-
Thông tin
-
Quiz
Báo cáo thực tế chính trị xã hội Tham quan Bảo tàng Báo chí Việt Nam | Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Trong không gian giao lưu rộng lớn của báo chí Việt Nam, Bảo tàng Báo chí Việt Nam là nơi lưu giữ và tôn vinh những giá trị của lĩnh vực báo chí trong dòng chảy của dân tộc. Buổi thực địa chính trị xã hội tại đây không chỉ là trải nghiệm học thuật, mà còn là cuộc hành trình khám phá sâu sắc về bản sắc và tinh thần của báo chí Việt Nam qua từng giai đoạn lịch sử. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Thực tế Chính trị Xã hội 79 tài liệu
Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Báo cáo thực tế chính trị xã hội Tham quan Bảo tàng Báo chí Việt Nam | Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Trong không gian giao lưu rộng lớn của báo chí Việt Nam, Bảo tàng Báo chí Việt Nam là nơi lưu giữ và tôn vinh những giá trị của lĩnh vực báo chí trong dòng chảy của dân tộc. Buổi thực địa chính trị xã hội tại đây không chỉ là trải nghiệm học thuật, mà còn là cuộc hành trình khám phá sâu sắc về bản sắc và tinh thần của báo chí Việt Nam qua từng giai đoạn lịch sử. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Môn: Thực tế Chính trị Xã hội 79 tài liệu
Trường: Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:




















Tài liệu khác của Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Preview text:
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
VIỆN BÁO CHÍ – TRUYỀN THÔNG
BÀI BÁO CÁO THỰC TẾ CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI:
THAM QUAN BẢO TÀNG BÁO CHÍ VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn: Th.S Trần Thị Hoa Mai
Họ và tên: Nguyễn Thị Vân Anh
Lớp tín chỉ: PT03840_K43_4
Lớp: Báo Truyền hình K43
Mã sinh viên: 2356050004 Hà Nội, 2024 1 MỤC LỤC
TÍNH CẤP THIẾT CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU........................................................................3
Giá Trị Lịch Sử............................................................................................................................3
Ý Nghĩa Học Thuật......................................................................................................................3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BẢO TÀNG BÁO CHÍ VIỆT NAM.....................................4
1.1. Quá trình thành lập và phát triển.........................................................................................4
1.2. Mục đích và ý nghĩa của bảo tàng........................................................................................4
1.2.1. Mục đích của bảo tàng:..................................................................................................4
1.2.2. Ý nghĩa của bảo tàng:....................................................................................................5
1.3. Vai trò của bảo tàng trong việc bảo tồn và phát triển nền báo chí Việt Nam.......................5
1.4. Đặc điểm và tính chất hoạt động của bảo tàng.....................................................................6
1.5. Thực trạng hoạt động của của bảo tang Báo chí Việt Nam..................................................6
1.5.1. Nội dung, hình thức và phương thức trưng bày.............................................................6
1.5.1.1. Nội dung.................................................................................................................6
1.5.1.2. Hình thức và phương thức....................................................................................18
1.5.2. Tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, an ninh, quốc phòng tác động đến hoạt
động của bảo tàng..................................................................................................................21
CHƯƠNG 2: THU HOẠCH CÁ NHÂN SAU CHUYẾN ĐI THỰC TẾ CHÍNH TRỊ - XÃ
HỘI...............................................................................................................................................23
2.1 Nhận thức và cảm nhận sau chuyến đi thực tế........................................................................23
2.2. Bài học kinh nghiệm rút ra.................................................................................................23
2.3. Tác động xã hội của bảo tàng............................................................................................24
2.4. Các kiến nghị và đóng góp.................................................................................................24
KẾT LUẬN...................................................................................................................................25
Nguồn tham khảo...........................................................................................................................26 2
BÁO CÁO THU HOẠCH THỰC TẾ CHÍNH TRỊ XÃ HỘI TẠI BẢO
TÀNG BÁO CHÍ VIỆT NAM
Trong không gian giao lưu rộng lớn của báo chí Việt Nam, Bảo tàng Báo chí
Việt Nam là nơi lưu giữ và tôn vinh những giá trị của lĩnh vực báo chí trong dòng
chảy của dân tộc. Buổi thực địa chính trị xã hội tại đây không chỉ là trải nghiệm
học thuật, mà còn là cuộc hành trình khám phá sâu sắc về bản sắc và tinh thần của
báo chí Việt Nam qua từng giai đoạn lịch sử.
TÍNH CẤP THIẾT CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU Giá Trị Lịch Sử
Bảo tàng Báo chí Việt Nam được thành lập với vai trò là một di sản văn hóa
quan trọng trong hệ thống bảo tàng quốc gia. Được quản lý trực tiếp bởi Hội Nhà
báo Việt Nam, bảo tàng ra đời theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ vào ngày
28/07/2017. Sau gần một tháng chuẩn bị, lễ công bố quyết định và ra mắt bảo tàng
chính thức diễn ra vào ngày 16/08/2017, đánh dấu một bước phát triển mới trong
việc bảo tồn và giới thiệu lịch sử báo chí của đất nước.
Sự kiện thành lập này không chỉ là một quyết định hành chính đơn thuần, mà
còn thể hiện sự trân trọng và tầm quan trọng của nghề báo trong quá trình phát
triển văn hóa và lịch sử Việt Nam. Bảo tàng ra đời như một "kho tàng" lưu giữ
những dấu ấn, câu chuyện và di sản của những người làm báo qua các thời kỳ. Ý Nghĩa Học Thuật
Với bộ sưu tập phong phú và chi tiết, Bảo tàng Báo chí Việt Nam trở thành
một điểm đến quan trọng cho những người đam mê nghiên cứu báo chí. Tại đây,
khách tham quan có thể khám phá một hành trình toàn diện của nghề báo, từ những
ấn phẩm sơ khai ban đầu cho đến các nền tảng báo chí - truyền thông đa phương tiện hiện đại.
Bộ sưu tập tài liệu và hiện vật của bảo tàng không chỉ là những mảnh ghép
lịch sử, mà còn là nguồn tư liệu vô giá cho các sinh viên, nhà nghiên cứu và những
chuyên gia trong lĩnh vực báo chí - truyền thông. Một không gian nghiên cứu độc
đáo, nơi tri thức được bảo tồn và lan tỏa một cách sinh động và chân thực.
Trong suốt hơn 2 giờ tham quan vào ngày 28/11/2024, em đã có những trải
nghiệm đáng nhớ. Những câu chuyện về các nhà báo trong những năm tháng chiến
tranh, những tấm gương bản lĩnh và cống hiến đã để lại trong em những ấn tượng
khó phai. Trải nghiệm tại đây đã giúp em hiểu sâu hơn về sứ mệnh cao cả của nghề
báo - không chỉ là kể lại sự thật, mà còn là gìn giữ và lan tỏa những giá trị văn hóa, tinh thần của dân tộc. 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BẢO TÀNG BÁO CHÍ VIỆT NAM
1.1. Quá trình thành lập và phát triển
Bảo tàng Báo chí Việt Nam ra đời sau một quá trình chuẩn bị và phê duyệt
kéo dài nhiều năm, với những bước quan trọng như sau:
Ngày 1/8/2014, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã có văn bản chính
thức đồng ý bổ sung Bảo tàng Báo chí Việt Nam vào quy hoạch tổng thể hệ thống
Bảo tàng Việt Nam đến năm 2020. Chỉ hai tuần sau, vào ngày 21/8/2014, Thủ
tướng ký quyết định phê duyệt Đề án Xây dựng Bảo tàng, bao gồm ba dự án thành
phần: sưu tầm tài liệu và hiện vật, trưng bày, và phát triển nhân sự.
Ngày 28/7/2017, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định thành lập Bảo tàng. Lễ
công bố Quyết định được tổ chức trọng thể vào ngày 16/8/2017, đánh dấu một cột
mốc quan trọng trong việc ghi nhận và bảo tồn lịch sử báo chí Việt Nam.
Sau nhiều năm chuẩn bị, Bảo tàng Báo chí Việt Nam chính thức khai trương
và mở cửa đón khách tham quan Hệ thống trưng bày thường xuyên từ ngày
19/6/2020, trở thành không gian văn hóa độc đáo để lưu giữ và giới thiệu những
dấu ấn của nghề báo qua các thời kỳ.
1.2. Mục đích và ý nghĩa của bảo tàng
1.2.1. Mục đích của bảo tàng:
Bảo tàng Báo chí Việt Nam ra đời đã trải qua một hành trình đầy cam go,
mang một sứ mệnh cao cả của những người làm báo trong việc bảo tồn và tôn vinh di sản báo chí dân tộc.
Mục đích chính của Bảo tàng Báo chí Việt Nam là kết nối các thế hệ, gìn giữ
sợi chỉ đỏ của lịch sử báo chí, và tạo cầu nối giữa quá khứ với hiện tại, giữa những
câu chuyện báo chí đầy cảm hứng với thế hệ trẻ hôm nay. Bằng việc sưu tầm,
trưng bày và giới thiệu những hiện vật, tư liệu báo chí, bảo tàng trở thành không
gian để các thế hệ nhà báo và công chúng cùng nhau khám phá, tôn vinh những giá
trị, đóng góp to lớn của những người đi trước.
Bảo tàng Báo chí Việt Nam chính là một di sản sống, một nguồn cảm hứng
cho những người làm báo, nghiên cứu lịch sử báo chí, để giáo dục truyền thống...
một minh chứng về sự kiên trì, sáng tạo và tinh thần dân tộc trong suốt quá trình
phát triển của nghề báo Việt Nam. Với sứ mệnh cao cả ấy, Bảo tàng Báo chí Việt
Nam tự tin bước tiếp trên con đường kết nối, gìn giữ và tôn vinh di sản báo chí, để
thế hệ hôm nay và mai sau luôn có thể nhìn lại và tự hào về một nghề báo đầy
nhiệt huyết và trách nhiệm. 4
1.2.2. Ý nghĩa của bảo tàng:
Bảo tàng Báo chí Việt Nam vừa có khả năng lưu trữ và mang giá trị truyền
đạt sâu sắc qua mỗi trang báo cũ, mỗi hiện vật được trưng bày mang đến hơi thở
của lịch sử của cả một nền báo chí Việt Nam đầy tự hào và kiêu hãnh.
Khi đứng trước những tờ báo đã ngả màu, nhàu nát nhưng được bảo quản một
cách trang trọng trong những tủ kính, người xem - đặc biệt là những nhà báo thuộc
thế hệ hiện tại - có thể cảm nhận được một "hào khí" vô hình được trao truyền. Đó
không chỉ là những trang giấy cũ, mà là những dòng chữ mang trong mình sứ
mệnh, là tiếng nói của những người đi trước, là nguồn động lực và là ngọn lửa
truyền cảm hứng cho thế hệ báo chí hôm nay.
Hiện vật hay tài liệu cũ được bảo tàng dày công nghiên cứu, tìm hiểu, lưu giữ
là những nguồn động lực thôi thúc các nhà báo trẻ không ngừng học hỏi, sáng tạo
và nâng cao chất lượng nghề nghiệp. Bảo tàng như một cầu nối giữa quá khứ và
hiện tại, giúp thế hệ trẻ hiểu sâu hơn về truyền thống vẻ vang của nghề báo, và tiếp
tục lan tỏa sứ mệnh cao cả của người làm báo - phục vụ sự thật, phục vụ nhân dân.
1.3. Vai trò của bảo tàng trong việc bảo tồn và phát triển nền báo chí Việt Nam
Bảo tàng là một không gian văn hóa quan trọng, đóng vai trò kết nối quá khứ
với hiện tại, giữ gìn và lan tỏa những giá trị di sản. Đặc biệt, Bảo tàng Báo chí Việt
Nam, sứ mệnh bảo tồn và phát triển nền báo chí mang ý nghĩa đặc biệt sâu sắc.
Bảo tàng Báo chí đóng vai trò trong việc giáo dục và truyền cảm hứng cho thế
hệ trẻ. Thông qua các trưng bày, không gian trải nghiệm, bảo tàng giúp thế hệ trẻ
hiểu sâu hơn về lịch sử phát triển của báo chí, về những đóng góp to lớn của các
nhà báo trong các giai đoạn lịch sử khác nhau. Đây chính là cầu nối giữa quá khứ
và hiện tại, giúp thế hệ trẻ hiểu và trân trọng nghề báo.
Bảo tàng còn là không gian nghiên cứu, học thuật quan trọng. Các nhà nghiên
cứu, sinh viên, nhà báo có thể tìm đến đây để khai thác những tư liệu quý, tìm hiểu
sâu về lịch sử báo chí, từ đó có những nghiên cứu, luận án, sáng tác mới về ngành báo chí.
Tuy nhiên, con đường phát triển của bảo tàng không hề dễ dàng, áp lực lớn
nhất chính là sự quan tâm của công chúng, nhất là thế hệ trẻ. Những người làm bảo
tàng phải không ngừng nỗ lực, "bơi" trong biển kiến thức, kiên trì tìm kiếm, bồi
đắp từng tư liệu, từng hiện vật để làm sống dậy câu chuyện lịch sử. Sự tận tụy,
thầm lặng của những người làm bảo tàng chính là nguồn sức sống để bảo tàng
không ngừng phát triển. Họ là những người bảo quản hiện vật, là những nhà kể
chuyện, những người giữ lửa cho di sản báo chí Việt Nam. 5
1.4. Đặc điểm và tính chất hoạt động của bảo tàng
Bảo tàng Báo chí Việt Nam là một không gian văn hóa đặc biệt, mang trong
mình sứ mệnh lưu giữ và lan tỏa di sản báo chí của dân tộc. Với những đặc điểm
riêng biệt, bảo tàng đã và đang khẳng định vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và
phát triển nền báo chí Việt Nam.
Một trong những đặc điểm nổi bật của Bảo tàng Báo chí Việt Nam là tính xác
thực và toàn diện của bộ sưu tập. Bảo tàng không chỉ trưng bày các hiện vật, mà
còn tập trung thu thập, bảo quản những tư liệu, ấn phẩm, thiết bị báo chí từ các giai
đoạn lịch sử khác nhau. Từ những tờ báo in cũ rách thời kháng chiến, đến những
máy in, máy đánh chữ cổ, hay các công cụ làm báo thời đầu.
Tính chất hoạt động của bảo tàng mang tính học thuật và giáo dục sâu sắc.
Không gian trưng bày được thiết kế công phu, mang tính kết nối và trải nghiệm
cao. Các chuyên gia và nhân viên bảo tàng vừa là những người bảo quản hiện vật
cũng vừa là những nhà nghiên cứu, những người kể chuyện chuyên nghiệp. Họ liên
tục nghiên cứu, phân loại, biên soạn và giải mã những giá trị lịch sử ẩn chứa trong từng hiện vật.
Một đặc điểm quan trọng khác là tính tương tác và gần gũi với công chúng.
Bảo tàng không phải không gian khô cứng, xa lạ, nơi đây trở thành điểm đến hấp
dẫn, đặc biệt là với giới trẻ. Các hoạt động trưng bày được thiết kế sinh động, có
các phần trải nghiệm tương tác, cho phép khách tham quan có thể trực tiếp tiếp
cận, khám phá lịch sử báo chí một cách sinh động và thú vị.
Bảo tàng còn thể hiện tính chuyên nghiệp thông qua việc số hóa và bảo quản
di sản. Các tư liệu, ấn phẩm báo chí được số hóa, lưu trữ với công nghệ hiện đại,
giúp bảo quản và dễ dàng tra cứu. Các chương trình số hóa này không chỉ giúp bảo
vệ những tài liệu gốc khỏi hư hỏng, mà còn mở rộng khả năng tiếp cận cho các nhà
nghiên cứu, sinh viên và công chúng.
Tính liên kết và hợp tác cũng là một đặc điểm nổi bật. Bảo tàng Báo chí Việt
Nam không hoạt động độc lập mà luôn chủ động kết nối với các cơ quan báo chí,
trường đại học, viện nghiên cứu trong và ngoài nước. Những hoạt động trao đổi,
triển lãm, hội thảo quốc tế giúp mở rộng tầm nhìn và nâng cao giá trị của di sản báo chí. 6
1.5. Thực trạng hoạt động của của bảo tang Báo chí Việt Nam
1.5.1. Nội dung, hình thức và phương thức trưng bày 1.5.1.1. Nội dung
Bảo tàng gồm 5 nội dung trưng bày, với từng giai đoạn lịch sử rõ ràng: Báo
chí Việt Nam giai đoạn 1865-1925; Báo chí Việt Nam giai đoạn 1925-1945; Báo
chí Việt Nam giai đoạn 1945-1954; Báo chí Việt Nam giai đoạn 1954-1975; Báo
chí Việt Nam giai đoạn 1975 đến nay .
Báo chí Việt Nam - một hành trình đầy bi tráng và vinh quang, được sinh ra
trong những điều kiện khắc nghiệt nhất của lịch sử, đã trở thành tiếng nói không
thể bị bức tử của dân tộc. Từ những trang giấy mỏng manh dưới ách thực dân cho
đến những ấn phẩm chiến đấu giữa rừng núi kháng chiến, báo chí Việt Nam đã viết
nên một tinh thần về sự bất khuất và ý chí. Giai Đoạn 1865-1925:
Trước năm 1858, Việt Nam đã tồn tại những hình thái thông tin sơ khai
nhưng chưa đủ điều kiện để phát triển một nền báo chí hiện đại. Sự kiện ra đời của
báo chí Việt Nam gắn liền với quá trình xâm lược của thực dân Pháp, một diễn
trình mang tính lịch sử và bi tráng. a 7
Năm 1865 là một dấu mốc quan trọng. Tờ Gia Định Báo ra đời dưới sự quản
lý của Trương Vĩnh Ký - một trí thức đa tài, là tia sáng đầu tiên của báo chí tiếng
Việt. Trong bối cảnh ách thống trị của thực dân Pháp, nơi mọi tiếng nói đều bị
kiểm duyệt gắt gao, tờ báo như một luồng gió mới len lỏi vào không gian bị kìm
kẹp. Gia Định Báo không chỉ là một tờ báo, mà còn là một di sản văn hóa, nó
mang trong mình câu chuyện về sự kiên cường của trí thức Việt Nam giữa làn sóng đô hộ.
Khi đô hộ Nam Kỳ, người Pháp là kẻ xâm lược mang theo những toan tính
chiến lược sâu xa. Báo chí trở thành một công cụ quan trọng trong kế hoạch thiết
lập và duy trì quyền thuộc địa. Nam Kỳ được xem là nôi sinh của báo chí Việt
Nam, bởi nơi đây tụ đủ ba yếu tố then chốt: ngôn ngữ, kỹ thuật in ấn và độc giả.
Từ những tờ báo công văn ban đầu, báo chí mở rộng nhanh chóng ra nhiều thể loại
phong phú. Bài Gia Định Báo (1865) mở đầu cho một loạt báo chí chuyên ngành
như Thông Loại Khóa Trình (văn hóa), Nông Cổ Mín Đàm (kinh tế), Nữ giới
chung (dành cho phụ nữ). Trước Thế chiến I, báo chí Nam Kỳ đã sử dụng ba phần
tư tổng báo chí cả nước. 8
Báo chí Bắc Kỳ phát triển chậm hơn, Tờ báo đầu tiên ở Bắc Kỳ là tờ: Đại
Nam Đồng Văn Nhật Báo (chữ Hán,1892), các tờ báo chữ Pháp, như tờ: Tương
Lai Bắc Kỳ, Tin Hải Phòng (Courier Hai Phong),…. Tuy nhiên, miền Bắc sở hữu
những lợi thế riêng: nền văn hóa sâu sắc, đội ngũ trí thức dồi dào và nhu cầu sử
dụng báo chí như công cụ đấu tranh văn hóa, chính trị mạnh mẽ.
Trung Kỳ cũng tăng dần hình thành dòng báo chí riêng, với tờ Tiếng Dân
(1927) của Huỳnh Thúc Kháng trở thành một dấu mốc quan trọng.
Những viên gạch đầu của báo chí của giai đoạn này mang một vẻ đẹp độc đáo
và tinh tế. Trước kỷ nguyên nhiếp ảnh, các trang báo được tô điểm bằng những
hình vẽ quảng cáo - một minh chứng sống động cho sự giao thoa văn hóa Đông - 9
Tây. Mỗi nét vẽ, mỗi hình ảnh đều là một câu chuyện, một góc nhìn về một xã hội đang chuyển mình.
Giai Đoạn 1925-1945: Ba Dòng Báo và Tiếng Nói Kháng Chiến
Bước sang giai đoạn 1925-1945, báo chí Việt Nam phân hóa thành ba dòng
chính, mỗi dòng là một chiến lược đấu tranh:
1. Báo chí của chí sĩ yêu nước: Những tờ báo không chỉ là phương tiện tuyên
truyền mà còn là vũ khí đấu tranh.
2. Báo chí trung lập: Tồn tại một cách công khai, nhưng vẫn giữ tinh thần dân tộc.
3. Báo chí cách mạng: Hoạt động bí mật, là tiếng nói của những người chiến đấu trong bóng tối. 10
Trong giai đoạn 1925-1926, Sài Gòn chứng kiến sự xuất hiện của một thế hệ
nhà báo - chính trị tài năng và dũng cảm. Những trí thức yêu nước như Nguyễn An
Ninh, Phan Văn Trường, Nguyễn Khánh Toàn, Trần Huy Liệu,... đã sáng lập các tờ
báo có tiếng vang như La Cloche Fêlée (Tiếng Chuông Rè), L'Annam, Người Nhà
Quê và Đông Pháp Thời Báo.
Mặc dù xuất hiện ở nước ngoài, tờ báo Thanh Niên do Nguyễn Ái Quốc sáng
lập được xem là tờ báo cách mạng đầu tiên, mở đường cho những hoạt động báo chí kháng chiến sau này.
Từ năm 1925 đến 1929, báo chí cách mạng chủ yếu hoạt động ở nước ngoài,
trải qua các địa điểm như Trung Quốc, Pháp và Thái Lan. Bước sang năm 1929,
phong trào cộng sản tại Việt Nam bắt đầu phát triển mạnh mẽ, kéo theo sự ra đời
của các tổ chức cộng sản và phong trào vô sản hóa.
Từ đó, mạng lưới báo chí cách mạng dần hình thành tại địa phương, tiêu biểu
như tờ Tạp chí Cộng Sản, Tạp chí Đỏ và Lao Động năm 1929. Đặc biệt, các hoạt
động báo chí cách mạng trong nhà tù đã khơi dậy một dòng báo chí bí mật, bất hợp
pháp nhưng giàu sức sống, gắn liền với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. 11
Từ 1939 đến 1945, bối cảnh chiến tranh và sự kiện Nhật Bản xâm nhập Đông
Dương đã tác động mạnh mẽ đến báo chí. Số lượng báo chí sụt giảm đáng kể, chỉ
còn 200 tờ vào năm 1945. Tuy nhiên, đây lại là giai đoạn báo chí cách mạng nở rộ
với những tờ báo mang tầm cỡ quốc gia như:
- Cờ Giải Phóng (1942): 28 số xuất bản trước 1945
- Việt Nam Độc Lập (1941) do Hồ Chí Minh sáng lập, tồn tại đến 1945 với hơn 200 số
- Cứu Quốc (1942) của Mặt trận Việt Minh
Tờ Le Nhà Quê của nhà báo Nguyễn Khánh Toàn trở thành biểu tượng của sự
phản kháng. Bị đình bản ngay từ số đầu tiên, nhưng tiếng nói chống thực dân của
tờ báo vẫn vang xa. Tờ Thanh Niên - được chép tay từng chữ - mở đầu cho dòng
báo chí cách mạng, còn tờ Le Paria (Người Cùng Khổ) ra đời ngày 1/4/1922 như
một tiếng thét của những người bị áp bức. 12
Giai Đoạn 1945-1954: Báo Chí Trong Ngọn Lửa Kháng Chiến
Trong không khí sôi sục của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, báo chí
cách mạng đã trỗi dậy như một sức mạnh tinh thần vô song, một vũ khí sắc bén
không kém gì súng đạn. Thời kỳ này chứng kiến sự ra đời của hệ thống thông tấn
và báo nói, là minh chứng hùng hồn cho tinh thần chiến đấu bất khuất của dân tộc.
Việt Nam Thông Tấn Xã ra đời như một ngọn hải đăng giữa bối cảnh chiến
tranh, trở thành nguồn thông tin chiến đấu quan trọng. Các cơ quan báo chí đã thể
hiện tinh thần quả cảm khi liên tục di chuyển từ Hà Nội lên vùng Việt Bắc, Cao
Bắc Lạng Hà Tuyên Thái. Đây không phải là một cuộc di chuyển đơn thuần về mặt
địa lý, mà còn là một hành động mang tính chiến lược, thể hiện sự tập trung sức
mạnh tinh thần của những người làm báo cách mạng.
Năm 1949 đánh dấu một mốc son trong lịch sử báo chí cách mạng với sự ra
đời của Trường đào tạo báo chí mang tên Huỳnh Thúc Kháng - một cái nôi nuôi
dưỡng những nhà báo yêu nước. Mặc dù chỉ tồn tại trong một khóa ngắn ngủi từ 13
4/4 đến 6/7/1949, nhưng trường đã trở thành biểu tượng của khát vọng và ý chí chiến đấu.
42 học viên may mắn được đào tạo bởi một đội ngũ giảng viên danh tiếng -
những cây bút lừng danh như Tú Mỡ, Xuân Diệu, Nam Cao, Võ Nguyên Giáp,....
Những con người này không chỉ là giảng viên, mà còn là những nhà văn hóa, chiến
sĩ cách mạng đã viết nên những trang sử vẻ vang của báo chí cách mạng Việt Nam.
Mỗi bài viết, mỗi dòng chữ của họ đều là những phát súng tinh thần, tiếp thêm sức
mạnh cho cuộc kháng chiến chống ngoại xâm.
Trường đào tạo báo chí Huỳnh Thúc Kháng trở thành biểu tượng của sự kế
thừa và phát huy truyền thống yêu nước, một minh chứng cho sức mạnh của tri
thức và ngòi bút trong cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc.
Giai Đoạn 1954-1975: Báo Chí Giữa Biển Lửa
Trong khoảng thời gian từ 1965 đến 1972, lịch sử Việt Nam chứng kiến
những trận ném bom dữ dội của không quân Mỹ - những cuộc tấn công không
ngừng nghỉ, không chọn lựa, nhằm xóa sổ ý chí quật cường của một dân tộc. Giữa
khung cảnh tang thương, đau khổ ấy, báo chí Việt Nam vẫn đứng vững như một
pháo đài tinh thần bất diệt. Mỗi trang báo, mỗi dòng chữ đều là một phát súng
chiến đấu, một tiếng hét không khoan nhượng trước sự xâm lăng. 14
Ngày 7 tháng 9 năm 1970 sẽ được ghi vào sử sách như một mốc son chói lọi
của nền báo chí cách mạng - ngày báo hình ra đời, mở ra một chương mới trong
không gian báo chí của dân tộc. Đó không chỉ là sự xuất hiện của một hình thức
báo chí mới, mà còn là sự khẳng định sức sáng tạo, khát vọng chiến đấu của một
dân tộc luôn biết vượt lên trên mọi khó khăn, thử thách. 15
Mỗi chữ viết đều toát lên khí phách quật cường, mỗi hình ảnh đều là một bản
tuyên ngôn không bao giờ khuất phục. Báo chí Việt Nam trở thành biểu tượng cho
sức mạnh của ngòi bút - một vũ khí tinh thần sắc bén hơn cả đạn dược, một ngọn
lửa bất diệt giữa khung trời chiến tranh.
Qua từng trang viết, báo chí đã không chỉ ghi chép lịch sử, mà còn là người
kiến tạo lịch sử. Đó là tiếng nói không thể bị bức tử, là minh chứng hùng hồn về
tinh thần dân tộc - một tinh thần mãi mãi vượt trên mọi thử thách, mãi mãi sáng
như những ánh sao giữa đêm đen. Giai đoạn từ 1975 - nay
Sự chuyển biến trong báo chí sau ngày giải phóng là một bước ngoặt quan
trọng trong lịch sử báo chí Việt Nam. Vào tháng 7 năm 1976, hai tổ chức nhà báo
từ hai miền đã chính thức hợp nhất: Hội Nhà báo Việt Nam (miền Bắc) và Hội nhà
báo yêu nước và dân chủ miền Nam Việt Nam. Sự kiện này không chỉ là sự thống
nhất về mặt tổ chức mà còn là sự thống nhất sâu sắc về nguyên tắc và định hướng hoạt động báo chí.
Quá trình sắp xếp lại hệ thống báo chí diễn ra có trọng tâm và nguyên tắc rõ
ràng. Đối với các tờ báo được xuất bản tại miền Nam trong giai đoạn chống Mỹ do
Chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam chủ trương, được phép duy trì hoạt động
bình thường. Riêng các ấn phẩm văn học, nghệ thuật và báo địa phương được
thống nhất theo mô hình và chuẩn mực của báo chí miền Bắc, tạo nên một hệ
thống truyền thông thống nhất, đồng bộ.
Từ năm 1990, báo chí Việt Nam bước vào giai đoạn đổi mới toàn diện về
quan điểm và thể chế. Đại hội Nhà báo Việt Nam lần thứ V năm 1989 đã đánh dấu
một bước chuyển quan trọng, dẫn đến việc ban hành Luật Báo chí 1990. Đây được
xem là một cột mốc trọng đại trong lịch sử báo chí đương đại của quốc gia, thể
hiện tầm nhìn chiến lược về vai trò của báo chí trong việc thông tin, tuyên truyền
và góp phần xây dựng đất nước trong giai đoạn đổi mới. Sự ra đời của luật này
đánh dấu sự trưởng thành và chuyên nghiệp hóa của ngành báo chí Việt Nam.
Sự hình thành và phát triển của các loại hình báo chí tại Việt Nam là một quá
trình lịch sử phản ánh sự chuyển mình của công nghệ báo chí - truyền thông và nhu
cầu thông tin của xã hội.
Báo in - loại hình báo chí đầu tiên tại Việt Nam - ra đời năm 1865, trong bối
cảnh đất nước đang chịu ảnh hưởng của chế độ thuộc địa. Các tờ báo in đầu tiên
như "Gia Định Báo" là cầu nối quan trọng giữa chính quyền và nhân dân, đồng
thời là phương tiện để truyền tải thông tin, tư tưởng dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt
của chính quyền thực dân. 16
Báo nói ra đời năm 1945, ngay trong những ngày đầu của cuộc Cách mạng
Tháng Tám, đánh dấu bước phát triển mới của báo chí Việt Nam. Với ưu thế về
khả năng lan tỏa nhanh chóng và tiếp cận được với nhiều đối tượng, báo nói trở
thành công cụ tuyên truyền và thông tin hiệu quả, đặc biệt là trong các giai đoạn cách mạng.
Năm 1970 chứng kiến sự ra đời của báo hình - một bước tiến quan trọng trong
ngành báo chí. Với sự phát triển của công nghệ truyền hình, báo hình mang đến
cho công chúng những hình ảnh sống động, trực quan về các sự kiện, góp phần tạo
nên một không gian thông tin đa chiều và sinh động hơn. 17
Bước sang năm 1997, báo điện tử xuất hiện, mở ra kỷ nguyên mới của báo chí
trong thời đại số. Các trang web tin tức, các nền tảng truyền thông trực tuyến đã
cách mạng hóa cách thức tiếp nhận và lan truyền thông tin. Tính tức thời, khả năng
tương tác và phạm vi tiếp cận rộng rãi đã làm thay đổi hoàn toàn bức tranh báo chí - truyền thông.
Sự phát triển của các loại hình báo chí - từ báo in, báo nói, báo hình đến báo
điện tử - không chỉ là câu chuyện về công nghệ, mà còn là câu chuyện về sự thích
ứng, sáng tạo và không ngừng đổi mới của báo chí Việt Nam trong từng giai đoạn
lịch sử. Mỗi loại hình báo chí đều mang trong mình những đặc trưng riêng, bổ sung
và hỗ trợ lẫn nhau, tạo nên một hệ sinh thái truyền thông phong phú, đa dạng, phục
vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu thông tin của người dân.
1.5.1.2. Hình thức và phương thức
Tại mỗi không gian trưng bày, một dòng thời gian (timeline) được thiết kế
tinh tế, như một mạch xuyên suốt kể chuyện về giai đoạn báo chí cụ thể. Nơi đây
tạo nên sự đối thoại giữa truyền thống và hiện đại: các hiện vật, tài liệu gốc được
trưng bày với nguyên vẹn giá trị lịch sử, song song đó là những màn hình video
hiện đại cho phép người xem tra cứu, khám phá sâu hơn về lịch sử báo chí một
cách sinh động và chi tiết.
Bảo tàng báo chí sở hữu một bộ sưu tập đồ sộ và vô cùng quý giá với hơn
20.000 hiện vật và tài liệu lịch sử, trong đó đáng chú ý là hơn 700 hiện vật và tài 18
liệu mang tính độc bản, hiếm có. Những di vật này đã trải qua quá trình nghiên
cứu, phân loại và thẩm định kỹ lưỡng trước khi được trưng bày, nhằm phản ánh
một cách trung thực và sâu sắc những chặng đường phát triển quan trọng của nền báo chí Việt Nam.
Toàn bộ bộ sưu tập tập trung vào không gian lịch sử báo chí từ năm 1865 cho
đến thời điểm hiện tại, được bố trí trên diện tích gần 1.500m2 với một giải pháp
trưng bày vô cùng sáng tạo và chuyên nghiệp. Các nhà nghiên cứu và nhân viên
bảo tàng đã tận dụng tối đa các giải pháp đồ họa trên đai vách, kết hợp với việc
trưng bày các hiện vật gốc và phục chế trong các tủ kính, bục trưng bày, giá kệ, và
các trục quay hiện đại. Hơn nữa, việc ứng dụng các công nghệ phát thanh, truyền
hình và số hóa đã giúp các hiện vật như được "sống dậy", mang đến trải nghiệm
sống động và chân thực cho người tham quan. 95% số báo được trưng bày là các tờ
báo gốc - những tài liệu quý giá mà các cán bộ đã âm thầm, kiên trì sưu tầm qua
nhiều ngày, nhiều tháng, thậm chí là nhiều năm. Công sức của những người này đã
góp phần bảo tồn và tôn vinh di sản báo chí vô giá của dân tộc. 19
Tại không gian trưng bày độc đáo của Bảo tàng, thu hút người xem đầu là
biểu tượng ngòi bút đặt trên sen, bút sen, bút ngòi bút làm từ vàng ròng biểu tượng
những gì viết ra quý như vàng ròng, thông điệp bút sắc lòng trong tâm sắc, là tâm
niệm người làm báo từ trước đến nay. Hai tờ báo Việt Nam - Gia Định Báo và
Thanh Niên - được tôn vinh trên bục hình viên kim cương 10 cánh, như một biểu
tượng của di sản báo chí vô giá. Bục trưng bày mang ẩn ý sâu sắc: những tờ báo
này là những viên kim cương quý giá của lịch sử báo chí, cần được gìn giữ với tất
cả sự trân trọng bởi giá trị văn hóa và lịch sử.
Không gian trưng bày như một hành trình xuyên suốt lịch sử báo chí, từ
những năm đầu tiên của báo chí vô sản, qua những bài viết của các nhà báo tiên
phong như Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Khánh Toàn, Huỳnh Thúc Kháng, cho đến
ngày đất nước hoàn toàn giải phóng.
Người xem được đưa vào những không gian sống động: "Hầm làm báo của
Báo Nhân Dân" giữa làn bom đạn, phòng tối tráng ảnh của Thông tấn xã Việt
Nam, chiếc máy quay Ngựa trời - chứng nhân của sự ra đời Truyền hình Việt Nam.
Những khẩu hiệu chiến đấu, những tấm thẻ nhà báo vượt qua sinh tử, tất cả đều
góp phần tạo nên một bảng sử hào hùng của báo chí trong những năm tháng chiến tranh.
Đến với tầng 2 hình thức trưng bày thay đổi (do sự sát nhập của các cơ quan
báo chí) không giống tầng 1 (theo biên niên lịch sử) mà đi theo câu chuyện báo chí
phản ánh các vấn đề nóng bỏng hiện nay: vấn đề vị an sinh và phát triển, phòng
chống tham nhũng và lãng phí, bảo vệ chủ quyền biển đảo quốc gia. Hệ thống báo
chí 63 tỉnh thành, mỗi địa phương có không gian trưng bày là trục xoay, cứ hai địa
phương là một màn hình nội dung, 63 tỉnh góp câu chuyện lịch sử báo chí đa dạng
của quốc gia. Hệ thống báo chí của các cơ quan báo chí lớn: Báo Nhân dân, Báo
Đài tiếng nói Việt Nam, báo Thông tấn xã, Hội Nhà báo và Truyền hình Việt Nam. 20