



















Preview text:
lOMoARcPSD|37682075
BÁO IN-N01 - Pháp luật đại cương
Pháp luật đại cương (Trường Đại học Cần Thơ) lOMoARcPSD|37682075
B Ộ GIÁO D Ụ C VÀ ĐÀO T Ạ O
Đ Ạ I H Ọ C C Ầ N THƠ
TRƯ Ờ NG CÔNG NGH Ệ THÔNG TIN & TRUY Ề N THÔNG
NGÔN NG Ữ TRUY Ề N THÔNG (CT083) BÁO IN
Gi ả ng viên: Đ ỗ Thúy Vy
Nhóm th ự c hi ệ n: 01
C ầ n thơ, 02/2025 lOMoARcPSD|37682075 THÀNH VIÊN NHÓM 01 B2405383 La Kim Anh B2405431 Châu Quỳnh Anh B2405444 Trần Thị Mỹ Huyền B2405410 Lê Trần Quỳnh Như B2405455 Trần Bảo Ngọc B2405467 Trần Thông Thái lOMoARcPSD|37682075 Mục lục
Nội dung chính .........................................................1 I. Báo in
.....................................................................1
1. Khái niệm báo in ................................................1
2. Phân loại báo in ..................................................2
3. Quá trình hình thành và phát triển của báo in
....7 4. Ưu điểm & nhược điểm của báo in
..................12 5. Quy trình sản xuất báo in
.................................15 6. Vai trò của báo in
.............................................17 7. Báo in trong thời 4.0
........................................19
II. Đặc điểm của báo in
...........................................27
1. Tính đa dạng ....................................................27
2. Tính đại chúng .................................................28 3. Tính chuẩn xác
.................................................29 4. Tính cụ thể
.......................................................32
5. Tính ngắn gọn, súc tích
....................................33 6. Tính khuôn mẫu
...............................................34 7. Tính bình giá
....................................................35 8. Tính biểu
cảm ..................................................37 lOMoARcPSD|37682075 9. Tính thẩm mĩ
....................................................39 10. Tính đặc
thù ...................................................40
Tài liệu tham khảo .................................................42 NGUỒN ẢNH
.........................................................43 i lOMoARcPSD|37682075
NGÔN NGỮ TRUYỀN THÔNG-NHÓM 01 Nội dung chính I. Báo in
1. Khái niệm báo in
Báo in là một trong những loại hình của báo chí, là phương tiện truyền
thông không thể thiếu của đời sống xã hội của các quốc gia trên thế giới nói
chung và của Việt Nam nói riêng. Đến nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau
về báo in nhưng ta có thể hiểu khái quát như sau:
Báo in là loại phương tiện truyền thông, là những ấn phẩm xuất bản
định kì (hàng ngày, ngày tuần hoặc hàng tháng), bằng kí hiệu, chữ viết, hình
ảnh và các ngôn ngữ phi văn tự, thông tin về các sự kiện, vấn đề thời sự, quan
điểm của xã hội được phát hành rộng rãi và định kì nhằm phục vụ truyền tải
thông tin đến công chúng – nhóm đối tượng nào đó với mục đích nhất định.
Tùy theo nội dung và mục đích phát hành mà có nhiều loại báo in khác nhau.
Hay nói ngắn gọn hơn, căn cứ theo Điều 3 Luật Báo chí 2016: “Báo in
là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, tranh, ảnh, thực hiện bằng phương tiện
in để phát hành đến bạn đọc, gồm báo in, tạp chí in”.
Theo Luật báo chí, báo in bao gồm: báo, tạp chí.
2. Phân loại báo in
A. Các loại báo 1 lOMoARcPSD|37682075
NGÔN NGỮ TRUYỀN THÔNG-NHÓM 01 a) Nhật báo
Thuật ngữ chỉ những tờ báo định kỳ xuất bản hằng ngày. Các tòa soạn
nhật báo có thể được ấn định giờ phát hành sản phẩm trong một ngày.
Các tờ nhật báo phải đảm bảo việc thông tin nhanh nhạy, kịp thời
những sự kiện, vấn đề xảy ra hàng ngày trong đời sống xã hội để đáp ứng nhu
cầu của độc giả. Điều này đòi hỏi đội ngũ những người làm nhật báo luôn phải
nhạy bén chính trị, thao tác sáng tạo tác phẩm và tổ chức sản xuất sản phẩm
nhanh, chính xác, chân thực, khách quan.
Nhật báo thường được phân theo các lĩnh vực thông tin như: chính trị
- xã hội, văn hóa – văn nghệ, giáo dục, khoa học – kinh tế - kỹ thuật, giới tính,
lứa tuổi, đối ngoại, thể thao – giải trí,… b) Tuần báo
Thuật ngữ chỉ các tờ báo có định kỳ xuất bản mỗi tuần một số. Việc ấn
định ngày nào xuất bản trong tuần phụ thuộc vào sự quy định của mỗi tòa soạn.
Do xuất bản thưa kỳ nên tổ chức hoạt động xuất bản tuần báo không
đòi hỏi gấp gáp như xuất bản nhật báo. Các tờ tuần báo hường chú trọng tổ
chức thông tin phân tích, tổng hợp, bình luận và đưa ra xu hướng, dự báo về
các sự kiện, vấn đề thời sự. Cơ cấu hoạt động tòa soạn của các tờ tuần báo
thường gọn nhẹ, đủ đáp ứng việc xuất bản mỗi tuần một kỳ. 2 lOMoARcPSD|37682075
NGÔN NGỮ TRUYỀN THÔNG-NHÓM 01
Tuần báo cũng được phân loại theo các lĩnh vực thông tin như: chính
trị - xã hội, văn hóa – văn nghệ, giáo dục, khoa học – kinh tế - kỹ thuật, giới
tính, lứa tuổi, đối ngoại, thể thao – giải trí,…
c) Báo thưa kỳ
Thuật ngữ chỉ những tờ báo xuất bản nhiều kỳ trong tuần hoặc trong
tháng. Việc tổ chức thông tin trên các tờ báo thưa kỳ vừa mang tính chất của
nhật báo lại vừa mang tính chất xử lý thông tin và quy trình xuất bản ấn phẩm
không khac gì việc xuất bản nhật báo. Báo thưa kỳ cũng được phân loại theo
các lĩnh vực thông tin như:
chính trị - xã hội, văn hóa – văn nghệ, giáo dục, khoa học – kinh tế - kỹ thuật,
giới tính, lứa tuổi, đối ngoại, thể thao – giải trí,…
B. Các loại tạp chí
Tạp chí là diễn đàn lý luận, khoa học, nghiệp vụ chuyên biệt. Trên thế
giới và ở Việt Nam, tạp chí thường được phân loại theo 2 nhóm sau:
a) Nhóm tạp chí thông tin lý luận khoa học chuyên ngành 3 lOMoARcPSD|37682075
NGÔN NGỮ TRUYỀN THÔNG-NHÓM 01
Các tạp chí này thường do cơ quan, đơn vị, tổ chức chính trị - xã hội
và các ngành khoa học tổ chức xuất bản. Các tạp chí loại này chủ yếu đi sâu
vào bàn bạc, trao đổi, phổ biến các kiến thức lý luận và thực tiễn mang tính
chất chuyên ngành. Độc giả của các tạp chí này chủ yếu là những nhà hoạt
động chính trị, nhà khoa học, chuyên môn, am hiểu các chuyên ngành, lĩnh
vực đặc thù, Đội ngũ sáng tạo tác phẩm của các tạp chí loại này cũng rất đa
dạng, họ là những chính trị gia, nhà chuyên môn, nhà khoa học có kiến thức
lý luận và thực tiễn, do vậy bài viết của họ thường có chiều sâu, đúng thuật
ngữ, lý giải được các vấn đề xã hội đang đặt ra. Các tác phẩm của họ thường
được đánh giá ở góc độ là sản phẩm khoa học. Các công trình khoa học khi
được công bố trên các tạp chí lý luận khoa học chuyên ngành đều có giá trị
pháp lý để đánh giá thành tích hoạt động khoa học của các nhà khoa học chuyên môn.
b) Nhóm tạp chí thông tin giải trí và chỉ dẫn
Chức năng chính của nhóm tạp chí này là bàn luận, phổ biến kiến thức
về các vấn đề giải trí và thông tin tiêu dung. Loại tạp chí này thường có nhiều
độc giả. Các tạp chí thuộc nhóm này thường được sử dụng nhiều hình ảnh để
minh họa và được đầu tư in rất đẹp.
C. Các loại ấn phẩm báo chí
Thuật ngữ dung để chỉ những sản phẩm báo in vừa chứa đựng tính chất
của các loại báo lại vừa mang tính chất của các loại tạp chí. Cụ thể gồm các
loại ấn phẩm bao chí cơ bản như:
1. Nguyệt san: đây là định danh ấn phẩm báo chí xuất bản theo chu kỳ mỗi tháng một số
2. Bán nguyệt san: là ấn phẩm báo chí được định danh theo chu kỳ
xuất bản 15 ngày một số. 4 lOMoARcPSD|37682075
NGÔN NGỮ TRUYỀN THÔNG-NHÓM 01
3. Đặc san: là những ấn phẩm báo chí được xuất bản định kỳ hoặc
không định kỳ và được xuất bản trong những điều kiện cụ thể như
các dịp Tết, các sự kiện chính trị trọng đại,…
4. Phụ san: là những ấn phẩm phụ của các tờ báo chính do các cơ
quan báo chí xuất bản. Nó có thể được xuất bản định kỳ hoặc không
định kỳ. Nội dung của các tờ phụ san là đi sâu vào những vấn đề
mà bạn đọc quan tâm, những sự kiện, vấn đề mà các tờ báo, tạp chí
chính thức không có điều kiện đăng tải đầy đủ. Ở nước ta có một
số tờ phụ san của các tòa soạn, chủ yếu dành cho lứa tuổi thiếu nhi
như: Phụ san Nhi đồng, Mực tím, Rùa Vàng của báo Khăn Quàng Đỏ (Thành Đoàn TP.HCM).
5. Nội san: Là những ấn phẩm báo chí xuất bản lưu hành nội bộ tại
địa phương, cơ quan, tổ chức xã hội. Nó có thể định kỳ hoặc không
định kỳ phát hành và chủ yếu do các cơ quan, viện nghiên cứu,
trường học… xuất bản.
6. Chuyên san: là những ấn phẩm báo chí có nội dung chuyên sâu về
một vấn đề, đề tài, lĩnh vực. Nó có thể xuất bản định kỳ hoặc không
định kỳ, thường là số phụ của các tờ báo, tạp chí.
7. Tập san: loại này vừa mang tính chất của sách, tạp chí, lại vừa mang
tính chất của báo. Nội dung thông tin thường được tổ chức sâu rộng
theo tính chất của ấn phẩm. Tập san thường được xuất bản định kỳ
hoặc không định kỳ. Nó có thể phát hành phổ biến rộng rãi trong
xã hội hoặc lưu hành nội bộ.
8. Tuần san: không giống tuần báo, tuần san thường được sử dụng khổ
giấy nhỏ, nó có thể là ấn phẩm phụ hoặc chính của một đơn vị báo
chí. Loại này vừa mang tính chất của tạp chí. Các tờ tuần san
thường tổ chức nội dung theo chuyên đề thông tin và kỹ năng xử lý
thông tin thiên về phân tích, bình luận, lý giải sự kiện, vấn đề xã hội.
9. Quý san: loại này thường do các cơ quan bó chí xuất bản mau kỳ
hoặc thưa kỳ ấn hành theo quý. Nó có thể định kỳ hoặc không định
kỳ xuất bản, Nội dung thông tin thường mang tính chất tổng kết các
chiến dịch truyền thông của cơ quan báo chí. Nó như một cuốn tài
liệu đánh giá kết quả truyền thông của cơ quan báo chí định kỳ theo từng quý.
10. Niên san: Loại này vừa mang tính chất của sách lại vừa mang tính
chất của tạp chí. Nó có thể định kỳ hoặc không định kỳ xuất bản.
Nội dung thông tin thường mang tính chất tổng kết các chiến dịch
truyền thông của cơ quan báo chí trong một năm. Nó như một cuốn
tài liệu đánh giá kết quả truyền thông của cơ quan báo chí định kỳ theo từng năm.
11. Chuyên đề: thường là những ấn phẩm phụ của các tờ báo, tạp chí
chính. Nó đề cập chuyên sâu về một vấn đề cụ thể thuộc chức năng, 5 lOMoARcPSD|37682075
NGÔN NGỮ TRUYỀN THÔNG-NHÓM 01
nhiệm vụ mà tờ báo, tạp chí chính thông tin. Nó có thể xuất bản
định kỳ hoặc không định kỳ.
12. Phụ trương: thường là những ấn phẩm phụ của các tờ báo, tạp chí
chính. Nó đề cập chuyên sâu vào một vấn đề cụ thể thuộc chức
năng, nhiệm vụ mà tờ báo, tạp chí chính thông tin. Nội dung thông
tin của các tờ phụ trương cũng có thể là các vấn đề về quảng cáo và
dịch vụ xã hội. Nó có thể xuất bản định kỳ hoặc không định kỳ.
13. Bản tin: là những tờ tin đăng tải các sự kiện thông qua thể loại tin
bằng chữ viết hoặc hình ảnh chụp hoặc đồ họa. Các cơ quan, tổ
chức xã hội đều có thể xuất bản bản tin lưu hành nội bộ hoặc phổ
biến rộng rãi trong xã hội, tùy theo tính chất và mục đích xuất bản. 6 lOMoARcPSD|37682075
NGÔN NGỮ TRUYỀN THÔNG-NHÓM 01
3. Quá trình hình thành và phát triển của báo in
a) Trên thế giới Khoảng năm 59 trước Công Nguyên đã xuất hiện các tờ bảng
tin của người La Mã, hay những tờ truyền tin viết tay đầu thế lỷ thứ VIII ở Trung Quốc.
Cuối thế kỷ XVI- đầu thế kỷ VII báo in ra đời, đánh dấu một bước
ngoặt lớn cho việc thông tin các sự kiện, vấn đề đang xảy ra trong xã hội. Nó
được đánh dấu bằng sự ra đời của công nghệ in đặc biệt là chiếc máy in của
Gutenburg cho phép chuyền tải các thông tin và kiến thức lên trên giấy.
Johannes Gutenberg “ Cha đẻ của máy in”
Sự ra đời của báo in hiện đại vào cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII là
hệ quả tất yếu của các điều kiện lịch sử cụ thể lúc đó- xã hội Châu Âu đang
bước vào thời lỳ bản lề giữa xã hội phong kiến và xã hội tư bản chủ nghĩa. Sự
phát triển của khoa học kỹ thuật, những cuộc cách mạng tư sản, những cải
cách kinh tế, những biến động chính trị xã hội Châu Âu. Trên nền xã hội ấy,
nhu cầu thông tin giao tiếp bùng nổ trở thành một đòi hỏi bức bách con người
cần được biết thông tin đang xảy ra xung quanh để có cách xử lý kịp thời. Mặt
khác, các thế lực chính trị, xã hội cần công cụ để tuyên truyền, tổ chức lực
lượng,…Các giáo sĩ, chủ nghĩa thực dân mang “văn hóa báo chí” đi gieo giống
khắp mọi nơi trên thế giới nhằm phục vụ cho thế lực đế quốc. 7 lOMoARcPSD|37682075
NGÔN NGỮ TRUYỀN THÔNG-NHÓM 01
Vào nửa đầu thế kỷ XVII, những tờ báo in mới bắt đầu được xuất bản
có tính định kỳ, chủ yếu đưa tin về Châu Âu.
Tờ báo Relation ra đời ở Đức năm 1605 được coi là tờ báo đầu tiên
trên thế giới. Năm 1844, việc phát minh ra máy điện báo đã thay đổi ngành
báo in. Đến cuối thế kỷ XVIII, báo đã có nội dung thông tin phong phú, số
lượng người đọc nhiều hơn và báo chí cũng đề cập đến nhiều vấn đề mang
tính thời sự, cách mạng và chiếm được một vị trí quan trọng trong đời sống xã hội của con người.
Thế kỷ XIX, là thời kỳ ngự trị của báo in, báo in đã có mặt khắp nơi
trên thế giới. Các thành phố công nghiệp lớn ra đời, trình độ văn hóa và đời
sống của con người được cải thiện kích thích nhu cầu thông tin giao tiếp trong
xã hội, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thúc đẩy sự phát triển của báo in.
Thế kỷ XX, được coi là thời kỳ bùng nổ của báo chí với sự đa dạng của
các thể loại, loại hình báo chí được chia theo các lĩnh vực và lứa tuổi. Ở các
nước công nghiệp phát triển cứ 1000 người dân thì tiêu thụ 400-500 nhật báo.
Tuy nhiên, đầu thế kỷ XXI nhiều chuyên gia cho rằng đây là thời kỳ
khó khăn của báo in trên thế giới. Bởi chất lượng của tờ báo chưa đảm bảo,
sự ra đời và phát triển của các loại hình báo chí khác như phát thanh, truyền
hình, báo mạng điện tử. Hơn nữa một xu thế báo phát không đang diễn ra làm
cho báo in gặp nhiều vấn đề trong việc phát hành. 8 lOMoARcPSD|37682075
NGÔN NGỮ TRUYỀN THÔNG-NHÓM 01
b) Ở Việt Nam
Sự ra đời của tờ Gia Định Báo có thể coi là thời điểm khởi đầu của lịch
sử báo chí hiện đại, được viết bằng chữ Quốc ngữ do Trương Vĩnh Ký sáng
lập và ra mắt 15/04/1865, ông có công lớn đối với lịch sử báo chí tiếng Việt
cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX.
Trước đó, năm 1861 đã xuất hiện tờ công báo của
quân đội viễn chinh Pháp ở Nam Kỳ in bằng tiếng Pháp.
Đầu thế kỷ XX, báo chí đã có mặt trên
khắp ba miền đất nước. Tại Hà Nội, ấn phẩm đầu
tiên mang tính chất của một tờ báo cả về nội dung lẫn hình thức là tờ Đại Việt
Tân báo ra số 1 ngày 7/5/1905. Mặc dù báo chí ra đời muộn nhưng do vai trò,
chính trị quan trọng của nó, Hà Nội nhanh chóng trở thành trung tâm hang
đầu của cả nước về nguồn tin, tác giả, tiêu thụ báo, đồng thời cũng là nơi tập
trung nhiều cơ quan báo chí. 9 lOMoARcPSD|37682075
NGÔN NGỮ TRUYỀN THÔNG-NHÓM 01
Ngày 21/6/1925, Tờ báo Thanh Niên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng
lập và trực tiếp chỉ đạo xuất bản số đầu tiên, khai sinh ra và đánh dấu sự khởi
đầu của nền báo chí cách mạng Việt Nam. Lần đầu tiên trong lịch sử, tờ Thanh
Niên đã kết hợp giữa chủ nghĩa yêu nước và tư tường cách mạng chủ nghĩa
Mác-Lênin trong nội dung tuyên truyền của mình đã thức tỉnh quần chúng
nhân dân chuẩn bị cho những cuộc vận động xã hội, nhằm mục đích giải phóng
dân tộc và thiết lập chế độ Xã hội chủ nghĩa. Và ngày 21/6 được lấy là ngày báo chí Việt Nam.
Trong nh ữ ng th ậ p niên 20, 30
c ủ a th ế k ỷ XX, báo in công khai c ủ a
nư ớ c ta cũng đã có nh ữ ng bư ớ c phát
tri ể n vư ợ t b ậ c v ớ i nh ữ ng t ờ báo, t ạ p
chí như: Trung b ắ c tân văn, Đông
Dương t ạ p chí, Nam Phong,… 10 lOMoARcPSD|37682075
NGÔN NGỮ TRUYỀN THÔNG-NHÓM 01
Trong thời kỳ cách mạng, báo chí có
điều kiện phát triển, giữ vai trò quan trọng
đặc biệt trong việc tuyên tryền, giải thích
đường lối, chính sách của Đảng,…
Sau chiến thắng mùa Xuân 1975, cả nước thống nhất cùng xây dựng
một chế độ mới, báo chí nước ta có điều kiện và phát triển, đổi mới. Kỹ thuật
in ấn được cải tiến và không ngừng hoàn thiện, từ in typo sang in ôpset và
hiện đại là máy tính điện tử ngày càng đóng vai trò quan trọng trong dây truyền sản xuất báo.
Đến nay, trên cả nước có hơn 450 cơ quan báo, gần 500 triệu bản báo,
tạp chí được phát hành.
4. Ưu điểm & nhược điểm của báo in
a) Ưu điểm của báo in
Báo in có thể thông tin, phân tích, giải thích, và giải đáp những vấn dề
phức tạp một cách hệ thống sâu sắc với độ tin cậy cao. Có lợi thế thu phục lý
trí và và tình cảm con người bằng tính logic và chiều sâu của nghệ thuật lập
luận, thông qua các luận điểm, luận cứ, luận chứng và số liệu chân thực. Các
đài phát thanh, truyền hình trực tiếp có đặc điểm truyền tải thông tin một cách 11 lOMoARcPSD|37682075
NGÔN NGỮ TRUYỀN THÔNG-NHÓM 01
tức thì nhưng chỉ có thể mô tả các sự kiện ở hiện tượng chứ chưa đi sâu để
phân tích, lý giải thông tin sâu rộng. Điều này tạo cho báo in một lợi thế là
thông tin luôn được lý giải trước. Hàng ngày, công chúng có thể xem truyền
hình hoặc lướt web và biết khá nhiều sự kiện trong nước và cả thế giới một
cách nhanh chóng và sinh động, nhưng không thể không đọc các bài viết phân
tích, lý giải chi tiết những sự kiện được đăng tải trên các tờ báo in. Điều đó
khẳng định thế mạnh của báo in trong sự cạnh tranh khốc liệt với các loại hình báo chí mới.
Người đọc có thể hoàn toàn chủ động về không gian, thời gian và tư
thế trong việc tiếp nhận thông tin, mặt khác, có thể đọc đi đọc lại một ấn phẩm
để nhận thức, khai thác các tầng nấc thông tin về những vấn đề phức tạp. Độc
giả báo in có thể chủ động tìm kiếm thông tin theo nhu cầu của mình trên từng
sạp báo, tờ báo, số báo phát hành, qua từng trang báo và các góc trên trang của ấn phẩm báo in.
Báo in dễ sử dụng : Với độc giả, việc sử dụng sản phẩm báo in trở nên
khá đơn giản, nhất là khi một tờ báo, tạp chí được nhân bản và phát tán rộng
rãi. Độc giả có thể đem nó lên xe taxi, xe bus, máy bay hay bất cứ nới đâu mà
không bị lo ngại cồng kềnh hay phải sử dụng bất kỳ một thiết bị phụ trợ nào
để đọc báo. Nếu là một khan thính giả của đài phát thanh, truyền hình, khi bạn
ở một nơi hẻo lánh, địa hình phức tạp, có nhiều “vùng lõm” che chắn sóng
điện từ hoặc không có dịch vụ phát tín hiệu internet không dây, dù bạn có
mong muốn cũng khó có thể tiếp nhận được thông tin từ việc đọc báo mạng tại nơi đó.
Thông tin có độ tin cậy, chính xác và tình tư liệu cao, nhất là đối với
một nước ở trong khu vực khí hậu nhiệt đới ẩm như nước ta. Người ta còn cho
rằng nhà báo là nhà chép sử, thư ký của thời đại. Dù hiện nay việc lưu trữ các
dữ liệu trên máy tính rất thuận tiện, nhưng tư liệu báo in vẫn có sức nặng riêng
của nó. Điều này được chứng minh là những tờ báo và tạp chí đầu tiên ra đời
trên thế giới từ đầu thế kỷ XV đến nay vẫn còn được cất giữ nguyên bản trong
một số thư viện lớn ở nhiều nước.
Có thế dễ dàng chuyền tay nhau các ấn phẩm báo in và bản tin thời sự,
do đó công chúng trực tiếp có khả năng lây lan kết nối với công chúng gián
tiếp, hình thành dư luận xa hội bền vững hơn.
Đề tài và nguồn tin trên báo in có thể là nguồn tin đối chứng cho các
loại hình báo chí khác khai thác, phát triển, nhất là truyền hình
Thế mạnh quan trọng của báo in ở chỗ, nó là biểu tượng của văn hóa
đọc, là tính chất báo chí kinh điển. Trong truyền thông số, các loại hình báo
chí – truyền thông có thể phát triển với nhiều dạng thức, nhưng nó luôn xoay quanh báo in.
Chi phi sản xuất: có thể chỉ mất vài chục triệu cho một báo xuất bản
và tòa soạn vẫn thu lại được một khoản chi phí từ phát hành báo và quảng
cáo. Trong khi đối với một chương trình phát thanh, nhà đài có thể phải chi
vài tram triệu hoặc vài tỉ đồng để sản xuất, phát sóng. 12 lOMoARcPSD|37682075
NGÔN NGỮ TRUYỀN THÔNG-NHÓM 01
Đa dạng về chủng loại: so với phát thanh, truyền hình thì báo in là loại
hình báo chí có sự đa dạng về chủng loại báo in như: các loại nhật báo, các
loại tuần báo, các loại báo thừa ký , các loại tạp chí…
b) Nhược điểm của báo in
Khả năng phát tán thông tin: Một tờ báo in muốn chuyển tải thông tin
về một sự kiện nào đó tới công chúng phải trải qua rất nhiều khâu trong quá
trình sản xuất báo và tính chất sử dụng văn tự, giấy in, kỹ thuật ấn loát.
Trong khi đó, phát thanh, truyền hình hoặc báo mạng điện tử có thể phát đi
những chương trình trực tiếp các sự kiện, vấn đề xảy ra trong thực tế. Hạn chế
về sự phát tán thông tin của báo in không phải là yếu tố quyết định làm mất
đi loại hình báo chí này trong tương lai. Các nhà làm báo in hiện nay đang tìm
ra những cách làm mới nhằm phát huy những thế mạnh của báo in để cạnh
tranh với các loại hình báo chí khác.
Tính thời sự của thông tin chậm, chu kỳ xuất bản hiện nay ngắn nhất
từ 24-12 giờ, trong khi tốc độ phát triển cuộc sống ngày càng nhanh, nhu cầu
thông tin của công chúng cập nhật đòi hỏi ngày càng cao trong điều kiện có
sự hỗ trợ tối đa của công nghệ truyền thông.
Ký hiệu của báo in đơn điệu, chỉ có chữ viết và hình ảnh tĩnh, nếu kỹ
năng xử lý thông tin bằng ngôn từ không cao và kỹ thuật viết và trình bày, in
ấn không bắt mắt sẽ hạn chế tính hấp dẫn.
Việc phát hành báo in chậm chạp, cồng kềnh, phụ thuộc vào phương
tiện vận tải, đường sá giao thông. Ở ngay thủ đô Hà Nội, báo hầu như không
đến được trước 7 giờ sáng, còn ở nông thôn lại càng nan giải hơn.
Báo in nhìn chung đắt hơn các ấn phẩm truyền thông khác. Mỗi tờ báo,
một tháng phải chi vài chục nghìn đồng. Mức chi phí này không phải nhóm
công chúng nào cũng đáp ứng được, đặc biệt là nông dân và dân nghèo thành 13 lOMoARcPSD|37682075
NGÔN NGỮ TRUYỀN THÔNG-NHÓM 01
thị. Do đó, báo in không chỉ kén chọn công chúng từ bình diện trình độ văn
hóa mà còn cả mức sống và điều kiện sống.
Trước đây, mua báo đọc xong, giấy báo cũ được sử dụng vào nhiều
mục đích dân sinh khác, ngày nay giấy báo cũ hầu như chỉ dung vào việc tái
chế lại. Phát triển báo in liên quan đến nguồn giấy, vấn đề trồng rừng và bảo
vệ môi trường sinh thái; hiện nay khi sử dụng, mực in báo dễ phai dính và sau
khi sử dụng, rác thải báo in cũng là vấn đề.
Đơn điệu về mã và khả năng giải mã thông tin: Báo in chủ yếu sử dụng
mã văn tự và hình ảnh chụp, hình ảnh đồ họa để truyền tải thông tin, đây là
đặc trưng nổi trội của báo in, Tuy nhiên, có một rào cản lớn của đặc trung này
là khả năng giải mã thông tin của độc giả. Chỉ những độc giả biết chữ, hoặc
có khả năng về ngoại ngữ mới có thể tiếp nhận được thông tin từ các sản phẩm
báo in dễ dàng. Để khắc phục vấn đề này, ngày nay các tòa soạn báo in đã
tăng cường sử dụng các hình ảnh chụp và hình ảnh đồ họa để hỗ trợ thông tin
cho văn tự. Những bức ảnh báo chí và hình ảnh đồ họa tin tức sống sẽ là những
chất liệu”lôi kéo” công chúng đang ngồi trước màn hình tí nị, vi tính quay về
đọc hết các bài viết đăng tải trên báo in.
5. Quy trình sản xuất báo in
Một sản phẩm báo in hoàn thiện được đến tay độc giả phải trải qua
nhiều công đoạn trong quy trình sản xuất. 14