-
Thông tin
-
Quiz
Báo cáo thực tế chính trị tại Hà Giang | Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Hà Giang là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng, phía Tây giáp tỉnh Yên Bái và Lào Cai, phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang, phía Bắc giáp đất nước Trung Quốc. Hà Giang có diện tích tự nhiên là 7.884,37 km2. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Thực tế Chính trị Xã hội 79 tài liệu
Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Báo cáo thực tế chính trị tại Hà Giang | Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Hà Giang là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng, phía Tây giáp tỉnh Yên Bái và Lào Cai, phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang, phía Bắc giáp đất nước Trung Quốc. Hà Giang có diện tích tự nhiên là 7.884,37 km2. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Môn: Thực tế Chính trị Xã hội 79 tài liệu
Trường: Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:




















Tài liệu khác của Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Preview text:
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA LỊCH SỬ ĐẢNG
BÀI THU HOẠCH BÁO CÁO
HỌC PHẦN : THỰC TẾ CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
Học tên sinh viên: Vũ Thị Duệ Lớp : Lịch sử Đảng
Ngành :Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam Khóa: 38
Mã số sinh viên: 18500100008
Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Hảo 1 HÀ NỘI – 2020 MỤC LỤC NỘI DUNG
Chương I: KHÁI QUÁT VỀ CƠ SỞ ĐẾN NGHIÊN CỨU THỰC TẾ CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
1. Lịch sử hình thành tỉnh Hà Giang
2. Điều kiện tự nhiên - xã hội tỉnh Hà Giang
Chương II: CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, TỔ CHỨC BỘ MÁY VÀ HOẠT
ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TẠI ĐỊA PHƯƠNG (UBND tỉnh Hà Giang)
Chương III: VIỆC THỰC HIỆN CHUYÊN MÔN CỦA CÁC CƠ SỞ CHÍNH
TRỊ - XÃ HỘI (UBND tỉnh Lạng Sơn)
Chương IV: KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC SAU CHUYẾN THỰC TẾ CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI 2 LỜI MỞ ĐẦU
Hà Giang là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Phía Đông giáp tỉnh
Cao Bằng, phía Tây giáp tỉnh Yên Bái và Lào Cai, phía Nam giáp tỉnh Tuyên
Quang, phía Bắc giáp đất nước Trung Quốc. Hà Giang có diện tích tự nhiên là
7.884,37 km2, chỗ rộng nhất từ tây sang đông dài 115 km và từ bắc xuống nam dài
137 km. Tại điểm cực bắc của lãnh thổ Hà Giang, cũng là điểm cực bắc của Tổ
quốc, cách Lũng Cú chừng 3 km về phía đông, điểm cực tây cách Xín Mần khoảng
10 km về phía tây nam, mỏm cực đông cách Mèo Vạc 16 km về phía đông - đông
nam. Địa hình của tỉnh Hà Giang khá phức tạp, có nhiều ngọn núi đá cao và sông
suối, có thể chia làm 3 vùng. Vùng cao núi đá phía bắc nằm sát chí tuyến bắc, có
độ dốc khá lớn, thung lũng và sông suối bị chia cắt nhiều. Nằm trong vùng khí hậu
cận nhiệt đới ẩm nhưng do địa hình cao nên khí hậu Hà Giang mang nhiều sắc thái
ôn đới. Vùng cao núi đất phía tây thuộc khối núi thượng nguồn sông Chảy, sườn
núi dốc, đèo cao, thung lũng và lòng suối hẹp.Vùng thấp trong tỉnh gồm vùng đồi
núi, thung lũng sông Lô và Thành phố Hà Giang. Hà Giang có nhiều núi non hùng
vĩ, có đỉnh Tây Côn Lĩnh (2419 m) và đỉnh Chiêu lầu thi (2402m) là cao nhất. Về
thực vật, Hà Giang có nhiều khu rừng nguyên sinh, nhiều gỗ quý, và có tới 1000
loại cây dược liệu. Động vật có hổ, chim công, chim trĩ, tê tê, và nhiều loại chim
thú khác. Đây là nơi có nhiều du khách đến và trải nghiệm cảnh quan nơi núi rừng
Đông Bắc tuyệt đẹp; Có người đến Hà Giang vì mải mê với những nụ tam giác
mạch, hay hay để trả lời câu hỏi hiển nhiên “Hà Giang có gì đẹp” bằng cách đi qua
những điểm du lịch Hà Giang, mà nổi bật nhất là cột cờ Lũng Cú, điểm cực Bắc
của Tổ Quốc. Nhưng cũng không ít người đến với Hà Giang vì mê mải với những
cung đường uốn lượn theo rặng núi cao chót vót. Hà Giang luôn đẹp, không chỉ bởi
những mùa hoa mà cả bốn mùa trong năm. Chính vì điều này mà em xin lựa chọn
đề tài về Hà Giang phục vụ cho bài thu hoạch báo cáo học phần thực tế chính trị - xã hội.
Mục đích của chương trình thực tế:
- Cung cấp những kiến thức thực tế về chính trị, văn hóa, xã hội. Những
hoạt động thực tế của các tổ chức, các cơ quan trong hệ thống chính trị Việt Nam. 3
- Cung cấp những hiểu biết về cơ cấu tổ chức, chức năng và hoạt động
của đơn vị đến thực tế chính trị - xã hội.
- Trang bị cho người học kỹ năng tiếp cận, phân tích và giải quyết các vấn đề thực tiễn.
- Khơi dậy lòng tự hào, trách nhiệm, tạo động lực thôi thúc sinh viên
phấn đấu học tập, rèn luyện để đóng góp sức mình vào sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nhiệm vụ:
- Tìm hiểu, nghiên cứu tình hình chung của đơn vị, địa phương đến thực tế chính trị - xã hội.
- Tìm hiểu, nghiên cứu về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và hoạt
động của đơn vị đến thực tế chính trị - xã hội.
- Tìm hiểu, nghiên cứu công tác quản trị của đơn vị đến thực tế chính trị - xã hội. 4
NỘI DUNG BÀI THU HOẠCH
Chương I. Khái quát về cơ sở đến nghiên cứu thực tế chính trị - xã hội 1. Lịch sử hình thành
Vào thời Hùng Vương, mảnh đất Hà Giang đã là một trong 15 bộ của quốc gia Lạc
Việt. Thời Thục Phán An Dương Vương lập nước Âu Lạc, Hà Giang thuộc bộ lạc
Tây Vu.Trong thời kỳ đô hộ của phong kiến phương Bắc kéo dài nghìn năm, khu
vực Hà Giang vẫn nằm trong địa phận huyện Tây Vu thuộc quận Giao Chỉ.
Từ năm 1075 (đời nhà Lý). Miền đất Hà Giang lúc đó thuộc về châu Bình Nguyên.
Vào đầu đời Trần, khu vực Hà Giang, Tuyên Quang lúc đó gọi là châu Tuyên
Quang thuộc lộ Quốc Oai. Năm 1397 đổi thành trấn Tuyên Quang.Địa danh Hà
Giang lần đầu tiên được nhắc đến trong bài minh khắc trên chuông chùa Sùng 5
Khánh (xã Đạo Đức, Vị Xuyên), được đúc nhân dịp trùng tu chùa vào đầu thời Vua
Lê Dụ Tông, năm Ất Dậu 1707.
Năm Minh Mệnh thứ 16 (năm 1835), nhà Nguyễn bỏ châu Bảo Lạc, chia làm hai
huyện: Vĩnh Điện (khoảng Bắc Mê, Yên Minh và một phần Quản Bạ ngày nay và
huyện Để Định (khoảng huyện Bảo Lạc, Cao Bằng và một phần Đồng Văn, Mèo
Vạc ngày nay). Lấy sông Lô phân giới để chia châu Vị Xuyên thành hai đơn vị
hành chính mới: Khu vực phía hữu ngạn sông Lô được gọi là huyện Vĩnh Tuy, còn
phía tả ngạn sông Lô là huyện Vị Xuyên.
Năm Thiệu Trị thứ hai (năm 1842), triều đình nhà Nguyễn chia Tuyên Quang làm
ba hạt: Hà Giang, Bắc Quang, Tuyên Quang. Hạt Hà Giang có một phủ là Tương
Yên với bốn huyện : Vị Xuyên, Vĩnh Tuy, Vĩnh Điện, Để Định.
Năm Thiệu Trị thứ tư (năm 1844), nhà Vua lại phê chuẩn cho các huyện châu
thuộc tỉnh hạt biên giới phía Bắc, Tây Bắc, trong đó có Hà Giang, “vẫn theo như
cũ đặt chức thổ quan”. Đến đời Tự Đức thì chế độ “thổ quan” bị bãi bỏ trên phạm vi cả nước.
Năm 1858, sau khi đánh chiếm hầu hết các tỉnh Nam Kỳ, Bắc Kỳ, năm 1887, thực
dân Pháp đánh chiếm Hà Giang và thay đổi chế độ cai trị bằng cách thiết lập các
đạo quan binh.Ngày 20/8/1891, tỉnh Hà Giang được thành lập, bao gồm phủ Tương
Yên và huyện Vĩnh Tuy (tỉnh Tuyên Quang).
Năm 1893, trong dịp cải tổ trong các quân khu, Hà Giang trở thành trung tâm của
một quân khu và cùng với Tuyên Quang hợp thành Đạo quan binh thứ ba (quân
khu 3).Ngày 17/9/1895, Toàn quyền Đông Dương ra Quyết định số 1432 chia khu
quân sự thứ ba thành ba tỉnh: Tuyên Quang, Bắc Quang và Hà Giang. Trong đó,
Hà Giang bao gồm huyện Vị Xuyên (trừ tổng Phú Loan và Bằng Hành), cộng thêm
các tổng Phương Độ và Tương Yên. 6
Ngày 28/4/1904, Toàn quyền Đông Dương lại ra quyết định sáp nhập tỉnh Bắc
Quang và tỉnh Hà Giang thành Đạo quan binh Hà Giang. Đến thời điểm này, Đạo
quan binh thứ ba Hà Giang đã được xác định ranh giới rõ ràng và tương đối ổn định.
Trước cách mạng tháng tám năm 1945, Hà Giang có 4 châu và 0 1 thị xã (Bắc
Quang, Vị Xuyên, Đồng Văn, Hoàng Su Phì, thị xã Hà Giang).Ngày 23/3/1959,
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh giải tán Khu Lao - Hà - Yên, sáp nhập tỉnh Hà
Giang vào Khu tự trị Việt Bắc.Đầu tháng 4/1976, tỉnh Hà Tuyên được thành lập
trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang.
Ngày 12/8/1991, tại kỳ họp thứ 9, khoá VIII, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam đã quyết định chia tỉnh Hà Tuyên thành hai tỉnh Hà Giang và
Tuyên Quang. Tỉnh Hà Giang được tái lập gồm 10 đơn vị hành chính là thị xã Hà
Giang và 9 huyện, tỉnh lỵ đặt tại thị xã Hà Giang.
Ngày 01/12/2003, Chính phủ ra nghị định số 146/NĐ-CP về việc thành lập huyện
Quang Bình, tỉnh Hà Giang.Ngày 27/9/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành
Nghị quyết số 35/NQ-CP về việc thành lập thành phố Hà Giang thuộc tỉnh Hà Giang.
2. Điều kiện tự nhiên, xã hội Hà Giang
A) Đặc điểm địa hình
Hà Giang có một địa hình tương đối phức tạp, bị chia cắt mạnh bởi dãy núi cao và
trung bình, thấp dần về phía sông thưo hướng dòng chảy của sông Chảy và sông
Bạc, tạo nên 3 dạng địa hình chính là địa hình núi cao, đồi núi thấp và trung bình,
thung lũng hẹp. Địa hình núi cao có diện tích khoảng 60.000ha và được tạo nên bởi
các dãy núi cao, chạy dài theo đường địa giới tiếp giáp với các huyện lân cận và 7
đường biên giới quốc gia tạo thành một vòng cung lớn bao quanh vùng. Địa hình
núi thấp và trung bình có diện tích khoảng 1.900ha, phân bố tập trung ở vùng giữa
dọc theo sông Chảy, sông Nậm Khoà và sông Bạc. Địa hình thung lũng hẹp có
diện tích khoảng 1.000ha, phân bố rải rác dưới chỏm đồi núi, dọc theo các khe suối
tạo thành các dải đất hẹp tương đối bằng phẳng.
Là một huyện có địa hình đa dạng, tạo nên hệ thống thực vật, sinh vật phong phú
tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho việc đa dạng hoá cây trông, phát triển sản xuất nông – lâm nghiệp. B) Khí hậu
Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa và là miền núi cao, khí hậu Hà Giang về cơ
bản mang những đặc điểm của vùng núi Việt Bắc – Hoàng Liên Sơn, song cũng có
những đặc điểm riêng, mát và lạnh hơn các tỉnh miền Đông Bắc, nhưng ấm hơn các tỉnh miền Tây Bắc.
Nhiệt độ trung bình cả năm khoảng 21,60C - 23,90C, biên độ nhiệt trong năm có
sự dao động trên 100C và trong ngày cũng từ 6 - 70C. Mùa nóng nhiệt độ cao tuyệt 8
đối lên đến 400C (tháng 6, 7); ngược lại mùa lạnh nhiệt độ thấp tuyệt đối là 2,20C (tháng 1).
C) Tài nguyên thiên nhiên 1. Tài nguyên đất
Trong 778.473 ha diện tích đất tự nhiên, đất nông nghiệp có 134.184 ha, chiếm
17% diện tích tự nhiên, đất lâm nghiệp có 334.100 ha, chiếm 42,4%, đất chưa sử
dụng có 310.064 ha, chiếm 39,3%, còn lại là đất chuyên dùng và đất ở. Theo kết
quả điều tra thổ nhưỡng, toàn tỉnh có 9 nhóm đất chính, trong đó chủ yếu là nhóm
đất xám rất thích hợp để trồng các loại cây công nghiệp, cây dược liệu và cây ăn quả. 2. Tài nguyên rừng
Hà Giang có diện tích rừng tương đối lớn, trong đó diện tích rừng tự nhiên là
345.860 ha, với nhiều sản vật quý hiếm: động vật có các loài gấu ngựa, sơn dương,
voọc bạc má, gà lôi, đại bàng…; các loại gỗ: ngọc am, pơ mu, lát hoa, lát chun,
đinh, nghiến, trò chỉ, thông đá…; các cây dược liệu như sa nhân, thảo quả, quế,
huyền sâm, đỗ trọng… Rừng Hà Giang không những giữ vai trò bảo vệ môi trường
sinh thái đầu nguồn cho vùng đồng bằng Bắc Bộ mà còn cung cấp những nguyên
vật liệu phục vụ cho sản xuất công nghiệp, xây dựng, y tế và sẽ là những điểm du
lịch sinh thái lý tưởng của tỉnh.
Hà Giang còn nhiều khu rừng nguyên sinh chưa được khai thác, môi trường sinh
thái trong lành và chứa đựng nhiều tiềm ẩn kỳ thú. Các rừng đá trập trùng, nhấp
nhô ẩn hiện trong mây bạc, nhiều đỉnh núi cao trên 2.000 m như Pu Ta Kha, Tây
Côn Lĩnh; nhiều hang động đầy bí ẩn như Tùng Bá, Lùng Má, (huyện Vị Xuyên), 9
Tùng Vài (Quản Bạ), Hang Mây, Sảng Tủng (Đồng Văn); các danh thắng như núi
Cô Tiên, Cổng Trời (Quản Bạ). 3. Tài nguyên khoáng sản
Qua khảo sát, thăm dò, bước đầu tỉnh Hà Giang đã phát hiện được 28 loại khoáng
sản khác nhau. Đáng chú ý là có những mỏ có trữ lượng lớn trên một triệu tấn với
hàm lượng khoáng chất cao như: ăngtimon ở các mỏ: Mậu Duệ, Bó Mới (Yên
minh); sắt ở Tùng Bá, Bắc Mê; chì - kẽm ở Na Sơn, Tả Pan, Bằng Lang, Cao Mã
Pờ. Ngoài ra, còn có nhiều khoáng sản khác như: pirít, thiếc, chì, đồng, mănggan,
vàng sa khoáng, đá quý, cao lanh, nước khoáng, đất làm gạch, than non, than
bùn…Hiện nay một số mỏ đang được khai thác có hiệu quả. . D) Xã hội 1. Dân cư và tôn giáo
Dân số tỉnh Hà Giang theo điều tra dân số ngày 1/4/2019 là
854.679 người. Trong đó, dân số thành thị là 135.465 người (chiếm khoảng 15,8%
dân số). So với các tỉnh miền núi phía Bắc khác thì dân số Hà Giang tương đối
đông. Các dân tộc: Mông (chiếm 32,9% tổng dân số toàn tỉnh), Tày (23,2 %), Dao
(14,9 %), Việt (12,8 %), Nùng (9,7 %)...
Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, toàn tỉnh có 7 tôn giáo khác
nhau đạt 40.393 người, nhiều nhất là đạo Tin Lành có 35.960 người, tiếp theo là
Công giáo đạt 4.110 người, Phật giáo có 290 người. Còn lại các tôn giáo khác như
Hồi giáo có 26 người, đạo Cao Đài có ba người, Phật giáo Hòa Hảo có ba người và
1 người theo Minh Lý đạo. 2. Du lịch
Cao nguyên đá Đồng Văn nằm trải rộng trên bốn huyện Quản Bạ,
Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc ược công nhận là Công viên địa chất Toàn cầu
vào năm 2010. Đây là một trong những vùng đá vôi đặc biệt, chứa đựng những dấu 10
ấn tiêu biểu về lịch sử phát triển vỏ Trái Đất, những hiện tượng tự nhiên, cảnh
quan đặc sắc về thẩm mỹ, tính đa dạng sinh học cao và truyền thống văn hóa lâu
đời của cộng đồng cư dân bản địa như các dân tộc Mông, Lô Lô, Pu Péo, Dao. Cao
nguyên đá cũng là nơi có nhiều di tích danh thắng quốc gia đã được công nhận
như: Di tích kiến trúc nhà Vương, Cột cờ Lũng Cú, phố cổ Đồng Văn, động Én,
đèo Mã Pì Lèng, núi Đôi Quản Bạ v.v.. Đồng Văn còn nổi tiếng về các loại hoa
quả: đào, mận, lê, táo, hồng... về dược liệu: tam thất, thục địa, đại hồi, quế chi,…
Cao nguyên đá Đồng Văn
Hệ thống các hang động: Hang Phương Thiện: cách thành phố Hà
Giang 7 km (4,38 dặm) xuôi về phía nam. Đây là nơi có nhiều phong cảnh, nhiều
hang động tự nhiên.Động Tiên và Suối Tiên nằm cách thành phố Hà Giang 2 km
(1.25 dặm). Nhân dân quanh vùng vẫn thường đến Động Tiên lấy nước và cầu may
mắn vào lúc giao thừa. Hang Chui: cách thành phố Hà Giang 7 km (4,38 dặm) về
phía nam. Hang ăn sâu vào lòng núi khoảng 100 m (300 ft). Cửa hang hẹp phải
lách người mới qua được. Vào trong lòng hang mở rộng, vòm hang cao vút, nhiều
nhũ đá. Hang có nhiều dơi, có dòng suối dâng cao đổ xuống thành thác.
Dinh thự họ Vương thuộc xã Sà Phìn là một công trình kiến trúc
đẹp và độc đáo được xếp hạng cấp quốc gia năm 1993. Đường dẫn vào dinh được
lát bằng những phiến đá lớn vuông vức, phẳng lỳ. Dinh được bao bọc bởi hai vòng
tường thành xây bằng đá hộc.Dinh thự được xây dựng chủ yếu bằng đá xanh, gỗ 11
pơ-mu, ngói đất nung già, các chi tiết được chạm trổ tỉ mỉ, công phu, đẹp mắt. Trúc
hình chữ "vương", tọa lạc trên quả đồi hình mai rùa. Đây là một điển hình về sự
giao thoa nghệ thuật kiến trúc của người Mông và người Hán ở khu vực biên giới Việt – Trung.
Khu dinh thự họ Vương (vua Mèo) ở Hà Giang
Chợ tình Khau Vai họp mỗi năm một lần vào ngày 27 tháng 3 âm
lịch tại xã Khau Vai, huyện Mèo Vạc. Bắt nguồn từ 1 câu chuyện tình, Khau Vai
trở thành nơi hò hẹn chung cho tất cả những người yêu nhau trong vùng. Chợ Khau
Vai ban đầu họp không có người mua, không có người bán. Khoảng mười năm trở
lại đây, do nhu cầu cuộc sống nên ngày chợ họp ngoài việc hò hẹn, gặp gỡ, người
ta mang cả hàng hóa đến bán ở chợ. Do vậy đến chợ Khau Vai, người ta cũng có
thể mua, bán, trao đổi những sản vật vùng cao.
Tiểu khu Trọng Con Cách đường quốc lộ số 2, 20 km về phía
đông nam, cách Thành phố Hà Giang khoảng 60 km về phía bắc ở tại Xã Bằng
Hành, huyện Bắc Quang, Tỉnh Hà Giang (đã được Nhà nước xếp hạng là di tích
lịch sử năm 1996). Đây được xem là cái nôi của phong trào cách mạng ở Hà Giang
trong những năm đấu tranh giải phóng dân tộc. 12
Chùa Sùng Khánh cách Thành phố Hà Giang 9 km về phía nam
thuộc thôn Làng Nùng, xã Đạo Đức, huyện Vị Xuyên, được nhà nước xếp hạng là
di tích lịch sử nghệ thuật năm 1993. Chùa được xây dựng thời Triệu Phong (1356),
do thời gian, chùa bị hư hại, đến năm 1989 được nhân dân xây dựng trên nền chùa
cũ. Ở đây còn lưu giữ hai di vật: Bia đá thời Trần (1367) ghi lại công lao của người
sáng lập ra chùa và một quả Chuông cao 0.90 m, đường k ính 0.67 m, được đúc
thời Hậu Lê (1705). Nghệ thuật khắc trên đá, trên Chuông đồng và kỹ thuật đúc
Chuông là một bằng cứ nói lên bàn tay tinh xảo của các nghệ nhân vùng biên giới
phía bắc này, và từ đó biết thêm lịch sử phát triển thời Trần và Lê tới tận vùng biên ải Hà Giang. Chùa Sùng Khánh
Bãi đá cổ Nấm Dẩn thuộc xã Nấm Dẩn, huyện Xín Mần cách
trung tâm huyện lỵ 15km về phía nam. Tại đây đã thống kê được hơn 80 hình khắc
về bàn chân, tay người, ruộng bậc thang và nhiều hình học khác trên đá. Các nhà
khoa học bước đầu xác định các hình khắc này xuất hiện từ hơn hai nghìn năm
trước. Đây là nguồn tư liệu quý giá về những cư dân Việt cổ ở vùng đất Hà Giang.
Chùa Bình Lâm thuộc địa phận thôn Tông Mường xã Phú Linh,
Thành phố Hà Giang. Nhân dân ở đây còn lưu giữ một quả chuông thời Trần được
đúc vào tháng 3 năm Ất Mùi (1295) chuông có chiều cao 103 cm, đường kính
miệng 65 cm, quai được cấu tạo bởi hai hình rồng, trên chuông có khắc bài Minh
bằng chữ Hán gồm 309 chữ năm Bính Thân, niên hiệu Hưng Long thứ 4 (1296).
Trên quả chuông ta bắt gặp tiêu bản rồng nổi trên chất liệu đồng (thế kỷ 13). Cùng
với quả chuông, tại chùa Bình Lâm còn phát hiện được một số di vật như Tháp đất 13
nung, mái ngói có hoạ tiết hoa chanh....là những nét quen thuộc và tiêu biểu của văn hoá thời Trần. Chùa Bình Lâm
Chương II. Tìm hiểu chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và hoạt
động của hệ thống chính trị tại địa phương 14
Hệ thống chính trị ở địa phương thực tế tỉnh Hà Giang: Bao gồm Ủy ban nhân dân
tỉnh, Tỉnh ủy, các Hội trong tỉnh Hà Giang
1. Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang
Chức năng, nhiệm vụ: Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang là cơ quan
trực thuộc UBND tỉnh Hà Giang, có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân
tỉnh về: Chương trình, Kế hoạch công tác; tổ chức, quản lý và công bố các thông
tin chính thức về hoạt động của UBND, Chủ tịch UBND tỉnh; kiểm soát thủ tục
hành chính; tổ chức triển khai thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong
giải quyết thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh, cấp huyện
và cấp xã; đầu mối Cổng thông tin điện tử, kết nối hệ thống thông tin hành chính
điện tử chỉ đạo điều hành của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh;
quản lý công báo và phục vụ hoạt động chung các hoạt động chung của UBND
tỉnh; giúp Chủ tịch UBND và các Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn theo thẩm quyền . Đồng thời tham mưu, giúp UBND tỉnh
quản lý nhà nước về quản lý nhà nước thi đua - khen thưởng, văn thư, lưu trữ nhà
nước trên địa bàn tỉnh và thực hiện quản lý văn thư - lưu trữ , công tác quản trị nội bộ của Văn phòng. Tổ chức bộ máy: +) Lãnh đạo văn phòng
a) Đồng chí Lương Văn Đoàn,
- Chức vụ: Chánh Văn phòng - Nhiệm vụ:
+) Lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý toàn diện các mặt công tác của Văn phòng theo
quy định của pháp luật; chịu trách nhiệm trước Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch
UBND, các Phó Chủ tịch UBND tỉnh và trước pháp luật về việc thực hiện chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng; là Chủ tài khoản cơ quan Văn phòng UBND tỉnh. 15
+) Giữ mối quan hệ công tác với Chánh Văn phòng Tỉnh uỷ, Chánh Văn phòng
Đoàn Đại biểu Quốc hội, HĐND; lãnh đạo các tổ chức, cơ quan, đơn vị tại địa
phương; đồng thời giữ mối liên hệ thường xuyên với Văn phòng Quốc Hội, Văn
phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Chính phủ, Văn phòng các Bộ, ngành Trung
ương, Văn phòng UBND các tỉnh, thành phố.
+) Trực tiếp theo dõi, chỉ đạo giải quyết các nhiệm vụ thuộc lĩnh vực: Kinh tế
tổng hợp; công tác nội vụ; công tác ngoại vụ; tài nguyên và môi trường; giao
thông, xây dựng; quốc phòng, an ninh; công nghiệp, thủy điện, khoáng sản; công
tác thi đua khen thưởng; công tác cải cách hành chính; kiểm soát thủ tục hành
chính; cơ chế một cửa, một cửa liên thông; công tác xây dựng chính quyền; chính
quyền điện tử; công tác bảo vệ bí mật nhà nước; quy chế dân chủ ở cơ sở; công tác
quản lý nhà nước về thanh tra; Tư pháp; giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng chống
tham nhũng; tiếp công dân và giải quyết đơn thư của Ủy ban nhân dân tỉnh; các
chương trình vận động, quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính từ nước ngoài;
công tác phối hợp giữa UBND tỉnh với Ban Nội chính, Cơ quan Ủy ban Kiểm tra -
Thanh tra; chỉ đạo triển khai các kết luận, văn bản chỉ đạo của Trung ương và của
tỉnh thuộc lĩnh vực trực tiếp phụ trách.
+) Tham mưu trực tiếp cho Chủ tịch UBND tỉnh về công tác quy hoạch, quản lý
thu - chi ngân sách nhà nước
+) Là người phát ngôn của UBND tỉnh
+) Trưởng Ban biên tập cổng thông tin điện tử tỉnh
+) Trực tiếp theo dõi, chỉ đạo công tác quản lý tổ chức bộ máy, công tác cán bộ,
tài chính, tài sản và bảo vệ bí mật nhà nước của Văn phòng.
+) Chủ tịch Hội đồng thi đua khen thưởng, Hội đồng sáng kiến, Hội đồng nâng lương của Văn phòng.
+) Trực tiếp chỉ đạo nhiệm vụ các phòng: Kinh tế - Tổng hợp; Nội chính - Pháp
chế; Hành chính - Tổ chức; Ban tiếp công dân; Ban Thi đua khen thưởng; Trung
tâm Phục vụ Hành chính công tỉnh.
b) Đồng chí Nguyễn Huy Sắc
- Chức vụ: Phó Chánh Văn phòng 16 - Nhiệm vụ:
+) Giúp Chánh Văn phòng theo dõi chỉ đạo giải quyết các nhiệm vụ thuộc ngành,
lĩnh vực: Công tác xuất bản báo chí ; thông tin và Truyền thông; phát thanh và
truyền hình; Khoa học và công nghệ; Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật tỉnh; tín
dụng ngân hàng; doanh nghiệp nhà nước; phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể;
phát triển khởi nghiệp ; thương mại, xuất nhập khẩu; Giáo dục đào tạo và dạy
nghề; y tế, dân số, gia đình, trẻ em; bảo hiểm xã hội; văn hoá thể thao và du lịch;
lao động thương binh và xã hội; công tác dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền;
nông nghiệp và phát triển nông thôn; nông thôn mới; Văn phòng Giảm nghèo dựa
trên hàng hóa giai đoạn 3; quy chế phối hợp giữa UBND tỉnh với các tổ chức chính
trị xã hội; công tác phối hợp giữa UBND tỉnh với Ban Tuyên giáo, Ban Dân vận
Tỉnh ủy; Ban Tôn giáo - Dân tộc; các tổ chức Hội đặc thù và nghề nghiệp thuộc
lĩnh vực được phân công. Theo dõi, triển khai, đôn đốc thực hiện các kết luận của
Trung ương và của tỉnh thuộc lĩnh vực phụ trách. Chịu trách nhiệm trước Chánh
Văn phòng, trước pháp luật về lĩnh vực được phân công.
+) Trực tiếp chỉ đạo công tác biên tập Trang TTĐT của Văn phòng.
+) Trực tiếp chỉ đạo nhiệm vụ của phòng Văn hóa - Xã hội; Trung tâm Thông tin - Công báo.
+) Phó Trưởng Ban biên tập Cổng TTĐT tỉnh;Trưởng Ban Biên tập Trang thông
tin điện tử Văn phòng UBND tỉnh.
+) Phụ trách xã theo sự phân công của Ban Thường vụ Tỉnh ủy.
+) Thực hiện các nhiệm vụ khác do Chánh Văn phòng phân công.
+) Các đơn vị hành chính: - Ban tiếp công dân
- Phòng Kinh tế - Tổng hợp
- Phòng Nội chính – Pháp chế
- Phòng Văn hóa – Xã hội
- Trung tâm phục vụ hành chính 17
- Phòng Hành chính – Tổ chức
- Phòng Quản trị - Tài vụ
- Chi cục Văn thư – Lưu trữ - Ban thi đua khen thưởng
+) Các đơn vị sự nghiệp:
- Trung tâm Thông tin – Công báo
- Nhà khách Ủy ban nhân dân tỉnh
Chương III. Tìm hiểu, nghiên cứu về việc thực hiện chuyên môn
của cơ sở thực tế chính trị - xã hội. 18
Cơ sở thực hiện chuyên môn thực tế chính trị - xã hội: Trường Chính trị tỉnh Hà Giang.
a) Tìm hiểu về vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Trường Chính trị tỉnh Hà Giang
I. Vị trí, chức năng
- Trường Chính trị tỉnh Hà Giang là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Tỉnh uỷ và Uỷ
ban Nhân dân tỉnh, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp và thường xuyên của Ban Thường vụ tỉnh uỷ.
- Trường Chính trị tỉnh Hà Giang có chức năng tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ lãnh đạo, quản lý của hệ thống chính trị cấp cơ sở, cán bộ, công chức ở địa
phương về lý luận chính trị - hành chính; đường lối, các nghị quyết, chỉ thị của
Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; kiến thức và chuyên môn, nghiệp vụ
về công tác xây dựng đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính
trị - xã hội; kiến thức về pháp luật và quản lý nhà nước và một số lĩnh vực khác. II. Nhiệm vụ
- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng, chính quyền, đoàn thể
nhân dân cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn và các đơn vị tương đương); trưởng, phó
phòng, ban, ngành, đoàn thể cấp huyện và tương đương; trưởng, phó phòng của sở,
ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh và tương đương; cán bộ dự nguồn các chức danh
trên; cán bộ, công chức cấp cơ sở và một số đối tượng khác về Chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; về đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của
Nhà nước; về nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước và một số lĩnh vực khác.
- Đào tạo trung cấp lý luận chính trị - hành chính cho cán bộ lãnh đạo, quản lý
của hệ thống chính trị cấp cơ sở; cán bộ, công chức, viên chức ở địa phương.
- Bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng lãnh đạo, chuyên môn, nghiệp vụ cho
các chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý; cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ của các tổ
chức đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân cấp cơ sở.
- Bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã, cấp huyện. 19
- Đào tạo tiền công vụ đối với công chức dự bị; bồi dưỡng chuyên viên và các chức danh tương đương.
- Phối hợp với Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ hướng dẫn và bồi dưỡng nghiệp vụ,
phương pháp giảng dạy cho đội ngũ giảng viên của Trung tâm Bồi dưỡng chính trị cấp huyện.
- Tổ chức nghiên cứu khoa học phục vụ giảng dạy, học tập và tổng kết kinh
nghiệm thực tiễn ở địa phương, cơ sở.
- Mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng ngoài các đối tượng đã nêu trên theo chỉ đạo
của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh.
b) Tổ chức bộ máy
Chương IV. Kết quả đạt được gắn với chuẩn đầu ra của ngành học. 20