TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
----------------
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN
ĐỀ TÀI
CÁC HÌNH THỨC BIỂU HIỆN CỦA GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TRONG
NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Nhóm thực hiện: Nhóm 6
Lớp học phần : 2215RLCP1211
GV hướng dẫn : Ts. Đặng Thị Hoài
1
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM
2
STT Họ và tên Công việc
51 Nguyễn Thị Hương Ngân Tìm tài liệu, thuyết trình
52 Nguyễn Thị Kim Ngân Tìm tài liệu, thiết kế PP
53 Nguyễn Thu Ngân Tìm tài liệu, thuyết trình
54 Nguyễn Thị Thúy Ngần Tìm tài liệu, làm word
55 Bùi Thị Hồng Ngọc Tìm tài liệu, thiết kế PP
56 Lê Ánh Ngọc Tìm tài liệu, thiết kế PP
57 Ngô Thị Bích Ngọc Tìm tài liệu, làm word
59 Nguyễn Thảo Nguyên Tìm tài liệu, làm word
60 Khiếu Thị Nguyệt Tìm tài liệu, làm word
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU...............................................................................................4
I. Lý do lựa chọn đề tài..........................................................................................4
II. Đối tượng nghiên cứu.........................................................................................5
III. Mục đích nghiên cứu..........................................................................................5
IV. Nhiệm vụ.............................................................................................................5
V. Phương pháp nghiên cứu....................................................................................5
VI. Kết cấu đề tài.......................................................................................................5
B. NỘI DUNG...........................................................................................6
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN........................................................6
I. Nền kinh tế thị trường........................................................................................6
II. Khái niệm giá trị thặng dư.................................................................................6
III. Các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư....................................................7
1. Lợi nhuận:...................................................................................................7
1.1. Chí phí sản xuất:.................................................................................7
1.2. Bản chất của lợi nhuận:.....................................................................7
1.3. Tỷ suất lợi nhuận:...............................................................................8
1.4. Lợi nhuận bình quân:........................................................................9
1.5. Lợi nhuận thương nghiệp:...............................................................11
2. Lợi tức.......................................................................................................12
2.1. Tư bản cho vay trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa:. 12
2.2. Nguồn gốc, bản chất của lợi tức, tỷ suất lợi tức:...........................13
2.3. Hình thức vận động:.........................................................................13
3. Địa tô tư bản chủ nghĩa.............................................................................14
3.1. Tư bản kinh doanh nông nghiệp:....................................................14
3.2. Bản chất của địa tô tư bản chủ nghĩa:............................................14
IV. Ý nghĩa phân tích các biểu hiện của giá trị thặng dư....................................16
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
VÀ VIỆC VẬN DỤNG CÁC HÌNH THỨC BIỂU HIỆN GIÁ TRỊ THẶNG DƯ. .17
I. Hình thức biểu hiện giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường hiện nay ở
Việt Nam ............................................................................................................................17
II. Vận dụng các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư.................................18
1. Thành tựu:.................................................................................................18
2. Hạn chế:....................................................................................................19
III. Giải pháp để vận dụng hiệu quả các hình thức biểu hiện giá trị thặng dư
trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa......................................20
C. KẾT LUẬN.........................................................................................22
TÀI LIỆU THAM KHẢO
3
A. MỞ ĐẦU
I. Lý do lựa chọn đề tài
Lênin từng đánh giá: “Giá trị thặng hòn đá tảng trong học thuyết kinh tế
của Mác”. Học thuyết giá trị thặng biểu hiện mẫu mực nghiên cứu vận dụng
quan điểm duy vật lịch sử vào sự phân tích các quá trình kinh tế trong xã hội tư bản.
cung cấp tri thức về lịch sử phát triển của sản xuất bản chủ nghĩa, sở khoa học
để phân tích nguyên nhân và dự báo chiều hướng phát triển kinh tế và xã hội.
Kể từ khi học thuyết giá trị thặng của C. Mác ra đời đến nay, thế giới đã trải
qua những biến đổi sâu sắc. Rất nhiều sự kiện đã khẳng định tính đúng đắn của những
kết luận rút ra từ học thuyết giá trị thặng như: những cuộc “khủng hoảng giẫy chết”
của chủ nghĩa bản thế giới đầu thế kỷ XX; sự ra đời của hệ thống hội chủ nghĩa
hiện thực; phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước
tư bản chủ nghĩa; sự tan rã của hệ thống dân tộc thuộc địa… Ngày nay, dưới sự tác động
như bão của cách mạng khoa học công nghệ sự phát triển của kinh tế thị trường
hiện đại, bức tranh thế giới đã đang diễn ra nhiều đổi mới trên hầu hết các lĩnh vực
kinh tế, chính trị, văn hoá, hội, tưởng... Trước những sự thay đổi, phát triển đó
hình thức biểu hiện của giá trị thặng cũng những sự thay đổi nhất định. vậy
việc nghiên cứu về thuyết giá trị thặng nói chung các hình thức biểu hiện của
giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường nói riêng là vô cùng quan trọng.
Quy luật giá trị thặng đã phát huy được vai trò to lớn của nó, đem lại những
tiến bộ vượt bậc và thành tựu đáng kinh ngạc cho chủ nghĩa tư bản. Nước ta nói riêng và
các nước hội chủ nghĩa nói chung đang nỗ lực không ngừng trên con đường đi lên
xây dựng thành công chủ nghĩa hội trên thế giới. Nước ta vốn nước quá độ bỏ qua
chế độ bản chủ nghĩa tiến lên chủ nghĩa hội. Với xuất phát điểm một nước
nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu, chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Yêu cầu đặt ra phải
từng bước xây dựng sở vật chất thuật cho chủ nghĩa hội. vậy, chúng ta phải
học tập những thành tựu chủ nghĩa bản đã đạt được, trong đó quan tâm đặc biệt
đến quy luật kinh tế bản của quy luật giá trị thặng dư, sửa chữa quan niệm sai
4
lầm trước kia xây dựng nền kinh tế tự cấp khép kín, kế hoạch hoá tập trung. Ngày nay
chúng ta thực hiện chính sách kinh tế mới: chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa. Để phù hợp với những vấn đề thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải nhận
thức lại, bổ sungphát triển các học thuyết đặc biệt là học thuyết giá trị thặng dư. việc
vận dụng học thuyết giá trị thặng trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở nước ta là cần thiết.
Xuất phát từ nhữngdo trên, nhóm chúng em đã lựa chọn đề tài “Các hình thức
biểu hiện của giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường”.
II. Đối tượng nghiên cứu
Các hình thức biểu hiện của giá trị thặng trong nền kinh tế thị trường của chủ
nghĩa tư bản nói chung và trong nền kinh tế thị trường Việt Nam.
III. Mục đích nghiên cứu
Phân tích làm các hình thức biểu hiện của giá trị thặng của chủ nghĩa
bản trong học thuyết giá trị thặng dư của Mác, từ đó vận dụng vào nền kinh tế thị trường
ở Việt Nam để trình bày thực trạng và đề ra các giải pháp.
IV. Nhiệm vụ
Hệ thống kiến thức sở luận liên quan đến giá trị thặng biểu hiện
của giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường.
Trình bày, đánh giá thực trạng nền kinh tế thị trường nước ta biểu hiện
của giá trị thặng dư trong nền kinh tế.
Từ những phân tích nghiên cứu trên, đề xuất một số biện pháp nhằm vận
dụng một cách phù hợp và hiệu quả giá trị thặng dư.
V. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp định lượng: thống kê mô tả
VI. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được chia làm 2 phần:
5
Chương 1: Những vấn đề lý luận.
Chương 2: Vận dụng vấn đề lý luận để đánh giá thực trạng ở Việt Nam.
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
I. Nền kinh tế thị trường
Trên thế giới nhiều quan điểm khác nhau về kinh tế thị trường. Theo Adam
Smith với lí thuyết “bàn tay vô hình" thì nền kinh tế thị trường là nền kinh tế tự điều tiết,
vận động theo quy luật của thị trường, hầu như không sự can thiệp của Nhà nước.
Kinh tế thị trường được hiểu dưới góc độ khác là có sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước
“bàn tay hữu hình" đại diện cho thuyết này J. M. Keynes với “Lý thuyết chung về
việc làm, lãi suất và tiền tệ".
Theo cuốn Đại từ điển kinh tế thị trường, thì khái niệm kinh tế thị trường
phương thức vận hành kinh tế thị trường hình thành bởi trao đổi lưu thông hàng hóa
làm người phân bố tài nguyên chủ yếu, lấy lợi ích vật chất cung - cầu thị trường mua
bán giữa hai bên làm chế khuyến khích hoạt động kinh tế phương thức vận hành
kinh tế.
Kinh tế thị trường là là nền kinh tế được vận hành theo cơ chế thị trường. Đó là
nền kinh tế hàng hóa phát triển cao, đó mọi quan hệ sản xuất trao đổi đều được
thông qua thị trường, chịu sự tác động, điều tiết của các qui luật thị trường.
II. Khái niệm giá trị thặng dư
Giá trị thặng bộ phận giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công
nhân tạo ra, là kết quả của lao động không công của công nhân cho nhà tư bản.
Công thức: W = c + v + m.
Sản xuất giá trị thặng mục tiêu động của từng nhà bản cũng như
toàn bộ nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Bản chất của giá trị thặng dư tư bản chủ nghĩa thể
hiện quan hệ bóc lột giữa người sở hữu liệu sản xuất người sở hữu hàng hoá sức
lao động, hay nói cách khác giữa nhà tư bản và người làm thuê.
6
III. Các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư
1. Lợi nhuận:
Marx nêu ra định nghĩa lợi nhuận: “Giá trị thặng dư, được quan niệm con đẻ
của toàn bộ tư bản ứng trước, mang hình thái chuyển hóa là lợi nhuận”.
Lợi nhuận (p) phần chênh lệch giữa giá trị hàng hóa (G) so với chi phí sản
xuất bản chủ nghĩa (k), p = G - k. Lợi nhuận hình thức biểu hiện của giá trị thặng
trên bề mặt nền kinh tế thị trường. Lợi nhuận mục tiêu, động cơ, động lực của sản
xuất kinh doanh. Để làm bản chất của lợi nhuận, C.Mác bắt đầu phân tích làm chi
phí sản xuất.
1.1.Chí phí sản xuất:
Muốn tạo ra giá trị hàng hóa, nhà bản phải chi một số lao động nhất định gọi
chi phí lao động. Còn chi phí sản xuấtbản chi phí về giá trị (về tiền) để sản xuất
(Kí hiệu:k)
Nếu gọi giá trị hàng hóa G, thì G = c + v + m. Đó chính những chi phí lao
động thực tế của hội để sản xuất hàng hóa. Nhưng đối với nhà tư bản, để sản xuất
hàng hóa, họ chỉ cần chi phí một lượng tư bản để mua tư liệu sản xuất (c) và mua sức lao
động (v). Chi phí đó gọi chi phí sản xuất bản chủ nghĩa, (ký hiệu k), thì: k = c +
v. Vậy, chi phí sản xuất bản chủ nghĩa phần giá trị lại giá cả của những liệu
sản xuất giá cả sức lao động đã tiêu dùng để sản xuất ra hàng hóa cho nhà bản.
Nếu dùng k để chỉ chi phí sản xuất bản chủ nghĩa thì công thức W = c + v + m sẽ
chuyển hoá thành G = k + m. Giữa chi phí sản xuấtbản chủ nghĩagiá trị hàng hóa
sự khác nhau cả về chất về lượng. Về chất, chi phí sản xuất bản chủ nghĩa mới
chỉ là sự chi phí về tư bản; còn giá trị hàng hóa là sự chi phí về thực tế của xã hội để sản
xuất ra hàng hóa. Chi phí thực tế chi phí về lao động hội cần thiết để sản xuất ra
hàng hóa. Về lượng, chi phí sản xuất bản chủ nghĩa luôn nhỏ hơn chi phí thực tế, tức
giá trị của hàng hóa, rằng G = k + m thì k = G - m. Đối với nhà bản, chi phí sản
xuất bản chủ nghĩa giới hạn thực tế của lỗ lãi kinh doanh nên họ ra sức "tiết kiệm"
chi phí sản xuất này bằng mọi cách.
7
1.2.Bản chất của lợi nhuận:
C.Mác khái quát: “Giá trị thặng được quan niệm là con đẻ của toàn bộ bản
ứng trước, mang hình thái chuyển hóa lợi nhuận”. Lợi nhuận (p) được xem phần
chênh lệch giữa giá trị hàng hóa chi phí sản xuất (sự hao phí của các yếu tố như
liệu sản xuất sức lao động đã tiêu dùng để sản xuất ra hàng hóa) khi hàng hóa được
bán đúng với giá trị của nó. khoản chênh lệch này cũng bằng với giá trị thặng dư.
Khi đó, c + v + m chuyển thành k + p.
Xét về chất, cả (p) (m) đều là kết quả của chiếm đoạt lao động của công nhân
làn thuê. Nhưng, cái khác nhau giữa m p chỗ, khi nói m hàm ý so sánh với v,
còn khi nói p lại hàm ý so sánh với (c + v). p m thường không bằng nhau. Về
lượng, p thể cao hơn hoặc thấp hơn hoặc bằng m, phụ thuộc vào giá cả bán hàng hóa
do quan hệ cung cầu quy định. Nhưng xét trên phạm vi toàn hội, tổng số lợi nhuận
luôn ngang bằng tổng số giá trị thặng dư. Nhưng phạm trù lợi nhuận lại phản ánh sai
lệch quan hệ bóc lột bản chủ nghĩa vì: G = k + p người ta lại lầm tưởng p con đẻ
của k. Khi p khác m thì ngưòi ta cho rằng p không có nguồn gốc từ m.
1.3.Tỷ suất lợi nhuận:
Khi giá trị thặng chuyển hóa thành lợi nhuận thì tỷ suất giá trị thặng
chuyển hóa thành tỷ suất lợi nhuận. Tỷ suất lợi nhuận là tỷ lệ phần trăm giữa tổng số gía
trị thặng dư và toàn bộ tư bản ứng trước (ký hiệu là p').
Công thức tính:
p'=m
C+100%
Về lượng, tỷ suất lợi nhuận là nhỏ hơn tỷ suất giá trị thặng dư: p' < m'.
Về chất, tỷ suất giá trị thặng dư (m’) phản ánh trình độ bóc lột của nhà tư bản đối
với lao động. Còn tỷ suất lợi nhuận (p’) chỉ mức doanh lợi của việc đầu bản. Tỷ
suất lợi nhuận chỉ cho các nhà tư bản thấy đầu tư vào đâu thì có lợi hơn (ngành nào có P'
lớn hơn). Do đó, tỷ suất lợi nhuận là mục tiêu cạnh tranh và là động lực thúc đẩy sự hoạt
động của các nhà tư bản.
Tỷ suất lợi nhuận cao hay thấp tuỳ thuộc vào nhiều nhân tố như: tỷ suất giá trị
thặng dư, cấu tạo hữu của bản, tốc độ chu chuyển bản, sự tiết kiệm bản bất
biến
8
Các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ suất lợi nhuận: Quan sát từ công thức tính tỳ
suất lợi nhuận thể thấy, những nhân tố nào ảnh hưởng tới giá trị của tử số hoặc mẫu
số, hoặc cả tử số cả mẫu số của phân thức cũng sẽ ảnh hưởng tới tỷ suất lợi nhuận.
C.Mác nêu ra các nhân tố sau:
Tỷ suất giá trị thặng dư. Sự gia tăng của tỷ suất giá trị thặng dư sẽ có tác dộng
trực tiếp làm tăng tỷ suất lợi nhuận.
Cấu tạo hữu cơ tư bản. Cấu tạo hữu cơ c/v tác động tới chi phí sản xuất, do đó
tác động tới lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận.
Tốc độ chu chuyển của tư bản. Nếu tốc độ chu chuyền của tư bản càng lớn thì
tỷ lệ giá trị thặng dư hàng năm tăng lên, do đó, tỷ suất lợi nhuận tăng.
Tiết kiệm tư bản bất biến. Trong điều kiện tư bản khả biến không đồi, nếu giá
trị thặng dư giữ nguyên, tiết kiệm tư bản bất biến làm tăng tỷ suất lợi nhuận.
1.4.Lợi nhuận bình quân:
Cạnh tranh giữa các ngành là cơ chế cho sự hình thành lợi nhuận bình quân.
các ngành sán xuất kinh doanh khác nhau, do những điều kiện tự nhiên,
kinh tế, kỹ thuật tổ chức quản khác nhau, nên tỷ suất lợi nhuận giữa các ngành
cũng khác nhau.
Ta dụ sau: Giả sử ba ngành sản xuất (cơ khí, dệt da), vốn của các
ngành đều bằng nhau (bằng 100 đơn vị tiền tệ), tỷ suất giá trị thặng đều bằng nhau
(bằng 100%), tốc độ chu chuyển của vốn ở các ngành đều bằng nhau.
Do đặc điểm của mồi ngành sản xuất khác nhau, nên cấu tạo hữu của vốn (tư
bản) ở từng ngành khác nhau, tỷ suất lợi nhuận ở các ngành khác nhau (xem bảng)
Ngành sản
xuất CP sản xuất m’ (%) m
p'
(%)
p'
(%)
p
Giá cả sản xuất
Cơ khí 80 c + 20 v 100 20 20 30 30 130
Dệt 70 c + 30 v 100 30 30 30 30 130
Da 60 c + 40 v 100 40 40 30 30 130
9
đây, tỷ suất lợi nhuận ngành da cao nhất, nên các doanh nghiệp
ngành khí (thậm chí cả ngành dệt) sẽ di chuyển vốn của mình sang đầu vào
ngành da.
Đến một thời điểm nhất định, sản phẩm của ngành da sẽ tăng lên (cung lớn hơn
câu), làm cho giá cả hàng hoá ngành da sẽ hạ xuống thấp hơn giá trị của tỷ suất
lợi nhuận ở ngành này giảm xuống.
Ngược lại, sản phẩm của ngành cơ khí sẽ giảm đi (cung nhỏ hơn cầu), nên giá cả
sẽ cao hơn giá trị và do đó tỷ suất lợi nhuận ở ngành cơ khí sẽ tăng lên.
Nếu tỷ suất lợi nhuận ngành khí cao hơn ngành da thì các doanh nghiệp lại
chuyển vốn đầu tư vào ngành cơ khí. Đây gọi là hiện tượng tự do di chuyển vốn sản xuất
kinh doanh. Sự tự do di chuyển vốn vào các ngành chỉ tạm dừng lại khi tỷ suất lợi nhuận
tất cả các ngành đều xấp xỉ bằng nhau, tức hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân
(p').
Về cách tính, lợi nhuận bình quân (ký hiệu p) được tính theo suât lợi
nhuận bình quân (là con số trung bình của các tỷ suất lợi nhuận, ký hiệu là P').
Tỷ suất lợi nhuận bình quân được tính bằng số bình quân gia quyền của các tỷ
suất lợi nhuận như sau:
p'= p
Σ (c+v )
×100%
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh giữa các ngành tất yếu dẫn tới hình
thành lợi nhuận bình quân.
Lợi nhuận bình quân số lợi nhuận bằng nhau của như bản như nhau đầu
tư vào các ngành khác nhau (ký hiệu là p).
Nếu hiệu giá trị bản ứng trước K thì lợi nhuận bình quân được tính
như sau:
p=p'× K
Khi lợi nhuận chuyền hóa thành lợi nhuận bình quân thì giá trị của hàng hóa
chuyển hóa thành giá cá sản xuất. Giá cả sản xuất được tính như sau:
GCSX = k +
p
Những điều kiện hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân, lợi nhuận bình quân,
giá cả sản xuất bao gồm:bản tự do di chuyển và sức lao động tự do di chuyển. Trong
10
nền kinh tế thị tnrờng tư bản chủ nghĩa, lợi nhuận bình quân đã trả thành căn cứ cho các
doanh nghiệp lựa chọn ngành nghề, phương án kinh doanh sao cho có hiệu quả nhất.
1.5. Lợi nhuận thương nghiệp:
Trong nền kinh tế thị trường bản chủ nghĩa, do sự phân công lao động
hội, xuất hiện bộ phận chuyên môn hóa việc lưu thông hàng hóa. Bộ phận này gọi
bản thương nghiệp.
Về mặt lượng: Lợi nhuận thương nghiệp số chênh lệch giữa giá bán giá
mua hàng hóa
Về mặt chất: Lợi nhuận thương nghiệp chính một phần của giá trị thặng
nhà bản sản xuất trả cho nhà bản thương nghiệp do nhà bản thương nghiệp
đã giúp cho việc tiêu thụ hàng hóa.
bản thương nghiệp tuy không trực tiếp tạo ra giá trị thặng dư, nhưng góp
phần làm tăng năng suất lao động, tăng lợi nhuận, do đó làm cho tỷ suất lợi nhuận chung
của xã hội cũng tăng lên, góp phần tích lũy cho tư bản công nghiệp.
Sự hình thành lợi nhuận thương nghiệp:
Trên thực tế, các nhà bản thương nghiệp thu lợi nhuận thương nghiệp từ
chênh lệch giữa giá mua và giá bán. Nhưng điều đó không có nghĩa là nhà tư bản thường
nghiệp bán hàng hóa cao hơn giá trị của là: nhà bản thương nghiệp mua hàng
của nhà tư bản công nghiệp với giá thấp hơn giá trị (khi chấp nhận bán hàng với giá thấp
hơn giá trị cho nhà bản thương nghiệp nghĩa nhà bản công nghiệp đã chấp
nhận “nhượng” một phần giá trị thặng cho nhàbản thương nghiệp), sau đó, nhà
bản thương nghiệp lại bán hàng cho người tiêu dùng với giá đúng giá trị của nó.
Để làmquá trình phân chia giá trị thặng dư giữa nhà tư bản công nghiệp
nhà bản thương nghiệp, ta xét dụ sau đây (giả định trong dụ này không xét đến
chi phí lưu thông): Một nhà bản công nghiệp một lượng bản ứng trước 900,
trong đó phân chia thành 720c + 180v. Giả định m’ = 100% thì giá trị hàng hóa sẽ là:
720c + 180v + 180m = 1.080
Tỷ suất lợi nhuận công nghiệp là:
pCN =180
900×100=20%
'
Nhưng khi nhà tư bản thương nghiệp tham gia vào quá trình kinh doanh thì công
thức trên đây sẽ thay đổi. Giả sử nhà bản thương nghiệp ứng ra 100 bản để kinh
11
doanh. Như vậy, tổng tư bản ứng ra của cả hai nhà tư bản công nghiệp và thương nghiệp
sẽ là: 900 + 100 = 1.000, và tỷ suất lợi nhuận bình quân sẽ là:
p=180
1000×100=18%
Theo tỷ suất lợi nhuận chung này, nhà bản công nghiệp chỉ thu được số lợi
nhuận bằng 18% của số bản ứng ra (tức 18% của 900, bằng 162) nhà bản
công nghiệp sẽ bán hàng hóa cho nhà tư bản thương nghiệp theo giá:
900 + 162= 1.062
Còn nhà tư bản thương nghiệp sẽ bán hàng cho người tiêu dùng theo giá bàng giá
trị hàng hóa, tức là 1.080.
Chênh lệch giữa giá bán giá mua của nhà bản thương nghiệp chính lợi
nhuận thương nghiệp. Trong ví dụ này lợi nhuận thương nghiệp sẽ là:
ptn=1.0801.062=18
Khoản lợi nhuận thương nghiệp này cũng tương ứng với tỷ suất 18% của bản
thương nghiệp ứng trước.
2. Lợi tức
2.1.Tư bản cho vay trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa:
Khái niệm tư bản cho vay: Tư bản cho vay là tư bản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi
người sở hữu cho người khác sử dụng trong một thời gian nhằm tận dụng được số
tiền lời nhất định. Số tiền đó được gọi là lợi tức (z)
Đặc điểm của tư bản cho vay:
Quyền sử dụng tách khỏi quyền sở hữu. Chủ thể sở hữu bản không phải
chủ thể sử dụng, chủ thể sử dụng bản chỉ được sử dụng trong một thời hạn nhất định
và không có quyền sở hữu.
bản cho vay hàng hóa đặc biệt. Người bán không mất quyền sở hữu,
người mua chỉ được quyền sử dụng trong một thời gian. Sau khi sử dụng, tư bản cho vay
không mất giá trị sử dụng và giá trị mà được bảo toàn, thậm chí còn tăng thêm.
Giá cả của bản cho vay được quyết định bởi giá trị sử dụng của khả
năng thu được lợi nhuận bình quân, do đó không những không được quyết định bởi giá
trị, mà còn thấp hơn nhiều so với giá trị.
12
bản cho vay hình thái bản phiến diện nhất, song cũng được sùng bái
nhất.
Tác dụng: Lợi tức cho vay ra đời góp phần vào việc tích tụ, tập trung tư bản, mở
rộng sản xuất…đẩy nhanh tốc độ chu chuyển củabản góp phần tăng thêm tổng giá trị
thặng dư cho xã hội.
2.2. Nguồn gốc, bản chất của lợi tức, tỷ suất lợi tức:
Lợi tức một phần của lợi nhuận bình quân nhà bản đi vay phải tr cho
nhà bản cho vay căn cứ vào lượng bản tiền tệ nhà bản cho vay đã bỏ ra cho
nhà tư bản đi vay sử dụng.
Nguồn gốc của lợi tức chính từ giá trị thặng do công nhân làm thuê sáng
tạo ra trong những lĩnh vực sản xuất.
Giới hạn của lợi tức trong khoảng : 0 < z <
p
Tỷ suất lợi tức (z’): Là tỷ lệ tính theo phần trăm giữa tổng số lợi tức tổng số
tư bản tiền tệ cho vay: z’ =
z
bản cho vay
x 100%
Tỷ suất lợi tức phụ thuộc vào các nhân tố sau:
Tỷ suất lợi nhuận bình quân
Tỷ lệ phân chia lợi nhuận bình quân thành lợi tức và lợi nhuận
Quan hệ cung cầu về tư bản cho vay
2.3. Hình thức vận động:
Tín dụng:
Tín dụng một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa chủ sở hữu bản cho
vay với người sử dụng tư bản cho vay, trên nguyên tắc hoàn trả đúng kỳ hạn có kèm theo lợi
tức.
Các loại tín dụng cơ bản trong chủ nghĩa tư bản:
Tín dụng thương mại hình thức tín dụng giữa các nhà bản trực tiếp kinh
doanh, mua bán với nhau (kỳ phiếu thương mại - Commercial paper); giữa nhà bản với
người tiêu dùng (tín dụng tiêu dùng: mua hàng trả góp).
Tín dụng ngân hàng hình thức tín dụng giữa ngân hàng với các nhà bản trực
tiếp kinh doanh và các tầng lớp dân cư khác trong xã hội.
Tín dụng nhà nước (trái phiếu)
13
Ngân hàng:
Ngân hàng doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, làm môi giới giữa người đi vay
người cho vay. Ngân hàng có hai chức năng cơ bản: ay. nhận giới và cho v
Nguồn tiền cho vay của ngân hàng vốn tự của ngân hàng, bản tạm thời nhàn rỗ
các nhà tư bản, tiết kiệm của dân chúng đem gửi.
Lợi nhuận ngân hàng kết quả của lợi tức cho vay thu từ những hoạt động khác tr
lợi tức nhận gửi và chi phí nghiệp vụ ngân hàng.
3. Địa tô tư bản chủ nghĩa
3.1. Tư bản kinh doanh nông nghiệp:
Quan hệ sản xuất bản chủ nghĩa hình thành trong nông nghiệp theo hai con
đường điển hình:
Thông qua con đường cải cách, dần dần chuyển nền nông nghiệp địa chủ
phong kiến sang kinh doanh theo phương thức tư bản chủ nghĩa.
Thông qua cách mạng dân chủ tư sản, xóa bỏ kinh tế địa chủ phong kiến, phát
triển kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Tồn tại 3 giai cấp: địa chủ, nhà bản kinh doanh nông nghiệp công nhân
nông nghiệp làm thuê.
3.2. Bản chất của địa tô tư bản chủ nghĩa:
- Nhà bản kinh doanh trên lĩnh vực nông nghiệp phải trả một lượng tiền cho
địa chủ đã thuê đất của họ, bóc lột lao động làm thuê để tạo ra M (M gồm: p thu
nhập của nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp và địa tô – thu nhập của địa chủ).
- Theo C.Mác, địa tô là phần giá trị thặng dư còn lại sau khi đã khấu trừ đi phần
lợi nhuận bình quân các nhà bản kinh doanh trên lĩnh vực nông nghiệp phải trả
cho địa chủ.
- Các hình thức địa tô:
Địa tô tuyệt đối:
oĐịa tô tuyệt đối khoản địa nhất thiết phải khi nhà bản thuê đất để
tiến hành kinh doanh, dù cho đó là đất tốt hay đất xấu.
oNguyên nhân:
14
+ Do cấu tạo hữu trong nông nghiệp thấp hơn trong công nghiệp, nên kinh
doanh trên đất xấu vẫn có lợi nhuận siêu ngạch.
+ Do chế độ độc quyền sở hữu ruộng đất trong nông nghiệp khiến cho lợi nhuận
siêu ngạch trên đất xấu không phải tham gia bình quân hoá với các hình thái tư bản khác
(tư bản công nghiệp, tư bản thương nghiệp, tư bản cho vay).
Địa tô chênh lệch:
oĐịa chênh lệch trong chủ nghĩa bản khoản địa được trên
mảnh đất có điều kiện thuận lợi hơn so với mảnh đất có điều kiện xấu nhất.
oPhân loại:
+ Địa chêch lệch 1: Là địa chênh lệch thu được trên sở ruộng đất độ
màu mỡ tự nhiên và vị trí thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm.
+ Địa chênh lệch 2 địa chênh lệch thu được nhờ thâm canh tăng năng:
suất.
Địa tô độc quyền:
oĐịa độc quyền: địa thu được trên những ruộng đất điều kiện thiên
nhiên đặc biệt, có thể trồng những cây quí hiếm mà sản phẩm củacó giá đặc biệt cao
trên thị trường.
oĐịa tô độc quyền do người tiêu dùng trả khi mua hàng với giá cao.
Dưới chủ nghĩa tư bản, đất xây dựng, hầm mỏ cũng mang lại địa tô cho chủ nó vì
chúng mang lại lợi nhuận siêu ngạch.
Về nguyên lý, giá cả ruộng đất được tính trên sở so sánh với tỷ lệ lãi suất
ngân hàng theo công thức:
Giá cả đất đai =
Địa
Tỷ suất lợi tức nhận gửi của ngân hàng
Lý luận điạ tô tư bản chủ nghĩa của C.Mác không những chỉbản chất quan hệ
sản xuất bản chủ nghĩa trong nông nghiệp mà còn sở khoa học để xây dựng các
chính sách kinh tế liên quan đến thuế, đến điều tiết các loại địa tô, đến giải quyết các
quan hệ đất đai… nhằm kết hợp hài hòa các lợi ích khuyến khích thâm canh sử dụng đất
đai tiết kiệm, phát triển nên nông nghiệp hàng hóa bền vững.
15
IV. Ý nghĩa phân tích các biểu hiện của giá trị thặng dư
Việc phân tích các biểu hiện của giá trị thặng trong bản chủ nghĩa rất ý
nghĩa đối với thực tiễn hiện nay. Dựa vào việc hiểu, phân tích, tính toán tỷ suất lợinhuận
tỷ suất lợi nhuận bình quân, doanh nghiệp thể đưa ra quyết định khôn ngoan,
lợi nhất cho doanh nghiệp của chính mình. Nhất khi muốn tham giavào một ngành,
một thị trường mới và có những thay đổi, khác biệt về nhân công,nguyên liệu, lượng cầu
của người tiêu dùng,… đó lúc doanh nghiệp cần đến sự so sánh về tỷ suất lợi nhuận,
tỷ suất lợi nhuận bình quân
Lợi tức giúp cho sự phát triển của thị trường đầu tư, chứng khoán tài chính, giúp
nhân hoặc doanh nghiệp thể khai thác tối đa lượng tiền còn đang “nhàn rỗi” để
đem về lợi nhuận cao nhất và hiệu quả kinh tế cho thị trường. Trong tương lai, lợi tức sẽ
trở thành phần thúc đẩy cho những người trẻ tuổi, có trình độ nhất định tham gia vào các
giao dịch đầu tư về bất động sản, tín dụng, chứng khoán.
Hơn nữa, lợi tức cũng thúc đẩy các doanh nghiệp thành lập cácquỹ đầu của
riêng doanh nghiệp, các công ty, quỹ chuyên đầu tư mạo hiểm, đầutư xuyên quốc gia để
đầu tư vào các doanh nghiệp mới trên thị trường nhưng lại sở hữu những sản phẩm sáng
tạo, mang đến những giải pháp mới cho thị trường tiềm năng phát triển mạnh mẽ
trong tương lai. Từ đó, tạo nên mốiquan hệ “win-win”, nhà đầu thêm nguồn tiền
mới, những doanh nghiệp startup phát triển đồng thời, thêm vào đó, có thể mang đến lợi
ích người tiêu dùng và kinh tế quốc gia sẽ ngày càng phát triển.
Cùng với đó, việc phân tích các biểu hiện của giá trị thặng trong đó địa
tô cũng giúp cá nhân hoặc doanh nghiệp có cơ sở vững chắc để đưa ra giá cả trao đổi về
ruộng đất.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM VÀ
VIỆC VẬN DỤNG CÁC HÌNH THỨC BIỂU HIỆN GIÁ TRỊ THẶNG DƯ
I. Hình thức biểu hiện giá trị thặng trong nền kinh tế thị trường
hiện nay ở Việt Nam
Quy luật giá trị thặng dư đã phát huy vai trò to lớn của nó, đem lại những tiến bộ
vượt bậc và thành tựu đáng kinh ngạc cho chủ nghĩa tư bản. Ngay từ khi mới ra đời, chủ
16
nghĩa bản đã phát triển nền kinh tế hàng hóa, thông qua thị trường, giai cấp sản
mới mua được liệu sản xuất sức lao động, mới bán được hàng hóa bóc lột được
giá trị thặng do người lao động tạo ra. Trong nền kinh tế của chủ nghĩa bản, dưới
sự tác động của các quy luật kinh tế, trong đó quy luật giá trị thặng dư, nhà bản
thực hiện phương pháp sản xuất giá trị thặng tuyệt đối thực hiện kéo dài ngày lao
động, tăng cường độ lao động nhưng phương pháp này vấp phải những phản kháng của
người lao động nên các nhà bản thực hiện phương pháp sản xuất giá trị thặng
tương đối bằng cách ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất để
tăng năng suất lao độnghội, bên cạnh đó các nhàbản còn tích cực cải tiến tổ chức
sản sức, tiết kiệm chi phí sản xuất, tìm hiểu nhu cầu của thị trường. Các tiềm năng về
vốn, khoa học công nghệ, trình độ quản sản xuất kinh doanh được khơi dậy phát
triển mạnh mẽ, từ đó làm cho nền kinh tế năng động. Trong điều kiện nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, các thành phần kinh tế cần phải vận dụng
các phương pháp sản xuất giá trthặng các nhà bản đã vận dụng để phát triển
sản xuất đặc biệtchú trọng vận dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối
để năng cao năng suất lao động, thúc đẩy tăng trưởng phát triển kinh tế kết hợp với
phân phối theo lao động hiệu quả kinh tế nhằm nâng cao đời sống vật chất tinh
thần cho người lao động.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa nước ta hiện nay,
với nhiều thành phần kinh tế trong đó có thành phần kinh tế tư nhân, không thể phủ nhận
chủ doanh nghiệp bản nhân thông qua hoạt động sản xuất kinh doanh hợp pháp đã
góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nâng cao mức sống của người lao
động. Tuy nhiên, xét một cách biện chứng thì thu nhập của chủ doanh nghiệp bản
nhân lợi nhuận (tức giá trị thặng dư) nên vẫn tồn tại sự bóc lột. Cũng cần khẳng định
chiếm đoạt giá trị thặng đối lập với hội chủ nghĩa chúng ta đang xây dựng
nhưng chừng nào vẫn còn tác dụng chúng ta vẫn phải tạo điều kiện cho tồn tại
và làm cho nó gia tăng.
Việc xây dựng phát triển nền kinh tế theo chế thị trường sự quản của
Nhà nước theo định hướng hội chủ nghĩa đã được đặt ra từ Đại hội lần thứ VI Đảng
Cộng sản Việt Nam (năm 1986), được chính thức ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992
các văn kiện của Đảng Nhà nước. Từ việc phát triển kinh tế trong chế -
chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp trước đây với hai thành phần kinh tế kinh tế Nhà
17
nước kinh tế tập thể (kinh tế bản, nhân không được thừa nhận), đến nay, trong
nền kinh tế Việt Nam đã nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại phát triển với
những hình thức sở hữu khác nhau, trong đó, đáng chú ýsự hiện diện của thành phần
bản nước ngoài đang đầu kinh doanh tại Việt Nam. Nhà nước Việt Nam khuyến
khích bảo đảm bằng hệ thống pháp luật, chính sách để các thành phần kinh tế cùng
hội phát triển trong một môi trường cạnh tranh lành mạnh. Điều này đồng nghĩa
với việc tồn tại giá trị thặng dư trong nền kinh tế.
II. Vận dụng các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư:
1. Thành tựu:
- Nước ta đã vận dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối để năng
cao năng suất lao động, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế kết hợp với phân phối
theo lao động hiệu quả kinh tế nhằm nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho
người lao động. Cụ thể những năm gần đây, Việt Nam đã nhiều nỗ lực mạnh mẽ
trong việc cải thiện năng suất lao động (NSLĐ), nhờ đó đã những cải thiện đáng kể,
cả về giá trị tốc độ. Theo Báo cáo của Tổ chức Năng suất Châu Á (APO) năm 2020
đã cho thấy: năng suất lao động của Việt Nam được cải thiện rõ nét, bình quân giai đoạn
2016-2020 tăng 5,8%/năm, cao hơn giai đoạn 2011-2015 (4,3%) vượt mục tiêu đề ra
(5%). Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) bình quân 5 năm đạt khoảng
45,2% (mục tiêu đề ra là 30-35%). Năng suất lao động của toàn nền kinh tế theo giá hiện
hành năm 2021 ước tính đạt 171,3 triệu đồng/lao động (tương đương 7.398 USD/lao
động, tăng 538 USD so với năm 2020), theo Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và
năm 2021 của Tổng cục Thống kê.
-Nước ta đã chính sách thúc đẩy thành phần kinh tế này để qua đó thu hút
được nhiều lao động hội, sử dụng nhiều trình độ lao động để tạo ra nhiều sản phẩm
thỏa mãn nhu cầu xã hội. Trong thực tế, sau hơn 30 năm kể từ khi Luật đầu tư được ban
hành năm 1987, việc tiếp nhận đầu nước ngoài được chính thức hóa, tạo điều kiện
mời gọi các doanh nghiệp vốn đầu nước ngoài vào Việt Nam. Hơn 30 năm qua,
khu vực vốn đầu trực tiếp nước ngoài (FDI) đang trở thành một phần không thể
thiếu của nền kinh tế, đóng góp không nhỏ sự phát triển kinh tế- hội Việt Nam.
Theo thống của Bộ Kế hoạch Đầu tư, sau hơn 30 năm đón vốn FDI, từ năm 1988
đến tháng 8/2018, 63 tỉnh, thành phố của cả nước thu hút 26.438 dự án FDI của 129
18
quốc gia vùng lãnh thổ còn hiệu lực, với tổng vốn đăng 333,83 tỷ USD. Vốn FDI
đầu tư vào 19/21 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân. Đầu tư nước ngoài
hiện là nguồn vốn bổ sung quan trọng chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư cả nước, đóng
góp khoảng 20% GDP. Năm 2017, khu vực FDI đóng góp khoảng 8 tỷ USD, chiếm
14,4% tổng thu ngân sách. 10 đối tác đứng đầu có số vốn đăng ký khoảng 82%, trong đó
phải kể đến Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore và Đài Loan (Trung Quốc).
Với định hướng XHCN, nhà nước đã có những chính sách quản lý doanh nghiệp
này để nhằm hạn chế việc bóc lột người lao động quá mức như: kéo dài thời gian lao
động vượt quá thời gian quy định của luật lao động không sự thống nhất của
người lao động, việc cắt xén tiền công, cắt xén các chế độ của người lao động như bảo
hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm hội, bảo hiểm tai nạn lao động.. Thực tế,
nhà nước ta đã hệ thống luật pháp bảo vệ người lao động như: Luật lao động, Luật
bảo hiểm, quy định về tiền lương tối thiểu cho khu vực doanh nghiệp.
2. Hạn chế:
-Thực tế xảy ra đang tồn tại trong doanh nghiệp ngoài nhà nước người
chủ doanh nghiệp quyền tuyệt đối, quyền đưa ra những mức thưởng, phụ cấp theo
quan điểm cách quản của họ. để tối đa hóa lợi nhuận, họ sẽ luôn tìm mọi cách
từ chối thưởng cho người lao động bằng nhiều lý do.
- Thiếu sự kiểm soát chặt chẽ xử vi phạm nghiêm minh của các quan
chức năng đối với doanh nghiệp vốn đầu nước ngoài. Nhiều cuộc đình công, bãi
công của công nhân nước ta các doanh nghiệp vốn đầu nước ngoài chiếm tỷ lệ
khá cao trong các cuộc đình công đặc biệt năm 2011 đạt kỷ lục với 857 cuộc đình
công. Hiện nay, tuy đã giảm nhưng vẫn còn diễn ra các cuộc đình công mà nguyên nhân
dẫn đến liên quan đến các vấn đề về bảo hiểm hội, tiền lương, chế độ ngày nghỉ,
chất lượng bữa ăn ca.
- Tuy năng suất lao động của nền kinh tế nước ta nhiều số liệu khả quan
nhưng năng suất lao động Việt Nam vẫn tụt hậu so với Nhật Bản 60 năm, so với
Malaysia 40 năm Thái Lan 10 năm (theo Báo cáo 2020 của Tổ chức Năng suất châu
Á (APO)). Điều này cho thấy Việt Nam cần phải nhiều nỗ lực mạnh mẽ hơn nữa
trong việc cải thiện năng suất quốc gia.
19
III. Giải pháp để vận dụng hiệu quả các hình thức biểu hiện giá trị
thặng dư trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa:
Như vậy hiện nay nước ta, mục đích nghiên cứu kinh tế chính trị nói chung
lý luận giá trị thặng dư nói riêng có sự thay đổi. Nếu trước đây, mục đích nghiên cứu của
kinh tế chính trị để phê phán phương thức sản xuất TBCN tìm ra bản chất bóc lột giá
trị thặng của CNTB cổ điển xu hướng thay thế CNTB bằng một hội tốt đẹp
hơn, thì giờ đây, bên cạnh mục đích như trước, chúng ta còn cần nghiên cứu, khai thác
học thuyết giá trị thặng với cách một hệ thống luận phong phú sâu sắc
nhằm vận dụng vào công cuộc xây dựng phát triển kinh tế thị trường định hướng
XHCN.
Phân tích các biểu hiện thặng của chủ nghĩa bản để hiểu hơn đặc điểm
mối quan hệ sản xuất bản chủ nghĩa trong nền kinh tế. bản chủ nghĩa đã tận dụng
triệt để các nguồn lực, tối đa hóa thặng để mang đến những thành tựu phát triển vượt
bật về kinh tế. Để tạo ra thặng dư đồng nghĩa với việc phải kích thích sản xuất, đẩy mạnh
năng suất lao động, sự phát triển mạnh mẽ của kỹ thuật công nghệ, tiết kiệm được chi
phí sản xuất chi phí quản . Đó cũng một hướng đi cần thiết của nước ta trong giai
đoạn xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc mở cửa nền
kinh tế đòi hỏi nước ta những hướng đi “mở” để phù hợp với tình hình đó tuy nhiên
cũng cần nhà nước đưa ra những phương hướng phù hợp hành động cụ thể để định
hướng cho nền kinh tế phát triển:
- Đầu tiên đó cần cái nhìn thoáng hơn, rộng mở hơn đối với thặng
những biểu hiện của nó, đánh giá một cách khách quan những ưu, nhược điểm để vận
dụng một cách đúng đắn phù hợp, nhất khi chúng ta xuất phát điểm một nền
kinh tế nông nghiệp nghèo nàn đang trong giai đoạn bỏ qua chủ nghĩa bản, quá độ
tiến lên xã hội chủ nghĩa và cần phải bắt kịp với nền kinh tế toàn cầu phát triển mạnh mẽ.
- Phân tích các biểu hiện của giá trị thặng dư và cụ thể là địa thể đem lại
sở khoa học để nhà nước ta xây dựng các chính sách liên quan đến điều tiết thuế, địa
chênh lệch, giải quyết các vấn đề liên quan đến quan hệ đất đai nông nghiệp, khuyến
khích người dân các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp sử dụng một số biện
pháp như thâm canh, xen canh ăng vụ, sử dụng hợp lý đất (vừa sử dụng đất vừa bảo vệ độ
màu mỡ của đất) để phát triển nông nghiệp một cách bền vững và có hiệu quả.
20

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
----------------
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN ĐỀ TÀI
CÁC HÌNH THỨC BIỂU HIỆN CỦA GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TRONG
NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Nhóm thực hiện: Nhóm 6
Lớp học phần : 2215RLCP1211
GV hướng dẫn : Ts. Đặng Thị Hoài 1
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM STT Họ và tên Công việc 51 Nguyễn Thị Hương Ngân
Tìm tài liệu, thuyết trình 52 Nguyễn Thị Kim Ngân
Tìm tài liệu, thiết kế PP 53 Nguyễn Thu Ngân
Tìm tài liệu, thuyết trình 54 Nguyễn Thị Thúy Ngần Tìm tài liệu, làm word 55 Bùi Thị Hồng Ngọc
Tìm tài liệu, thiết kế PP 56 Lê Ánh Ngọc
Tìm tài liệu, thiết kế PP 57 Ngô Thị Bích Ngọc Tìm tài liệu, làm word 59 Nguyễn Thảo Nguyên Tìm tài liệu, làm word 60 Khiếu Thị Nguyệt Tìm tài liệu, làm word 2 MỤC LỤC A.
MỞ ĐẦU...............................................................................................4 I.
Lý do lựa chọn đề tài..........................................................................................4 II.
Đối tượng nghiên cứu.........................................................................................5
III. Mục đích nghiên cứu..........................................................................................5
IV. Nhiệm vụ.............................................................................................................5 V.
Phương pháp nghiên cứu....................................................................................5
VI. Kết cấu đề tài.......................................................................................................5 B.
NỘI DUNG...........................................................................................6
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN........................................................6 I.
Nền kinh tế thị trường........................................................................................6 II.
Khái niệm giá trị thặng dư.................................................................................6
III. Các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư....................................................7
1. Lợi nhuận:...................................................................................................7
1.1. Chí phí sản xuất:.................................................................................7
1.2. Bản chất của lợi nhuận:.....................................................................7
1.3. Tỷ suất lợi nhuận:...............................................................................8
1.4. Lợi nhuận bình quân:........................................................................9
1.5. Lợi nhuận thương nghiệp:...............................................................11
2. Lợi tức.......................................................................................................12
2.1. Tư bản cho vay trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa:. 12
2.2. Nguồn gốc, bản chất của lợi tức, tỷ suất lợi tức:...........................13
2.3. Hình thức vận động:.........................................................................13
3. Địa tô tư bản chủ nghĩa.............................................................................14
3.1. Tư bản kinh doanh nông nghiệp:....................................................14
3.2. Bản chất của địa tô tư bản chủ nghĩa:............................................14
IV. Ý nghĩa phân tích các biểu hiện của giá trị thặng dư....................................16
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
VÀ VIỆC VẬN DỤNG CÁC HÌNH THỨC BIỂU HIỆN GIÁ TRỊ THẶNG DƯ. .17 I.
Hình thức biểu hiện giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường hiện nay ở
Việt Nam ............................................................................................................................17 II.
Vận dụng các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư.................................18
1. Thành tựu:.................................................................................................18
2. Hạn chế:....................................................................................................19
III. Giải pháp để vận dụng hiệu quả các hình thức biểu hiện giá trị thặng dư
trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa......................................20 C.
KẾT LUẬN.........................................................................................22 TÀI LIỆU THAM KHẢO 3 A. MỞ ĐẦU I.
Lý do lựa chọn đề tài
Lênin từng đánh giá: “Giá trị thặng dư là hòn đá tảng trong học thuyết kinh tế
của Mác”. Học thuyết giá trị thặng dư là biểu hiện mẫu mực nghiên cứu và vận dụng
quan điểm duy vật lịch sử vào sự phân tích các quá trình kinh tế trong xã hội tư bản. Nó
cung cấp tri thức về lịch sử phát triển của sản xuất tư bản chủ nghĩa, là cơ sở khoa học
để phân tích nguyên nhân và dự báo chiều hướng phát triển kinh tế và xã hội.
Kể từ khi học thuyết giá trị thặng dư của C. Mác ra đời đến nay, thế giới đã trải
qua những biến đổi sâu sắc. Rất nhiều sự kiện đã khẳng định tính đúng đắn của những
kết luận rút ra từ học thuyết giá trị thặng dư như: những cuộc “khủng hoảng giẫy chết”
của chủ nghĩa tư bản thế giới đầu thế kỷ XX; sự ra đời của hệ thống xã hội chủ nghĩa
hiện thực; phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước
tư bản chủ nghĩa; sự tan rã của hệ thống dân tộc thuộc địa… Ngày nay, dưới sự tác động
như vũ bão của cách mạng khoa học – công nghệ và sự phát triển của kinh tế thị trường
hiện đại, bức tranh thế giới đã và đang diễn ra nhiều đổi mới trên hầu hết các lĩnh vực
kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, tư tưởng... Trước những sự thay đổi, phát triển đó mà
hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư cũng có những sự thay đổi nhất định. Vì vậy
việc nghiên cứu về lý thuyết giá trị thặng dư nói chung và các hình thức biểu hiện của
giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường nói riêng là vô cùng quan trọng.
Quy luật giá trị thặng dư đã phát huy được vai trò to lớn của nó, đem lại những
tiến bộ vượt bậc và thành tựu đáng kinh ngạc cho chủ nghĩa tư bản. Nước ta nói riêng và
các nước xã hội chủ nghĩa nói chung đang nỗ lực không ngừng trên con đường đi lên
xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên thế giới. Nước ta vốn là nước quá độ bỏ qua
chế độ tư bản chủ nghĩa tiến lên chủ nghĩa xã hội. Với xuất phát điểm là một nước có
nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu, chủ yếu là dựa vào nông nghiệp. Yêu cầu đặt ra là phải
từng bước xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, chúng ta phải
học tập những thành tựu mà chủ nghĩa tư bản đã đạt được, trong đó quan tâm đặc biệt
đến quy luật kinh tế cơ bản của nó là quy luật giá trị thặng dư, sửa chữa quan niệm sai 4
lầm trước kia xây dựng nền kinh tế tự cấp khép kín, kế hoạch hoá tập trung. Ngày nay
chúng ta thực hiện chính sách kinh tế mới: chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa. Để phù hợp với những vấn đề mà thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải nhận
thức lại, bổ sung và phát triển các học thuyết đặc biệt là học thuyết giá trị thặng dư. việc
vận dụng học thuyết giá trị thặng dư trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở nước ta là cần thiết.
Xuất phát từ những lý do trên, nhóm chúng em đã lựa chọn đề tài “Các hình thức
biểu hiện của giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường”.
II. Đối tượng nghiên cứu
Các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường của chủ
nghĩa tư bản nói chung và trong nền kinh tế thị trường Việt Nam.
III. Mục đích nghiên cứu
Phân tích và làm rõ các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư của chủ nghĩa tư
bản trong học thuyết giá trị thặng dư của Mác, từ đó vận dụng vào nền kinh tế thị trường
ở Việt Nam để trình bày thực trạng và đề ra các giải pháp. IV. Nhiệm vụ
Hệ thống kiến thức cơ sở lí luận liên quan đến giá trị thặng dư và biểu hiện
của giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường.
Trình bày, đánh giá thực trạng nền kinh tế thị trường ở nước ta và biểu hiện
của giá trị thặng dư trong nền kinh tế.
Từ những phân tích và nghiên cứu trên, đề xuất một số biện pháp nhằm vận
dụng một cách phù hợp và hiệu quả giá trị thặng dư.
V. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp định lượng: thống kê mô tả
VI. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được chia làm 2 phần: 5
Chương 1: Những vấn đề lý luận.
Chương 2: Vận dụng vấn đề lý luận để đánh giá thực trạng ở Việt Nam. B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
I. Nền kinh tế thị trường
Trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về kinh tế thị trường. Theo Adam
Smith với lí thuyết “bàn tay vô hình" thì nền kinh tế thị trường là nền kinh tế tự điều tiết,
vận động theo quy luật của thị trường, hầu như không có sự can thiệp của Nhà nước.
Kinh tế thị trường được hiểu dưới góc độ khác là có sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước
“bàn tay hữu hình" mà đại diện cho thuyết này là J. M. Keynes với “Lý thuyết chung về
việc làm, lãi suất và tiền tệ".
Theo cuốn Đại từ điển kinh tế thị trường, thì khái niệm kinh tế thị trường là
phương thức vận hành kinh tế thị trường hình thành bởi trao đổi và lưu thông hàng hóa
làm người phân bố tài nguyên chủ yếu, lấy lợi ích vật chất cung - cầu thị trường và mua
bán giữa hai bên làm cơ chế khuyến khích hoạt động kinh tế và phương thức vận hành kinh tế.
Kinh tế thị trường là là nền kinh tế được vận hành theo cơ chế thị trường. Đó là
nền kinh tế hàng hóa phát triển cao, ở đó mọi quan hệ sản xuất và trao đổi đều được
thông qua thị trường, chịu sự tác động, điều tiết của các qui luật thị trường.
II. Khái niệm giá trị thặng dư
Giá trị thặng dư là bộ phận giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công
nhân tạo ra, là kết quả của lao động không công của công nhân cho nhà tư bản. Công thức: W = c + v + m.
Sản xuất giá trị thặng dư là mục tiêu và động cơ của từng nhà tư bản cũng như
toàn bộ nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Bản chất của giá trị thặng dư tư bản chủ nghĩa thể
hiện quan hệ bóc lột giữa người sở hữu tư liệu sản xuất và người sở hữu hàng hoá sức
lao động, hay nói cách khác giữa nhà tư bản và người làm thuê. 6 III.
Các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư 1. Lợi nhuận:
Marx nêu ra định nghĩa lợi nhuận: “Giá trị thặng dư, được quan niệm là con đẻ
của toàn bộ tư bản ứng trước, mang hình thái chuyển hóa là lợi nhuận”.
Lợi nhuận (p) là phần chênh lệch giữa giá trị hàng hóa (G) so với chi phí sản
xuất tư bản chủ nghĩa (k), p = G - k. Lợi nhuận là hình thức biểu hiện của giá trị thặng
dư trên bề mặt nền kinh tế thị trường. Lợi nhuận là mục tiêu, động cơ, động lực của sản
xuất kinh doanh. Để làm rõ bản chất của lợi nhuận, C.Mác bắt đầu phân tích làm rõ chi phí sản xuất.
1.1.Chí phí sản xuất:
Muốn tạo ra giá trị hàng hóa, nhà tư bản phải chi một số lao động nhất định gọi
là chi phí lao động. Còn chi phí sản xuất tư bản là chi phí về giá trị (về tiền) để sản xuất (Kí hiệu:k)
Nếu gọi giá trị hàng hóa là G, thì G = c + v + m. Đó chính là những chi phí lao
động thực tế của xã hội để sản xuất hàng hóa. Nhưng đối với nhà tư bản, để sản xuất
hàng hóa, họ chỉ cần chi phí một lượng tư bản để mua tư liệu sản xuất (c) và mua sức lao
động (v). Chi phí đó gọi là chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa, (ký hiệu là k), thì: k = c +
v. Vậy, chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa là phần giá trị bù lại giá cả của những tư liệu
sản xuất và giá cả sức lao động đã tiêu dùng để sản xuất ra hàng hóa cho nhà tư bản.
Nếu dùng k để chỉ chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa thì công thức W = c + v + m sẽ
chuyển hoá thành G = k + m. Giữa chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa và giá trị hàng hóa
có sự khác nhau cả về chất và về lượng. Về chất, chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa mới
chỉ là sự chi phí về tư bản; còn giá trị hàng hóa là sự chi phí về thực tế của xã hội để sản
xuất ra hàng hóa. Chi phí thực tế là chi phí về lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra
hàng hóa. Về lượng, chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn nhỏ hơn chi phí thực tế, tức
là giá trị của hàng hóa, vì rằng G = k + m thì k = G - m. Đối với nhà tư bản, chi phí sản
xuất tư bản chủ nghĩa là giới hạn thực tế của lỗ lãi kinh doanh nên họ ra sức "tiết kiệm"
chi phí sản xuất này bằng mọi cách. 7
1.2.Bản chất của lợi nhuận:
C.Mác khái quát: “Giá trị thặng dư được quan niệm là con đẻ của toàn bộ tư bản
ứng trước, mang hình thái chuyển hóa là lợi nhuận”. Lợi nhuận (p) được xem là phần
chênh lệch giữa giá trị hàng hóa và chi phí sản xuất (sự hao phí của các yếu tố như tư
liệu sản xuất và sức lao động đã tiêu dùng để sản xuất ra hàng hóa) khi hàng hóa được
bán đúng với giá trị của nó. Và khoản chênh lệch này cũng bằng với giá trị thặng dư.
Khi đó, c + v + m chuyển thành k + p.
Xét về chất, cả (p) và (m) đều là kết quả của chiếm đoạt lao động của công nhân
làn thuê. Nhưng, cái khác nhau giữa m và p ở chỗ, khi nói m là hàm ý so sánh nó với v,
còn khi nói p lại hàm ý so sánh với (c + v). Và p và m thường không bằng nhau. Về
lượng, p có thể cao hơn hoặc thấp hơn hoặc bằng m, phụ thuộc vào giá cả bán hàng hóa
do quan hệ cung – cầu quy định. Nhưng xét trên phạm vi toàn xã hội, tổng số lợi nhuận
luôn ngang bằng tổng số giá trị thặng dư. Nhưng phạm trù lợi nhuận lại phản ánh sai
lệch quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa vì: G = k + p người ta lại lầm tưởng p là con đẻ
của k. Khi p khác m thì ngưòi ta cho rằng p không có nguồn gốc từ m.
1.3.Tỷ suất lợi nhuận:
Khi giá trị thặng dư chuyển hóa thành lợi nhuận thì tỷ suất giá trị thặng dư
chuyển hóa thành tỷ suất lợi nhuận. Tỷ suất lợi nhuận là tỷ lệ phần trăm giữa tổng số gía
trị thặng dư và toàn bộ tư bản ứng trước (ký hiệu là p').
Công thức tính: p'=mC+100%
Về lượng, tỷ suất lợi nhuận là nhỏ hơn tỷ suất giá trị thặng dư: p' < m'.
Về chất, tỷ suất giá trị thặng dư (m’) phản ánh trình độ bóc lột của nhà tư bản đối
với lao động. Còn tỷ suất lợi nhuận (p’) chỉ mức doanh lợi của việc đầu tư tư bản. Tỷ
suất lợi nhuận chỉ cho các nhà tư bản thấy đầu tư vào đâu thì có lợi hơn (ngành nào có P'
lớn hơn). Do đó, tỷ suất lợi nhuận là mục tiêu cạnh tranh và là động lực thúc đẩy sự hoạt
động của các nhà tư bản.
Tỷ suất lợi nhuận cao hay thấp tuỳ thuộc vào nhiều nhân tố như: tỷ suất giá trị
thặng dư, cấu tạo hữu cơ của tư bản, tốc độ chu chuyển tư bản, sự tiết kiệm tư bản bất biến 8
Các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ suất lợi nhuận: Quan sát từ công thức tính tỳ
suất lợi nhuận có thể thấy, những nhân tố nào ảnh hưởng tới giá trị của tử số hoặc mẫu
số, hoặc cả tử số cả mẫu số của phân thức cũng sẽ ảnh hưởng tới tỷ suất lợi nhuận.
C.Mác nêu ra các nhân tố sau:
Tỷ suất giá trị thặng dư. Sự gia tăng của tỷ suất giá trị thặng dư sẽ có tác dộng
trực tiếp làm tăng tỷ suất lợi nhuận.
Cấu tạo hữu cơ tư bản. Cấu tạo hữu cơ c/v tác động tới chi phí sản xuất, do đó
tác động tới lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận.
Tốc độ chu chuyển của tư bản. Nếu tốc độ chu chuyền của tư bản càng lớn thì
tỷ lệ giá trị thặng dư hàng năm tăng lên, do đó, tỷ suất lợi nhuận tăng.
Tiết kiệm tư bản bất biến. Trong điều kiện tư bản khả biến không đồi, nếu giá
trị thặng dư giữ nguyên, tiết kiệm tư bản bất biến làm tăng tỷ suất lợi nhuận.
1.4.Lợi nhuận bình quân:
Cạnh tranh giữa các ngành là cơ chế cho sự hình thành lợi nhuận bình quân.
Ở các ngành sán xuất kinh doanh khác nhau, do có những điều kiện tự nhiên,
kinh tế, kỹ thuật và tổ chức quản lý khác nhau, nên tỷ suất lợi nhuận giữa các ngành cũng khác nhau.
Ta có ví dụ sau: Giả sử có ba ngành sản xuất (cơ khí, dệt và da), vốn của các
ngành đều bằng nhau (bằng 100 đơn vị tiền tệ), tỷ suất giá trị thặng dư đều bằng nhau
(bằng 100%), tốc độ chu chuyển của vốn ở các ngành đều bằng nhau.
Do đặc điểm của mồi ngành sản xuất khác nhau, nên cấu tạo hữu cơ của vốn (tư
bản) ở từng ngành khác nhau, tỷ suất lợi nhuận ở các ngành khác nhau (xem bảng) Ngành sản p' p'
xuất CP sản xuất m’ (%) m p Giá cả sản xuất (%) (%) Cơ khí 80 c + 20 v 100 20 20 30 30 130 Dệt 70 c + 30 v 100 30 30 30 30 130 Da 60 c + 40 v 100 40 40 30 30 130 9
Ở đây, tỷ suất lợi nhuận ở ngành da là cao nhất, nên các doanh nghiệp ở
ngành cơ khí (thậm chí cả ở ngành dệt) sẽ di chuyển vốn của mình sang đầu tư vào ngành da.
Đến một thời điểm nhất định, sản phẩm của ngành da sẽ tăng lên (cung lớn hơn
câu), làm cho giá cả hàng hoá ở ngành da sẽ hạ xuống thấp hơn giá trị của nó và tỷ suất
lợi nhuận ở ngành này giảm xuống.
Ngược lại, sản phẩm của ngành cơ khí sẽ giảm đi (cung nhỏ hơn cầu), nên giá cả
sẽ cao hơn giá trị và do đó tỷ suất lợi nhuận ở ngành cơ khí sẽ tăng lên.
Nếu tỷ suất lợi nhuận ở ngành cơ khí cao hơn ngành da thì các doanh nghiệp lại
chuyển vốn đầu tư vào ngành cơ khí. Đây gọi là hiện tượng tự do di chuyển vốn sản xuất
kinh doanh. Sự tự do di chuyển vốn vào các ngành chỉ tạm dừng lại khi tỷ suất lợi nhuận
ở tất cả các ngành đều xấp xỉ bằng nhau, tức là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân (p').
Về cách tính, lợi nhuận bình quân (ký hiệu là p) được tính theo tý suât lợi
nhuận bình quân (là con số trung bình của các tỷ suất lợi nhuận, ký hiệu là P').
Tỷ suất lợi nhuận bình quân được tính bằng số bình quân gia quyền của các tỷ
suất lợi nhuận như sau: p'=∑ p ×100% Σ (c+v )
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh giữa các ngành tất yếu dẫn tới hình
thành lợi nhuận bình quân.
Lợi nhuận bình quân là số lợi nhuận bằng nhau của như tư bản như nhau đầu
tư vào các ngành khác nhau (ký hiệu là p).
Nếu ký hiệu giá trị tư bản ứng trước là K thì lợi nhuận bình quân được tính như sau: p=p'× K
Khi lợi nhuận chuyền hóa thành lợi nhuận bình quân thì giá trị của hàng hóa
chuyển hóa thành giá cá sản xuất. Giá cả sản xuất được tính như sau: GCSX = k + p
Những điều kiện hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân, lợi nhuận bình quân,
giá cả sản xuất bao gồm: tư bản tự do di chuyển và sức lao động tự do di chuyển. Trong 10
nền kinh tế thị tnrờng tư bản chủ nghĩa, lợi nhuận bình quân đã trả thành căn cứ cho các
doanh nghiệp lựa chọn ngành nghề, phương án kinh doanh sao cho có hiệu quả nhất.
1.5. Lợi nhuận thương nghiệp:
Trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, do sự phân công lao động xã
hội, xuất hiện bộ phận chuyên môn hóa việc lưu thông hàng hóa. Bộ phận này gọi là tư bản thương nghiệp.
Về mặt lượng: Lợi nhuận thương nghiệp là số chênh lệch giữa giá bán và giá mua hàng hóa
Về mặt chất: Lợi nhuận thương nghiệp chính là một phần của giá trị thặng dư
mà nhà tư bản sản xuất trả cho nhà tư bản thương nghiệp do nhà tư bản thương nghiệp
đã giúp cho việc tiêu thụ hàng hóa.
Tư bản thương nghiệp tuy không trực tiếp tạo ra giá trị thặng dư, nhưng góp
phần làm tăng năng suất lao động, tăng lợi nhuận, do đó làm cho tỷ suất lợi nhuận chung
của xã hội cũng tăng lên, góp phần tích lũy cho tư bản công nghiệp.
Sự hình thành lợi nhuận thương nghiệp:
Trên thực tế, các nhà tư bản thương nghiệp thu lợi nhuận thương nghiệp từ
chênh lệch giữa giá mua và giá bán. Nhưng điều đó không có nghĩa là nhà tư bản thường
nghiệp bán hàng hóa cao hơn giá trị của nó mà là: nhà tư bản thương nghiệp mua hàng
của nhà tư bản công nghiệp với giá thấp hơn giá trị (khi chấp nhận bán hàng với giá thấp
hơn giá trị cho nhà tư bản thương nghiệp có nghĩa là nhà tư bản công nghiệp đã chấp
nhận “nhượng” một phần giá trị thặng dư cho nhà tư bản thương nghiệp), sau đó, nhà tư
bản thương nghiệp lại bán hàng cho người tiêu dùng với giá đúng giá trị của nó.
Để làm rõ quá trình phân chia giá trị thặng dư giữa nhà tư bản công nghiệp và
nhà tư bản thương nghiệp, ta xét ví dụ sau đây (giả định trong ví dụ này không xét đến
chi phí lưu thông): Một nhà tư bản công nghiệp có một lượng tư bản ứng trước là 900,
trong đó phân chia thành 720c + 180v. Giả định m’ = 100% thì giá trị hàng hóa sẽ là: 720c + 180v + 180m = 1.080
Tỷ suất lợi nhuận công nghiệp là: p'CN =180 900×100=20%
Nhưng khi nhà tư bản thương nghiệp tham gia vào quá trình kinh doanh thì công
thức trên đây sẽ thay đổi. Giả sử nhà tư bản thương nghiệp ứng ra 100 tư bản để kinh 11
doanh. Như vậy, tổng tư bản ứng ra của cả hai nhà tư bản công nghiệp và thương nghiệp
sẽ là: 900 + 100 = 1.000, và tỷ suất lợi nhuận bình quân sẽ là: p=180 1000×100=18%
Theo tỷ suất lợi nhuận chung này, nhà tư bản công nghiệp chỉ thu được số lợi
nhuận bằng 18% của số tư bản ứng ra (tức là 18% của 900, bằng 162) và nhà tư bản
công nghiệp sẽ bán hàng hóa cho nhà tư bản thương nghiệp theo giá: 900 + 162= 1.062
Còn nhà tư bản thương nghiệp sẽ bán hàng cho người tiêu dùng theo giá bàng giá
trị hàng hóa, tức là 1.080.
Chênh lệch giữa giá bán và giá mua của nhà tư bản thương nghiệp chính là lợi
nhuận thương nghiệp. Trong ví dụ này lợi nhuận thương nghiệp sẽ là: ptn=1.080−1.062=18
Khoản lợi nhuận thương nghiệp này cũng tương ứng với tỷ suất 18% của tư bản
thương nghiệp ứng trước. 2. Lợi tức
2.1.Tư bản cho vay trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa:
Khái niệm tư bản cho vay: Tư bản cho vay là tư bản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi mà
người sở hữu nó cho người khác sử dụng trong một thời gian nhằm tận dụng được số
tiền lời nhất định. Số tiền đó được gọi là lợi tức (z)
Đặc điểm của tư bản cho vay:
Quyền sử dụng tách khỏi quyền sở hữu. Chủ thể sở hữu tư bản không phải là
chủ thể sử dụng, chủ thể sử dụng tư bản chỉ được sử dụng trong một thời hạn nhất định
và không có quyền sở hữu.
Tư bản cho vay là hàng hóa đặc biệt. Người bán không mất quyền sở hữu,
người mua chỉ được quyền sử dụng trong một thời gian. Sau khi sử dụng, tư bản cho vay
không mất giá trị sử dụng và giá trị mà được bảo toàn, thậm chí còn tăng thêm.
Giá cả của tư bản cho vay được quyết định bởi giá trị sử dụng của nó là khả
năng thu được lợi nhuận bình quân, do đó không những không được quyết định bởi giá
trị, mà còn thấp hơn nhiều so với giá trị. 12
Tư bản cho vay là hình thái tư bản phiến diện nhất, song cũng được sùng bái nhất.
Tác dụng: Lợi tức cho vay ra đời góp phần vào việc tích tụ, tập trung tư bản, mở
rộng sản xuất…đẩy nhanh tốc độ chu chuyển của tư bản góp phần tăng thêm tổng giá trị thặng dư cho xã hội.
2.2. Nguồn gốc, bản chất của lợi tức, tỷ suất lợi tức:
Lợi tức là một phần của lợi nhuận bình quân mà nhà tư bản đi vay phải trả cho
nhà tư bản cho vay căn cứ vào lượng tư bản tiền tệ mà nhà tư bản cho vay đã bỏ ra cho
nhà tư bản đi vay sử dụng.
Nguồn gốc của lợi tức chính là từ giá trị thặng dư do công nhân làm thuê sáng
tạo ra trong những lĩnh vực sản xuất.
Giới hạn của lợi tức trong khoảng : 0 < z < p
Tỷ suất lợi tức (z’): Là tỷ lệ tính theo phần trăm giữa tổng số lợi tức và tổng số
tư bản tiền tệ cho vay: z’ = z x 100% tư bản cho vay
Tỷ suất lợi tức phụ thuộc vào các nhân tố sau:
Tỷ suất lợi nhuận bình quân
Tỷ lệ phân chia lợi nhuận bình quân thành lợi tức và lợi nhuận
Quan hệ cung cầu về tư bản cho vay
2.3. Hình thức vận động:  Tín dụng:
Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa chủ sở hữu tư bản cho
vay với người sử dụng tư bản cho vay, trên nguyên tắc hoàn trả đúng kỳ hạn có kèm theo lợi tức.
Các loại tín dụng cơ bản trong chủ nghĩa tư bản:
Tín dụng thương mại là hình thức tín dụng giữa các nhà tư bản trực tiếp kinh
doanh, mua bán với nhau (kỳ phiếu thương mại - Commercial paper); giữa nhà tư bản với
người tiêu dùng (tín dụng tiêu dùng: mua hàng trả góp).
Tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng giữa ngân hàng với các nhà tư bản trực
tiếp kinh doanh và các tầng lớp dân cư khác trong xã hội.
Tín dụng nhà nước (trái phiếu) 13 Ngân hàng:
Ngân hàng là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, nó làm môi giới giữa người đi vay và
người cho vay. Ngân hàng có hai chức năng cơ bản: nhận giới và cho vay.
Nguồn tiền cho vay của ngân hàng là vốn tự có của ngân hàng, tư bản tạm thời nhàn rỗ
các nhà tư bản, tiết kiệm của dân chúng đem gửi.
Lợi nhuận ngân hàng là kết quả của lợi tức cho vay và thu từ những hoạt động khác tr
lợi tức nhận gửi và chi phí nghiệp vụ ngân hàng.
3. Địa tô tư bản chủ nghĩa
3.1. Tư bản kinh doanh nông nghiệp:
Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa hình thành trong nông nghiệp theo hai con đường điển hình:
Thông qua con đường cải cách, dần dần chuyển nền nông nghiệp địa chủ
phong kiến sang kinh doanh theo phương thức tư bản chủ nghĩa.
Thông qua cách mạng dân chủ tư sản, xóa bỏ kinh tế địa chủ phong kiến, phát
triển kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Tồn tại 3 giai cấp: địa chủ, nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp và công nhân nông nghiệp làm thuê.
3.2. Bản chất của địa tô tư bản chủ nghĩa:
- Nhà tư bản kinh doanh trên lĩnh vực nông nghiệp phải trả một lượng tiền cho
địa chủ vì đã thuê đất của họ, bóc lột lao động làm thuê để tạo ra M (M gồm: p – thu
nhập của nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp và địa tô – thu nhập của địa chủ).
- Theo C.Mác, địa tô là phần giá trị thặng dư còn lại sau khi đã khấu trừ đi phần
lợi nhuận bình quân mà các nhà tư bản kinh doanh trên lĩnh vực nông nghiệp phải trả cho địa chủ.
- Các hình thức địa tô: Địa tô tuyệt đối:
oĐịa tô tuyệt đối là khoản địa tô nhất thiết phải có khi nhà tư bản thuê đất để
tiến hành kinh doanh, dù cho đó là đất tốt hay đất xấu. oNguyên nhân: 14
+ Do cấu tạo hữu cơ trong nông nghiệp thấp hơn trong công nghiệp, nên kinh
doanh trên đất xấu vẫn có lợi nhuận siêu ngạch.
+ Do chế độ độc quyền sở hữu ruộng đất trong nông nghiệp khiến cho lợi nhuận
siêu ngạch trên đất xấu không phải tham gia bình quân hoá với các hình thái tư bản khác
(tư bản công nghiệp, tư bản thương nghiệp, tư bản cho vay). Địa tô chênh lệch:
oĐịa tô chênh lệch trong chủ nghĩa tư bản là khoản địa tô có được trên
mảnh đất có điều kiện thuận lợi hơn so với mảnh đất có điều kiện xấu nhất. oPhân loại:
+ Địa tô chêch lệch 1: Là
địa tô chênh lệch thu được trên cơ sở ruộng đất có độ
màu mỡ tự nhiên và vị trí thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm.
+ Địa tô chênh lệch 2:
địa tô chênh lệch thu được nhờ thâm canh tăng năng suất. Địa tô độc quyền:
oĐịa tô độc quyền: là địa tô thu được trên những ruộng đất có điều kiện thiên
nhiên đặc biệt, có thể trồng những cây quí hiếm mà sản phẩm của nó có giá đặc biệt cao trên thị trường.
oĐịa tô độc quyền do người tiêu dùng trả khi mua hàng với giá cao.
Dưới chủ nghĩa tư bản, đất xây dựng, hầm mỏ cũng mang lại địa tô cho chủ nó vì
chúng mang lại lợi nhuận siêu ngạch.
Về nguyên lý, giá cả ruộng đất được tính trên cơ sở so sánh với tỷ lệ lãi suất
ngân hàng theo công thức: Giá cả đất đai = Địatô
Tỷ suất lợi tức nhận gửi của ngân hàng
Lý luận điạ tô tư bản chủ nghĩa của C.Mác không những chỉ rõ bản chất quan hệ
sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp mà còn là cơ sở khoa học để xây dựng các
chính sách kinh tế liên quan đến thuế, đến điều tiết các loại địa tô, đến giải quyết các
quan hệ đất đai… nhằm kết hợp hài hòa các lợi ích khuyến khích thâm canh sử dụng đất
đai tiết kiệm, phát triển nên nông nghiệp hàng hóa bền vững. 15
IV. Ý nghĩa phân tích các biểu hiện của giá trị thặng dư
Việc phân tích các biểu hiện của giá trị thặng dư trong tư bản chủ nghĩa rất có ý
nghĩa đối với thực tiễn hiện nay. Dựa vào việc hiểu, phân tích, tính toán tỷ suất lợinhuận
và tỷ suất lợi nhuận bình quân, doanh nghiệp có thể đưa ra quyết định khôn ngoan, có
lợi nhất cho doanh nghiệp của chính mình. Nhất là khi muốn tham giavào một ngành,
một thị trường mới và có những thay đổi, khác biệt về nhân công,nguyên liệu, lượng cầu
của người tiêu dùng,… đó là lúc doanh nghiệp cần đến sự so sánh về tỷ suất lợi nhuận,
tỷ suất lợi nhuận bình quân
Lợi tức giúp cho sự phát triển của thị trường đầu tư, chứng khoán tài chính, giúp
cá nhân hoặc doanh nghiệp có thể khai thác tối đa lượng tiền còn đang “nhàn rỗi” để
đem về lợi nhuận cao nhất và hiệu quả kinh tế cho thị trường. Trong tương lai, lợi tức sẽ
trở thành phần thúc đẩy cho những người trẻ tuổi, có trình độ nhất định tham gia vào các
giao dịch đầu tư về bất động sản, tín dụng, chứng khoán.
Hơn nữa, lợi tức cũng thúc đẩy các doanh nghiệp thành lập cácquỹ đầu tư của
riêng doanh nghiệp, các công ty, quỹ chuyên đầu tư mạo hiểm, đầutư xuyên quốc gia để
đầu tư vào các doanh nghiệp mới trên thị trường nhưng lại sở hữu những sản phẩm sáng
tạo, mang đến những giải pháp mới cho thị trường và có tiềm năng phát triển mạnh mẽ
trong tương lai. Từ đó, tạo nên mốiquan hệ “win-win”, nhà đầu tư có thêm nguồn tiền
mới, những doanh nghiệp startup phát triển đồng thời, thêm vào đó, có thể mang đến lợi
ích người tiêu dùng và kinh tế quốc gia sẽ ngày càng phát triển.
Cùng với đó, việc phân tích các biểu hiện của giá trị thặng dư và trong đó có địa
tô cũng giúp cá nhân hoặc doanh nghiệp có cơ sở vững chắc để đưa ra giá cả trao đổi về ruộng đất.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM VÀ
VIỆC VẬN DỤNG CÁC HÌNH THỨC BIỂU HIỆN GIÁ TRỊ THẶNG DƯ
I. Hình thức biểu hiện giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường
hiện nay ở Việt Nam
Quy luật giá trị thặng dư đã phát huy vai trò to lớn của nó, đem lại những tiến bộ
vượt bậc và thành tựu đáng kinh ngạc cho chủ nghĩa tư bản. Ngay từ khi mới ra đời, chủ 16
nghĩa tư bản đã phát triển nền kinh tế hàng hóa, thông qua thị trường, giai cấp tư sản
mới mua được tư liệu sản xuất và sức lao động, mới bán được hàng hóa và bóc lột được
giá trị thặng dư do người lao động tạo ra. Trong nền kinh tế của chủ nghĩa tư bản, dưới
sự tác động của các quy luật kinh tế, trong đó có quy luật giá trị thặng dư, nhà tư bản
thực hiện phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là thực hiện kéo dài ngày lao
động, tăng cường độ lao động nhưng phương pháp này vấp phải những phản kháng của
người lao động nên các nhà tư bản thực hiện phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
tương đối bằng cách ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất để
tăng năng suất lao động xã hội, bên cạnh đó các nhà tư bản còn tích cực cải tiến tổ chức
sản sức, tiết kiệm chi phí sản xuất, tìm hiểu nhu cầu của thị trường. Các tiềm năng về
vốn, khoa học công nghệ, trình độ quản lý sản xuất kinh doanh được khơi dậy và phát
triển mạnh mẽ, từ đó làm cho nền kinh tế năng động. Trong điều kiện nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, các thành phần kinh tế cần phải vận dụng
các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư mà các nhà tư bản đã vận dụng để phát triển
sản xuất đặc biệt là chú trọng vận dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối
để năng cao năng suất lao động, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế kết hợp với
phân phối theo lao động và hiệu quả kinh tế nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần cho người lao động.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay,
với nhiều thành phần kinh tế trong đó có thành phần kinh tế tư nhân, không thể phủ nhận
chủ doanh nghiệp tư bản tư nhân thông qua hoạt động sản xuất kinh doanh hợp pháp đã
góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển và nâng cao mức sống của người lao
động. Tuy nhiên, xét một cách biện chứng thì thu nhập của chủ doanh nghiệp tư bản tư
nhân là lợi nhuận (tức giá trị thặng dư) nên vẫn tồn tại sự bóc lột. Cũng cần khẳng định
chiếm đoạt giá trị thặng dư là đối lập với xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng
nhưng chừng nào nó vẫn còn có tác dụng chúng ta vẫn phải tạo điều kiện cho nó tồn tại và làm cho nó gia tăng.
Việc xây dựng và phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lí của
Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã được đặt ra từ Đại hội lần thứ VI Đảng
Cộng sản Việt Nam (năm 1986), được chính thức ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992
và các văn kiện của Đảng và Nhà nước. Từ việc phát triển kinh tế trong cơ chế cũ - cơ
chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp trước đây với hai thành phần kinh tế là kinh tế Nhà 17
nước và kinh tế tập thể (kinh tế tư bản, tư nhân không được thừa nhận), đến nay, trong
nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển với
những hình thức sở hữu khác nhau, trong đó, đáng chú ý là sự hiện diện của thành phần
tư bản nước ngoài đang đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. Nhà nước Việt Nam khuyến
khích và bảo đảm bằng hệ thống pháp luật, chính sách để các thành phần kinh tế cùng
có cơ hội phát triển trong một môi trường cạnh tranh lành mạnh. Điều này đồng nghĩa
với việc tồn tại giá trị thặng dư trong nền kinh tế.
II. Vận dụng các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư: 1. Thành tựu:
- Nước ta đã vận dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối để năng
cao năng suất lao động, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế kết hợp với phân phối
theo lao động và hiệu quả kinh tế nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho
người lao động. Cụ thể là những năm gần đây, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực mạnh mẽ
trong việc cải thiện năng suất lao động (NSLĐ), nhờ đó đã có những cải thiện đáng kể,
cả về giá trị và tốc độ. Theo Báo cáo của Tổ chức Năng suất Châu Á (APO) năm 2020
đã cho thấy: năng suất lao động của Việt Nam được cải thiện rõ nét, bình quân giai đoạn
2016-2020 tăng 5,8%/năm, cao hơn giai đoạn 2011-2015 (4,3%) và vượt mục tiêu đề ra
(5%). Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) bình quân 5 năm đạt khoảng
45,2% (mục tiêu đề ra là 30-35%). Năng suất lao động của toàn nền kinh tế theo giá hiện
hành năm 2021 ước tính đạt 171,3 triệu đồng/lao động (tương đương 7.398 USD/lao
động, tăng 538 USD so với năm 2020), theo Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và
năm 2021 của Tổng cục Thống kê.
-Nước ta đã có chính sách thúc đẩy thành phần kinh tế này để qua đó thu hút
được nhiều lao động xã hội, sử dụng nhiều trình độ lao động để tạo ra nhiều sản phẩm
thỏa mãn nhu cầu xã hội. Trong thực tế, sau hơn 30 năm kể từ khi Luật đầu tư được ban
hành năm 1987, việc tiếp nhận đầu tư nước ngoài được chính thức hóa, tạo điều kiện
mời gọi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Hơn 30 năm qua,
khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đang trở thành một phần không thể
thiếu của nền kinh tế, đóng góp không nhỏ sự phát triển kinh tế- xã hội ở Việt Nam.
Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, sau hơn 30 năm đón vốn FDI, từ năm 1988
đến tháng 8/2018, 63 tỉnh, thành phố của cả nước thu hút 26.438 dự án FDI của 129 18
quốc gia và vùng lãnh thổ còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký 333,83 tỷ USD. Vốn FDI
đầu tư vào 19/21 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân. Đầu tư nước ngoài
hiện là nguồn vốn bổ sung quan trọng chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư cả nước, đóng
góp khoảng 20% GDP. Năm 2017, khu vực FDI đóng góp khoảng 8 tỷ USD, chiếm
14,4% tổng thu ngân sách. 10 đối tác đứng đầu có số vốn đăng ký khoảng 82%, trong đó
phải kể đến Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore và Đài Loan (Trung Quốc).
Với định hướng XHCN, nhà nước đã có những chính sách quản lý doanh nghiệp
này để nhằm hạn chế việc bóc lột người lao động quá mức như: kéo dài thời gian lao
động vượt quá thời gian quy định của luật lao động mà không có sự thống nhất của
người lao động, việc cắt xén tiền công, cắt xén các chế độ của người lao động như bảo
hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm tai nạn lao động.. Thực tế,
nhà nước ta đã có hệ thống luật pháp bảo vệ người lao động như: Luật lao động, Luật
bảo hiểm, quy định về tiền lương tối thiểu cho khu vực doanh nghiệp. 2. Hạn chế:
-Thực tế xảy ra và đang tồn tại trong doanh nghiệp ngoài nhà nước là người
chủ doanh nghiệp có quyền tuyệt đối, có quyền đưa ra những mức thưởng, phụ cấp theo
quan điểm và cách quản lý của họ. Và để tối đa hóa lợi nhuận, họ sẽ luôn tìm mọi cách
từ chối thưởng cho người lao động bằng nhiều lý do.
- Thiếu sự kiểm soát chặt chẽ và xử lý vi phạm nghiêm minh của các cơ quan
chức năng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Nhiều cuộc đình công, bãi
công của công nhân nước ta ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ lệ
khá cao trong các cuộc đình công đặc biệt là năm 2011 đạt kỷ lục với 857 cuộc đình
công. Hiện nay, tuy đã giảm nhưng vẫn còn diễn ra các cuộc đình công mà nguyên nhân
dẫn đến có liên quan đến các vấn đề về bảo hiểm xã hội, tiền lương, chế độ ngày nghỉ, chất lượng bữa ăn ca.
- Tuy năng suất lao động của nền kinh tế nước ta có nhiều số liệu khả quan
nhưng năng suất lao động Việt Nam vẫn tụt hậu so với Nhật Bản 60 năm, so với
Malaysia 40 năm và Thái Lan 10 năm (theo Báo cáo 2020 của Tổ chức Năng suất châu
Á (APO)). Điều này cho thấy Việt Nam cần phải có nhiều nỗ lực mạnh mẽ hơn nữa
trong việc cải thiện năng suất quốc gia. 19
III. Giải pháp để vận dụng hiệu quả các hình thức biểu hiện giá trị
thặng dư trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa:
Như vậy hiện nay ở nước ta, mục đích nghiên cứu kinh tế chính trị nói chung và
lý luận giá trị thặng dư nói riêng có sự thay đổi. Nếu trước đây, mục đích nghiên cứu của
kinh tế chính trị là để phê phán phương thức sản xuất TBCN tìm ra bản chất bóc lột giá
trị thặng dư của CNTB cổ điển và xu hướng thay thế CNTB bằng một xã hội tốt đẹp
hơn, thì giờ đây, bên cạnh mục đích như trước, chúng ta còn cần nghiên cứu, khai thác
học thuyết giá trị thặng dư với tư cách là một hệ thống lý luận phong phú và sâu sắc
nhằm vận dụng vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Phân tích các biểu hiện thặng dư của chủ nghĩa tư bản để hiểu rõ hơn đặc điểm
mối quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nền kinh tế. Tư bản chủ nghĩa đã tận dụng
triệt để các nguồn lực, tối đa hóa thặng dư để mang đến những thành tựu phát triển vượt
bật về kinh tế. Để tạo ra thặng dư đồng nghĩa với việc phải kích thích sản xuất, đẩy mạnh
năng suất lao động, sự phát triển mạnh mẽ của kỹ thuật và công nghệ, tiết kiệm được chi
phí sản xuất và chi phí quản lý. Đó cũng là một hướng đi cần thiết của nước ta trong giai
đoạn xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc mở cửa nền
kinh tế đòi hỏi nước ta có những hướng đi “mở” để phù hợp với tình hình đó tuy nhiên
cũng cần nhà nước đưa ra những phương hướng phù hợp và hành động cụ thể để định
hướng cho nền kinh tế phát triển:
- Đầu tiên đó là cần có cái nhìn thoáng hơn, rộng mở hơn đối với thặng dư và
những biểu hiện của nó, đánh giá một cách khách quan những ưu, nhược điểm để vận
dụng một cách đúng đắn và phù hợp, nhất là khi chúng ta có xuất phát điểm là một nền
kinh tế nông nghiệp nghèo nàn và đang trong giai đoạn bỏ qua chủ nghĩa tư bản, quá độ
tiến lên xã hội chủ nghĩa và cần phải bắt kịp với nền kinh tế toàn cầu phát triển mạnh mẽ.
- Phân tích các biểu hiện của giá trị thặng dư và cụ thể là địa tô có thể đem lại cơ
sở khoa học để nhà nước ta xây dựng các chính sách liên quan đến điều tiết thuế, địa tô
chênh lệch, giải quyết các vấn đề liên quan đến quan hệ đất đai nông nghiệp, khuyến
khích người dân và các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp sử dụng một số biện
pháp như thâm canh, xen canh ăng vụ, sử dụng hợp lý đất (vừa sử dụng đất vừa bảo vệ độ
màu mỡ của đất) để phát triển nông nghiệp một cách bền vững và có hiệu quả. 20