TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÀ RỊA –VŨNG TÀU
----- o0o -----
BÁO CÁO TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN
Thực hiện: Lại Hoài Nam
Mã số sinh viên: 20030083
Mã lớp học phần: 010112279212
GVHD: Lê Kinh Nam
Vũng Tàu, 2024
Nội dung tìm hiểu
Tư bản là gì? Phân tích căn cứ và ý nghĩa phân chia thành
tư bản bất biến và tư bản khả biến, tư bản cố định và tư
bản lao động
Mục lục
Contents
1. Tư bản là gì?............................................................................................................2
1.1 Khái niệm.......................................................................................................................2
1.1.1 Theo các Mác.........................................................................................................2
1.1.2 Trong kinh tế học cổ điển.....................................................................................3
1.2 Các hình thái của tư bản.............................................................................................4
1.2.1 Tư bản thương nghiệp.........................................................................................4
1.2.2 Tư bản cho vay......................................................................................................4
1.2.3 Tư bản tồn tại dưới hình thức vốn cổ phần......................................................4
1.2.4 Tư bản kinh doanh nông nghiệp và địa tô tư bản chủ nghĩa.........................4
2. Căn cứ và ý nghĩa của sự phân chia tư bản bất biến và tư bản khả biến...............5
2.1 Tư bản bất biến là gì....................................................................................................5
2.2 Tư bản khả biến là gì...................................................................................................5
2.3 Cơ sở phân chia và ý nghĩa........................................................................................6
3. Căn cứ và ý nghĩa của sự phân chia tư bản cố định và tư bản lao động................7
3.1 Tư bản cố định..............................................................................................................7
3.2 Tư bản lao động............................................................................................................8
3.3 Cơ sở phân chia và ý nghĩa........................................................................................9
NỘI DUNG BÁO CÁO
1. Tư bản là gì?
Tư bản được nhìn nhận theo quan điểm ở những khía cạnh và góc nhìn
khác nhau.
1.1 Khái niệm
1.1.1 Theo các Mác
Trong các phân tích của ông, thìbản không phải là tiền, không phải là
máy móc, công cụ, nguyên liệu, hàng hóa. Bởi các tính chất phản ánh trên
thị trường thể hiện rõ với các đảm bảo nhất định cho nhà tư bản. Tư bản là
quan hệ sản xuất củahội hay một giá trị để tạo ra giá trị thặng dư bằng
cách bóc lột công nhân làm thuê. Trong đó nhàbản với những nắm giữ
trong khả năng chi phối thị trường cùng với các giá trị thặng dư. Thông qua
việc sdụng chúng gắn với liệu sản xuất. Người công nhân bán hàng
hóa sức lao động mang đến thu nhập thể hiện qua tiền lương.
Trong khi nhà bản nhận về những lợi ích cho mở rộng quy mô, đưa
những giá trị tích lũy vào tái đầu tư. Những máy móc công cụ, nguyên liệu,
hàng hóa, khi liệu bóc lột mới bản. Tức gắn với tính chất cụ
thể, vì lúc đó những thứ nói trên mới tạo ra giá trị thặng dư. Phản ánh đúng
thực trạng trong xã hội với các lợi ích cho nhà tư bản và công nhân.
1.1.2 Trong kinh tế học cổ điển
Trong kinh tế học cổ điển, David Ricardo phân biệt tư bản cố định với
bản để quay vòng. Đối với một doanh nghiệp, chúng đều bản hoặc
vốn.
Karl Marx bổ sung một s phân biệt thường bị lẫn với khái niệm của
Ricardo. Trong học thuyết kinh tế chính trị của Marx, bản lưu động
khoản đầu tư của nhà tư bản vào lực lượng sản xuất, là nguồn tạo ra giá trị
thặng dư. được coi "lưu động" lượng giá trị tạo ra khác với
lượng giá trị nó tiêu dụng, có nghĩa là tạo ra giá trị mới. Nói một cách khác,
bản cố định khoản đầu tư vào yếu tố sản xuất không phải con người
như máy móc, nhà xưởng, những bản, theo Marx, chỉ tạo ra lượng
giá trị để thay thế chính bản thân chúng. Nó được coi là cố định theo nghĩa
giá trị đầu ban đầu và giá trị thu hồi dạng các hàng hóa do chúng tạo
ra là không đổi.
Đầu tích tụ bản trong kinh tế học cổ điển việc tạo ra bản
mới. Để khởi động quá trình đầu tư, hàng hóa phải được tạo ra nhưng
không để tiêu dùng ngay, thay vào đó, chúng trở thành công cụ sản xuất
để tạo ra hàng hóa khác. Đầu liên quan chặt chẽ với tiết kiệm, nhưng
không phải là một. Theo Keynes, tiết kiệm là không sử dụng ngay thu nhập
vào hàng hóa hoặc dịch vụ, trong khi đó đầu tư là việc tiêu dùng khoản tiết
kiệm đó vào những hàng hóa vốn.
Nhà kinh tế học Áo Eugen von Böhm-Bawerk cho rằng tích tụ bản
được xác định bằng quá trình tái đầu tư tư bản. Bởi tư bản theo định nghĩa
của ông hàng hóa thứ bậc cao, hoặc hàng hóa để tạo ra hàng hóa
khác và thu hồi giá trị của chúng từ hàng hóa được tạo ra trong tương lai.
1.2 Các hình thái của tư bản
1.2.1 Tư bản thương nghiệp.
Là một bộ phận của tư bản công nghiệp, với tính chất của giai đoạn kinh
doanh. Khi đó các nhu cầu trong tìm kiếm giá trị thặng được thực hiện
trong thị trường. Được tách ra làm nhiệm vụ bán hàng để mang đến hàng
hóa cho người tiêu dùng. Đồng thời nhà bản nhận về giá trị thặng
sau khi đã trừ đi những chi phí bỏ ra. Nhằm mục địch tăng hiệu quả cho
quá trình sản xuất lưu thông hàng hóa. Bởi đến thời điểm này, các lợi
ích mới được tìm kiếm và phản ánh rõ rệt nhất.
1.2.2 Tư bản cho vay.
Tính chất trong sản xuất kinh doanh cần được đảm bảo ổn định theo
thời gian. Do đó hình thái này ra đời nhằm huy động vốn để mở rộng
sản xuất. Với các nhu cầu tiềm năng nhà bản đánh giá trong hoạt
động của mình. Phù hợp với sự phát triển của quan hệ hàng hóa tiền tệ
khi cần thiết có những cơ hội mới. Mang đến sự phát triển của nguồn cung
đảm bảo với nhu cầu trên thị trường. các giá trị đi vay phản ánh nhu
cầu cao hơn của nhà bản. Khi đến trình độ nào đó xuất hiện việc thừa
hoặc thiếu tiền.
1.2.3 Tư bản tồn tại dưới hình thức vốn cổ phần.
Tính chất trong nguồn vốn tham gia vào sản xuất hay kinh doanh phản
ánh hiệu quả khi có sự hợp tác. Cần thiết với huy động vốn từ nhiều nhà tư
bản khác nhau với tiềm lực của họ. Do đólợi ích cũng được phân chia
hợp với những đóng góp. Các hợp tác tạo ra sức mạnh mới cho nhà
bản, thông qua hiệu quả của nhiều nguồn tiềm năng.
Bộ phận bản này mang lại cho người chủ sở hữu khoản thu nhập
của công ty. Các thu nhập cần phân chia phù hợp cho tính chất đóng góp.
Từ đó cổ phần được hình thành để đo lường. Vốn ban đầu vẫn được
tham gia trong các nhu cầu tìm kiếm giá trị thặng dư. Và đó là giá trị doanh
nghiệp nhận được. nhà bản được chia lợi tức cổ phần nguồn gốc
từ giá trị thặng dư.
1.2.4 Tư bản kinh doanh nông nghiệp và địa tô tư bản chủ nghĩa.
Đặc điểm của tư bản kinh doanh nông nghiệp là có ba giai cấp tham gia:
- Chủbản kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp. Với các tiềm năng
lợi thế. Họ vốn, liệu sản xuất cùng với khả năng lãnh đạo. Hoặc
chỉ đơn giản là không phải chủ đất, nhưng họngười kinh doanh. Khi đó,
người công nhân được thuê lao trả lương cho sức lao động. Thời điểm
này, phát triển hướng đến các giá trị tìm kiếm từ đất đai trong lĩnh vực
nông nghiệp. người lao động mang đến các giải quyết đối với công
việc.
- Công nhân nông nghiệp. người được thuê để bán hàng hóa sức lao
động. Làm việc theo phân công của chủ bản để mang đến lợi ích cho
họ. Người công nhân được nhận lương cho việc làm của mình.
- Chủ đất. Người có đất nhưng không trực tiếp khai thác lợi ích nông
nghiệp. Họ cho chủ bản thuê để thực hiện kinh doanh. Chủ đất nhận
được những lợi ích nhất định và đảm bảo theo thỏa thuận của hai bên.
Nghiên cứu bản kinh doanh nông nghiệp đây nghiên cứu bộ phận
bản tồn tại dưới dạng giá trị ruộng đất của chủ đất. đem lai cho chủ
sở hữu phần thu nhập gọi là địa tô .
2. Căn cứ ý nghĩa của sự phân chia bản bất biến
tư bản khả biến.
2.1 Tư bản bất biến là gì
bản bất biến (constant capital) một khái niệm của kinh tế chính trị
Mac-Lenin dùng để chỉ một bộ phận bản dùng để mua liệu sản xuất
giá trị được bảo toàn chuyển vào sản phẩm (tư bản bất biến được
C.Mac hiệu c). Hay nói cách khác, bản bất biến bộ phận bản
tồn tại dưới hình thức tư liệu sản xuất và không thay đổi lượng giá trị trong
quá trình sản xuất. Nhằm phân tích một cách khoa học bản chất bóc lột
bản chủ nghĩa, C.Mac là người đầu tiên phân chia tư bản thành bản bất
biến bản khả biến. sở của sự phân chia này không phải toàn
bộ bản chỉ một bộ phận bản dùng để trả công cho sức lao
động mới nguồn gốc sinh ra giá trị thặng làm tăng thêm bản.
Giá trị của bản bất biến được lao động cụ thể của công nhân chuyển
dần từng phần vào hàng hoá mới, theo mức độ hao mòn của liệu sản
xuất trong quá trình lao động.
2.2 Tư bản khả biến là gì
bản khả biến khái niệm trong kinh tế chính trị Marx-Lenin dùng để
chỉ về một bộ phận bản dùng để mua sức lao động (trả lương, thuê
mướn công nhân), đại lượng của thay đổi trong quá trình sản xuất
tạo ra giá trị thặng dư.[1] bản khả biến được Marx hiệu v. bản
khả biến thể tạo ra sự biến đổi về giá trị. bản bất biến điều kiện
cần thiết không thể thiếu được để sản xuất ra giá trị thặng dư, còn bản
khả biến vai trò quyết định trong quá trình đó, nó chính là bộ phận
bản đã lớn lên.
2.3 Cơ sở phân chia và ý nghĩa
- Về định nghĩa:
a. Trong quá trình sản xuất, giá trị của liệu sản xuất được lao động cụ
thể của người của người công nhân trừu tượng của mình, lượng giá trị
của chúng không đổi so với trước khi đưa vào sản xuất. bộ phận bản
này được gọi là tư bản bất biến, ký hiệu là c.
Về mặt hiện vật, tư bản bất biến gồm:
+ Máy móc, thiết bị, nhà xưởng... (C1)
+ Nguyên, nhiên vật liệu…(C2)
Máy móc, nguyên nhiên vật liệu đều điều kiện để cho quá trình để
cho quá trình làm tăng giá trị diễn ra
b. Đối với bộ phận bản dùng để mua sức lao động thì trong quá trình
sản xuất, bằng lao động trừu tượng của mình, người công nhân tạo ra một
giá trị mới không chỉ bù đắp đủ giá trị sức lao động của công nhân mà còn
tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản. Như vậy, bộ phận tư bản này đã
sự biến đổi về lượng và được gọi là tư bản khả biến, ký hiệu là v.
- sở phân chia: Việc phân chia bản thành bản bất biến (c)
bản khả biến (v) là dựa vào vai trò của từng bộ phận tư bản trong quá trình
sản xuất ra giá trị thặng dư.
Trong quá trình sản xuất:
+ bản bất biến chỉ điều kiện không thể thiếu được để sản xuất ra để
sinh ra giá trị thặng dư. (C.Mác như chiếc bình cổ cong trong phản
ứng hóa học, không tham gia vào phản ứng nhưng nếu thiếu thì
phản ứng không thể thực hiện được)
+ bản khả biến mới nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư. bản khả
biến vai trò quyết định trong quá trình đó chính bộ phận bản
đã lớn lên.
- Ý nghĩa của sự phân chia tư bản bất biến và tư bản khả biến:
( Nói ) Việc phân chia cặp phạm trù bản bất biếnbản khả biến
sẽ vạch rõ bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản, chỉ có lao động của công
nhân làm thuê mới tạo ra giá trị thặng cho nhà bản. Chia bản ra
làm bản bất biến bản khả biến công lao đại của Mác. Khi đó
C.Mác đã chỉ ra vai trò khác nhau của các bộ phận bản trong quá trình
hình thành giá trị nhờ sự phân chia này.
- Ý nghĩa:
+ Việc phân chia bản thành bản bất biến bản khả biến vạch
nguồn gốc của giá trị thặng do lao động làm thuê của công nhân tạo
ra và bị nhà tư bản chiếm không
+ bản bất biến tuy không trực tiếp tạo ra giá trị thặng nhưng
vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất, quyết định năng suất lao động
của công.
3. Căn cứ và ý nghĩa của sự phân chia tư bản cố định và tư
bản lao động
3.1 Tư bản cố định
Tư bản cố định là một bộ phận của tư bản sản xuất đồng thời là bộ phận
chủ yếu của bản bất biến (máy móc, thiết bị, nhà xưởng…) tham gia
toàn bộ vào quá trình sản xuất, nhưng giá trị của nó không chuyển hết một
lần vào sản phẩm mà chuyển dần từng phần theo mức độ hao mòn của nó
trong quá trình sản xuất.
Tư bản cố định được sử dụng lâu dài trong nhiều chu kỳ sản xuất
bị hao mòn dần trong quá trình sản xuất. hai loại hao mòn hao mòn
hữu hình và hao mòn vô hình:
Hao mòn hữu hình hao mòn về vật chất, hao mòn về giá trị sdụng.
Hao mòn hữu hình do quá trình sử dụng sự tác động của tự nhiên làm
cho các bộ phận của bản cố định dần dần hao mòn đi tới chỗ hỏng và
phải được thay thế.
Hao mòn hình sự hao mòn thuần tuý về mặt giá trị. Hao mòn
hình xảy ra ngay cả khi máy móc còn tốt nhưng bị mất giáxuất hiện các
máy móc hiện đại hơn, rẻ hơn hoặc giá trị tương đương, nhưng công
suất cao hơn. Để tránh hao mòn hình, các nhà bản tìm cách kéo dài
ngày lao động, tăng cường độ lao động, tăng ca kíp làm việc… nhằm tận
dụng máy móc trong thời gian càng ngắn càng tốt.
Tăng tốc độ chu chuyển của tư bản cố địnhmột biện pháp quan trọng
để tăng quỹ khấu hao tài sản cđịnh, làm cho lượng bản sử dụng tăng
lên tránh được thiệt hại hao mòn hữu hình do tự nhiên phá huỷ hao
mòn vô hình gây ra. Nhờ đó mà có điều kiện đổi mới thiết bị nhanh.
3.2 Tư bản lao động
bản lưu động là một bộ phận của bản sản xuất, gồm một phần
bản bất biến (nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu phụ…) bản khả biến
(sức lao động.) được tiêu dùng hoàn toàn trong một chu kỳ sản xuất và giá
trị của nó được chuyển toàn bộ vào sản phẩm trong quá trình sản xuất.
Tư bản lưu động chu chuyển nhanh hơn tư bản cố định. Việc tăng tốc độ
chu chuyển của tư bản lưu động ý nghĩa quan trọng. Một mặt, tốc độ
chu chuyển của bản lưu động tăng lên sẽ làm tăng lượng bản lưu
động được sử dụng trong năm, do đó tiết kiệm được bản ứng trước;
mặt khác, do tăng tốc độ chu chuyển của bản lưu động khả biến làm
cho tỷ suất giá trị thặng dư trong năm tăng lên.
Việc phân chia tư bản ứng trước thành tư bản bất biến (c) và tư bản khả
biến (v) dựa vào vai trò của từng bộ phận bản trong quá trình sản
xuất ra giá trị thặng dư. đây việc phân chia bản thành bản cố định
bản lưu động đặc điểm riêng của bản sản xuất căn cứ của
sự phân chia phương thức chuyển dịch giá trị của chúng vào sản phẩm
trong quá trình sản xuất, hay dựa vào phương thức chu chuyển của
bản.
Việc phân chia bản thành tư bản cố định bản lưu động không
phản ánh được nguồn gốc sinh ra giá trị thặng dư, nhưng lại ý nghĩa
quan trọng trong quản kinh tế. sở để quản lý, sử dụng vốn cố
định, vốn lưu động một cách hiệu quả cao. Đặc biệt, với sự phát triển
của cách mạng khoa học công nghệ, sự đổi mới tiến bộ của thiết bị, công
nghệ diễn ra hết sức nhanh chóng, thì việc giảm tối đa hao mòn tài sản cố
định, nhất hao mòn hình đòi hỏi bức xúc đối với khoa học và nghệ
thuật quản lý kinh tế.
3.3 Cơ sở phân chia và ý nghĩa
* sở phân chia: Nhờ vào tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng
hóa
+ Lao động cụ thể: bảo tồn và chuyển dịch giá tị của TLSX
+ Lao động trừu tượng: tạo ra giá trị mới.
+ Tư bản cố định và Tư bản lưu động.
- Tư bản cố định là bộ phận tư bản mà trong quá trình sản xuất chuyển dần
giá trị làm nhiều lần vào sản phẩm mới như nhà xưởng, máy móc, thiết bị...
- bản lưu động bộ phận bản trong quá trình sản xuất chuyển
một lần toàn bộ giá trị vào sản phẩm mới như nguyên liệu, nhiên liệu
tiền lương
- bản cố định được sdụng lâu dài trong nhiều chu kỳ sản xuất bị
hao mòn dần, có hai loại hao mòn: hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình.
Hao mòn hữu hình hao mòn thuần tuý về mặt giá trị sử dụng. Do quá
trình sử dụng sự tác động của tự nhiên làm cho các bộ phận của
bản cố định dần dần hao mòn đi tới chỗ phải thay thế.
Hao mòn hình hao mòn thuần tuý về mặt giá trị. Hao mòn hình
xảy ra khi máy móc còn tốt nhưng bị mất giá cả vì xuất hiện máy móc hiện
đại hơn, công suất cao hơn những lại rẻ hơn hoặc giá trị tương đương.
Để khôi phục tư bản cố định, nhà tư bản lập quỹ khấu hao. Sau mỗi thời
kỳ bán hàng hoá, họ trích ra một số tiền bằng mức độ hao mòn bản cố
định bỏ vào quỹ khấu hao (một phần được dùng vào sửa chữa bản,
một phần gửi Ngân hàng chờ đến kỳ mua máy mới)
- Ý nghĩa:
+ Tăng tốc độ chu chuyển của bản cố định một biện pháp quan trọng
để tăng quỹ khấu hao tài sản cđịnh, làm cho lượng bản sử dụng tăng
lên tránh được thiệt hại hao mòn hữu hình do tự nhiên phá hủy hao
mòn hình gây ra. Nhờ đó, điều kiện đổi mới thiết bị nhanh, nâng
cao hiệu quả sử dụng tư bản.
+ Tư bản lưu động chu chuyển nhanh hơn tư bản cố định. Việc tăng tốc độ
chu chuyển của tư bản lưu động ý nghĩa quan trọng. Một mặt, tốc độ
chu chuyển của bản lưu động tăng lên sẽ làm tăng lượng bản lưu
động được sử dụng trong năm, do đó tiết kiệm được bản ứng trước;
mặt khác, do tăng tốc độ chu chuyển của bản lưu động khả biến làm
cho tỷ suất giá trị thặng khối lượng giá trị thặng hàng năm tăng
lên.
Nguồn tham khảo
https://loigiaihay.com/the-nao-la-tu-ban-co-dinh-va-tu-ban-luu-dong-y-
nghia-cua-viec-phan-chia-cap-pham-tru-tren-c126a20520.html
https://cuuduongthancong.com/atc/1010/dinh-nghia,-co-so-phan-chia-tu-
ban-bat-bien-va-tu-ban-kha-bien-,-tu-ban-co-dinh-va-tu-ban-luu-dong?-
phan-tich-can-cu-va-y-nghia-phan-chia-hai-cap-pham-tru-do.
https://luatminhkhue.vn/phan-biet-tu-ban-bat-bien-va-tu-ban-kha-bien.aspx
https://www.studocu.com/vn/document/dai-hoc-ton-duc-thang/triet-hoc/can-
cu-va-y-nghia-cua-su-phan-chia-tu-ban-bat-bien-va-tu-ban-kha-bien/
46531370
https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C6%B0_b%E1%BA%A3n
Hết.

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÀ RỊA –VŨNG TÀU ----- o0o ----- BÁO CÁO TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN
Thực hiện: Lại Hoài Nam Mã số sinh viên: 20030083
Mã lớp học phần: 010112279212 GVHD: Lê Kinh Nam
Vũng Tàu, 2024 Nội dung tìm hiểu
Tư bản là gì? Phân tích căn cứ và ý nghĩa phân chia thành
tư bản bất biến và tư bản khả biến, tư bản cố định và tư bản lao động Mục lục Contents
1. Tư bản là gì?............................................................................................................2
1.1 Khái niệm.......................................................................................................................2
1.1.1 Theo các Mác.........................................................................................................2
1.1.2 Trong kinh tế học cổ điển.....................................................................................3
1.2 Các hình thái của tư bản.............................................................................................4
1.2.1 Tư bản thương nghiệp.........................................................................................4
1.2.2 Tư bản cho vay......................................................................................................4
1.2.3 Tư bản tồn tại dưới hình thức vốn cổ phần......................................................4
1.2.4 Tư bản kinh doanh nông nghiệp và địa tô tư bản chủ nghĩa.........................4
2. Căn cứ và ý nghĩa của sự phân chia tư bản bất biến và tư bản khả biến...............5
2.1 Tư bản bất biến là gì....................................................................................................5
2.2 Tư bản khả biến là gì...................................................................................................5
2.3 Cơ sở phân chia và ý nghĩa........................................................................................6
3. Căn cứ và ý nghĩa của sự phân chia tư bản cố định và tư bản lao động................7
3.1 Tư bản cố định..............................................................................................................7
3.2 Tư bản lao động............................................................................................................8
3.3 Cơ sở phân chia và ý nghĩa........................................................................................9 NỘI DUNG BÁO CÁO 1. Tư bản là gì?
Tư bản được nhìn nhận theo quan điểm ở những khía cạnh và góc nhìn khác nhau. 1.1 Khái niệm 1.1.1 Theo các Mác
Trong các phân tích của ông, thì tư bản không phải là tiền, không phải là
máy móc, công cụ, nguyên liệu, hàng hóa. Bởi các tính chất phản ánh trên
thị trường thể hiện rõ với các đảm bảo nhất định cho nhà tư bản. Tư bản là
quan hệ sản xuất của xã hội hay một giá trị để tạo ra giá trị thặng dư bằng
cách bóc lột công nhân làm thuê. Trong đó nhà tư bản với những nắm giữ
trong khả năng chi phối thị trường cùng với các giá trị thặng dư. Thông qua
việc sử dụng chúng gắn với tư liệu sản xuất. Người công nhân bán hàng
hóa sức lao động mang đến thu nhập thể hiện qua tiền lương.
Trong khi nhà tư bản nhận về những lợi ích cho mở rộng quy mô, đưa
những giá trị tích lũy vào tái đầu tư. Những máy móc công cụ, nguyên liệu,
hàng hóa, khi là tư liệu bóc lột mới là tư bản. Tức là gắn với tính chất cụ
thể, vì lúc đó những thứ nói trên mới tạo ra giá trị thặng dư. Phản ánh đúng
thực trạng trong xã hội với các lợi ích cho nhà tư bản và công nhân.
1.1.2 Trong kinh tế học cổ điển
Trong kinh tế học cổ điển, David Ricardo phân biệt tư bản cố định với tư
bản để quay vòng. Đối với một doanh nghiệp, chúng đều là tư bản hoặc vốn.
Karl Marx bổ sung một sự phân biệt mà thường bị lẫn với khái niệm của
Ricardo. Trong học thuyết kinh tế chính trị của Marx, tư bản lưu động là
khoản đầu tư của nhà tư bản vào lực lượng sản xuất, là nguồn tạo ra giá trị
thặng dư. Nó được coi là "lưu động" vì lượng giá trị mà nó tạo ra khác với
lượng giá trị nó tiêu dụng, có nghĩa là tạo ra giá trị mới. Nói một cách khác,
tư bản cố định là khoản đầu tư vào yếu tố sản xuất không phải con người
như máy móc, nhà xưởng, những tư bản, mà theo Marx, chỉ tạo ra lượng
giá trị để thay thế chính bản thân chúng. Nó được coi là cố định theo nghĩa
giá trị đầu tư ban đầu và giá trị thu hồi ở dạng các hàng hóa do chúng tạo ra là không đổi.
Đầu tư và tích tụ tư bản trong kinh tế học cổ điển là việc tạo ra tư bản
mới. Để khởi động quá trình đầu tư, hàng hóa phải được tạo ra nhưng
không để tiêu dùng ngay, thay vào đó, chúng trở thành công cụ sản xuất
để tạo ra hàng hóa khác. Đầu tư liên quan chặt chẽ với tiết kiệm, nhưng
không phải là một. Theo Keynes, tiết kiệm là không sử dụng ngay thu nhập
vào hàng hóa hoặc dịch vụ, trong khi đó đầu tư là việc tiêu dùng khoản tiết
kiệm đó vào những hàng hóa vốn.
Nhà kinh tế học Áo Eugen von Böhm-Bawerk cho rằng tích tụ tư bản
được xác định bằng quá trình tái đầu tư tư bản. Bởi tư bản theo định nghĩa
của ông là hàng hóa có thứ bậc cao, hoặc hàng hóa để tạo ra hàng hóa
khác và thu hồi giá trị của chúng từ hàng hóa được tạo ra trong tương lai.
1.2 Các hình thái của tư bản
1.2.1 Tư bản thương nghiệp.
Là một bộ phận của tư bản công nghiệp, với tính chất của giai đoạn kinh
doanh. Khi đó các nhu cầu trong tìm kiếm giá trị thặng dư được thực hiện
trong thị trường. Được tách ra làm nhiệm vụ bán hàng để mang đến hàng
hóa cho người tiêu dùng. Đồng thời nhà tư bản nhận về giá trị thặng dư
sau khi đã trừ đi những chi phí bỏ ra. Nhằm mục địch tăng hiệu quả cho
quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa. Bởi đến thời điểm này, các lợi
ích mới được tìm kiếm và phản ánh rõ rệt nhất.
1.2.2 Tư bản cho vay.
Tính chất trong sản xuất kinh doanh cần được đảm bảo ổn định theo
thời gian. Do đó mà hình thái này ra đời nhằm huy động vốn để mở rộng
sản xuất. Với các nhu cầu và tiềm năng nhà tư bản đánh giá trong hoạt
động của mình. Phù hợp với sự phát triển của quan hệ hàng hóa – tiền tệ
khi cần thiết có những cơ hội mới. Mang đến sự phát triển của nguồn cung
đảm bảo với nhu cầu trên thị trường. Và các giá trị đi vay phản ánh nhu
cầu cao hơn của nhà tư bản. Khi đến trình độ nào đó xuất hiện việc thừa hoặc thiếu tiền.
1.2.3 Tư bản tồn tại dưới hình thức vốn cổ phần.
Tính chất trong nguồn vốn tham gia vào sản xuất hay kinh doanh phản
ánh hiệu quả khi có sự hợp tác. Cần thiết với huy động vốn từ nhiều nhà tư
bản khác nhau với tiềm lực của họ. Do đó mà lợi ích cũng được phân chia
hợp lý với những đóng góp. Các hợp tác tạo ra sức mạnh mới cho nhà tư
bản, thông qua hiệu quả của nhiều nguồn tiềm năng.
Bộ phận tư bản này mang lại cho người chủ sở hữu nó khoản thu nhập
của công ty. Các thu nhập cần phân chia phù hợp cho tính chất đóng góp.
Từ đó mà cổ phần được hình thành để đo lường. Vốn ban đầu vẫn được
tham gia trong các nhu cầu tìm kiếm giá trị thặng dư. Và đó là giá trị doanh
nghiệp nhận được. Và nhà tư bản được chia lợi tức cổ phần – nguồn gốc từ giá trị thặng dư.
1.2.4 Tư bản kinh doanh nông nghiệp và địa tô tư bản chủ nghĩa.
Đặc điểm của tư bản kinh doanh nông nghiệp là có ba giai cấp tham gia:
- Chủ tư bản kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp. Với các tiềm năng và
lợi thế. Họ có vốn, có tư liệu sản xuất cùng với khả năng lãnh đạo. Hoặc
chỉ đơn giản là không phải chủ đất, nhưng họ là người kinh doanh. Khi đó,
người công nhân được thuê lao và trả lương cho sức lao động. Thời điểm
này, phát triển hướng đến các giá trị tìm kiếm từ đất đai trong lĩnh vực
nông nghiệp. Và người lao động mang đến các giải quyết đối với công việc.
- Công nhân nông nghiệp. Là người được thuê để bán hàng hóa sức lao
động. Làm việc theo phân công của chủ tư bản để mang đến lợi ích cho
họ. Người công nhân được nhận lương cho việc làm của mình.
- Chủ đất. Người có đất nhưng không trực tiếp khai thác lợi ích nông
nghiệp. Họ cho chủ tư bản thuê để thực hiện kinh doanh. Chủ đất nhận
được những lợi ích nhất định và đảm bảo theo thỏa thuận của hai bên.
Nghiên cứu tư bản kinh doanh nông nghiệp ở đây là nghiên cứu bộ phận
tư bản tồn tại dưới dạng giá trị ruộng đất của chủ đất. Nó đem lai cho chủ
sở hữu phần thu nhập gọi là địa tô .
2. Căn cứ và ý nghĩa của sự phân chia tư bản bất biến và tư bản khả biến.
2.1 Tư bản bất biến là gì
Tư bản bất biến (constant capital) là một khái niệm của kinh tế chính trị
Mac-Lenin dùng để chỉ một bộ phận tư bản dùng để mua tư liệu sản xuất
và giá trị được bảo toàn và chuyển vào sản phẩm (tư bản bất biến được
C.Mac kí hiệu là c). Hay nói cách khác, tư bản bất biến là bộ phận tư bản
tồn tại dưới hình thức tư liệu sản xuất và không thay đổi lượng giá trị trong
quá trình sản xuất. Nhằm phân tích một cách khoa học bản chất bóc lột tư
bản chủ nghĩa, C.Mac là người đầu tiên phân chia tư bản thành tư bản bất
biến và tư bản khả biến. Cơ sở của sự phân chia này là không phải toàn
bộ tư bản mà chỉ có một bộ phận tư bản dùng để trả công cho sức lao
động mới là nguồn gốc sinh ra giá trị thặng dư và làm tăng thêm tư bản.
Giá trị của tư bản bất biến được lao động cụ thể của công nhân chuyển
dần từng phần vào hàng hoá mới, theo mức độ hao mòn của tư liệu sản
xuất trong quá trình lao động.
2.2 Tư bản khả biến là gì
Tư bản khả biến là khái niệm trong kinh tế chính trị Marx-Lenin dùng để
chỉ về một bộ phận tư bản dùng để mua sức lao động (trả lương, thuê
mướn công nhân), đại lượng của nó thay đổi trong quá trình sản xuất và
tạo ra giá trị thặng dư.[1] Tư bản khả biến được Marx ký hiệu là v. Tư bản
khả biến có thể tạo ra sự biến đổi về giá trị. Tư bản bất biến là điều kiện
cần thiết không thể thiếu được để sản xuất ra giá trị thặng dư, còn tư bản
khả biến có vai trò quyết định trong quá trình đó, vì nó chính là bộ phận tư bản đã lớn lên.
2.3 Cơ sở phân chia và ý nghĩa - Về định nghĩa:
a. Trong quá trình sản xuất, giá trị của tư liệu sản xuất được lao động cụ
thể của người của người công nhân trừu tượng của mình, và lượng giá trị
của chúng không đổi so với trước khi đưa vào sản xuất. bộ phận tư bản
này được gọi là tư bản bất biến, ký hiệu là c.
Về mặt hiện vật, tư bản bất biến gồm:
+ Máy móc, thiết bị, nhà xưởng... (C1)
+ Nguyên, nhiên vật liệu…(C2)
Máy móc, nguyên nhiên vật liệu đều là điều kiện để cho quá trình để
cho quá trình làm tăng giá trị diễn ra
b. Đối với bộ phận tư bản dùng để mua sức lao động thì trong quá trình
sản xuất, bằng lao động trừu tượng của mình, người công nhân tạo ra một
giá trị mới không chỉ bù đắp đủ giá trị sức lao động của công nhân mà còn
tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản. Như vậy, bộ phận tư bản này đã có
sự biến đổi về lượng và được gọi là tư bản khả biến, ký hiệu là v.
- Cơ sở phân chia: Việc phân chia tư bản thành tư bản bất biến (c) và tư
bản khả biến (v) là dựa vào vai trò của từng bộ phận tư bản trong quá trình
sản xuất ra giá trị thặng dư.
Trong quá trình sản xuất:
+ Tư bản bất biến chỉ là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất ra để
sinh ra giá trị thặng dư. (C.Mác ví nó như chiếc bình cổ cong trong phản
ứng hóa học, nó không tham gia vào phản ứng nhưng nếu thiếu nó thì
phản ứng không thể thực hiện được)
+ Tư bản khả biến mới là nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư. Tư bản khả
biến có vai trò quyết định trong quá trình đó vì nó chính là bộ phận tư bản đã lớn lên.
- Ý nghĩa của sự phân chia tư bản bất biến và tư bản khả biến:
( Nói ) Việc phân chia cặp phạm trù tư bản bất biến và tư bản khả biến
sẽ vạch rõ bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản, chỉ có lao động của công
nhân làm thuê mới tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản. Chia tư bản ra
làm tư bản bất biến và tư bản khả biến là công lao vĩ đại của Mác. Khi đó
C.Mác đã chỉ ra vai trò khác nhau của các bộ phận tư bản trong quá trình
hình thành giá trị nhờ sự phân chia này. - Ý nghĩa:
+ Việc phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến vạch rõ
nguồn gốc của giá trị thặng dư là do lao động làm thuê của công nhân tạo
ra và bị nhà tư bản chiếm không
+ Tư bản bất biến tuy không trực tiếp tạo ra giá trị thặng dư nhưng nó có
vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất, quyết định năng suất lao động của công.
3. Căn cứ và ý nghĩa của sự phân chia tư bản cố định và tư bản lao động
3.1 Tư bản cố định
Tư bản cố định là một bộ phận của tư bản sản xuất đồng thời là bộ phận
chủ yếu của tư bản bất biến (máy móc, thiết bị, nhà xưởng…) tham gia
toàn bộ vào quá trình sản xuất, nhưng giá trị của nó không chuyển hết một
lần vào sản phẩm mà chuyển dần từng phần theo mức độ hao mòn của nó
trong quá trình sản xuất.
Tư bản cố định được sử dụng lâu dài trong nhiều chu kỳ sản xuất và nó
bị hao mòn dần trong quá trình sản xuất. Có hai loại hao mòn là hao mòn
hữu hình và hao mòn vô hình:
Hao mòn hữu hình là hao mòn về vật chất, hao mòn về giá trị sử dụng.
Hao mòn hữu hình do quá trình sử dụng và sự tác động của tự nhiên làm
cho các bộ phận của tư bản cố định dần dần hao mòn đi tới chỗ hỏng và phải được thay thế.
Hao mòn vô hình là sự hao mòn thuần tuý về mặt giá trị. Hao mòn vô
hình xảy ra ngay cả khi máy móc còn tốt nhưng bị mất giá vì xuất hiện các
máy móc hiện đại hơn, rẻ hơn hoặc có giá trị tương đương, nhưng công
suất cao hơn. Để tránh hao mòn vô hình, các nhà tư bản tìm cách kéo dài
ngày lao động, tăng cường độ lao động, tăng ca kíp làm việc… nhằm tận
dụng máy móc trong thời gian càng ngắn càng tốt.
Tăng tốc độ chu chuyển của tư bản cố định là một biện pháp quan trọng
để tăng quỹ khấu hao tài sản cố định, làm cho lượng tư bản sử dụng tăng
lên tránh được thiệt hại hao mòn hữu hình do tự nhiên phá huỷ và hao
mòn vô hình gây ra. Nhờ đó mà có điều kiện đổi mới thiết bị nhanh.
3.2 Tư bản lao động
Tư bản lưu động là một bộ phận của tư bản sản xuất, gồm một phần tư
bản bất biến (nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu phụ…) và tư bản khả biến
(sức lao động.) được tiêu dùng hoàn toàn trong một chu kỳ sản xuất và giá
trị của nó được chuyển toàn bộ vào sản phẩm trong quá trình sản xuất.
Tư bản lưu động chu chuyển nhanh hơn tư bản cố định. Việc tăng tốc độ
chu chuyển của tư bản lưu động có ý nghĩa quan trọng. Một mặt, tốc độ
chu chuyển của tư bản lưu động tăng lên sẽ làm tăng lượng tư bản lưu
động được sử dụng trong năm, do đó tiết kiệm được tư bản ứng trước;
mặt khác, do tăng tốc độ chu chuyển của tư bản lưu động khả biến làm
cho tỷ suất giá trị thặng dư trong năm tăng lên.
Việc phân chia tư bản ứng trước thành tư bản bất biến (c) và tư bản khả
biến (v) là dựa vào vai trò của từng bộ phận tư bản trong quá trình sản
xuất ra giá trị thặng dư. ở đây việc phân chia tư bản thành tư bản cố định
và tư bản lưu động là đặc điểm riêng của tư bản sản xuất và căn cứ của
sự phân chia là phương thức chuyển dịch giá trị của chúng vào sản phẩm
trong quá trình sản xuất, hay dựa vào phương thức chu chuyển của tư bản.
Việc phân chia tư bản thành tư bản cố định và tư bản lưu động không
phản ánh được nguồn gốc sinh ra giá trị thặng dư, nhưng lại có ý nghĩa
quan trọng trong quản lý kinh tế. Nó là cơ sở để quản lý, sử dụng vốn cố
định, vốn lưu động một cách có hiệu quả cao. Đặc biệt, với sự phát triển
của cách mạng khoa học công nghệ, sự đổi mới tiến bộ của thiết bị, công
nghệ diễn ra hết sức nhanh chóng, thì việc giảm tối đa hao mòn tài sản cố
định, nhất là hao mòn vô hình là đòi hỏi bức xúc đối với khoa học và nghệ thuật quản lý kinh tế.
3.3 Cơ sở phân chia và ý nghĩa
* Cơ sở phân chia: Nhờ vào tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa
+ Lao động cụ thể: bảo tồn và chuyển dịch giá tị của TLSX
+ Lao động trừu tượng: tạo ra giá trị mới.
+ Tư bản cố định và Tư bản lưu động.
- Tư bản cố định là bộ phận tư bản mà trong quá trình sản xuất chuyển dần
giá trị làm nhiều lần vào sản phẩm mới như nhà xưởng, máy móc, thiết bị...
- Tư bản lưu động là bộ phận tư bản mà trong quá trình sản xuất chuyển
một lần toàn bộ giá trị vào sản phẩm mới như nguyên liệu, nhiên liệu và tiền lương
- Tư bản cố định được sử dụng lâu dài trong nhiều chu kỳ sản xuất và bị
hao mòn dần, có hai loại hao mòn: hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình.
Hao mòn hữu hình là hao mòn thuần tuý về mặt giá trị sử dụng. Do quá
trình sử dụng và sự tác động của tự nhiên làm cho các bộ phận của Tư
bản cố định dần dần hao mòn đi tới chỗ phải thay thế.
Hao mòn vô hình là hao mòn thuần tuý về mặt giá trị. Hao mòn vô hình
xảy ra khi máy móc còn tốt nhưng bị mất giá cả vì xuất hiện máy móc hiện
đại hơn, công suất cao hơn những lại rẻ hơn hoặc giá trị tương đương.
Để khôi phục tư bản cố định, nhà tư bản lập quỹ khấu hao. Sau mỗi thời
kỳ bán hàng hoá, họ trích ra một số tiền bằng mức độ hao mòn tư bản cố
định bỏ vào quỹ khấu hao (một phần được dùng vào sửa chữa cơ bản,
một phần gửi Ngân hàng chờ đến kỳ mua máy mới) - Ý nghĩa:
+ Tăng tốc độ chu chuyển của tư bản cố định là một biện pháp quan trọng
để tăng quỹ khấu hao tài sản cố định, làm cho lượng tư bản sử dụng tăng
lên tránh được thiệt hại hao mòn hữu hình do tự nhiên phá hủy và hao
mòn vô hình gây ra. Nhờ đó, mà có điều kiện đổi mới thiết bị nhanh, nâng
cao hiệu quả sử dụng tư bản.
+ Tư bản lưu động chu chuyển nhanh hơn tư bản cố định. Việc tăng tốc độ
chu chuyển của tư bản lưu động có ý nghĩa quan trọng. Một mặt, tốc độ
chu chuyển của tư bản lưu động tăng lên sẽ làm tăng lượng tư bản lưu
động được sử dụng trong năm, do đó tiết kiệm được tư bản ứng trước;
mặt khác, do tăng tốc độ chu chuyển của tư bản lưu động khả biến làm
cho tỷ suất giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư hàng năm tăng lên. Nguồn tham khảo
https://loigiaihay.com/the-nao-la-tu-ban-co-dinh-va-tu-ban-luu-dong-y-
nghia-cua-viec-phan-chia-cap-pham-tru-tren-c126a20520.html
https://cuuduongthancong.com/atc/1010/dinh-nghia,-co-so-phan-chia-tu-
ban-bat-bien-va-tu-ban-kha-bien-,-tu-ban-co-dinh-va-tu-ban-luu-dong?-
phan-tich-can-cu-va-y-nghia-phan-chia-hai-cap-pham-tru-do.
https://luatminhkhue.vn/phan-biet-tu-ban-bat-bien-va-tu-ban-kha-bien.aspx
https://www.studocu.com/vn/document/dai-hoc-ton-duc-thang/triet-hoc/can-
cu-va-y-nghia-cua-su-phan-chia-tu-ban-bat-bien-va-tu-ban-kha-bien/ 46531370
https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C6%B0_b%E1%BA%A3n Hết.