lOMoARcPSD| 61236129
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
******
BÁO CÁO
HỌC PHẦN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN
ĐỀ TÀI: HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
NHÓM : 05
LỚP HỌC PHẦN : KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN (07)
GIẢNG VIÊN : MAI LAN HƯƠNG
lOMoARcPSD| 61236129
Hà Nội - Ngày 30, tháng 4, năm 2024
HỌ VÀ TÊN CÁC THÀNH VIÊN TRONG NHÓM:
1. Trần Thu Uyên (trưởng nhóm)
2. Trần Vân Tuyết
3. Trần Hà Phương
4. Nguyễn Thị Mai
5. Nguyễn Ngọc Hà Linh
6. Thị Phương Thảo
7. Ngô Hoài Anh
8. Nguyễn Thị Trà Mi
9. Anh Đông
10. Nguyễn Đức Tài
11. Phạm Thị Hằng
12. i Thủy Tiên
lOMoARcPSD| 61236129
Mục lục
A. NỘI DUNG: ................................................................................................................................................. 1
a. Tạo điều kiện mở rộng thị trường, tiếp thu khoa học - công nghệ, vốn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
trong nước ........................................................................................................................................................ 3
b. Tạo cơ hội để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ................................................................................. 4
c.Tạo điều kiện để thúc đẩy hội nhập các lĩnh vực văn hóa, chính trị, củng cố quốc phòng an ninh ....... 5
2. Tác động tiêu cực của hội nhập kinh tế quốc tế ............................................................................................ 5
a. Làm gia tăng sự gay gắt cạnh tranh ........................................................................................................... 5
d. Các nước đang phát triển như nước ta phải đối mặt với nguy cơ chuyển dịch cơ cấu kinh tế tự
nhiên bất lợi ...................................................................................................................................................... 7
lOMoARcPSD| 61236129
A. NỘI DUNG:
I. Khái niệm và nội dung hội nhập kinh tế quốc tế 1. Khái niệm và sự cần thiết
khách quan hội nhập kinh tế quốc tế
a. Khái niệm
Hội nhập kinh tế quốc tế của một quốc gia là quá trình quốc gia đó thực hiện gắn
kết nền kinh tế của mình với nền kinh tế thế giới dựa trên schia sẻ lợi ích đồng thời
tuân thủ các chuẩn mực quốc tế chung. Các quốc gia thực hiện gắn kết bằng cách
phát triển kinh tế đối ngoại, thiết lập quan hệ kinh tế với các quốc gia và vùng lãnh
thổ, tham gia vào các tổ chức kinh tế trong khu vực, thế giới.
VD: Việt Nam đang là thành viên của ASEAN, WTO,..
b. nh tất yếu khách quan của hội nhập kinh tế quốc tế
Thứ nhất: Do xu thế khách quan trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế:
Toàn cầu hóa là quá trình tạo ra sự liên kết, phụ thuộc giữa các quốc gia trên quy mô
toàn cầu. Toàn cầu hoá diễn ra trên nhiều phương diện như: hội, kinh tế, chính
trị,... Toàn cầu hoá kinh tế xu thế nổi trội nhất; vừa trung tâm vừa sở
cũng là động lực thúc đẩy toàn cầu hoá các lĩnh vực khác.
Toàn cầu hóa kinh tế chính là sự gia tăng nhanh chóng các hoạt động kinh tế vượt
qua mọi quốc gia, khu vực; tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trong
sự vận động phát triển hướng tời nền kinh tế thế giới thống nhất.
Hội nhập kinh tế quốc tế trở thành tất yếu khách quan trong điệu kiện toàn cầu
hóa kinh tế, bởi: Trong toàn cầu hoá kinh tế, các yếu tố sản xuất được lưu thông trên
phạm vi toàn cầu. Do đó, nếu không hội nhập kinh tế quốc tế, các nước không thể
tự đảm bảo được các điều kiện cần thiết cho sản xuất trong nước. Hội nhập kinh tế
quốc tế tạo ra hội để các quốc gia giải quyết những vấn đề toàn cầu đã đang
xuất hiện ngày càng nhiều, tận dụng được các thành tựu của cuộc cách mạng công
nghiệp, biến nó thành động lực cho sự phát triển.
lOMoARcPSD| 61236129
Thứ hai: Hội nhập KTQT phương thức phát triển phổ biến của các
nước, nhất là các nước đang và kém phát triển trong điều kiện hiện nay: Với
các nước đang kém phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế hội để tiếp cận và
sử dụng được các nguồn lực bên ngoài như tài chính, khoa học công nghệ, kinh
nghiệm của các nước đphát triển kinh tế của mình và rút ngắn khoảng cách với các
ớc tiên tiến, khắc phục những nguy tụt hậu. Bên cạnh đó, hội nhập kinh tế quốc
tế giúp mở cửa thị trường, thu hút vốn, thúc đẩy công nghiệp hoá; tạo ra nhiều
hội việc làm mới nâng cao mức thu nhập của các tầng lớp dân cư. Các nước
đang kém phát triển cần phải chiến lược, các đối sách phù hợp để thích ứng
với quá trình toàn cầu hoá đa bình diện đầy nghịch để hạn chế đối mặt với
những rủi ro, thách thức do các TBCN đem lại như: gia tăng sự phụ thuộc do nợ
nước ngoài, bất bình đẳng trong trao đổi mậu dịch – thương mại giữa các nước đang
phát triển và phát triển. 2. Nội dung hội nhập kinh tế quốc tế
Thnhất: chuẩn bị các điều kiện để thực hiện hội nhập thành công. Với Việt Nam,
hội nhập là tất yếu nhưng không phải bằng mọi giá. Bởi vì, quá tnh hội nhập phải
được cân nhắc với lộ trình và cách thức tối ưu. Ngoài ra, quá trình này còn phải có
sự chuẩn bị các điều kiện trong nội bộ (ví dụ: các điều kiện sẵn sàng về duy, sự
tham gia của toàn xã hội, nguồn nhân lực, am hiểu về môi trường quốc tế,...) cũng
như các mối quan hệ quốc tế thích hợp để thực hiện hội nhập thành công.
Thhai thực hiện đa dạng các hình thức, các mức độ hội nhập kinh tế quốc tế.
Xét về mức độ: Hội nhập kinh tế quốc tế thể diễn ra theo nhiều mức độ. Tiến trình
hội nhập kinh tế quốc tế được chia thành các mức độ bản từ thấp đến cao: Thỏa
thuận thương mại ưu đãi (PTA), khu vực mậu dịch tự do (FTA), liên minh thuế quan
(CU),...Xét về hình thức: hội nhập kinh tế quốc tế toàn bộ các hoạt động kinh tế
đối ngoại gồm nhiều hình thức đa dạng: ngoại thương, đầu tư quốc tế, hợp tác quốc
tế,...
II. Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến quá trình phát triển của Việt
lOMoARcPSD| 61236129
Nam
Hội nhập kinh tế quốc tế quá trình gia tăng sự liên hệ giữa nền kinh tế Việt
Nam với nền kinh tế thế giới. Do đó, quá trình hội nhập này sẽ vừa tác động tích
cực và tiêu cực tới sự phát triển của Việt Nam.
1. Tác động tích cực của hội nhập kinh tế quốc tế
a. Tạo điều kiện mở rộng thị trường, tiếp thu khoa học - công nghệ, vốn, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế trong nước
Mở rộng thị trường để thúc đẩy thương mại phát triển, tạo điều kiện cho sản xuất
trong nước, tận dụng các lợi thế kinh tế của nước ta trong phân công lao động quốc
tế. Điều này phục vụ cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững và chuyển
đổi mô hình tăng trưởng sang chiều sâu với hiệu quả cao.
Hội nhập kinh tế quốc tế giúp thúc đẩy chuyển dịch cấu kinh tế theo hướng
hợp lí, hiện đại hiệu quả hơn như: Hình thành các lĩnh vực kinh tế mũi nhọn; nâng
cao hiệu quả năng lực cạnh tranh; góp phần cải thiện môi trường đầu kinh
doanh; tăng khả năng thu hút khoa học - công nghệ hiện đại và đầu tư bên ngoài.
( lần đầu tiên vào 2012, Việt Nam có xuất siêu )
Ngoài ra, hội nhập kinh tế quốc tế còn làm tăng hội cho các doanh nghiệp
trong nước tiếp cận thị trường quốc tế tđó nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế,
tạo hội cải thiện tiêu dùng trong nước, tăng hội tìm kiếm việc làm trong và
lOMoARcPSD| 61236129
ngoài nước. Bên cạnh đó, hội nhập còn tạo điều kiện để các nhà hoạch định chính
sách nắm bắt tốt hơn tình hình xu thế phát triển thế giới để xây dựng điều chỉnh
chiến lược phát triển hợp lý, đề ra chính sách phát triển phù hợp cho đất nước.
b. Tạo cơ hội để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Hội nhập kinh tế quốc tế tạo cơ hội để nâng cao trình độ nguồn nhân lực và tiềm
lực KHCN, nâng cao khả năng hấp thu KHCN hiện đại và tiếp thu CN mới. Ngoài
ra hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra nhiều hội để nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực ở Việt Nam:
Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo: Việt Nam đã tiếp tục hợp
tác với các chính phủ như Hàn Quốc, Đức, Italia và Nhật Bản trong việc triển
khai các dự án ODA trong lĩnh vực dạy nghề. Điều này giúp nâng cao chất
lượng giáo dục và đào tạo, từ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Công nhận văn bằng, chứng chỉ và kỹ năng nghề giữa các nước: Việt Nam đã
thực hiện đàm phán với các nhóm nước trong ASEAN để tiến tới công nhận
văn bằng, chứng chỉ kỹ năng nghề giữa các nước. Điều này giúp nguồn
nhân lực Việt Nam thể được công nhận sử dụng rộng rãi hơn trên thị
trường quốc tế.
Khuyến khích hợp tác và liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo ở nước ngoài:
Việt Nam đã hoàn thiện các chính sách, khuyến khích các sở giáo dục nghề
nghiệp trong nước mở rộng hợp tác, liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo
nước ngoài. Điều này giúp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, tđó
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Thu hút các nhà đầu nước ngoài phát triển sở giáo dục nghề nghiệp: Việt
Nam đã thu hút các nđầu tư nước ngoài phát triển sở giáo dục nghề
nghiệp, hợp tác đào tạo, mở văn phòng đại diện tại Việt Nam. Điều này giúp
nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, từ đó nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực.
lOMoARcPSD| 61236129
c.Tạo điều kiện để thúc đẩy hội nhập các lĩnh vực văn hóa, chính trị, củng cố
quốc phòng an ninh
Hội nhập kinh tế quốc tế là tiền đề cho hội nhập về văn hóa, tạo điều kiện để tiếp
thu những giá tr tinh hoa của thế giới, bổ sung những giá trị tiến bộ về văn hóa. Hội
nhập cách thức để mỗi quốc gia tìm thấy vị trí thích hợp trong trật tự quốc tế, nâng
cao vai trò, uy tín và vị thế quốc tế từ đó giúp đảm bảo an ninh quốc gia, duy trì hòa
bình, ổn định khu vực. Bên cạnh đó còn mở ra khả năng phối hợp các nỗ lực
nguồn lực các nước nhằm giải quyết những vấn đề quan tâm chung như : môi trường,
biến đổi khí hậu, chống tội phạm buôn lậu quốc tế.
Hội nhập kinh tế quốc tế cũng đã góp phần củng cố quốc phòng an ninh của
Việt Nam. Việc tham gia vào các hiệp định tổ chức quốc tế không chỉ giúp Việt
Nam nâng cao khả năng bảo vệ chủ quyền lợi ích quốc gia, còn giúp Việt Nam
thêm cơ hội để học hỏi và tiếp thu công nghệ, kỹ thuật quốc phòng tiên tiến.
nền quốc phòng ổn định, phát triển giúp Việt Nam thêm hội tập trung phát
triển kinh tế xã hội.
2. Tác động tiêu cực của hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ đưa ra những lợi ích, trái lại, nó cũng đt ra
nhiều rủi ro, bất lợi và thách thức.
a. Làm gia tăng sự gay gắt cạnh tranh
Nhiều doanh nghiệp ngành kinh tế của nước ta gặp khó khăn trong việc phát
triển, thậm chí phá sản, gây nhiều bất lợi về mặt kinh tế- xã hội.
VD: Sức hấp dẫn của thị trường 90 triệu dân đang thu hút nhiều nhà bán lnước
ngoài đẩy mạnh đầu tư vào Việt Nam. Không quá khi sử dụng từ "đổ bộ" để nói về
sự xuất hiện ngày càng nhiều DN bán lẻ và hàng Thái Lan tại thị trường Việt Nam,
qua các thương vụ chuyển nhượng lên tới con số hàng tỷ USD. Vừa mua lại hệ thống
siêu thị Big C Việt Nam (gồm 33 siêu thị, 10 cửa hàng tiện lợi và một trang thương
mại điện tử với giá 1,05 tỷ USD), Tập đoàn Central Group (Thái Lan) mở Trung
lOMoARcPSD| 61236129
tâm mua sắm Robinson, mua lại 49% cổ phần của hệ thống siêu thị điện máy Nguyễn
Kim…
b. m gia tăng sự phụ thuộc của nền kinh tế quốc gia vào nền kinh tế nước
ngoài
Nền kinh tế trong dễ bị tổn thương trước những biến động khôn lường về chính
trị, kinh tế và thị trường quốc tế.
VD: Việt Nam hiện nay đang mở rộng hợp tác kinh tế với các nước bên ngoài
nhưng lại quên đi việc bảo vệ thị trường bên trong nước, doanh nghiệp Việt Nam
lOMoARcPSD| 61236129
chưa tham gia được vào chuỗi giá trị toàn cầu => Việt Nam dễ bị sốc bởi những
yếu tố xảy ra bên ngoài nước. Bên cạnh đó, việc Việt Nam có thể hợp tác với doanh
nghiệp nước ngoài do nhiều lợi thế về tài nguyên, nguồn lao động vàng, ….Tuy
nhiên, khi chu kỳ dân số vàng qua đi => Doanh nghiệp nước ngoài sẽ cân nhắc
về việc chuyển ra khỏi Việt Nam đến với một đất nước thứ 3 mà ở đó đem lại cho họ
nhiều lợi ích hơn so với Việt Nam lúc ấy.
c. Gây ra sự phân phối không công bằng về lợi ích và rủi ro cho các nước, các
nhóm khác nhau trong xã hội
Khi kinh tế phát triển với tốc độ nhanh chóng thì khoảng cách giàu nghèo trong
hội càng lớn. Điều này dễ gây ra sự bất bình đẳng trong giữa người giàu và người
nghèo; từ đó thể làm gia tăng các tệ nạn hội, gây mất ổn định an ninh quốc gia.
d. Các nước đang phát triển như nước ta phải đối mặt với nguy cơ chuyển dịch
cơ cấu kinh tế tự nhiên bất lợi
Do thiên hướng tập trung vào các ngành sử dụng nhiều tài nguyên, nhiều sức
lao động nhưng có giá trị gia tăng thấp nên các nước đang phát triển có vị trí bất
lợi thua thiệt trong chuỗi giá trị toàn cầu. Các nước đang phát triển dễ trở thành bãi
thải công nghiệp và công nghệ thấp, bị cạn kiệt về tài nguyên thiên nhiên và hủy
hoại môi trường ở mức độ cao.
lOMoARcPSD| 61236129
e. Tạo ra một số thách thách đối với quyền lực nhà nước, chủ quyền quốc gia
phát sinh nhiều vấn đề phức tạp đối với việc duy trì an ninh và trật tự xã hội
VD: Năm 2018, Chính phủ Việt Nam mong muốn thử nghiệm tạo lập đặc khu bởi
Trung quốc đặc khu Thâm Quyến phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, ý kiến này đã
bị nhân dân phản đối mạnh mẽ bởi một số yếu tố không đảm bảo về chủ quyền
của Việt Nam. Việc thuê đất dài hạn với thời gian 70-99 năm là một vấn đề đáng lo
ngại việc quản của đặc khu không chặt chẽ gây ảnh hưởng rất lớn tới chủ
quyền quốc gia.
(đặc khu kinh tế quảng ninh)
f. Làm gia tăng nguy cơ bản sắc dân tộc và văn hóa Việt Nam bị xói mòn bởi sự
“xâm lăng” của văn hóa nước ngoài
Báo cáo chính trị tại Đại hội XII của Đảng đã xác định phương hướng, nhiệm vụ
của nước ta trong thời gian tới là: “Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phù
hợp với bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa hội
lOMoARcPSD| 61236129
nhập quốc tế”. Điều đó cho thấy công tác bảo tồn phát triển nền văn hóa Việt Nam
trong bối cảnh hội nhập quốc tế là việc làm hết sức quan trọng.
Hội nhập quốc tế toàn cầu hóa đã, đang sẽ còn tác động đến sự giao thoa
của nhiều nền văn hóa khác nhau. Thực tế đã xảy ra những mâu thuẫn, khi dẫn
đến xung đột giữa văn hóa phương Đông văn hóa phương Tây. Sự đối lập giữa
các nền văn hóa dễ tạo ra những căng thẳng về lối sống, tác động không tốt tới giá
trị đạo đức, truyền thống văn hóa dân tộc.
Trong thời kỳ đổi mới ng như trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, văn
hóa luôn được coi nền tảng tinh thần của hội; động lực và mục tiêu cho sự
phát triển chung của đất nước. Nền tảng tinh thần hội blung lay, mối quan hệ
chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với tiến bộ công bằng hội không được giải
quyết thấu đáo thì đó không phải là sự phát triển bền vững.
g. Có thể làm tăng nguy cơ gia tăng của tình trạng khủng bố quốc tế, buôn lậu,
tội phạm xuyên quốc gia, dịch bệnh, nhập cư bất hợp pháp
Thực tế, tình trạng buôn lậu đang diễn ra vô cùng nghiêm trọng ở Việt Nam.
VD: Năm 2022, sự việc 4 nữ tiếp viên hàng không của hãng hàng không Vietnam
Airline đã gây xôn xao luận vì mức độ nghiệm trọng của nó. Đây là 1 đường dây
buôn bán ma túy với quy mô lên đến 25 nghìn tỉ đồng, một con số quá lớn để có thể
tưởng tượng ra được.
III. Phương hướng nâng cao hiệu quả hi nhập kinh tế quốc tế trong phát triển
của Việt Nam.
Hội nhập kinh tế quốc tế chủ đtác động, liên quan trực tiếp tới toàn bộ
quá trình thực hiện định hướng và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Việt Nam. Với những tác động đa chiều của hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam cần
phải tính toán một cách cẩn thận để thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế thành công.
1. Nhận thức sâu sắc về thời cơ và thách thức do hội nhp kinh tế quốc tế mang
lại.
lOMoARcPSD| 61236129
a. Thời cơ
Hội nhập kinh tế quốc tế đã đóng góp quan trọng vào việc mở rộng và đưa quan
hệ của nước ta với các đối tác, song phương, đa phương đi vào chiều sâu, tạo thế đan
xen lợi ích, góp phần gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước;
giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ
an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội; quảng bá hình ảnh đất nước và con người
Việt Nam.
Hội nhập kinh tế quốc tế còn góp phần mở rộng thị trường xuất khẩu; tăng thu
hút đầu nước ngoài, viện trợ phát triển chính thức (ODA); tạo điều kiện cho ta
tiếp thu khoa hc công nghệ tiên tiến, đào tạo cán bộ quản lý và cán bộ kinh doanh;
duy trì hòa bình ổn định, tạo dựng môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế, nâng
cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Bên cạnh đó là tăng cường kết nối, thúc
đẩy hợp tác phát triển trong khu vực, phát triển kinh tế đất nước. VD: Tham
gia các FTA giúp Việt Nam mở rộng thị trường xuất - nhập khẩu, gia tăng thu hút
FDI, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế… Tham gia các sáng kiến hợp tác
khu vực, toàn cầu như: Tiểu vùng Công mở rộng (GMS), Công - Lan Thương
(MLC), Vành đai Con đường (BRI), Đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng
(JETP)… giúp Việt Nam hội thuận lợi phát triển kết nối các tuyến hành
lang kinh tế xuyên biên giới, đối phó với thách thức biến đổi khí hậu.
Hội nhập kinh tế cũng hội để Việt Nam đẩy mạnh quảng lịch sử, văn hóa,
ngôn ngữ Việt Nam ra thế giới…… Đồng thời, Việt Nam cũng hội tham gia
xử các vấn đnhân đạo trên trường quốc tế; tham gia đấu tranh với các hiện tượng,
hoạt động phi văn hóa, phản văn hóa, chống lại nhân loại...
Hơn nữa, hội nhập còn mở ra hội tiến nhanh, bắt kịp nhờ tận dụng động lực
phát triển từ CMCN 4.0, và lợi thế từ các FTAViệt Nam đang và sẽ tham gia để
đạt mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2045 đã được Đảng ta xác định là: Trở
thành nước phát triển, thu nhập cao. b. Thách thức
lOMoARcPSD| 61236129
Thnhất, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
về hội nhập kinh tế quốc tế nơi, lúc chưa được quán triệt kịp thời, đầy đủ
thực hiện nghiêm túc. Hội nhập kinh tế quốc tế còn bị tác động bởi cách tiếp cận
phiến diện, ngắn hạn cục bộ; do đó, chưa tận dụng được hết các hội ứng
phó hữu hiệu với các thách thức.
Thhai, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế quá trình đổi mới trong nước,
nhất đổi mới, hoàn thiện thể chế, trước hết hệ thống luật pháp, chế, chính
sách chưa được thực hiện một cách đồng bộ, chưa gắn kết chặt chẽ với quá trình
nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu bảo đảm quốc phòng - an ninh, bảo
vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, môi trường sinh thái, giữ gìn phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc
Ngoài ra, môi trường đầu tư kinh doanh Việt Nam còn nhiều khó khăn do
chế chính sách, thủ tục hành chính, các thể chế thị trường, điều kiện về hạ tầng, chất
lượng nguồn nhân lực…vẫn còn tắc nghẽn ở một s khâu .
Cuối cùng, Việt Nam có thể sẽ trở thành thị trường tiêu thụ hàng hóa nước ngoài,
bởi sự cạnh tranh gay gắt với các nước có trình độ phát triển cao hơn; trở thành bãi
thải công nghệ, do các nước phát triển tìm cách chuyển giao công nghệ cũ, lạc hậu
sang các nước đang phát triển; thu hút người tài gặp kkhăn do còn nhiều điều bất
cập; tỷ lđói nghèo cao, chênh lệch thu nhập tăng lên; i trường đang ngày càng
xấu đi, ngày càng bị ô nhiễm; yêu cầu về gìn giữ độc lập – an ninh
– chủ quyền và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc đặt ra nhiều thách thức mới…
2. Xây dựng chiến lược và lộ trình hội nhập kinh tế phù hợp
Giai đoạn đến năm 2030, hòa bình, hợp tác, liên kết và phát triển vẫn xu thế
lớn. Vì vậy, chúng ta cần đa dạng hóa thị trường xuất khẩu: Việt Nam không chỉ tập
trung vào việc xuất khẩu sản phẩm truyền thống như dệt may, nông sản còn đa
dạng hóa thị trường xuất khẩu, tập trung vào các ngành công nghiệp giá trị gia
tăng cao như điện tử, ô tô, và sản phẩm công nghệ cao.
lOMoARcPSD| 61236129
Hơn nữa, việc thúc đẩy đầu tư nước ngoài và hợp tác đối tác kinh tế là cần thiết:
Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi đthu hút đầu tư nước ngoài, đồng thời tăng cường
hợp tác với các đối tác kinh tế lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, các nước châu
Âu để mở rộng thị trường và tăng cường quyền lợi thương mại. Bên cạnh đó, nước
ta cần thúc đẩy cải cách cơ cấu và cải thiện môi trường kinh doanh:
Việt Nam tiếp tục thực hiện các cải cách cơ cấu để tăng cường sự cạnh tranh và tạo
điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, bao gồm cải thiện hạ tầng, giảm bớt thủ tục
hành chính, và tăng cường tranh luận cung ứng lao động.
Để nâng cao năng lực cạnh tranh, Việt Nam cần đầu tư vào đào tạo và phát triển
nguồn nhân lực để đáp ứng kịp yêu cầu của nền kinh tế quốc tế, đặc biệt là trong các
lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ thông tin, và ngôn ngữ nước ngoài.
3.Tích cực, chủ động tham gia vào các liên kết kinh tế quc tế và thực hiện đầy
đủ các cam kết của Việt Nam trong các liên kết kinh tế quốc tế khu vực Đặc
trưng của hội nhập kinh tế quốc tế là sự hình thành các liên kết quốc tế và khu vực
để tạo ra sân chơi chung cho các nước. Cho đến nay, Việt Nam đã tham gia hội nhập
trên cả 3 kênh: song phương (FTA), khu vực (RTA) Tổ chức Thương mại Thế
giới (WTO).
Vhợp tác song phương, nước ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hàng trăm
quốc gia, mở rộng quan hệ thương mại xuất khẩu hàng hóa, ký kết trên 90 hiệp
định thương mại song phương, hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, hiệp định
chống đánh thuế hai lần. Đồng thời, Việt Nam là thành viên tích cực của các tổ chức
kinh tế quốc tế và các diễn đàn hợp tác quốc tế như ASEAN, ASEM, APEC,... Năm
2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO, đánh dấu bước
tiến lớn trên hành trình đổi mới hội nhập quốc tế. Với cách thành viên,
Việt Nam vẫn luôn nỗ lực thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các cam kết và tích cực tham
gia các hoạt động trong khuôn khổ các tổ chức kinh tế quốc tế. Cụ thể, Việt Nam đã
thực hiện nhiều cải cách chính sách thương mại theo hướng minh bạch và tự do hóa
lOMoARcPSD| 61236129
thể hiện các cam kết đa phương về pháp luật thể chế cũng như mở cửa thị trường
hàng hóa và dịch v. Thực hiện các cam kết hội nhập sâu rộng nhằm xây dựng cộng
đồng ASEAN; nghiêm túc thực hiện cam kết hợp tác của APEC; đề xuất triển
khai sáng kiến, hoạt động của
ASEM;... Đồng thời, nước ta triển khai đầy đủ, nghiêm túc các cam kết hội nhập
kinh tế quốc tế, đặc biệt là về cắt giảm thuế quan, mở cửa dịch vụ, đầu tư,...Việc tích
cực tham gia vào các liên kết kinh tế quốc tế thực hiện nghiêm túc các cam kết
đã giúp củng cố vững chắc vai trò, vị thế và uy tín của nước ta trên trường thế giới.
Đồng thời, điều này cũng giúp tạo stin cậy, tôn trọng và nâng tầm hội nhập quốc
tế của Việt Nam.
4. Hoàn thiện thể chế kinh tế và luật pháp
Một trong những điều kiện của hội nhập kinh tế quốc tế là sự tương đồng về thể
chế kinh tế giữa các nước. Trên thế giới ngày nay, phần đông các quốc gia phát triển
theo hình kinh tế thị trường. Tuy nhiên mỗi quốc gia cách thức vận hành riêng.
Việt Nam chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng hội chủ
nghĩa. Điều này không hề cản trở nước ta trong hành trình hội nhập. Vấn đề nổi trội
nhất hiện nay chúng ta chưa kinh nghiệm trong hình kinh tế thị trường
kinh nghiệm trên trường quốc tế. Cùng với đó, chế thị trường của nước ta chưa
thực sự hoàn thiện; hthống luật pháp, chế, chính sách chưa đồng bộ chưa phù
hợp với điều kiện hội nhập; môi trường cạnh tranh còn nhiều hạn chế.
Vì vậy, để nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, cần đổi mới chế quản
lý của Nhà nước ngày càng minh bạch hơn, làm thông thoáng môi trường đầu tư và
kinh doanh trong nước để thúc đẩy mạnh mẽ đầu tư từ cả trong và ngoài nước. Nhà
nước cần đảm bảo chức năng định hướng, tạo môi trường, hỗ trợ giám sát hoạt
động của các chthể kinh tế. Đây chính sở then chốt để nước ta thể tham
gia vào tầng nấc cao hơn của chuỗi cung ứng và giá trị trong khu vực cũng như toàn
cầu. Đi đôi với đó, cần hoàn thiện cơ chế thị trường trên cơ sở đổi mới mạnh mẽ về
lOMoARcPSD| 61236129
sở hữu, coi trọng khu vực nhân doanh nghiệp nhà nước, hình thành đồng bộ
các loại thị trường gắn với việc tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng, công bằng
giữa các thành phần kinh tế.
Ngoài ra, Nhà nước cần rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật, nhất hệ thống
luật pháp liên quan đến hội nhập kinh tế như: đất đai, đầu tư, thương mại,... Hoàn
thiện pháp luật về tương trợ tư pháp phù hợp với luật pháp quốc tế; đồng thời phòng
ngừa, giảm thiểu các thách thức do tranh chấp quốc tế mang lại, nhất tranh chấp
về thương mại và đầu quốc tế. Khi tồn tại những tranh chấp, vướng mắc về kinh
tế, thương mại, cần xử hiệu quả để đảm bảo lợi ích cho người lao động
doanh nghiệp trong hội nhập. Thực hiện có kết quả cải cách thủ tục hành chính gắn
với việc xây dựng đội ngũ cán bộ nhà nước tinh thần phục vụ người dân doanh
nghiệp, góp phần giảm chi phí giao dịch trong thời đại hội nhập.
5. Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của nền kinh tế
a. Đối với doanh nghiệp
Doanh nghiệp phải chủ động nắm bắt hội, tận dụng tối đa sự hỗ trợ của nhà
nước để nâng cao năng lực cạnh tranh trong môi trường hội nhập, phát triển. Mỗi
doanh nhân cần thường xuyên cập nhật tri thức mới, những kỹ năng cần thiết để
đủ sức cạnh tranh trên thị trường tiếp cận kinh tế tri thức. Chủ động đổi mới
duy kinh doanh, nâng cao năng lực quản trị, năng suất, chất lượng, khả năng cạnh
tranh của sản phẩm, dịch vụ; chuẩn hóa sản xuất kinh doanh để đáp ứng các yêu cầu,
tiêu chí của các thị trường quốc tế. Đầu tư cho giai đoạn nghiên cứu để nắm bắt xu
hướng thay đổi nhu cầu của thị trường, giai đoạn thiết kế sản phẩm nhằm tạo ra nhiều
giá trị gia tăng.
Doanh nghiệp nên áp dụng các công nghệ phù hợp, vừa bảo đảm tạo ra các sản
phẩm chất lượng đáp ứng nhu cầu của thị trường, vừa chi phí sản xuất thấp.
Mỗi doanh nghiệp tăng cường liên kết, hợp tác kinh doanh phát triển các chuỗi sản
lOMoARcPSD| 61236129
xuất, chuỗi giá trị, nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm, dịch vụ, tiến tới nấc thang
cao hơn trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
Các doanh nghiệp cũng cần phải đổi mới hình sản xuất kinh doanh gắn với
mục tiêu phát triển bền vững: sản xuất sạch, xanh, tiết kiệm, sử dụng hiệu quả năng
lượng, bảo vmôi trường, hướng tới nhóm người yếu thế trong hội…Bên cạnh
đó, cần chú trọng phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng được yêu cầu đổi mới công
nghệ, quy trình sản xuất, kinh doanh, tham gia chuỗi kinh doanh toàn cầu với việc
đa dạng hóa các sản phẩm chất lượng cao, dịch vụ chất lượng quốc tế; tăng cường
đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp đáp ứng được yêu
cầu phát triển theo hướng trang bị những tri thức, kỹ năng mới. Các doanh nghiệp
cần phải học các cách thức kinh doanh trong bối cảnh mới: Học cách tìm kiếm
hội kinh doanh, học cách kết nối cùng chấp nhận cạnh tranh, học cách huy động vốn,
học cách quản trị sự bất định, học cách đồng hành với Chính phủ Học cách “đối
thoại pháp lý”.
b. Đối với Nhà nước
Nhà nước cần đẩy mạnh hoàn hiện môi trường pháp lý, cơ chế chính sách đối với
doanh nghiệp; ngăn chặn đẩy lùi các hành vi làm phát sinh chi pkhông chính
thức cho doanh nghiệp; cắt giảm, đơn giản hoá quy định về đầu tư, đất đai, xây dựng,
nộp thuế, bảo hiểm xã hội để nâng cao chỉ số môi trường kinh doanh của Việt Nam
đạt điểm strung bình của ASEAN 4. Bên cạnh đó không ngừng cải cách môi
trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; nghiên cứu nội dung của
các FTA thế hệ mới cải cách thể chế tạo dựng môi trường, chính sách kinh tế phù
hợp với nội dung của các hiệp định này.
Các ngân hàng cần đổi mới chế, chính sách tín dụng theo nguyên tắc thị trường;
cải tiến thủ tục cho vay, nhất là đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm rút ngắn thời
gian xét duyệt cho vay; tăng cường sự hỗ trợ về vốn, cơ chế, chính sách, luật pháp,
lOMoARcPSD| 61236129
xúc tiến thương mại, giáo dục-đào tạo, vấn về thiết bị, công nghệ hiện đại... cho
doanh nghiệp.
Nhà nước nên các chính sách hỗ trợ đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho
doanh nghiệp, trang bị học vấn ở trình độ, tri thức cơ bản cho các chủ doanh nghiệp,
giám đốc, cán bộ quản lý doanh nghiệp và người lao động. Tạo môi trường khuyến
khích, hình thành, phát triển liên kết doanh nghiệp; tăng cường liên kết, hợp tác theo
chiều dọc, chiều ngang; xác lập quan hệ bạn hàng quan hệ đối tác chiến lược
nhằm phát triển xuất khẩu về lâu dài.
Nước ta nên tập trung phát triển nhanh, chuyên sâu một số ngành công nghiệp
nền tảng, ngành chiến lược lợi thế cạnh tranh; tạo điều kiện hình thành các tập
đoàn kinh tế lớn trong nước trong lĩnh vực công nghiệp có vai trò dẫn dắt phát triển
ngành và có khả năng cạnh tranh trên thị trường khu vực và thế giới…
6. Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ của Việt Nam
Nền kinh tế độc lập tự chủ là nền kinh tế không bị lệ thuộc, phụ thuộc vào nước
khác, người khác, hoặc vào một tổ chức kinh tế nào đó về đường lối, chính sách phát
triển, không bị bất cứ ai dùng những điều kiện kinh tế, tài chính, thương mại, viện
trợ… để áp đặt, khống chế, làm tổn hại chủ quyền quốc gia lợi ích bản của dân
tộc.
Xây dựng nền kinh tế tự chủ phải trên cơ sở làm chủ công nghệ và chủ động, tích
cực hội nhập, đa dạng hoá thị trường, nâng cao khả năng thích ứng của nền kinh tế.
Để xây dựng thành công nền kinh tế độc lập, tự chủ đi đôi với tích cực và chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi Việt Nam phải thực hiện một số biện pháp sau đây.
Thứ nhất: hoàn thiện, bổ sung đường lối chung đường lối kinh tế, xây dựng
và phát triển đất nước.
Thứ hai: đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. đây nhiệm vụ
trọng tâm nhằm xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, xây dựng sở vật chất
cho chủ nghĩa xã hội, giúp Việt Nam đi tắt, đón đầu, tránh được nguy cơ tụt

Preview text:

lOMoAR cPSD| 61236129
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN ****** BÁO CÁO
HỌC PHẦN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN
ĐỀ TÀI: HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM NHÓM : 05
LỚP HỌC PHẦN : KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN (07)
GIẢNG VIÊN : MAI LAN HƯƠNG lOMoAR cPSD| 61236129
Hà Nội - Ngày 30, tháng 4, năm 2024
HỌ VÀ TÊN CÁC THÀNH VIÊN TRONG NHÓM:
1. Trần Thu Uyên (trưởng nhóm) 2. Trần Vân Tuyết 3. Trần Hà Phương 4. Nguyễn Thị Mai 5. Nguyễn Ngọc Hà Linh 6. Lê Thị Phương Thảo 7. Ngô Hoài Anh 8. Nguyễn Thị Trà Mi 9. Võ Anh Đông 10. Nguyễn Đức Tài 11. Phạm Thị Hằng 12. Bùi Thủy Tiên lOMoAR cPSD| 61236129 Mục lục
A. NỘI DUNG: ................................................................................................................................................. 1
a. Tạo điều kiện mở rộng thị trường, tiếp thu khoa học - công nghệ, vốn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
trong nước ........................................................................................................................................................ 3
b. Tạo cơ hội để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ................................................................................. 4
c.Tạo điều kiện để thúc đẩy hội nhập các lĩnh vực văn hóa, chính trị, củng cố quốc phòng an ninh ....... 5
2. Tác động tiêu cực của hội nhập kinh tế quốc tế ............................................................................................ 5
a. Làm gia tăng sự gay gắt cạnh tranh ........................................................................................................... 5
d. Các nước đang phát triển như nước ta phải đối mặt với nguy cơ chuyển dịch cơ cấu kinh tế tự
nhiên bất lợi ...................................................................................................................................................... 7 lOMoAR cPSD| 61236129 A. NỘI DUNG:
I. Khái niệm và nội dung hội nhập kinh tế quốc tế 1. Khái niệm và sự cần thiết

khách quan hội nhập kinh tế quốc tế a. Khái niệm
Hội nhập kinh tế quốc tế của một quốc gia là quá trình quốc gia đó thực hiện gắn
kết nền kinh tế của mình với nền kinh tế thế giới dựa trên sự chia sẻ lợi ích đồng thời
tuân thủ các chuẩn mực quốc tế chung. Các quốc gia thực hiện gắn kết bằng cách
phát triển kinh tế đối ngoại, thiết lập quan hệ kinh tế với các quốc gia và vùng lãnh
thổ, tham gia vào các tổ chức kinh tế trong khu vực, thế giới.
VD: Việt Nam đang là thành viên của ASEAN, WTO,..
b. Tính tất yếu khách quan của hội nhập kinh tế quốc tế
Thứ nhất: Do xu thế khách quan trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế:
Toàn cầu hóa là quá trình tạo ra sự liên kết, phụ thuộc giữa các quốc gia trên quy mô
toàn cầu. Toàn cầu hoá diễn ra trên nhiều phương diện như: xã hội, kinh tế, chính
trị,... Toàn cầu hoá kinh tế là xu thế nổi trội nhất; vừa là trung tâm vừa là cơ sở và
cũng là động lực thúc đẩy toàn cầu hoá các lĩnh vực khác.
Toàn cầu hóa kinh tế chính là sự gia tăng nhanh chóng các hoạt động kinh tế vượt
qua mọi quốc gia, khu vực; tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trong
sự vận động phát triển hướng tời nền kinh tế thế giới thống nhất.
Hội nhập kinh tế quốc tế trở thành tất yếu khách quan trong điệu kiện toàn cầu
hóa kinh tế, bởi: Trong toàn cầu hoá kinh tế, các yếu tố sản xuất được lưu thông trên
phạm vi toàn cầu. Do đó, nếu không hội nhập kinh tế quốc tế, các nước không thể
tự đảm bảo được các điều kiện cần thiết cho sản xuất trong nước. Hội nhập kinh tế
quốc tế tạo ra cơ hội để các quốc gia giải quyết những vấn đề toàn cầu đã và đang
xuất hiện ngày càng nhiều, tận dụng được các thành tựu của cuộc cách mạng công
nghiệp, biến nó thành động lực cho sự phát triển. lOMoAR cPSD| 61236129
Thứ hai: Hội nhập KTQT là phương thức phát triển phổ biến của các
nước, nhất là các nước đang và kém phát triển trong điều kiện hiện nay: Với
các nước đang và kém phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế là cơ hội để tiếp cận và
sử dụng được các nguồn lực bên ngoài như tài chính, khoa học – công nghệ, kinh
nghiệm của các nước để phát triển kinh tế của mình và rút ngắn khoảng cách với các
nước tiên tiến, khắc phục những nguy cơ tụt hậu. Bên cạnh đó, hội nhập kinh tế quốc
tế giúp mở cửa thị trường, thu hút vốn, thúc đẩy công nghiệp hoá; tạo ra nhiều cơ
hội việc làm mới và nâng cao mức thu nhập của các tầng lớp dân cư. Các nước
đang và kém phát triển cần phải có chiến lược, các đối sách phù hợp để thích ứng
với quá trình toàn cầu hoá đa bình diện và đầy nghịch lý để hạn chế đối mặt với
những rủi ro, thách thức do các TBCN đem lại như: gia tăng sự phụ thuộc do nợ
nước ngoài, bất bình đẳng trong trao đổi mậu dịch – thương mại giữa các nước đang
phát triển và phát triển. 2. Nội dung hội nhập kinh tế quốc tế
Thứ nhất: chuẩn bị các điều kiện để thực hiện hội nhập thành công. Với Việt Nam,
hội nhập là tất yếu nhưng không phải bằng mọi giá. Bởi vì, quá trình hội nhập phải
được cân nhắc với lộ trình và cách thức tối ưu. Ngoài ra, quá trình này còn phải có
sự chuẩn bị các điều kiện trong nội bộ (ví dụ: các điều kiện sẵn sàng về tư duy, sự
tham gia của toàn xã hội, nguồn nhân lực, am hiểu về môi trường quốc tế,...) cũng
như các mối quan hệ quốc tế thích hợp để thực hiện hội nhập thành công.
Thứ hai thực hiện đa dạng các hình thức, các mức độ hội nhập kinh tế quốc tế.
Xét về mức độ: Hội nhập kinh tế quốc tế có thể diễn ra theo nhiều mức độ. Tiến trình
hội nhập kinh tế quốc tế được chia thành các mức độ cơ bản từ thấp đến cao: Thỏa
thuận thương mại ưu đãi (PTA), khu vực mậu dịch tự do (FTA), liên minh thuế quan
(CU),...Xét về hình thức: hội nhập kinh tế quốc tế là toàn bộ các hoạt động kinh tế
đối ngoại gồm nhiều hình thức đa dạng: ngoại thương, đầu tư quốc tế, hợp tác quốc tế,...
II. Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến quá trình phát triển của Việt lOMoAR cPSD| 61236129 Nam
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình gia tăng sự liên hệ giữa nền kinh tế Việt
Nam với nền kinh tế thế giới. Do đó, quá trình hội nhập này sẽ vừa tác động tích
cực và tiêu cực tới sự phát triển của Việt Nam.
1. Tác động tích cực của hội nhập kinh tế quốc tế
a. Tạo điều kiện mở rộng thị trường, tiếp thu khoa học - công nghệ, vốn, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế trong nước
Mở rộng thị trường để thúc đẩy thương mại phát triển, tạo điều kiện cho sản xuất
trong nước, tận dụng các lợi thế kinh tế của nước ta trong phân công lao động quốc
tế. Điều này phục vụ cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững và chuyển
đổi mô hình tăng trưởng sang chiều sâu với hiệu quả cao.
Hội nhập kinh tế quốc tế giúp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
hợp lí, hiện đại và hiệu quả hơn như: Hình thành các lĩnh vực kinh tế mũi nhọn; nâng
cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh; góp phần cải thiện môi trường đầu tư kinh
doanh; tăng khả năng thu hút khoa học - công nghệ hiện đại và đầu tư bên ngoài.
( lần đầu tiên vào 2012, Việt Nam có xuất siêu )
Ngoài ra, hội nhập kinh tế quốc tế còn làm tăng cơ hội cho các doanh nghiệp
trong nước tiếp cận thị trường quốc tế từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế,
tạo cơ hội cải thiện tiêu dùng trong nước, tăng cơ hội tìm kiếm việc làm trong và lOMoAR cPSD| 61236129
ngoài nước. Bên cạnh đó, hội nhập còn tạo điều kiện để các nhà hoạch định chính
sách nắm bắt tốt hơn tình hình và xu thế phát triển thế giới để xây dựng và điều chỉnh
chiến lược phát triển hợp lý, đề ra chính sách phát triển phù hợp cho đất nước.
b. Tạo cơ hội để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Hội nhập kinh tế quốc tế tạo cơ hội để nâng cao trình độ nguồn nhân lực và tiềm
lực KHCN, nâng cao khả năng hấp thu KHCN hiện đại và tiếp thu CN mới. Ngoài
ra hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra nhiều cơ hội để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam:
• Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo: Việt Nam đã tiếp tục hợp
tác với các chính phủ như Hàn Quốc, Đức, Italia và Nhật Bản trong việc triển
khai các dự án ODA trong lĩnh vực dạy nghề. Điều này giúp nâng cao chất
lượng giáo dục và đào tạo, từ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
• Công nhận văn bằng, chứng chỉ và kỹ năng nghề giữa các nước: Việt Nam đã
thực hiện đàm phán với các nhóm nước trong ASEAN để tiến tới công nhận
văn bằng, chứng chỉ và kỹ năng nghề giữa các nước. Điều này giúp nguồn
nhân lực Việt Nam có thể được công nhận và sử dụng rộng rãi hơn trên thị trường quốc tế.
• Khuyến khích hợp tác và liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo ở nước ngoài:
Việt Nam đã hoàn thiện các chính sách, khuyến khích các cơ sở giáo dục nghề
nghiệp trong nước mở rộng hợp tác, liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo ở
nước ngoài. Điều này giúp nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, từ đó
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
• Thu hút các nhà đầu tư nước ngoài phát triển cơ sở giáo dục nghề nghiệp: Việt
Nam đã thu hút các nhà đầu tư nước ngoài phát triển cơ sở giáo dục nghề
nghiệp, hợp tác đào tạo, mở văn phòng đại diện tại Việt Nam. Điều này giúp
nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, từ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. lOMoAR cPSD| 61236129
c.Tạo điều kiện để thúc đẩy hội nhập các lĩnh vực văn hóa, chính trị, củng cố quốc phòng an ninh
Hội nhập kinh tế quốc tế là tiền đề cho hội nhập về văn hóa, tạo điều kiện để tiếp
thu những giá trị tinh hoa của thế giới, bổ sung những giá trị tiến bộ về văn hóa. Hội
nhập là cách thức để mỗi quốc gia tìm thấy vị trí thích hợp trong trật tự quốc tế, nâng
cao vai trò, uy tín và vị thế quốc tế từ đó giúp đảm bảo an ninh quốc gia, duy trì hòa
bình, ổn định khu vực. Bên cạnh đó còn mở ra khả năng phối hợp các nỗ lực và
nguồn lực các nước nhằm giải quyết những vấn đề quan tâm chung như : môi trường,
biến đổi khí hậu, chống tội phạm buôn lậu quốc tế.
Hội nhập kinh tế quốc tế cũng đã góp phần củng cố quốc phòng an ninh của
Việt Nam. Việc tham gia vào các hiệp định và tổ chức quốc tế không chỉ giúp Việt
Nam nâng cao khả năng bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia, mà còn giúp Việt Nam
có thêm cơ hội để học hỏi và tiếp thu công nghệ, kỹ thuật quốc phòng tiên tiến. Có
nền quốc phòng ổn định, phát triển giúp Việt Nam có thêm cơ hội tập trung phát triển kinh tế xã hội.
2. Tác động tiêu cực của hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ đưa ra những lợi ích, trái lại, nó cũng đặt ra
nhiều rủi ro, bất lợi và thách thức.
a. Làm gia tăng sự gay gắt cạnh tranh
Nhiều doanh nghiệp và ngành kinh tế của nước ta gặp khó khăn trong việc phát
triển, thậm chí phá sản, gây nhiều bất lợi về mặt kinh tế- xã hội.
VD: Sức hấp dẫn của thị trường 90 triệu dân đang thu hút nhiều nhà bán lẻ nước
ngoài đẩy mạnh đầu tư vào Việt Nam. Không quá khi sử dụng từ "đổ bộ" để nói về
sự xuất hiện ngày càng nhiều DN bán lẻ và hàng Thái Lan tại thị trường Việt Nam,
qua các thương vụ chuyển nhượng lên tới con số hàng tỷ USD. Vừa mua lại hệ thống
siêu thị Big C Việt Nam (gồm 33 siêu thị, 10 cửa hàng tiện lợi và một trang thương
mại điện tử với giá 1,05 tỷ USD), Tập đoàn Central Group (Thái Lan) mở Trung lOMoAR cPSD| 61236129
tâm mua sắm Robinson, mua lại 49% cổ phần của hệ thống siêu thị điện máy Nguyễn Kim…
b. Làm gia tăng sự phụ thuộc của nền kinh tế quốc gia vào nền kinh tế nước ngoài
Nền kinh tế trong dễ bị tổn thương trước những biến động khôn lường về chính
trị, kinh tế và thị trường quốc tế.
VD: Việt Nam hiện nay đang mở rộng hợp tác kinh tế với các nước bên ngoài
nhưng lại quên đi việc bảo vệ thị trường bên trong nước, doanh nghiệp Việt Nam lOMoAR cPSD| 61236129
chưa tham gia được vào chuỗi giá trị toàn cầu => Việt Nam dễ bị sốc bởi những
yếu tố xảy ra bên ngoài nước. Bên cạnh đó, việc Việt Nam có thể hợp tác với doanh
nghiệp nước ngoài là do có nhiều lợi thế về tài nguyên, nguồn lao động vàng, ….Tuy
nhiên, khi mà chu kỳ dân số vàng qua đi => Doanh nghiệp nước ngoài sẽ cân nhắc
về việc chuyển ra khỏi Việt Nam đến với một đất nước thứ 3 mà ở đó đem lại cho họ
nhiều lợi ích hơn so với Việt Nam lúc ấy.
c. Gây ra sự phân phối không công bằng về lợi ích và rủi ro cho các nước, các
nhóm khác nhau trong xã hội
Khi kinh tế phát triển với tốc độ nhanh chóng thì khoảng cách giàu nghèo trong
xã hội càng lớn. Điều này dễ gây ra sự bất bình đẳng trong giữa người giàu và người
nghèo; từ đó có thể làm gia tăng các tệ nạn xã hội, gây mất ổn định an ninh quốc gia.
d. Các nước đang phát triển như nước ta phải đối mặt với nguy cơ chuyển dịch
cơ cấu kinh tế tự nhiên bất lợi
Do thiên hướng tập trung vào các ngành sử dụng nhiều tài nguyên, nhiều sức
lao động nhưng có giá trị gia tăng thấp nên các nước đang phát triển có vị trí bất
lợi thua thiệt trong chuỗi giá trị toàn cầu. Các nước đang phát triển dễ trở thành bãi
thải công nghiệp và công nghệ thấp, bị cạn kiệt về tài nguyên thiên nhiên và hủy
hoại môi trường ở mức độ cao. lOMoAR cPSD| 61236129
e. Tạo ra một số thách thách đối với quyền lực nhà nước, chủ quyền quốc gia
và phát sinh nhiều vấn đề phức tạp đối với việc duy trì an ninh và trật tự xã hội
VD: Năm 2018, Chính phủ Việt Nam mong muốn thử nghiệm tạo lập đặc khu bởi
Trung quốc có đặc khu Thâm Quyến phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, ý kiến này đã
bị nhân dân phản đối mạnh mẽ bởi có một số yếu tố không đảm bảo về chủ quyền
của Việt Nam. Việc thuê đất dài hạn với thời gian 70-99 năm là một vấn đề đáng lo
ngại vì việc quản lý của đặc khu là không chặt chẽ gây ảnh hưởng rất lớn tới chủ quyền quốc gia.
(đặc khu kinh tế quảng ninh)
f. Làm gia tăng nguy cơ bản sắc dân tộc và văn hóa Việt Nam bị xói mòn bởi sự
“xâm lăng” của văn hóa nước ngoài
Báo cáo chính trị tại Đại hội XII của Đảng đã xác định phương hướng, nhiệm vụ
của nước ta trong thời gian tới là: “Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phù
hợp với bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội lOMoAR cPSD| 61236129
nhập quốc tế”. Điều đó cho thấy công tác bảo tồn và phát triển nền văn hóa Việt Nam
trong bối cảnh hội nhập quốc tế là việc làm hết sức quan trọng.
Hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa đã, đang và sẽ còn tác động đến sự giao thoa
của nhiều nền văn hóa khác nhau. Thực tế đã xảy ra những mâu thuẫn, có khi dẫn
đến xung đột giữa văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây. Sự đối lập giữa
các nền văn hóa dễ tạo ra những căng thẳng về lối sống, tác động không tốt tới giá
trị đạo đức, truyền thống văn hóa dân tộc.
Trong thời kỳ đổi mới cũng như trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, văn
hóa luôn được coi là nền tảng tinh thần của xã hội; là động lực và mục tiêu cho sự
phát triển chung của đất nước. Nền tảng tinh thần xã hội bị lung lay, mối quan hệ
chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội không được giải
quyết thấu đáo thì đó không phải là sự phát triển bền vững.
g. Có thể làm tăng nguy cơ gia tăng của tình trạng khủng bố quốc tế, buôn lậu,
tội phạm xuyên quốc gia, dịch bệnh, nhập cư bất hợp pháp…
Thực tế, tình trạng buôn lậu đang diễn ra vô cùng nghiêm trọng ở Việt Nam.
VD: Năm 2022, sự việc 4 nữ tiếp viên hàng không của hãng hàng không Vietnam
Airline đã gây xôn xao dư luận vì mức độ nghiệm trọng của nó. Đây là 1 đường dây
buôn bán ma túy với quy mô lên đến 25 nghìn tỉ đồng, một con số quá lớn để có thể
tưởng tượng ra được.
III. Phương hướng nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế trong phát triển của Việt Nam.
Hội nhập kinh tế quốc tế là chủ đề có tác động, liên quan trực tiếp tới toàn bộ
quá trình thực hiện định hướng và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Việt Nam. Với những tác động đa chiều của hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam cần
phải tính toán một cách cẩn thận để thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế thành công.
1. Nhận thức sâu sắc về thời cơ và thách thức do hội nhập kinh tế quốc tế mang lại. lOMoAR cPSD| 61236129 a. Thời cơ
Hội nhập kinh tế quốc tế đã đóng góp quan trọng vào việc mở rộng và đưa quan
hệ của nước ta với các đối tác, song phương, đa phương đi vào chiều sâu, tạo thế đan
xen lợi ích, góp phần gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước;
giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ
an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội; quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam.
Hội nhập kinh tế quốc tế còn góp phần mở rộng thị trường xuất khẩu; tăng thu
hút đầu tư nước ngoài, viện trợ phát triển chính thức (ODA); tạo điều kiện cho ta
tiếp thu khoa học công nghệ tiên tiến, đào tạo cán bộ quản lý và cán bộ kinh doanh;
duy trì hòa bình ổn định, tạo dựng môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế, nâng
cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Bên cạnh đó là tăng cường kết nối, thúc
đẩy hợp tác và phát triển trong khu vực, phát triển kinh tế đất nước. VD: Tham
gia các FTA giúp Việt Nam mở rộng thị trường xuất - nhập khẩu, gia tăng thu hút
FDI, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế… Tham gia các sáng kiến hợp tác
khu vực, toàn cầu như: Tiểu vùng Mê Công mở rộng (GMS), Mê Công - Lan Thương
(MLC), Vành đai và Con đường (BRI), Đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng
(JETP)… giúp Việt Nam có cơ hội thuận lợi phát triển và kết nối các tuyến hành
lang kinh tế xuyên biên giới, đối phó với thách thức biến đổi khí hậu.
Hội nhập kinh tế cũng là cơ hội để Việt Nam đẩy mạnh quảng bá lịch sử, văn hóa,
ngôn ngữ Việt Nam ra thế giới…… Đồng thời, Việt Nam cũng có cơ hội tham gia
xử lý các vấn đề nhân đạo trên trường quốc tế; tham gia đấu tranh với các hiện tượng,
hoạt động phi văn hóa, phản văn hóa, chống lại nhân loại...
Hơn nữa, hội nhập còn mở ra cơ hội tiến nhanh, bắt kịp nhờ tận dụng động lực
phát triển từ CMCN 4.0, và lợi thế từ các FTA mà Việt Nam đang và sẽ tham gia để
đạt mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2045 đã được Đảng ta xác định là: Trở
thành nước phát triển, thu nhập cao. b. Thách thức lOMoAR cPSD| 61236129
Thứ nhất, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
về hội nhập kinh tế quốc tế có nơi, có lúc chưa được quán triệt kịp thời, đầy đủ và
thực hiện nghiêm túc. Hội nhập kinh tế quốc tế còn bị tác động bởi cách tiếp cận
phiến diện, ngắn hạn và cục bộ; do đó, chưa tận dụng được hết các cơ hội và ứng
phó hữu hiệu với các thách thức.
Thứ hai, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và quá trình đổi mới ở trong nước,
nhất là đổi mới, hoàn thiện thể chế, trước hết là hệ thống luật pháp, cơ chế, chính
sách chưa được thực hiện một cách đồng bộ, chưa gắn kết chặt chẽ với quá trình
nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu bảo đảm quốc phòng - an ninh, bảo
vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, môi trường sinh thái, giữ gìn và phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc
Ngoài ra, môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam còn nhiều khó khăn do cơ
chế chính sách, thủ tục hành chính, các thể chế thị trường, điều kiện về hạ tầng, chất
lượng nguồn nhân lực…vẫn còn tắc nghẽn ở một số khâu .
Cuối cùng, Việt Nam có thể sẽ trở thành thị trường tiêu thụ hàng hóa nước ngoài,
bởi sự cạnh tranh gay gắt với các nước có trình độ phát triển cao hơn; trở thành bãi
thải công nghệ, do các nước phát triển tìm cách chuyển giao công nghệ cũ, lạc hậu
sang các nước đang phát triển; thu hút người tài gặp khó khăn do còn nhiều điều bất
cập; tỷ lệ đói nghèo cao, chênh lệch thu nhập tăng lên; môi trường đang ngày càng
xấu đi, ngày càng bị ô nhiễm; yêu cầu về gìn giữ độc lập – an ninh
– chủ quyền và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc đặt ra nhiều thách thức mới…
2. Xây dựng chiến lược và lộ trình hội nhập kinh tế phù hợp
Giai đoạn đến năm 2030, hòa bình, hợp tác, liên kết và phát triển vẫn là xu thế
lớn. Vì vậy, chúng ta cần đa dạng hóa thị trường xuất khẩu: Việt Nam không chỉ tập
trung vào việc xuất khẩu sản phẩm truyền thống như dệt may, nông sản mà còn đa
dạng hóa thị trường xuất khẩu, tập trung vào các ngành công nghiệp có giá trị gia
tăng cao như điện tử, ô tô, và sản phẩm công nghệ cao. lOMoAR cPSD| 61236129
Hơn nữa, việc thúc đẩy đầu tư nước ngoài và hợp tác đối tác kinh tế là cần thiết:
Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư nước ngoài, đồng thời tăng cường
hợp tác với các đối tác kinh tế lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, và các nước châu
Âu để mở rộng thị trường và tăng cường quyền lợi thương mại. Bên cạnh đó, nước
ta cần thúc đẩy cải cách cơ cấu và cải thiện môi trường kinh doanh:
Việt Nam tiếp tục thực hiện các cải cách cơ cấu để tăng cường sự cạnh tranh và tạo
điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, bao gồm cải thiện hạ tầng, giảm bớt thủ tục
hành chính, và tăng cường tranh luận cung ứng lao động.
Để nâng cao năng lực cạnh tranh, Việt Nam cần đầu tư vào đào tạo và phát triển
nguồn nhân lực để đáp ứng kịp yêu cầu của nền kinh tế quốc tế, đặc biệt là trong các
lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ thông tin, và ngôn ngữ nước ngoài.
3.Tích cực, chủ động tham gia vào các liên kết kinh tế quốc tế và thực hiện đầy
đủ các cam kết của Việt Nam trong các liên kết kinh tế quốc tế và khu vực Đặc
trưng của hội nhập kinh tế quốc tế là sự hình thành các liên kết quốc tế và khu vực
để tạo ra sân chơi chung cho các nước. Cho đến nay, Việt Nam đã tham gia hội nhập
trên cả 3 kênh: song phương (FTA), khu vực (RTA) và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Về hợp tác song phương, nước ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hàng trăm
quốc gia, mở rộng quan hệ thương mại và xuất khẩu hàng hóa, ký kết trên 90 hiệp
định thương mại song phương, hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, hiệp định
chống đánh thuế hai lần. Đồng thời, Việt Nam là thành viên tích cực của các tổ chức
kinh tế quốc tế và các diễn đàn hợp tác quốc tế như ASEAN, ASEM, APEC,... Năm
2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO, đánh dấu bước
tiến lớn trên hành trình đổi mới và hội nhập quốc tế. Với tư cách là thành viên,
Việt Nam vẫn luôn nỗ lực thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các cam kết và tích cực tham
gia các hoạt động trong khuôn khổ các tổ chức kinh tế quốc tế. Cụ thể, Việt Nam đã
thực hiện nhiều cải cách chính sách thương mại theo hướng minh bạch và tự do hóa lOMoAR cPSD| 61236129
thể hiện ở các cam kết đa phương về pháp luật và thể chế cũng như mở cửa thị trường
hàng hóa và dịch vụ. Thực hiện các cam kết hội nhập sâu rộng nhằm xây dựng cộng
đồng ASEAN; nghiêm túc thực hiện cam kết hợp tác của APEC; đề xuất và triển
khai sáng kiến, hoạt động của
ASEM;... Đồng thời, nước ta triển khai đầy đủ, nghiêm túc các cam kết hội nhập
kinh tế quốc tế, đặc biệt là về cắt giảm thuế quan, mở cửa dịch vụ, đầu tư,...Việc tích
cực tham gia vào các liên kết kinh tế quốc tế và thực hiện nghiêm túc các cam kết
đã giúp củng cố vững chắc vai trò, vị thế và uy tín của nước ta trên trường thế giới.
Đồng thời, điều này cũng giúp tạo sự tin cậy, tôn trọng và nâng tầm hội nhập quốc tế của Việt Nam.
4. Hoàn thiện thể chế kinh tế và luật pháp
Một trong những điều kiện của hội nhập kinh tế quốc tế là sự tương đồng về thể
chế kinh tế giữa các nước. Trên thế giới ngày nay, phần đông các quốc gia phát triển
theo mô hình kinh tế thị trường. Tuy nhiên mỗi quốc gia có cách thức vận hành riêng.
Việt Nam chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa. Điều này không hề cản trở nước ta trong hành trình hội nhập. Vấn đề nổi trội
nhất hiện nay là chúng ta chưa có kinh nghiệm trong mô hình kinh tế thị trường và
kinh nghiệm trên trường quốc tế. Cùng với đó, cơ chế thị trường của nước ta chưa
thực sự hoàn thiện; hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách chưa đồng bộ và chưa phù
hợp với điều kiện hội nhập; môi trường cạnh tranh còn nhiều hạn chế.
Vì vậy, để nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, cần đổi mới cơ chế quản
lý của Nhà nước ngày càng minh bạch hơn, làm thông thoáng môi trường đầu tư và
kinh doanh trong nước để thúc đẩy mạnh mẽ đầu tư từ cả trong và ngoài nước. Nhà
nước cần đảm bảo chức năng định hướng, tạo môi trường, hỗ trợ và giám sát hoạt
động của các chủ thể kinh tế. Đây chính là cơ sở then chốt để nước ta có thể tham
gia vào tầng nấc cao hơn của chuỗi cung ứng và giá trị trong khu vực cũng như toàn
cầu. Đi đôi với đó, cần hoàn thiện cơ chế thị trường trên cơ sở đổi mới mạnh mẽ về lOMoAR cPSD| 61236129
sở hữu, coi trọng khu vực tư nhân và doanh nghiệp nhà nước, hình thành đồng bộ
các loại thị trường gắn với việc tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng, công bằng
giữa các thành phần kinh tế.
Ngoài ra, Nhà nước cần rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật, nhất là hệ thống
luật pháp liên quan đến hội nhập kinh tế như: đất đai, đầu tư, thương mại,... Hoàn
thiện pháp luật về tương trợ tư pháp phù hợp với luật pháp quốc tế; đồng thời phòng
ngừa, giảm thiểu các thách thức do tranh chấp quốc tế mang lại, nhất là tranh chấp
về thương mại và đầu tư quốc tế. Khi tồn tại những tranh chấp, vướng mắc về kinh
tế, thương mại, cần xử lý có hiệu quả để đảm bảo lợi ích cho người lao động và
doanh nghiệp trong hội nhập. Thực hiện có kết quả cải cách thủ tục hành chính gắn
với việc xây dựng đội ngũ cán bộ nhà nước có tinh thần phục vụ người dân và doanh
nghiệp, góp phần giảm chi phí giao dịch trong thời đại hội nhập.
5. Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của nền kinh tế
a. Đối với doanh nghiệp
Doanh nghiệp phải chủ động nắm bắt cơ hội, tận dụng tối đa sự hỗ trợ của nhà
nước để nâng cao năng lực cạnh tranh trong môi trường hội nhập, phát triển. Mỗi
doanh nhân cần thường xuyên cập nhật tri thức mới, những kỹ năng cần thiết để có
đủ sức cạnh tranh trên thị trường và tiếp cận kinh tế tri thức. Chủ động đổi mới tư
duy kinh doanh, nâng cao năng lực quản trị, năng suất, chất lượng, khả năng cạnh
tranh của sản phẩm, dịch vụ; chuẩn hóa sản xuất kinh doanh để đáp ứng các yêu cầu,
tiêu chí của các thị trường quốc tế. Đầu tư cho giai đoạn nghiên cứu để nắm bắt xu
hướng thay đổi nhu cầu của thị trường, giai đoạn thiết kế sản phẩm nhằm tạo ra nhiều giá trị gia tăng.
Doanh nghiệp nên áp dụng các công nghệ phù hợp, vừa bảo đảm tạo ra các sản
phẩm có chất lượng đáp ứng nhu cầu của thị trường, vừa có chi phí sản xuất thấp.
Mỗi doanh nghiệp tăng cường liên kết, hợp tác kinh doanh phát triển các chuỗi sản lOMoAR cPSD| 61236129
xuất, chuỗi giá trị, nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm, dịch vụ, tiến tới nấc thang
cao hơn trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
Các doanh nghiệp cũng cần phải đổi mới mô hình sản xuất kinh doanh gắn với
mục tiêu phát triển bền vững: sản xuất sạch, xanh, tiết kiệm, sử dụng hiệu quả năng
lượng, bảo vệ môi trường, hướng tới nhóm người yếu thế trong xã hội…Bên cạnh
đó, cần chú trọng phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng được yêu cầu đổi mới công
nghệ, quy trình sản xuất, kinh doanh, tham gia chuỗi kinh doanh toàn cầu với việc
đa dạng hóa các sản phẩm chất lượng cao, dịch vụ chất lượng quốc tế; tăng cường
đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp đáp ứng được yêu
cầu phát triển theo hướng trang bị những tri thức, kỹ năng mới. Các doanh nghiệp
cần phải học các cách thức kinh doanh trong bối cảnh mới: Học cách tìm kiếm cơ
hội kinh doanh, học cách kết nối cùng chấp nhận cạnh tranh, học cách huy động vốn,
học cách quản trị sự bất định, học cách đồng hành với Chính phủ Học cách “đối thoại pháp lý”.
b. Đối với Nhà nước
Nhà nước cần đẩy mạnh hoàn hiện môi trường pháp lý, cơ chế chính sách đối với
doanh nghiệp; ngăn chặn và đẩy lùi các hành vi làm phát sinh chi phí không chính
thức cho doanh nghiệp; cắt giảm, đơn giản hoá quy định về đầu tư, đất đai, xây dựng,
nộp thuế, bảo hiểm xã hội để nâng cao chỉ số môi trường kinh doanh của Việt Nam
đạt điểm số trung bình của ASEAN 4. Bên cạnh đó là không ngừng cải cách môi
trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; nghiên cứu nội dung của
các FTA thế hệ mới cải cách thể chế tạo dựng môi trường, chính sách kinh tế phù
hợp với nội dung của các hiệp định này.
Các ngân hàng cần đổi mới cơ chế, chính sách tín dụng theo nguyên tắc thị trường;
cải tiến thủ tục cho vay, nhất là đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm rút ngắn thời
gian xét duyệt cho vay; tăng cường sự hỗ trợ về vốn, cơ chế, chính sách, luật pháp, lOMoAR cPSD| 61236129
xúc tiến thương mại, giáo dục-đào tạo, tư vấn về thiết bị, công nghệ hiện đại... cho doanh nghiệp.
Nhà nước nên có các chính sách hỗ trợ đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho
doanh nghiệp, trang bị học vấn ở trình độ, tri thức cơ bản cho các chủ doanh nghiệp,
giám đốc, cán bộ quản lý doanh nghiệp và người lao động. Tạo môi trường khuyến
khích, hình thành, phát triển liên kết doanh nghiệp; tăng cường liên kết, hợp tác theo
chiều dọc, chiều ngang; xác lập quan hệ bạn hàng và quan hệ đối tác chiến lược
nhằm phát triển xuất khẩu về lâu dài.
Nước ta nên tập trung phát triển nhanh, chuyên sâu một số ngành công nghiệp
nền tảng, ngành chiến lược có lợi thế cạnh tranh; tạo điều kiện hình thành các tập
đoàn kinh tế lớn trong nước trong lĩnh vực công nghiệp có vai trò dẫn dắt phát triển
ngành và có khả năng cạnh tranh trên thị trường khu vực và thế giới…
6. Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ của Việt Nam
Nền kinh tế độc lập tự chủ là nền kinh tế không bị lệ thuộc, phụ thuộc vào nước
khác, người khác, hoặc vào một tổ chức kinh tế nào đó về đường lối, chính sách phát
triển, không bị bất cứ ai dùng những điều kiện kinh tế, tài chính, thương mại, viện
trợ… để áp đặt, khống chế, làm tổn hại chủ quyền quốc gia và lợi ích cơ bản của dân tộc.
Xây dựng nền kinh tế tự chủ phải trên cơ sở làm chủ công nghệ và chủ động, tích
cực hội nhập, đa dạng hoá thị trường, nâng cao khả năng thích ứng của nền kinh tế.
Để xây dựng thành công nền kinh tế độc lập, tự chủ đi đôi với tích cực và chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi Việt Nam phải thực hiện một số biện pháp sau đây.
• Thứ nhất: hoàn thiện, bổ sung đường lối chung và đường lối kinh tế, xây dựng
và phát triển đất nước.
• Thứ hai: đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. đây là nhiệm vụ
trọng tâm nhằm xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, xây dựng cơ sở vật chất
cho chủ nghĩa xã hội, giúp Việt Nam đi tắt, đón đầu, tránh được nguy cơ tụt