chủ quyền
trên thực tế đối với đảo Palmas.
Trước đó đảo Palmas thuộc chủ quyền của Nhà nước Tabukan .7 Có nghĩa
là Nhà nước Tabukan mới là chủ thể chiếm hữu trực tiếp thực tế trên đảo mà
không phải Tây Ban Nha mặc dù Tây Ban Nha phát hiện ra đảo.
Hà Lan cũng viện dẫn Công ước Munster 1648. Năm 1677 Hà Lan đã được
thỏa thuận với Nhà nước Tabukan về việc quản lí, kiểm soát đảo từ Thế kỷ
XVII. Khác với Hoa Kỳ không đưa ra được bằng chứng việc Tây Ban Nha có
bất cứ chủ quyền nào đối với hòn đảo này ngoại trừ việc phát hiện đầu tiên.
6 Công ước Munster (Treaty of Munster) là một hiệp ước giữa Cộng hòa Hà Lan và Đế quốc Tây Ban Nha,
nội dung hiệp ước giữa hai bên đã được ký kết vào ngày 30/01/1648. Hiệp ước là sự kiện quan trọng trong
lịch sử Hà Lan, đánh dấu việc công nhận độc lập chính thức của Cộng hòa Hà Lan, và là một phần của Hòa
ước Westfalen. Vào tháng 10 cùng năm, chính thức kết thúc Chiến tranh Ba Mươi Năm và Chiến tranh Tám Mươi Năm.
7 Nhà nước Tabukan cai trị các đảo Nanusa, đảo Talauer và đảo Palmas (gọi chung là các đảo Talaud). 3
1.3. Lập luận và phán quyết của Tòa án
1.3.1. Lập luận của Tòa án

Vụ tranh chấp đảo Palmas giữa Hoa Kỳ và Hà Lan được xét xử bởi Tòa án
Trọng tài Thường trực (PCA).
Đảo Palmas được PCA tuyên bố là một phần của Đông Ấn Hà Lan.
Chủ tọa: Thẩm phán Max Huber
Lập luận của Toà án được thông qua và Thẩm phán Max Huber đưa ra lập
luận của ông dựa trên các cơ sở như sau:
Phải là người phát hiện ra đầu tiên: Tại cuộc tranh luận đầu tiên giữa hai
bên, Hoa Kỳ lập luận rằng chính Hoa Kỳ là quốc gia có chủ quyền trên đảo Palmas
bởi lẽ Tây Ban Nha đã trao toàn bộ chủ quyền về lãnh thổ của Philippines cho Hoa
Kỳ theo Hiệp ước Paris ngày 10/12/1898 (trong đó có đảo Palmas) và Tây Ban Nha
là chủ thể đầu tiên phát hiện ra đảo Palmas. Theo Hoa Kỳ thì chủ quyền trên một
vùng lãnh thổ không nên xác lập đơn thuần bằng việc vẽ bản đồ mà còn thông qua
một Công ước và Hoa Kỳ đã sử dụng Công ước Munster ngày 30/01/1648 của Tây
Ban Nha và Hà Lan. Công ước Munster năm 1648 có nội dung tuyên bố hòa bình
giữa Tây Ban Nha và Hà Lan. Theo Hoa Kỳ, trong Điều V Công ước có đề cập tới
vấn đề lãnh thổ giữa Tây Ban Nha và Công ty Đông Ấn của Hà Lan. Như vậy, đảo
Palmas là một bộ phận của lãnh thổ Philippines và Hoa Kỳ đã chiếm đóng
Philippines sau chiến thắng trong cuộc chiến tranh với Tây Ban Nha năm 1896.
Như vậy, Hoa Kỳ đã thực hiện quyền chiếm hữu của người phát hiện đầu tiên thông
qua sự chuyển giao quyền sở hữu hợp pháp từ Tây Ban Nha. Trọng tài viên cũng đã
đồng ý rằng không có quy định nào của pháp luật quốc tế hiện đại không công nhận
việc chuyển giao lãnh thổ qua chuyển nhượng.
Tuy nhiên, Trọng tài viên đã nhấn mạnh thêm rằng, Tây Ban Nha không thể
chuyển giao một cách hợp pháp vùng lãnh thổ mà họ không phải là người sở hữu
hợp pháp và như vậy do đó Hiệp định Paris không thể chuyển giao đảo Palmas cho
Hoa Kỳ một cách hợp pháp nếu Tây Ban Nha không thực hiện quyền của người
chiếm hữu nó trên thực tế. Trọng tài viên đã kết luận rằng, Tây Ban Nha đã là người
có quyền sở hữu đối với đảo Palmas ngay khi Tây Ban Nha phát hiện ra đảo. Tuy
nhiên, Trọng tài viên cũng nhấn mạnh để duy trì chủ quyền của mình đối với vùng
lãnh thổ đã phát hiện ra thì quốc gia đó cần duy trì thường xuyên trên thực tế quyền
lực của nhà nước đối với vùng lãnh thổ đó, thậm chí chỉ bằng một hành động đơn
giản như cắm quốc kỳ trên bờ của hòn đảo đó. Trong trường hợp này, Tây Ban Nha 4
đã không thực hiện chủ quyền của mình trên thực tế đối với đảo Palmas sau khi Tây
Ban Nha phát hiện ra đảo. Chính vì vậy, lập luận của Hoa Kỳ đối với vụ kiện về
việc Hoa Kỳ có chủ quyền đối với đảo Palmas vì là chủ thể phát hiện ra đầu tiên đã
dựa trên một cơ sở pháp lý tương đối yếu.
Phải có sự tiếp giáp: Hoa Kỳ cũng đưa ra lập luận rằng, đảo Palmas là một bộ
phận lãnh thổ tiếp giáp với đất liền của lãnh thổ Philippines là thuộc địa của Hoa Kỳ
bởi lẽ nó gần lãnh thổ của Philippines hơn là lãnh thổ của Indonesia, là lãnh thổ
thuộc địa của Hà Lan. Trọng tài viên đã lập luận rằng, không có bất kỳ quy định nào
của pháp luật pháp quốc tế là cơ sở cho lập luận của Hoa Kỳ bởi lẽ vị trí của đảo
không phải là cơ sở quyết định chủ quyền của đảo thuộc về quốc gia nào. Trọng tài
viên cũng cho rằng, nếu chỉ dựa vào vị trí thì không đủ cơ sở pháp lý khi giải quyết
một vụ kiện đòi chủ quyền về một vùng đất. Nếu cộng đồng quốc tế làm theo hướng
lập luận của Hoa Kỳ nó sẽ dẫn đến những kết quả giải quyết rất vội vàng và không có cơ sở pháp lý.
Phải khẳng định chủ quyền một cách liên tục và công khai: Quan điểm đầu
tiên mà Hà Lan đưa ra là Hà Lan là chủ thể có chủ quyền đối với đảo Palmas vì từ
năm 1677 Hà Lan đã thực hiện quyền chiếm hữu trên thực tế đối với đảo Palmas.
Theo Hà Lan, đảo Palmas và các đảo Nanusa, đảo Talauer, gọi chung là các đảo
Talaud (Talaud Islands) trước đó thuộc về Nhà nước Tabukan. Như vậy, Nhà nước
bản địa Tabukan mới là chủ thể chiếm hữu chính thức trên thực tế đảo Palmas chứ
không phải Tây Ban Nha dù Tây Ban Nha đã phát hiện ra đảo Palmas. Hà Lan cũng
cho rằng, dựa vào Công ước Munster năm 1648, năm 1677 Hà Lan đã đạt được thỏa
thuận với Nhà nước Tabukan về việc Hà Lan sẽ quản lý, kiểm soát đảo Palmas tiếp
quản thông qua một Hiệp định giữa Công ty Đông Ấn với Nhà nước Tabukan, theo
một yêu cầu đặt ra đối với những người theo đạo Tin lành và từ chối quyền kiểm
soát của các quốc gia khác đối với hòn đảo. Như vậy, Hà Lan đã chứng minh rõ
ràng Công ty Đông Ấn đã thực hiện quyền kiểm soát đối với đảo Palmas từ thế kỷ
XVII. Trong khi đó, Hoa Kỳ đã không thể đưa ra được các bằng chứng chứng minh
rằng Tây Ban Nha đã thực hiện chủ quyền đối với đảo Palmas ngoại trừ những tài
liệu về việc Tây Ban Nha đã phát hiện ra hòn đảo. Ngoài ra, cũng không có bất kỳ
bằng chứng nào chứng minh rằng đảo Palmas chịu sự quản lý hành chính hoặc là
một đơn vị hành chính của chính quyền Tây Ban Nha ở Philippines.
Trọng tài viên đã chấp nhận lập luận của Hà Lan và cho rằng, nếu Tây Ban
Nha cũng đã thực hiện chủ quyền với đảo Palmas thì chắc chắn đã phải xảy ra tranh 5
chấp giữa Hà Lan và Tây Ban Nha vì chủ quyền đối với đảo, nhưng thực tế không
có bằng chứng cụ thể cho thấy đã có sự xung đột như thế xảy ra. Như vậy, cho đến
khi vụ kiện xảy ra thì Hà Lan đã thực hiện chủ quyền của mình đối với đảo Palmas
một cách liên tục và công khai mà không có sự phản đối của bất kỳ quốc gia hay
chủ thể nào khác, kể cả của Tây Ban Nha.
1.3.2. Tòa án đưa ra phán quyết đối với vụ tranh chấp như sau.
Sau khi phân tích lập luận của hai bên, trọng tài Max Huber đã tuyên đảo
Palmas thuộc chủ quyền Hà Lan: "như vậy, danh nghĩa về chủ quyền của Hà Lan
giành được do việc thực hiện liên tục và hòa bình quyền lực Nhà nước trong một
thời gian dài – có khả năng trước năm 1700 là có giá trị. Đúng là chủ quyền đó
chưa thể hiện đầy đủ nhưng một danh nghĩa chưa hoàn chỉnh dựa vào việc thực
hiện quyền lực Nhà nước vẫn có giá trị hơn một danh nghĩa chưa đầy đủ dựa vào
việc phát hiện một vùng lãnh thổ nhất là danh nghĩa này trong một thời gian dài
không được việc chiếm hữu thực sự bổ sung thêm
".
*Nội dung của phán quyết:
Một quốc gia không thể chuyển giao một vùng lãnh thổ sang quốc gia khác khi
quốc gia đó không có quyền sở hữu hợp pháp đối với vùng lãnh thổ chuyển giao.
Như vậy, Tây Ban Nha không thể chuyển giao một cách hợp pháp đảo Palmas cho
Hoa Kỳ nếu Tây Ban Nha không phải là chủ thể sở hữu đảo Palmas trong quá trình
thực hiện quyền của người chiếm hữu nó trên thực tế. Tây Ban Nha đã là người có
quyền sở hữu đối với đảo Palmas ngay khi Tây Ban Nha phát hiện ra đảo. Tuy
nhiên, Tây Ban Nha đã không thực hiện chủ quyền của mình trên thực tế đối với
đảo Palmas sau khi Tây Ban Nha phát hiện ra đảo và vì vậy, Tây Ban Nha chưa xác
lập chủ quyền của mình đối với đảo Palmas trên thực tế. Vì thế, quan đểm của Hoa
Kỳ đối với vụ kiện về việc Hoa Kỳ có chủ quyền đối với đảo Palmas trên cơ sở thừa
kế thừa của chủ thể phát hiện ra đầu tiên đảo Palmas của Tây Ban Nha là không có cơ sở.
Không có bất kỳ quy định nào của pháp luật quốc tế cho rằng vị trí của một
hòn đảo gần với đất liền, lãnh thổ của quốc gia khác là hòn đảo thuộc chủ quyền của
quốc gia ấy. Như vậy, quan điểm của Hoa Kỳ cho rằng đảo Palmas thuộc chủ quyền
của Philippines mà không phải Hà Lan bởi lẽ vị trí của đảo gần lãnh thổ Philippines
hơn là lãnh thổ của Hà Lan là không có cơ sở pháp lý.
Một quốc gia tuy không phải là chủ thể đầu tiên phát hiện ra một vùng lãnh
thổ song cũng có cơ sở tuyên bố và thiết lập chủ quyền đối với vùng lãnh thổ ấy nếu 6
đã thực hiện quyền chiếm hữu vùng lãnh thổ trên thực tế một cách công khai,
thường xuyên mà không vấp phải sự phản đối hoặc can thiệp của bất kỳ quốc gia
hay chủ thể nào khác. Như vậy, Hà Lan dù không phải là chủ thể đầu tiên phát hiện
ra đảo Palmas nhưng đã thực hiện quyền kiểm soát đối với đảo Palmas hoàn toàn,
thường xyên mà không có sự phản đối của Tây Ban Nha hay bất kỳ quốc gia nào khác.
2. Trình bày quan điểm của nhóm
2.1. Quan điểm của các học giả về vụ án

Trong Luận văn thạc sĩ Luật học đề tài “Danh nghĩa lịch sử” trong thực tiễn
giải quyết tranh chấp quốc tế về chủ quyền và hải đảo dưới góc độ luật quốc tế, học
giả Đỗ Quốc Cường đánh giá về phán quyết của Trọng tài viên như sau:
Vụ việc Palmas đặc biệt được nhớ đến vì Trọng tài viên duy nhất trong vụ
việc – Max Huber đã ra phán quyết rằng bản thân sự khám phá, như được viện dẫn
bởi Hoa Kỳ, chỉ làm phát sinh một danh nghĩa sơ khai mà phải được hoàn thiện
thông qua những hành động công khai và diễn ra liên tục đủ để làm bằng chứng
chứng minh cho sự chiếm cứ hữu hiệu. Như vậy, yếu tố đáng chú ý ở đây là danh
nghĩa lịch sử mà Hoa Kỳ viện dẫn, tức là việc Tây Ban Nha là quốc gia đầu tiên
khám phá ra hòn đảo, có thể vào thời điểm diễn ra sự khám phá đó là đủ để thiết lập
nên chủ quyền lãnh thổ. Nhưng nếu sau đó quốc gia khám phá ra vùng lãnh thổ đó,
và những quốc gia kế thừa nó sau này, không tiếp tục có những hành động thể hiện
chủ quyền một cách liên tục và hữu hiệu thì cuối cùng danh nghĩa chủ quyền cũng
sẽ bị đánh mất. Trong vụ việc này, bên cạnh lập luận chính yếu được xây dựng trên
cơ sở sự khám phá, Hoa Kỳ đã không chỉ ra được hành động cụ thể nào mà có thể
thuyết phục được Trọng tài viên rằng nước này đã thực thi sự chiếm cứ hữu hiệu
trên đảo Palmas, trong khi đó Hà Lan lại làm được điều này. Do vậy, mặc dù trong
vụ việc Đảo Palmas, đối tượng tranh chấp là một hòn đảo chứ không phải là “vùng
nước lịch sử” hay “vịnh lịch sử” – những khái niệm mà từ đó đã hình thành nên học
thuyết độc lập về “danh nghĩa lịch sử”, có thể kh€ng định một cách tương đối chắc
chắn rằng quy tắc theo đó một danh nghĩa ban đầu phải được duy trì liên tục và hòa
bình thông qua những hành động thể hiện sự chiếm cứ hữu hiệu có ảnh hưởng đáng
kể đến việc Báo cáo năm 1962 của Ban Thư kí coi một trong ba yếu tố then chốt
cấu thành nên danh nghĩa lịch sử là sự thể hiện hữu hiệu quyền lực nhà nước trên
vùng lãnh thổ được yêu sách danh nghĩa. Cũng từ đây mà sau này trong các vụ việc
liên quan đến chủ quyền đối với một vùng lãnh thổ nhất định mà trong vụ việc đó, 7
một trong các bên tranh chấp viện dẫn danh nghĩa lịch sử, cái mà các tòa án và tòa
trọng tài quốc tế đặc biệt xem trọng và từ đó lấy làm cơ sở để ra quyết định trao chủ
quyền là những hành động thể hiện chủ quyền đó trên thực tế, điều mà sẽ được
chứng minh trong vụ việc xảy ra sau thời điểm vụ việc Đảo Palmas được phân tích ở dưới đây”.
2.2. Quan điểm của Tòa án hoặc đương sự về vụ việc tương tự
2.2.1. Phán quyết của cơ quan tài phán và vụ việc có liên quan

Phán quyết của Tòa án Thường trực Công lý Quốc tế (PCIJ) 8 đối với vụ án
tranh chấp Đông Greenland giữa Na Uy và Đan Mạch giai đoạn 1931-1933.
Greenland là lãnh thổ cực bắc Trái đất, rộng khoảng 4.650km , 2 81% diện tích
có băng phủ không thể sinh sống. Năm 1931, Na Uy chiếm đóng và tuyên bố chủ
quyền phía Đông Greenland - phần đất không có người ở - vì cho rằng đó là đất vô
chủ chưa thuộc sở hữu của bất kỳ quốc gia nào. Đan Mạch lại đòi chủ quyền với
toàn bộ Greenland trong khi chỉ chiếm hữu thực sự một phần diện tích của đảo.
Năm 1933, hai nước đồng ý giải quyết tranh chấp chủ quyền tại Tòa án Thường trực
Công lý Quốc tế, mà sau này là Tòa án Công lý Quốc tế.
2.2.2. Lập luận của các bên.
* Lập luận của Na Uy:

Na Uy cho rằng họ đã chiếm Đông Greenland là vùng đất vô chủ chưa thuộc
quyền sở hữu của bất kỳ quốc gia nào.
* Lập luận của Đan Mạch.
Đan Mạch đã chứng minh chủ quyền đối với toàn bộ đảo không bằng hành vi
chiếm hữu cụ thể nào mà bằng một loạt các sắc lệnh, luật thực thi pháp luật, hành
chính trải dài khoảng 1.000 năm trước, đặt Greenland dưới sự điều hành của Đan
Mạch. Quá trình Đan Mạch thực hiện các hành động đó diễn ra trong hòa bình.
2.2.3. Phán quyết của Tòa.
Việc xác lập chủ quyền đối với vùng đất không thể sinh sống chỉ cần quốc gia
có ý định chiếm hữu và thực hiện một số hoạt động mang tính quyền lực nhà nước là đủ.
Tòa xác định Đan Mạch đã có ý định và thẩm quyền quốc gia đã nêu là đầy đủ
để có chủ quyền với toàn bộ Greenland. Với những khu vực không thể sinh sống thì
8 Tòa án Thường trực Công lý Quốc tế (viết tắt là PCIJ) là cơ quan tư pháp chính của Liên Hợp Quốc. Tòa án
Quốc tế có nhiệm vụ xét xử các vụ kiện giữa các nước và tư vấn pháp lý về các vấn đề luật quốc tế, là cơ
quan tư pháp quốc tế duy nhất xét xử cho các nước. Quyết định và kết luận pháp lý của Tòa án Quốc tế là
một phần của luật quốc tế. 8
yêu cầu để duy trì chủ quyền trên lãnh thổ là ít nghiêm ngặt hơn so với các khu vực
có thể qua lại và đông dân cư. Đây chính là sự thay đổi một phần trong nội dung của
nguyên tắc chiếm hữu thật sự khi nó được vận dụng trong một điều kiện lãnh thổ
mới. Như vậy, chủ quyền của đảo Greenland thuộc về Đan Mạch.
2.3. Quan điểm của nhóm
Chính phủ Hoa Kỳ và chính phủ Hà Lan đã ký kết thoả thuận đưa vụ việc
ra giải quyết tại Tòa trọng tài thường trực La Haye là vô cùng hợp lý và để vụ
việc có thể mang tính công bằng cho cả hai bên.
Theo quyết định của Trọng tài viên duy nhất, ông Max Huber đã giải quyết
theo hướng có lợi cho Hà Lan. Các quy tắc của trọng tài dựa vào các sự kiện liên
quan có được tại thời điểm quy tắc đó có hiệu lực.
Thứ nhất, theo lập luận của Hoa Kỳ thì Hoa Kỳ là nước có chủ quyền đối
với đảo Palmas vì Tây Ban Nha đã nhượng lại chủ quyền đối với lãnh thổ của
Philippines cho Hoa Kỳ bằng Hiệp ước Paris ngày 10/02/1898. Ngoài ra, Hoa
Kỳ còn viện dẫn Công ước Munster tại Điều V có liên hệ tới vấn đề lãnh thổ
giữa Tây Ban Nha và Công ty Đông Ấn của Hà Lan và Hoa Kỳ cũng cho rằng
Tây Ban Nha phát hiện ra đảo sớm nhất.
Với lập luận trên của Hoa Kỳ là chưa đủ căn cứ để chứng minh Hoa Kỳ có
chủ quyền với đảo Palmas. Nếu Tây Ban Nha phát hiện ra đảo Palmas sớm nhất
qua học thuyết quyền khám phá trước tiên nhưng đó cũng chỉ là xác lập chủ
quyền dựa theo nguyên tắc tượng trưng. Nhưng sau đó, nhà nước Tây Ban Nha
không tổ chức hành chính hay các biện pháp cai trị nào và cũng chưa có công bố
văn bản nào liên quan đến chủ quyền đối với hòn đảo Palmas, hơn nữa Tây Ban
Nha chưa từng tranh chấp với Hà Lan về việc chiếm hữu đảo Palmas. Điều này
đồng nghĩa với việc quyền chiếm hữu đảo Palmas của Tây Ban Nha là không
thực tế và hữu hiệu, trong khi Hà Lan lại làm được điều này.
Tiếp đến là lập luận của Hoa Kỳ về vị trí đảo Palmas: Trọng tài cũng cho
rằng, không có quy định nào cho rằng vị trí của một hòn đảo gần với đất liền của
quốc gia nào thì thuộc chủ quyền của quốc gia đó. Chính vì vậy mà quan điểm
của Hoa Kỳ về hòn đảo Palmas nằm gần Philippines hơn thì thuộc lãnh thổ của
Philippines là không có cơ sở pháp lý.
Thứ hai, với quan điểm Hà Lan đưa ra là Hà Lan đã thực hiện quyền
chiếm hữu thực tế đối với đảo Palmas, Hà Lan cũng trích dẫn Công ước Munster 9
năm 1648 và Hà Lan đã đạt thỏa thuận giữa Công ty Đông Ấn và Nhà nước Tabukan.
Việc Hà Lan thực hiện quyền chiếm hữu thực tế đối với đảo Palmas là có
căn cứ. Để chiếm hữu thực tế Hà Lan phải đã thực hiện đủ các điều kiện sau:
- Phải do Nhà nước tiến hành: Ở đây Công ty Đông Ấn đã được Quốc hội
Hà Lan trao cho nắm độc quyền thực thi những hoạt động thực dân tại châu Á,
có nghĩa là Công ty Đông Ấn đã được Chính phủ Hà Lan uỷ quyền cho.
- Phải là lãnh thổ vô chủ và không nằm hoặc không còn nằm trong hệ thống
hành chính của một quốc gia nào.
- Việc chiếm hữu phải hoà bình: Hà Lan đã thoả thuận với nhà nước
Tabukan về việc Hà Lan sẽ quản lý, kiểm soát đảo Palmas thông qua một hiệp
định giữa Công ty Đông Ấn với nhà nước Tabukan.
- Việc chiếm hữu phải liên tục: Hà Lan đã liên tục thực hiện quyền kiểm
soát từ lúc thoả thuận hiệp định.
2.4. Bài học kinh nghiệm.
Gần đây, Trung Quốc đã gia tăng các hoạt động phi pháp trên khu vực biển
Đông, xâm phạm đến chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa. Việt Nam và nhiều nước khác kịch liệt phản đối hành động ngang
ngược của Trung Quốc nhưng họ vẫn bất chấp thực hiện hành động phi lý đó với
những yêu sách mà mình đặt ra.
Trung Quốc đang thụ đắc chủ quyền? Được hỏi về chủ quyền của mình đối
với hai quần đảo là Hoàng Sa và Trường Sa, Trung Quốc luôn đưa ra lập luận rằng
các quần đảo này là đất đai của họ đã có rất lâu đời trước. Nói cách khác, Trung
quốc có danh nghĩa thụ đắc chủ quyền đối với một lãnh thổ vô chủ (tức là một lãnh
thổ chưa thuộc quyền quản lý của bất cứ một quốc gia nào khác) trước Việt Nam từ
rất lâu. Họ trích dẫn các ghi chép trong các thư tịch cổ để đi đến kết luận là người
Trung Quốc đến biển Đông sớm nhất và vì thế, họ là người chiếm hữu đầu tiên tại
đây. Một điều vô lí hơn nữa, khi mà họ đã đưa ra bằng chứng là các di vật khảo cổ
mà được họ kh€ng định là tìm thấy trên trên quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.
Vào thời kì đó, từ khoảng cuối thế kỷ thứ XV, việc sát nhập lãnh thổ do quốc
gia phát hiện, được thực hiện như là danh nghĩa nguyên thủy của việc chiếm hữu.
Nhưng các nguyên tắc này đã sớm trở thành các kh€ng định vô căn cứ qua các vụ
tranh chấp biển đảo trước đây, tiêu biểu là vụ tranh chấp đảo Palmas giữa Hoa Kỳ
và Hà Lan ngày 4-4-1928. Vụ kiện Palmas vào thời kỳ đó, Hoa Kỳ cũng đã kh€ng 10
định rằng Tây Ban Nha là nước đầu tiên phát hiện ra hòn đảo sau đó nhượng quyền
cho Hoa Kỳ, tuy nhiên Tây Ban Nha đã không thực hiện chủ quyền của mình trên
thực tế đối với đảo Palmas sau khi Tây Ban Nha phát hiện ra đảo và vì vậy, Tây
Ban Nha chưa thiết lập chủ quyền của mình đối với hòn đảo này. Và cũng dựa vào
đó, Trung Quốc hoàn toàn không có căn cứ để xác định chủ quyền đối với 2 quần
đảo là Hoàng Sa và Trường Sa dựa vào việc là người đầu tiên phát hiện hoặc là các
di tích khảo cổ đã được tìm thấy trên quần đảo.
Trung Quốc với những yêu sách phi lý của mình về “đường lưỡi bò”, “đường
chữ U” hay “đường chín đoạn”... là những cách gọi khác nhau mà các học giả trên
thế giới dùng để chỉ yêu sách của Trung Quốc, chạy sát bờ biển của các nước có
chung biển Đông, trong đó bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt
Nam. Trung Quốc lại không chứng minh được là các chính quyền của họ đã thực thi
“chủ quyền” trong “đường lưỡi bò” một cách thực sự, liên tục và hòa bình trong
lịch sử. Rõ ràng, Việt Nam không chỉ có sự hiểu biết lâu đời đến hai quần đảo này
mà còn chiếm hữu thực sự chúng ít nhất từ thế kỷ XVII, là nhà nước đầu tiên xác
lập chủ quyền trên các quần đảo này. Các tài liệu lịch sử của Việt Nam rất nhiều và
khớp với các tài liệu nước ngoài đáng tin cậy cho phép kết luận rằng, từ lâu và liên
tục trong hàng mấy trăm năm, từ triều đại này đến triều đại khác, Nhà nước Việt
Nam đã làm chủ và luôn duy trì quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử - pháp lý để kh€ng định chủ quyền đối
với hai quần dảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việt Nam là quốc gia duy nhất đã chiếm
hữu, quản lý hai quần đảo một cách liên tục, hòa bình và phù hợp với các quy định
luật pháp quốc tế. Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan
trọng, kh€ng định 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một bộ phận không thể
tách rời khỏi lãnh thổ Việt Nam.
Trên cương vị là quốc gia có biển đảo và cũng đang trong tình trạng xung đột
chủ quyền thì phán quyết của PCA về vụ kiện đảo Palmas chính là bài học kinh
nghiệm quý giá đối với Việt Nam, cụ thể như sau:
Trước hết là ý nghĩa về mặt pháp lý:
Thứ nhất, một quốc gia không thể lấy lý do mình là chủ thể phát hiện ra đầu
tiên để xác lập chủ quyền đối với một vùng lãnh thổ khi mà sau đó không thực hiện
bất cứ một hành động nào để thể hiện chủ quyền thực tế của mình đối với vùng lãnh
thổ đó. Đây là cơ sở hình thành nguyên tắc chiếm hữu có hiệu quả trong việc xác 11
lập chủ quyền đối với lãnh thổ quốc gia. Thứ hai, một quốc gia hoàn toàn có cơ sở
thiết lập chủ quyền đối với một vùng lãnh thổ dù không phải là chủ thể phát hiện ra
đầu tiên nếu như quốc gia đó đã công khai thực hiện sự kiểm soát và thể hiện chủ
quyền đối với vùng lãnh thổ đó mà không có sự phản đối từ bất cứ một quốc gia nào
khác. Đây là cơ sở hình thành nguyên tắc chiếm hữu lâu dài trong việc xác định chủ
quyền đối với lãnh thổ của quốc gia, đặc biệt là đối với các đảo ven bờ của những quốc gia có bờ biển.
Tiếp đến là ý nghĩa đối với quá trình giải quyết xung đột về tuyên bố chủ
quyền biển đảo của Việt Nam: Khi là một quốc gia có biển đảo và cũng đang trong
tình trạng xung đột về tuyên bố chủ quyền biển đảo với các quốc gia khác. Để có cơ
sở pháp lý vững chắc nhằm kh€ng định chủ quyền của mình đối với các quần đảo
đang có tranh chấp chủ quyền cần chú ý một số vấn đề sau đây được rút ra từ phán
quyết PCA. Thứ nhất, thực hiện việc chiếm hữu có hiệu quả và thể hiện chủ quyền
của mình trên thực tế một cách công khai, thường xuyên, liên tục đối với những đảo
đang nằm dưới sự kiểm soát của mình, việc hiện giờ Việt Nam đã và đang làm tốt.
Thứ hai, Việt Nam phải thường xuyên, liên tục kh€ng định chủ quyền đối với những
đảo và vùng biển thuộc chủ quyền của mình nhưng đang chịu sự kiểm soát của quốc
gia khác. Thứ ba, Việt Nam phải liên tục phản đối một cách kiên quyết và công khai
nhằm chống lại hành động của quốc gia khác trong việc âm mưu tạo ra những
chứng cứ giả nhằm chứng minh sự chiếm hữu thực tế đối với các đảo thuộc chủ
quyền của mình nhưng đang tạm thời nằm dưới sự kiểm soát của quốc gia khác. Và
cuối cùng, Việt Nam phải thường xuyên, liên tục củng cố và công bố các chứng cứ
pháp lý kh€ng định chủ quyền của mình đối với các quần đảo đang có tranh chấp. 12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Sách, Giáo Trình
Ngô Hữu Phước, Giáo trình Công pháp quốc tế (Quyển 1) của Trường Đại học Luật
TP. Hồ Chí Minh, Nxb Hồng Đức, Chương IV.
Bành Quốc Tuấn, Nguyễn Chí Thắng (2018), Phán quyết điển hình của cơ quan tài
phán quốc tế và giải quyết tranh chấp biển đảo
, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, trang 20 – 24. Luận văn
Đỗ Quốc Cường (2015), “Danh nghĩa lịch sử” trong thực tiễn giải quyết tranh
chấp quốc tế về chủ quyền và hải đảo dưới góc độ luật quốc tế
, Luận văn thạc sĩ
Luật học, Trường Đại học Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, trang 40,41. Tạp chí
1. Bành Quốc Tuấn (2016), “Phán quyết kinh điển của Tòa trọng tài thường trực
La Haye về giải quyết tranh chấp biển đảo và bài học kinh nghiệm”, Tạp chí Tổ chức nhà nước.
2. Nguyễn Thanh Minh (2016), “Một số phán quyêt của trọng tài và Tòa án công lý
quốc tế trong việc giải quyết tranh chấp chủ quyền biển đảo trên thế giới từ năm
1928 đến năm 2016”, Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 3 (129)/ 2016, trang 85.
Trang thông tin điện tử (Website)
1. NT (Theo tài liệu tuyên truyền pháp luật về biển - đảo, “Vài nét về yêu sách
“đường lưỡi bò” hay “đường chữ U” hay “đường 9 đoạn” của Trung Quốc”,
https://tinyurl.com/2amn3z5y, truy cập ngày 06/10/2014.
2. Việt Hoàng, “Cuộc thi viết về chủ quyền biển đảo: Vạch trần các luận điểm sai
trái của Trung Quốc”, https://nld.com.vn/bien-dao/vach-tran-cac-luan-diem-sai-
trai-cua-trung-quoc-20210107214831974.htm, truy cập ngày 08/01/2021. 1