-
Thông tin
-
Quiz
Bảo tồn và phát huy các di tích lịch sử - văn hóa - danh thắng tỉnh Khánh Hòa trong hoạt động du lịch | Tiểu luận Quản lý hành chính nhà nước
Trên thế giới không phân biệt quốc gia giàu hay nghèo, nếu có sự hoạt động của ngành kinh tế du lịch đều khai thác dựa trên hai nguồn tài nguyên là: tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn. Tài nguyên du lịch tự nhiên được phát triển thành sản phẩm du lịch nhờ vào sự kỳ vĩ, độc đáo và duy nhất của chúng. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Quản lý hành chính nhà nước (HV) 3 tài liệu
Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Bảo tồn và phát huy các di tích lịch sử - văn hóa - danh thắng tỉnh Khánh Hòa trong hoạt động du lịch | Tiểu luận Quản lý hành chính nhà nước
Trên thế giới không phân biệt quốc gia giàu hay nghèo, nếu có sự hoạt động của ngành kinh tế du lịch đều khai thác dựa trên hai nguồn tài nguyên là: tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn. Tài nguyên du lịch tự nhiên được phát triển thành sản phẩm du lịch nhờ vào sự kỳ vĩ, độc đáo và duy nhất của chúng. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Môn: Quản lý hành chính nhà nước (HV) 3 tài liệu
Trường: Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:

















Tài liệu khác của Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Preview text:
1. Lý do chọn đề tài
Trên thế giới không phân biệt quốc gia giàu hay nghèo, nếu có sự hoạt động của
ngành kinh tế du lịch đều khai thác dựa trên hai nguồn tài nguyên là: tài nguyên du lịch
tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn. Tài nguyên du lịch tự nhiên được phát triển
thành sản phẩm du lịch nhờ vào sự kỳ vĩ, độc đáo và duy nhất của chúng, nhưng những
tài nguyên này thường ít có khả năng phát triển thêm theo thời gian; trái lại dễ bị hao
mòn hoặc suy thoái do sự biến đổi của thiên nhiên cũng như quá trình khai thác của
con người. Tài nguyên du lịch nhân văn thường dồi dào hơn về số lượng và cũng rất đa
dạng, nó tồn tại và phát triển cùng với hoạt động của con người. Tính đa dạng của tài
nguyên du lịch nhân văn bắt nguồn từ sự khác biệt giữa các cá nhân, các cộng đồng,
các dân tộc và các quốc gia với nhau; bên cạnh đó là khả năng biến đổi của tài nguyên
du lịch nhân văn theo thời gian, theo những chuẩn mực mới của từng thời đại, từng xã
hội, qua tiếp xúc giao thoa. Chính sự khác biệt và khả năng tự lớn lên của tài nguyên
nhân văn đã giúp nó trở thành nguồn vốn quý giá cho phát triển du lịch. Do đó, cần có
sự quan tâm đặc biệt đối với nguồn tài nguyên này.
Ngành Du lịch ở Việt Nam đến nay khá phát triển và có vị trí tốt trên bản đồ du
lịch thế giới, Việt Nam hấp dẫn khách du lịch quốc tế không chỉ bởi vẻ đẹp của thiên
nhiên mà còn do yếu tố văn hóa, với nhiều di sản văn hóa được Unesco công nhận.
Tuy nhiên, sự quan tâm của Chính phủ Việt Nam đối với việc bảo tồn các cổ tích đã
tiến hành từ trước đó, trong sắc lệnh 65 ngày 23 tháng 11 năm 1945 nêu rõ: “Xét rằng
việc bảo tồn cổ tích là việc rất cần trong công cuộc kiến thiết nước Việt Nam”, Nghị
quyết Trung ương 5 khóa VIII nêu: “văn hoá là nền tảng của xã hội, là mục tiêu, động lực
thúc đẩy phát triển kinh tế”, Nghị quyết cũng xác định 10 nhiệm vụ để xây dựng và
phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trong đó nhiệm vụ
thứ tư chỉ rõ: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi
của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa. Hết sức
coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân
gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể. Nghiên cứu và
giáo dục sâu rộng những đạo lý dân tộc tốt đẹp do cha ông để lại”, ngày 18 tháng 12
năm 2011 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2406/QĐ-TTg: Ban hành “Danh
mục các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2012 – 2015”, trong đó có văn hóa.
Điều này khẳng định khai thác và bảo tồn văn hóa trong phát triển kinh tế không chỉ là
mối quan tâm của ngành du lịch mà là vấn đề Đảng, Nhà nước và nhân dân coi trọng.
Nhìn chung, vấn đề khai thác các DTLSVH và DLTC trong du lịch, cũng như
vấn đề bảo tồn DTLSVH, DLTC trong du lịch ở các địa phương hiện còn nhiều bất
cập: khai thác quá mức, khai thác không hiệu quả; bên cạnh đó, cũng còn không ít
những quan niệm sai lầm về bảo tồn. Đầu tư cho tài nguyên du lịch nhân văn về cơ
chế, tài chính chưa được thỏa đáng do đó có nhiều DT sau khi được xếp hạng tiếp tục
trong tình trạng hoang hóa, không có kế hoạch bảo tồn, phát huy giá trị di sản để tham
gia vào sự phát triển của địa phương; nhiều di sản phi vật thể chưa được chăm lo gìn
giữ truyền dạy, phục hồi nên đứng trước nguy cơ bị mai một. Một số nơi DT bị lấn
chiếm, hoặc cho phép xây dựng nhiều lều quán dịch vụ nhếch nhác làm mất cảnh quan
chung của điểm du lịch, các vấn đề về ô nhiễm môi trường xung quanh khu vực DT.
Có những DT được trùng tu, tôn tạo theo hướng làm mới đã đánh mất giá trị thực tế và
giảm sức hấp dẫn đối với khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch quốc tế. Bảo vệ, tôn
tạo DTLSVH và DLTC phải nhằm mục đích giới thiệu đến với công chúng, tuy nhiên
hiện nay việc chuẩn bị nội dung giới thiệu về các giá trị văn hóa cho khách du lịch vẫn
còn nhiều bất cập. Có nhiều bản giới thiệu thay vì diễn giải, phân tích thì lại nặng về
phần ca ngợi chung chung, khi giới thiệu về danh thắng nổi tiếng chỉ tập trung vào yếu
tố huyền thoại với những chuyện kể mang sắc màu cổ tích mà quên đi nhiệm vụ cung
cấp những thông tin mang tính khoa học về quá trình kiến tạo địa chất, niên đại… Những
bản giới thiệu này thường không đem lại sự hài lòng cho du khách, không giúp
nâng cao ý thức bảo vệ di sản từ phía du khách và cộng đồng.
Với sự ưu đãi của điều kiện tự nhiên cùng kho tàng DTLSVH và DLTC tuyệt
đẹp đã đem đến cho Khánh Hòa một tiềm năng lớn để phát triển du lịch, dịch vụ. Nha
Trang – Khánh Hòa hiện được xác định là một trong 10 trung tâm du lịch – dịch vụ lớn của cả nước.
Tuy nhiên trong những năm qua việc phát triển du lịch ở tỉnh Khánh Hòa còn
tồn tại một số bất cập. Đó là hoạt động du lịch mới chỉ tập trung khai thác nguồn tài
nguyên du lịch tự nhiên như: biển, đảo, các rạn san hô, nguồn suối khoáng, bùn
khoáng. Việc khai thác nguồn tài nguyên thế mạnh này đã đem lại cho tỉnh Khánh Hòa
những thuận lợi nhất định trong quá trình phát triển du lịch nhưng cũng kéo theo một
số hệ quả tiêu cực. Do khai thác quá mức nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên; kèm theo
là các hoạt động như: xây dựng các công trình, cơ sở hạ tầng - kỹ thuật phục vụ du lịch
đã làm thay đổi cảnh quan thiên nhiên và môi trường tự nhiên có nguy cơ bị ô nhiễm,
các hệ sinh thái biển tại khu vực các đảo, rạn san hô đứng trước nguy cơ bị suy thoái
hoặc huỷ diệt do hoạt động du lịch.
Trong khi đó với lịch sử hơn 350 năm khai phá và phát triển, Khánh Hoà là
mảnh đất giàu tài nguyên du lịch nhân văn với nhiều giá trị văn hóa vật thể và phi vật
thể có khả năng khai thác phục vụ cho hoạt động du lịch như: các công trình kiến trúc,
các phong tục tập quán, các tín ngưỡng, các lễ hội truyền thống, làng nghề thủ công,
văn hóa ẩm thực; nhiều DT và danh thắng đang được khai thác khá hiệu quả như Tháp
Bà Ponagar, chùa Long Sơn, Hòn Chồng, vịnh Nha Trang, Đầm Nha Phu… Tuy nhiên
hoạt động du lịch gần đây gây ra một số tác động tiêu cực đến giá trị của DT và danh
thắng. Nếu tỉnh thực hiện tốt công tác nghiên cứu, bảo tồn kết hợp với khai thác nguồn
tài nguyên du lịch văn hóa này không chỉ góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã
hội địa phương mà nó còn góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá quí báu, đem
lại sự phát triển bền vững cho ngành du lịch của tỉnh nói riêng và cho cộng đồng nói
chung. Hiện nay ở tỉnh Khánh Hòa chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ, toàn diện
về vấn đề này. Vì vậy tác giả lựa chọn đề tài: “Bảo tồn và phát huy các di tích
lịch sử - văn hóa - danh thắng tỉnh Khánh Hòa trong hoạt động du lịch” để nghiên
cứu. Bản thân tác giả luận văn là người đang sinh sống tại tỉnh Khánh Hoà và công tác
trong ngành du lịch nên có những thuận lợi nhất định cho việc nghiên cứu, thực hiện đề tài này
3.1. Khái niệm và sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với văn hoá 3.1.1. Khái niệm văn hóa
Văn hóa là khái niệm được dùng rất phổ biến, gắn với các hoạt động xã hội của
con người. Trong khoa học xã hội và nhân văn, văn hóa là đối tượng nghiên cứu
của nhiều ngành khác nhau. Mỗi ngành khoa học xã hội, nhân văn lại có cách
tiếp cận văn hóa khác nhau. Vì thế, văn hóa trở thành khái niệm đa nghĩa.
Cho đến nay, có khoảng hơn 500 định nghĩa về văn hóa nhưng chưa dừng lại,
mà ngày càng tăng thêm. Điều đó chứng tỏ, văn hóa là một khái niệm rất khó
xác định. Nhà nghiên cứu người Pháp Jaques Dérrida cho rằng: “Văn hóa chính
là cái tên mà chúng ta đặt cho điều bí hiểm không cùng với những ai ngày nay
đang cố tìm cách suy nghĩ về no" Theo Hồ Chí Minh: “Văn hoá là sự tổng hợp
của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản
sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.
Năm 2001, trong Tuyên ngôn Thế giới về đa dạng văn hoá, Tổ chức Giáo dục,
Khoa học và Văn hoá của Liên hiệp quốc (UNESCO) đã khẳng định: “Văn hoá
là tập hợp các nét đặc trưng về tinh thần và vật chất, trí tuệ và tình cảm... khắc
hoạ nên bản sắc của một cộng đồng, gia đình, xóm làng, vùng miền, quốc gia, xã
hội. Văn hoá không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà cả những lối sống,
những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống,
tín ngưỡng... Văn hoá có thể hữu thế (đình, đền, chùa, miếu, lăng, mộ, nhà
sàn...) có thể là vô hình (âm nhạc truyền thống, ngôn ngữ, huyền thoại, nghi
thức, phong tục tập quán...)”.
Theo Giáo trình “Quản lý xã hội” của trường đại học Kinh tế quốc dân (2000):
Văn hoá là toàn bộ của cải vật chất, tinh thần do con người (trong quy mô tập
thể, gia đình, xóm làng, vùng miền, quốc gia) tạo ra trong lịch sử để vươn tới cái
đúng, cái đẹp, cái tốt, cái hợp lý và sự phát triển bền vững, an toàn cho cộng
đồng, xã hội và nhân loại. Văn hoa tinh thần bao gồm: đạo đức, các chuẩn mực,
lối sống, tư duy, ngôn ngữ, tình cảm, thẩm mỹ, nghệ thuật, giáo dục, tôn giáo,
tín ngưỡng, các truyền thống, khoa học, triết học, thể chế xã hội, luật pháp,
những hệ thống giá trị, các nghi thức, phong tục, tập quán... Văn hoá vật chất
bao gồm: các di tích lịch sử, các công trình kiến trúc có giá trị, hệ thống kết cấu
hạ tầng xã hội (giao thông, bưu chính viễn thông, bến cảng, sân bay...), công
viên, bảo tàng, tượng đài, đền chùa, hệ thống các trang thiết bị, công nghệ cho sản xuất...
Năm 1982, tại Mêhicô, Hội nghị thế giới về chính sách văn hoá vì sự phát triển
đã thông qua Tuyên bố Mêhicô ngày 6 tháng 8 cho rằng: Theo nghĩa rộng, ngày
nay văn hoá có thể coi là toàn bộ các đặc tính đặc biệt về tâm hồn, vật chất, trí
tuệ và tình cảm đặc trưng cho một xã hội hay một nhóm xã hội. Nó không chỉ
bao gồm nghệ thuật và văn học, mà cả lối sống, các quyền cơ bản của nhân loại,
các hệ thống giá trị, truyền thống và tín ngưỡng
Trong Nghị quyết Trung ương 5, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII
(1998), văn hoá Việt Nam được hiểu là tổng thể những giá trị vật chất và tinh
thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo trong quá trình dựng nước và
giữ nước” và được đề cập đến ở 8 vấn đề: Tư tưởng, đạo đức, lối sống; di sản
văn hoá; giáo dục và đào tạo; khoa học và công nghệ; văn học, nghệ thuật; thông
tin đại chúng; giao lưu văn hoá với thế giới; thể chế và thiết chế văn hoá, trong
đó, “tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hoá được coi là lĩnh vực quan
trọng nhất hiện nay cần đặc biệt quan tâm”. Văn học, nghệ thuật (lĩnh vực được
coi là tinh tế nhất, mang tính sáng tạo đậm đặc và là bước phát triển cao của văn
hoá thẩm mỹ) là một bộ phận của văn hoá chứ văn hoá không chỉ chủ yếu là văn
học, nghệ thuật như một số người thường quan niệm.
Tuy văn hóa là khái niệm đa nghĩa, và có nhiều cách định nghĩa nhưng vẫn có
những điểm chung được mọi người thừa nhận:
Về phương diện xã hội, văn hóa là sản phẩm đặc hữu chỉ có ở xã hội loài người,
nó là cái dùng để phân biệt con người và động vật.
- Về phương diện cá nhân, văn hóa là sức mạnh bản chất của con người, thể hiện
trong hoạt động sống và phương thức sống của con người, thể hiện trong bản
thân con người và tầm vóc phát triển của con người.
. Về phương thức tồn tại, văn hóa là phương thức tồn - tại độc đáo của xã hội
người, khác về cơ bản với tổ chức đời sống của quần thể động vật.
- Về phương diện biểu đạt, văn hóa biểu hiện thông qua hệ thống biểu tượng mà
truyền đạt trong xã hội, được con người bắt chước, học tập, làm theo chứ không
phải di truyền theo con đường sinh học.
Có thể hiểu một cách chung nhất: Văn hoá là tổng thể những giá trị vật chất và
tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử nhằm vươn tới cái đúng, cái đẹp,
cái tốt, cải hợp lý và sự phát triển bền vững, an toàn cho cá nhân, cộng đồng, xã hội và nhân loại.
3.1.2. Khái niệm quản lý nhà nước về văn hoá Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh,
trong việc kiến thiết nước nhà có bốn lĩnh vực: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá
cần coi trọng ngang nhau. Như vậy, lĩnh vực văn hoả được tách ra một cách
tương đối để nghiên cứu, xây dựng, tổ chức và quản lý, khu biệt với các lĩnh vực khác.
Có nhiều cách diễn đạt khác nhau, nhưng thực chất của quản lý nhà nước về văn
hóa chính là sự định hướng, tạo điều kiện, tổ chức điều hành của nhà nước, mục
đích là làm cho văn hóa phát triển theo hướng vì sự phát triển của con người và xã hội.
Quản lý nhà nước về văn hóa là sự quản lý của Nhà nước đối với toàn bộ hoạt
động văn hóa của quốc gia bằng quyền lực của nhà nước thông qua hiến pháp,
pháp luật và cơ chế, chính sách nhằm bảo đảm sự phát triển của nền văn hóa dân tộc.
Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước đối với lĩnh vực văn hóa là hoạt động quản
lý được thực hiện thông qua ba cơ quan trong bộ máy nhà nước: cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước về văn hóa được hiểu là hoạt động quản lý
được thực hiện bởi hệ thống bộ máy các cơ quan hành pháp. Thực chất đó là
quản lý hành chính đối với văn hóa.
Đối tượng của quản lý nhà nước đối với văn hóa vì vậy rất rộng. Căn cứ vào các
luật và các văn bản pháp quy đã ban hành, hiện có 12 lĩnh vực hoạt động văn
hoá cần được quản lý. Đó là, các hoạt động thuộc lĩnh vực báo chí, xuất bản,
Internet, quảng cáo; điện ảnh; nghệ thuật biểu diễn; mỹ thuật; thư viện, bảo tồn,
bảo tàng; văn hoá thông tin cơ sở; văn hoá các dân tộc thiểu số; quyền tác giả,
nhuận bút; xuất nhập khẩu văn hoá phẩm; tổ chức bộ máy quản lý văn hoá, giáo
dục và đào tạo; lĩnh vực thanh tra. Quản lý nhà nước đối với các hoạt động văn hóa được
thực hiện dựa trên những văn bản quy phạm pháp luật về văn hóa. Các tổ chức,
cá nhân tham gia các hoạt động văn hóa, được thể hiện trong cơ chế tổ chức bộ
máy trên cơ sở hệ thống những nguyên tắc, những hình thức và phương thức
quản lý nhất định. Cá nhân, tổ chức tham gia các hoạt động văn hóa được thể
hiện ở bộ máy quản lý nhà nước về văn hóa và sự phân cấp trong quản lý theo
quy trình đi từ Trung ương đến cơ sở:
BỘ VĂN HOÁ THỂ THAO VÀ DU LỊCH
SỞ VĂN HOÁ HOÁ THỂ THAO VÀ DU LỊCH TỈNH THÀNH PHỐ
PHÒNG VĂN HOÁ-THÔNG TIN QUÂN HUYỆN BAN VĂN HOÁ XÃ PHƯỜNG
3.1.3. Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với văn hoá Sự cần thiết của quản
lý nhà nước đối với văn hoá xuất phát từ vai trò xã hội to lớn của văn hoá, từ vai
trò quan trọng của quản lý nhà nước về văn hóa và từ thực trạng quản lí nhà
nước về văn hóa hiện nay còn nhiều hạn chế.
Vai trò xã hội của văn hóa
Văn hoá có vai trò xã hội to lớn đối với việc hình thành tư tưởng, đạo đức, lối
sống và thái độ chính trị xã hội, nên bất cứ giai cấp nào, chính đảng nào cũng
muốn thông qua đó truyền bá tư tưởng, quan điểm của mình để tạo ra một xã hội
với những con người phù hợp với lợi ích của giai cấp. Giai cấp phong kiến quan
niệm “văn dĩ tải đạo”, “văn dĩ quá đạo” hay “văn dĩ minh đạo”, có nghĩa là văn
học, nghệ thuậ phải phục vụ cho việc truyền bá, chuyển tải tư tưởng của giai cấp
phong kiến vào đời sống xã hội, khẳng định sự thống trị của hệ tư tưởng đó.
Thời Phục Hưng ở phương Tây, giai cấp tư sản cũng sử dụng văn học, nghệ
thuật vào việc truyền bá hệ tư tưởng tư sản nhằm chống lại giai cấp phong kiến
và nhà thờ Thiên Chúa giáo. Sự phát triển rực rở của nền văn học, nghệ thuật
Phục Hưng đã cổ vũ những tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái tiến bộ, phê phán
tư tưởng hà khắc, thần quyền của nhà thờ, góp phần thúc đẩy cuộc cách mạng tư sản ở châu Âu.
Để chuẩn bị cho cuộc cách mạng tháng Mười Nga thành công, V.I.Lênin đã viết
bài báo nổi tiếng Tổ chức Đảng và văn học Đảng (năm 1905), trong đó người
khẳng định Đảng Cộng sản phải lãnh đạo sự nghiệp xây dựng nền văn học “mới
mẻ, vĩ đại và cao quý” của giai cấp vô sản: “Trước mắt chúng ta là nhiệm vụ
khó khăn và mới mẻ, nhưng vĩ đại và cao quý: tổ chức sự nghiệp văn học rộng
lớn, nhiều hình, nhiều vẻ, gắn bó chặt chẽ, mật thiết với phong trào công nhân
dân chủ - xã hội”. Do vậy, đảng của giai cấp vô sản phải “theo dõi tất cả những
công tác đó, mang nguồn nhựa sống của sự nghiệp đầy sức sống của giai cấp vô
sản vào toàn bộ công tác đó”.
Đảng Cộng sản Việt Nam trong Đề cương văn hóa năm 1943 đã khẳng định:
“Mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hóa), ở đó
người cộng sản phải hoạt động. Không phải chỉ làm cách mạng chính trị mà còn
phải làm cách mạng văn hóa nữa. Có lãnh đạo được phong trào văn hóa, Đảng
mới ảnh hưởng được dư luận, việc tuyên truyền của Đảng mới hiệu quả” và
“Phải hoàn thành cách mạng văn hóa mới hoàn thành được cuộc cải tạo xã hội”.
Ngày nay, cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa diễn ra hết sức gay gắt
giữa các giai cấp, các thế lực chính trị, vấn đề áp đặt văn hóa, đế quốc chủ nghĩa
trong văn hóa dưới chiêu bài “giải thể ý thức hệ”, “phi ý thức hệ” trong văn hóa
đang tác động mạnh mẽ vào đời sống tinh thần ở nước ta. Cho nên, vấn đề Đảng
cần phải nắm quyền lãnh đạo và Nhà nước tăng cường quản lý văn hóa là một
vấn đề có tính nguyên tắc chính trị hướng vào việc củng cố, phát triển hệ tư
tưởng XHCN, xây dựng chế độ mới và con người mới là một đòi hỏi tất yếu chính trị.
Vai trò của quản lý nhà nước về văn hóa Quản lý nhà nước về văn hoá là sự quản lý của Nhà
nước đối với toàn bộ hoạt động văn hoá của quốc gia bằng quyền lực của Nhà
nước thông qua Hiến pháp, pháp luật nhằm đảm bảo sự phát triển của nền văn
hoá. Quản lý hoạt động văn hoá là hoạt động có tính chất nhà nước, nhằm điều
hành hoạt động văn hoá được thực hiện bởi cơ quan hành chính. Trong công tác
quản lý văn hoá, điều quan trọng là phải xây dựng được cơ chế quản lý văn hoá.
Quản lý nhà nước về văn hoá có những vai trò chính như sau:
- Quản lý nhà nước về văn hóa là quản lý toàn bộ nền văn hóa từ vĩ mô đến quản
lý các hoạt động ở cơ sở. Ở cấp độ vĩ mô, nhiệm vụ quản lý nhà nước nhằm đảm
bảo trên bình diện cao nhất của quản lý văn hóa về tổng thể hệ thống chuẩn mực
pháp lý, đạo lý, xây dựng và hoàn thiện thể chế và thiết chế văn hóa, tạo môi
trường lành mạnh cho quá trình sáng tạo, bảo quản, lưu giữ, truyền bá, tiếp
nhận, thưởng thức các giá trị văn hóa, các dịch vụ văn hóa cho cộng đồng.
- Quản lý nhà nước về văn hóa mang tính quyền lực nhà nước. Nhà nước quản
lý văn hóa thông qua các cơ quan lập pháp. hành pháp, tư pháp, thông qua bộ
máy hành chính. Thực chất của quản lý nhà nước là trách nhiệm của nhà nước.
đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa.
Quản lý nhà nước về văn hóa nhằm mục tiêu xây dựng và phát triển nền văn hóa
tiên tiến, đậm đà bản sắc phát huy vai trò của văn hóa đối với sự phát triển con
người và xã hội. Quản lý nhà nước không những nhằm thực hiện những định
hướng, mà thực hiện xây dựng, phát huy vai trò
của văn hóa. - Quản lý nhà nước về văn hóa không những thực thì các chính
sách kinh tế trong văn hóa, mà còn nhằm thực hiện chính sách văn hóa trong
kinh tế. Chính vì thế, rất cần có sự phân biệt rõ chức năng quản lý nhà nước về
văn hóa và hoạt động của các doanh nghiệp, cũng như giữa sản xuất kinh doanh
với hành chính sự nghiệp trong lĩnh vực này.
3.2. Quan điểm chỉ đạo và nội dung chủ yếu của quản lý nhà nước về văn hoá
3.2.1. Quan điểm chỉ đạo của Đảng về phát triển về văn hoá
Từ khi ra đời đến nay Đảng ta luôn coi trọng lãnh đạo văn hóa, nhất là thời kì
đổi mới đã có nhiều nghị quyết bàn về phát triển văn hóa, trong đó điển hình là
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII “Về xây dựng và phát triển nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Đây là mốc đánh dấu sự
đổi mới toàn diện trong tư duy về văn hóa của Đảng. Từ đây, Đảng Cộng sản
Việt Nam đã có cái nhìn thấu suốt và toàn diện về các giá trị văn hóa của dân tộc
với sự tiến bộ của thời đại; giữa lý tưởng tinh thần và yêu cầu xử lý các nhiệm
vụ kinh tế - xã hội, đã vạch ra mục tiêu, giải pháp cho sự nghiệp phát triển văn
hóa trong chặng đường trước mắt và lâu dài của nước ta. Ngoài phần đề cập về
những thành tựu, yếu kém và nguyên nhân chủ yếu của văn hóa Việt Nam, Nghị
quyết đề cập đến những phương hướng, nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn
hóa, 5 quan điểm chỉ đạo cơ bản, 10 nhiệm vụ cụ thể; và những giải pháp lớn
xây dựng và phát triển văn hóa.
Những quan điểm về văn hóa theo tinh thần Hội nghị
Trung ương 5 khóa VIII là: - Văn hóa là nền tảng tinh thần, vừa là mục tiêu, vừa
là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội;
- Văn hóa mà chúng ta đang xây dựng và nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc;
- Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
- Xây dựng và phát triển nền văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh
đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.
- Văn hóa là mặt trận, xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp cách mạng
lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng.
Để đảm bảo thực hiện các quan điểm nêu trên, Đảng đã xác định 10 nhiệm vụ
chính phát triển văn hóa. Đó là: xây dựng con người Việt nam trong giai đoạn
cách mạng mới; xây dựng môi trường văn hóa; phát triển sự nghiệp văn học
nghệ thuật; bảo tồn và phát huy di sản văn hóa; phát triển sự nghiệp giáo dục
đào tạo và khoa học - công nghệ; phát - triển và quản lý tốt hệ thống thông tin
đại chúng; bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số; xây
dựng chính sách văn hóa đối với tôn giáo; mở rộng hợp tác quốc tế về văn hóa;
củng cố, xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hóa.
Những giải pháp để phát triển văn hóa là: mở cuộc vận động giáo dục chủ nghĩa
yêu nước gắn với thi đua yêu nước và phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng
đời sống văn hóa”; xây dựng, ban hành luật pháp và các chính sách văn hóa;
tăng cường nguồn lực và phương tiện cho hoạt động văn hóa; nâng cao hiệu quả
lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa
3.2.2. Nội dung chủ yếu của quản lý nhà nước về văn hoá
Hiện nay, quản lý nhà nước về văn hóa ở nước ta tập trung vào các nội dung cơ
bản sau: 3.2.2.1. Lập kế hoạch xây dựng và phát triển văn hoá
Lập kế hoạch xây dựng và phát triển văn hoá trong từng giai đoạn để thực hiện
đường lối và định hướng phát triển của Đảng và Nhà nước đối với văn hoá. Đây
là nhiệm vụ giữ vị trí quan trọng trong công tác quản lý của Nhà nước. Quá trình
xây dựng các kế hoạch văn hoá phải gắn chặt với kế hoạch chung phát triển toàn
diện của xã hội, trong đó vừa chú ý những yêu cầu riêng của văn hoá, vừa chỉ ra
được mối quan hệ, tác động lẫn nhau giữa văn hoá với các lĩnh vực khác nằm
trong kế hoạch chung, phải xuất phát từ thực tiễn, có tính khả thi cao.
3.2.2.2. Xây dựng thể chế, chính sách văn hóa
Để quản lý tốt hoạt động văn hoá, Nhà nước phải chú trọng xây dựng thể chế
văn hoá. Thể chế văn hoá bao gồm hai loại hệ thống chuẩn mực: chuẩn mực luật
pháp và chuẩn mực phong tục tập quán. Vấn đề đặt ra là cần xác định rõ những
loại hoạt động văn hoá nào cần áp dụng thể chế luật pháp nào. Trên bình diện
quốc tế có thể đề cập đến những bộ luật, điều luật có tính quốc tế về văn hoá mà
nhiều nước thấy có trách nhiệm phải tham dự, ràng buộc nhau vì tiến bộ chung
của nhân loại. Trên bình diện quốc gia, nước nào cũng có những điều luật về văn
hoá, hoặc ghi trong các bộ luật khác, hoặc trong bộ luật chuyên về văn hoá. Hiến
pháp 1992 của nước ta quy định: “Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển nền
văn hoá Việt Nam: dân tộc, hiện đại, nhân văn; kế thừa và phát huy những giá trị
của nền văn hiến các dân tộc Việt Nam, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí
Minh; tiếp thu tinh hoa nhân loại; phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân
dân; Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp văn hoá” (Điều 30-Chương III).
Hiến pháp 2001 có sửa đổi, nền văn hóa của dân tộc ta là nền văn hóa tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc. Nhà nước còn ban hành các luật riêng đối với một số
hoạt động văn hoá như: Luật Giáo dục, Luật Khoa học công nghệ, Luật Sở hữu
trí tuệ, Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Luật Di sản văn hoá, Luật Điện ảnh, Pháp
lệnh Bảo hộ quyền tác giả, Pháp lệnh Quảng cáo, Pháp lệnh Thư viện...
3.2.2.3. Hướng dẫn triển khai kế hoạch và các hoạt động văn hoá, tổ chức hoạt
động giám sát các hoạt động văn hoa
Hướng dẫn triển khai kế hoạch và các hoạt động văn hoá là những nhiệm vụ
quan trọng của quản lý nhà nước đối với văn hoá. Nhà nước tiến hành tổ chức và
sắp xếp lại các cơ quan quản lý nhà nước cũng như các cơ quan sản xuất, cung
ứng dịch vụ văn hoá và xác định vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước.
Nhà nước đổi mới cơ chế giám sát hoạt động văn hoá và các dịch vụ văn hoá
theo hướng hoàn thiện, bổ sung các văn bản pháp quy và kiện toàn đội ngũ cán
bộ giám sát của ngành từ trung ương đến cơ sở.
3.2.2.4. Xây dựng và sử dụng nguồn lực, kinh phi cho các hoạt động văn hoá;
quản lý việc hợp tác quốc tế trên lĩnh vực văn hoa
Xây dựng và sử dụng nguồn lực, kinh phí cho các hoạt động văn hoá là nhiệm
vụ cụ thể nhưng có vị trí vô cùng quan trọng trong nội dung quản lý nhà nước.
Tăng cường ngân sách cho phát triển văn hoá đang là khuynh hướng chung của
các nước trên thế giới. Việc đầu tư và sử dụng các nguồn lực phải trên cơ sở các
mô hình hoạt động văn hoá cụ thể và đầu tư có trọng tâm, trọng điểm trong từng
hờ kì, giải đoạn, tránh đầu tư bình quân, dàn trải.
Quản lý việc hợp tác quốc tế trên lĩnh vực văn hoá cần thực hiện tốt trong tất cả
các nguồn lực (nhân lực, tài chính, văn hoá phẩm, thông tin) đặc biệt phải có cơ
chế hữu hiệu kiểm soát văn hoá phẩm độc hại, kém chất lượng du nhập vào
nước ta. Bên cạnh đó, cần chú trọng vấn đề chế độ chính sách đưa cán bộ quản
lý, văn nghệ sĩ, chuyên viên văn hoá... đi tham quan, học hỏi, đào tạo ở nước ngoài.
3.2.2.5. Kiểm tra, thanh tra và xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa
Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện pháp luật về văn hoá giải quyết các khiếu nại,
tố cáo và xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hoá là nội dung quan
trọng đảm bảo nâng cao hiệu quả các quy trình quản lý văn hoá. Thanh tra kiểm
tra việc chấp hành pháp luật về văn hoá tiến hành trên những nội dung: thanh tra
việc chấp hành các bộ luật trong lĩnh vực văn hoá (Luật Giáo dục, Luật Khoa
học công nghệ, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Luật Di sản
văn hoá, Luật Điện ảnh, Pháp lệnh Bảo hộ quyền tác giả, Pháp lệnh Quảng cáo,
Pháp lệnh Thư viện...) và thanh tra việc thực hiện mục tiêu, kế hoạch, chương
trình, nội dung trong lĩnh vực văn hoá. Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong
lĩnh vực văn hoá cần theo các bước: xác minh, kết luận, kiến nghị các biện pháp
giải quyết các khiếu nại, tố cáo. Việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về văn
hoá tiến hành theo quy trình áp dụng biện pháp ngăn chặn và xử lý sai phạm
theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, nội dung quản lý văn hóa còn tiếp cận theo các hoạt động văn hoá bao
gồm: quản lý các hoạt động sáng tạo - sản xuất các giá trị văn hóa, quản lý quá trình N
thông, phân phối các sản phẩm và các dịch vụ văn hóa, quận
lý quá trình tiêu thụ, thưởng thức các giá trị văn hóa. 33. Phương pháp, công cụ
quản lý nhà nước về văn hoá
3.3.1. Phương pháp quản lý nhà nước về năm kinh Phương pháp quan lý văn hoả
là các cách thue mùa xu quan và cán bộ quản lý văn hóa các cấp tác động đến
đất tượng quản lý theo những nguyên tắc nhất định nhằm du hiện những mục
tiêu quản lý về văn hoá mà nhà muộn gi cho
Dưới đây là một số phương pháp thường dùng trong quản lý văn hoá.
3.3.1.1. Phương pháp hành chính trung quan là vẫn kh Phương pháp hành chính
trong quản lý văn hoá là phương pháp quản lý văn hoá thông qua các quyết định,
mình lệnh, chỉ thị phù hợp với pháp luật hiện hành về văn hóa đề dẫn dắt, bắt
buộc đối tượng thực hiện mục tiêu quản lý.
Đặc điểm cơ bản của phương pháp hành chính trong quản lý văn hoá là tính
nguyên tắc và tính quyền lực. Phương pháp này có sự tác động trực tiếp bằng
các quy định dứt khoát mang tính quyền lực bắt buộc của nhà nước lên đối
tượng. Nó đòi hỏi đối tượng quản lý phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy định
hành chính. Nếu vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định. Tính quyền lực đòi hỏi các
cơ quan quản lý nhà nước phải sử dụng đúng và đầy đủ quyền lực của mình
trong các tác động hành chính gần với thẩm quyền của mình. Thục chất của
phương pháp này là sử dụng quyền lực quản lý nhà nước để tạo ra sự phục tùng
của cá nhân và các tổ chức.
Ưu thế của phương pháp hành chính là đảm bảo kỳ cương, kỷ luật trong mọi
hoạt động của nhà nước và công đồng và tổ chức đồng thời thể hiện tinh linh
hoạt, kịp thời của các quyết định. Tuy nhiên, hạn chế của phương pháp là mang
tính áp đặt làm cho người bị quản lý có thể rơi vào trạng thái bị động, ức chế.
Nếu lạm dụng phương pháp này. dẫn tới nạn giây tờ, quan liêu trong quản lý văn
hoá và đề tạo nên sự ức chế, phản cảm ở đối tượng.
Để thực hiện phương pháp này có hiệu quả, trước hết văn bản quản lý văn hoá
phải chính xác, khoa học... gắn với thẩm quyền của các cấp quản lý. Các văn
bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo
đúng thủ tục, trình tự luật định. Các văn bản đó là sự thể chế hóa mọi đường lối,
chủ trương của Đảng, chiến lược của Nhà nước. Người quản lý phải có đủ quyền
uy để chỉ thị, mệnh lệnh của mình vừa có tính thuyết phục vừa có tính bắt buộc
đối tượng thực hiện; mệnh lệnh, chỉ thị phải mang tính khách quan, khoa học, rõ
ràng, khả thi. Mặt khác, cơ quan quản lý văn hoá cần định kỳ tổ chức kiểm tra
hoặc kiểm tra đột xuất việc thực hiện các quyết định, mệnh lệnh, chỉ thị về văn hoá đó ban hành.
3.3.1.2. Phương pháp giáo dục trong quản lý văn hoá Phương pháp giáo dục
trong quản lý văn hoá là cách thức tác động của chủ thể quản lý bằng các yếu tố
tâm lý và tình cảm tới đối tượng nhằm biến những yêu cầu, nhiệm vụ, mục tiêu
văn hoá của tổ chức, của xã hội thành nghĩa vụ tự giác bên trong, thành nhu cầu
của đối tượng quản lý. Thực chất của phương pháp giáo dục là khơi gợi tinh
thần tự giác, chủ động của người bị quản lý, tạo ra bầu không khí cởi mở, tin cậy
lẫn nhau trong tổ chức nhằm phát huy tiềm năng của mỗi người trong việc sáng
tạo, gìn giữ và hưởng thụ các giả trị văn hoá.
Phương pháp giáo dục dựa trên cơ sở vận dụng quy luật tâm lý là bản tính nhân
văn và hướng thiện vốn có trong mỗi con người. Nếu nó được khơi dậy, kích
thích sẽ trở thành “yêu tố trội”, chi phối nhận thức và hành vi tính tích mang tự
giác của họ. Do đó, bên cạnh sử dụng các phương pháp hành chính, kinh tế,
trong những tình huống nhất định, cần phải chú trọng giáo dục, thuyết phục để
tác động tới tinh thần tình cảm, tâm lý xã hội... của các cá nhân. Đặc trưng của
phương pháp này là phương pháp giúp con người nhận thức được các chuẩn
mực phải - trái, đúng - sai, thiện - ác... từ đó nâng cao tính tự giác và tính tích
cực công dân trong thực hiện nhiệm vụ về văn hoá.
Phương pháp giáo dục thể hiện tính dân chủ trong hoạt động quản lý văn hoá
dựa trên sự hiểu biết tâm tư nguyện vọng và tôn trọng đối tượng quản lý; phát
huy quyền làm chủ tập thể của mọi thành viên trong tổ chức; phát huy tiềm năng
của mọi thành viên và xây dựng bầu không khí lành mạnh, cởi mở trong tổ chức
và xã hội. Tuy nhiên, hiệu quả của phương pháp phụ thuộc rất lớn vào nghệ
thuật tác động giáo dục của người quản lý (đòi hỏi cao ở người quản lý: mềm
dẻo linh hoạt nhưng không buông lỏng, tự do vô tổ chức; quyết đoán, nguyên tắc
nhưng không cứng nhắc). Sử dụng phương pháp dễ dẫn tới nạn hội họp tràn lan;
tư tưởng bẻ phái, cục bộ; e dè, nễ nang trong quản lý văn hoá.
Để thực hiện phương pháp giáo dục hiệu quả, người quản lý văn hoá phải là
người có uy tín trong tổ chức, trình độ chuyên môn vững, mẫu mực trong cuộc
sống, khả năng ứng xử linh hoạt, cởi mở lắng nghe ý kiến người khác, biết tập
hợp quanh mình lực lượng cốt cán có uy tín. Bên cạnh đó, cần xây dựng không
khí lành mạnh trong tổ chức. Người cán bộ quản lý phải hiểu tâm tư nguyện
vọng các thành viên, lắng nghe ý kiến của họ, giao việc cho họ, tin tưởng khả
năng của họ, giúp họ vượt những khó khăn, lựa chọn và bồi dưỡng cán bộ cốt
cán, ủy quyền cho đội ngũ những người giúp việc. Mặt khác, đối tượng giáo dục
cũng cần có tính tự giác cao và có tinh thần xây dựng tập thể tốt để cùng thực hiện mục tiêu văn hoá.
3.3.1.3. Phương pháp kinh tế trong quản lý văn hóa Phương pháp kinh tế trong
quản lý văn hoá là sự tác động của chủ thể tới đối tượng quản lý bằng cơ chế
kích thích, ràng buộc lợi ích vật chất để họ nỗ lực, cố gắng tham gia các công
việc chung và thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao trong lĩnh vực văn hoá.
Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trên lĩnh vực văn hoá đều tuân thủ các quy
luật kinh tế khách quan như: quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị, quy luật cung
cầu. . . Thông qua lợi ích kinh tế, Nhà nước tạo ra động lực thúc đẩy con người
tích cực hoạt động nhằm hoàn thành mục tiêu về văn hoá của tổ chức.
Ưu thế của phương pháp kinh tế là giảm bớt việc ban hành các chỉ thị, mệnh
lệnh, đồng thời giảm bớt thời gian giám sát của cán bộ quản lý văn hoá. Phương
pháp này phát huy tính độc lập, tự giác, sáng tạo của mỗi người trong các hoạt
động văn hoá. Hạn chế của phương pháp là có thể dẫn tới khuynh hướng tư lợi,
chỉ biết tới lợi ích cá nhân, ít quan tâm đến tập thể và chỉ quan tâm tới những
công việc có tiền thưởng dẫn đến tình trạng thương mại hoá trong lĩnh vực văn
hoá. Ngân sách chi cho văn hoá hạn chế và tính chất tế nhị. Ngoài ra, nhạy cảm
của văn hoá cũng là khó khăn cho việc thực thi phương pháp này.
Để áp dụng các phương pháp kinh tế vào quản lý văn hoá có hiệu quả, Nhà nước
cần phải hoàn thiện hệ thống các đòn bẩy kinh tế, nâng cao năng lực vận dụng
các quan hệ thị trường; thực hiện việc phân cấp quản lý theo hướng mở rộng
quyền hạn cho cấp dưới. Sử dụng phương pháp kinh tế trong quản lý văn hoá
đòi hỏi cán bộ quản lý phải có năng lực trình độ nhiều mặt kiến thức văn hoá,
kinh tế, luật pháp...cũng như đạo đức nghề nghiệp. Người quản lý phải năng
động, linh hoạt, biết huy động sự đầu tư từ nhiều nguồn. Nên kết hợp chặt chẽ
và tương xứng phương pháp kinh tế với các động viên về tinh thần.