TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA TIẾNG ANH
---o0o---
BÀI THẢO LUẬN
KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN
Đề tài:
Vận dụng những lý thuyết về lợi ích kinh tế nhằm đưa
ra những giải pháp đảm bảo hài hoà các quan hệ
lợi ích ở Việt Nam hiện nay
Giảng viên hướng dẫn: Đặng Thu Giang
Lớp học phần: 231_RLCP1211_33
Nhóm 5
1
Hà Nội 10/2023
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS. Đặng Thu Giang.
Trong quá trình học tập môn Kinh tế Chính trị Mác- Lênin, chúng em đã nhận được sự
hướng dẫn, chỉ dạy tận tình của cô. đã định hướng giúp chúng em tiếp thu kiến
thức của môn học này một cách sâu sắc hoàn thiện. Từ những kiến thức học được,
chúng em đã có cái nhìn tổng thể về những mối quan hệ và các quy luật kinh tế, sự phân
phối vận động của các sự vật hiện tượng quá trình hoạt động kinh tế của con người
tương ứng với những trình độ phát triển nhất định trong nền xản xuấthội trên thế giới
Việt Nam. Do đó, qua bài thảo luận này, chúng em xin trình bày lại những điều
chúng em đã tìm hiểu về lợi ích kinh tế nhằm đưa ra những giải pháp đảm bảo hài hoà
quan hệ lợi ích ở Việt Nam hiện nay.
Tuy nhiên, do sự tiếp thu kiến thức, khả năng liên hệ thực tế nắm bắt xu hướng
phát triển của chúng em còn hạn chế, bài thảo luận này chắc chắn không thể tránh khỏi
những thiếu sót, chưa đầy đủ. Kính mong góp ý nhận xét để bài thảo luận của
chúng em có thể hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn cô!
2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...........................................................................................................................4
CHƯƠNG 1: LỢI ÍCH KINH TẾ VÀ QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ......................5
1. Lợi ích kinh tế.........................................................................................................5
1.1. Khái niệm.............................................................................................................5
1.2. Bản chất và biểu hiện............................................................................................5
1.3. Vai trò của lợi ích kinh tế.....................................................................................5
2. Quan hệ lợi ích kinh tế.............................................................................................6
2.1. Khái niệm.............................................................................................................6
2.2. Sự thống nhất và mâu thuẫn của quan hệ lợi ích kinh tế......................................6
2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ lợi ích kinh tế..............................................7
2.4. Một số quan hệ lợi ích kinh tế cơ bản trong nền kinh tế thị trường......................7
2.5. Phương thức thực hiện lợi ích kinh tế trong các quan hệ lợi ích chủ yếu............11
CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG ĐẢM BẢO HÀI HÒA GIỮA
CÁC QUAN HỆ KINH TẾ........................................................................................11
1.Bảo vệ lợi ích hợp pháp, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động tìm kiếm lợi ích của
các chủ thể kinh tế........................................................................................................11
2.Điều hòa lợi ích giữa cá nhân - doanh nghiệp - xã hội...............................................12
3.Kiểm soát, ngăn ngừa các quan hệ lợi ích có ảnh hưởng tiêu cực đối với sự phát triển
xã hội............................................................................................................................13
CHƯƠNG 3: NHỮNG THÀNH TỰU ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC, NHỮNG HẠN CHẾ CÒN
TỒN TẠI VÀ ĐỀ XUẤT NHỮNG GIẢI PHÁP......................................................15
1.Những thành tựu đã đạt được:....................................................................................15
2.Những hạn chế còn tồn tại.........................................................................................16
3.Giải pháp đảm bảo hài hòa kinh tế ở Việt Nam.........................................................17
PHẦN KẾT LUẬN.........................................................................................................19
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................................20
BIÊN BẢN HỌP NHÓM...............................................................................................21
3
MỞ ĐẦU
Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường trên thế giới đặc biệt nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam, những lợi ích kinh tế và việc đảm bảo
sự hài hoà giữa những quan hệ lợi ích những vấn đề đã đang rất được chú trọng.
Những quan hệ lợi íchhài hoà, thống nhất thì mới tạo được động lực để thúc đẩy nền
kinh tế, góp phần thực hiện tốt hơn các lợi ích kinh tế - hội. Do đó, dựa trên sở
thuyết về lợi ích kinh tế quan hệ lợi ích kinh tế, bài thảo luận của nhóm tìm hiểu
những thành tựu đã đạt được, những hạn chế còn tồn tại từ đó đưa ra những giải pháp để
khắc phục chúng trong việc bảo đảm sự hài hoà các quan hệ lợi ích trong nên kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
4
CHƯƠNG 1: LỢI ÍCH KINH TẾ VÀ QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ
1. Lợi ích kinh tế
1.1. Khái niệm
Lợi ích kinh tế sự thỏa mãn nhu cầu của con người sự thỏa mãn nhu cầu này
phải được nhận thức đặt trong mối quan hệ hội tương ứng với trình độ phát triển
của nền sản xuất xã hội đó.
Ph.Ăngghen viết: "Những quan hệ kinh tế của một xã hội nhất định nào đó biểu hiện
trước hết dưới hình thức lợi ích". Lê-nin cũng cho rằng: "Lợi ích của giai cấp này hay
giai cấp khác được xác định một cách khách quan theo vai trò họ trong hệ thống
quan hệ sản xuất, theo những hoàn cảnh và điều kiện sống của họ".
1.2. Bản chất và biểu hiện
1.2.1. Bản chất của lợi ích kinh tế
Lợi ích kinh tế phản ánh mục đích và động cơ của các quan hệ giữa các chủ thể trong
nền sản xuất hội khi tham gia vào các hoạt động kinh tế - hội; quan hệ giữa con
người với con người để tạo ra của cải vật chất cho bản thân. Lợi ích kinh tế là hình thức
biểu hiện của quan hệ sản xuất, do quan hệ sản xuất quyết định. Hệ thống quan hệ sản
xuất của mỗi một chế độ xã hội nhất định sẽ quy định hệ thống lợi ích kinh tế của xã hội
đó.
1.2.2. Biểu hiện của lợi ích kinh tế
Lợi ích kinh tế là hình thức biểu hiện của quan hệ kinh tế quy luật kinh tế. Trong
thực tế, lợi ích kinh tế thông thường sẽ được biểu hiện các hình thức thu nhập cụ thể:
Tiền lương, tiền công, lợi nhuận, lợi tức, địa tô, thuế, phí, lệ phí các hình thức cụ thể
khác. Gắn với các chủ thể kinh tế khác nhau những lợi ích tương ứng: lợi ích của chủ
doanh nghiệp trước hết lợi nhuận, lợi ích người lao động thu nhập. Khi đề cập tới
phạm trù lợi ích kinh tế nghĩa rằng lợi ích đó được xác lập trong quan hệ nào, vai trò
của các chủ thể trong quan hệ đó thể hiện chủ thể đó biểu hiện như thế nào.
1.3. Vai trò của lợi ích kinh tế.
Một là, lợi ích kinh tế là động lực trực tiếp của các chủ thể và hoạt động kinh tế -
hội.
Con người tiến hành các hoạt động kinh tế trước hết để thỏa mãn các nhu cầu vật
chất, nâng cao phương thức mức độ thỏa mãn nhu cầu vật chất của bản thân. Trong
nền kinh tế thị trường, phương thức mức độ phụ thuộc thỏa mãn nhu cầu vật chất tùy
thuộc vào mức thu nhập. Do đó, mức thu nhập càng cao, phương thức mức độ thỏa
mãn nhu cầu càng tốt. vậy, mọi chủ thể kinh tế đều phải hành động để nâng cao thu
5
nhập của mình. Thực hiện lợi ích kinh tế của các giai cấp tầng lớp hội, đặc biệt của
người dân vừa sở bảo đảm cho sự ổn định phát triển hội vừa biểu hiện sự
phát triển.
Hai là, lợi ích kinh tế là cơ sở thúc đẩy sự phát triển các lợi ích khác.
Lợi ích kinh tế được thực hiện sẽ tạo điều kiện cho sự hình thành và thực hiện lợi ích
chính trị, lợi íchhội, văn hóa của các chủ thể hội. Lợi ích kinh tế mang tính khách
quan động lực mạnh mẽ để phát triển kinh tế - hội. Theo C.Mác: "Cội nguồn
phát triển của xã hội không phải là quá trình nhận thức là các quan hệ của đời sống
vật chất, tức là lợi ích kinh tế của con người".
2. Quan hệ lợi ích kinh tế.
2.1. Khái niệm.
Quan hệ lợi ích kinh tế là sự thiết lập những tương tác giữa con người với con người,
giữa các cộng đồng người, các tổ chức kinh tế, giữa các bộ phận hợp thành kinh tế, giữa
con người với tổ chức, giữa các quốc gia và phần còn lại của thế giới nhằm mục tiêu xác
lập lợi ích kinh tế trong các mối quan hệ với trình độ phát triển của lực lượng lượng sản
xuất và kiến trúc thượng tầng tương ứng của một giai đoạn phát triển xã hội nhất định.
Một số kiểu quan hệ kinh tế:
- Các quan hệ theo chiều dọc: giữa một tổ chức kinh tế với một nhân trong tổ
chức kinh tế đó.
- Các quan hệ theo chiều ngang: giữa các chủ thể, các cộng đồng người, giữa các tổ
chức, các bộ phận hợp thành nền kinh tế khác nhau.
2.2. Sự thống nhất và mâu thuẫn của quan hệ lợi ích kinh tế.
2.2.1. Sự thống nhất của các quan hệ lợi ích kinh tế.
Các quan hệ lợi ích kinh tế thống nhất với nhau một chủ thể thể trở thành bộ
phận cấu thành của chủ thể khác. Lợi ích của chủ thể này được thực hiện thì lợi ích của
chủ thể khác cũng trực tiếp hoặc gián tiếp được thực hiện.
Chẳng hạn, mỗi nhân người lao động lợi ích của riêng mình, đồng thời các
nhân đó lạibộ phận cấu thành tập thể doanh nghiệp và tham gia vào lợi ích kinh tế đó.
Doanh nghiệp hoạt động càng hiệu quả, lợi ích doanh nghiệp được đảm bảo thì lợi ích
người lao động càng được thực hiện tốt: việc làm được đảm bảo, thu nhập ổn định
được nâng cao… Ngược lại, lợi ích người lao động càng được thực hiện tốt thì người lao
động càng tích cực làm việc, trách nhiệm với doanh nghiệp ng cao từ đó lợi ích
doanh nghiệp càng được thực hiện tốt.
6
Khi các chủ thể kinh tế hành động mục tiêu chung hoặc các mục tiêu thống nhất
với nhau thì các lợi ích kinh tế của các chủ thể đó thống nhất với nhau.
2.2.2. Sự mâu thuẫn trong các quan hệ lợi ích kinh tế.
Các quan hệ lợi ích kinh tế mâu thuẫn với nhau các chủ thể kinh tế thể hành
động theo phương thức khác nhau để thực hiện các lợi ích của mình. Sự khác nhau đó
đến mức đối lập thì trở thành mâu thuẫn. Lợi ích của những chủ thể kinh tế quan hệ
trực tiếp trong việc phân phối kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng thể mâu
thuẫn với nhau tại một thời điểm kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh xác định.
Chẳng hạn như thu nhập chủ thể này tăng lên thì thu nhập của chủ thể khác giảm xuống.
Do đó có thể suy ra mâu thuẫn về lợi ích kinh tế là cội nguồn của các xung đột xã hội.
2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ lợi ích kinh tế.
2.3.1. Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Trình độ phát triển lực lượng sản xuất càng cao, việc đáp ứng lợi ích kinh tế của các
chủ thể càng tốt. Quan hệ lợi ích kinh tế vì vậy càng có điều kiện thống nhất với nhau.
=> Phát triển lực lượng sản xuất trở thành nhiệm vụ hàng đầu của các quốc gia.
2.3.2. Địa vị của chủ thể trong hệ thống quan hệ sản xuất xã hội.
Quan hệ sản xuất trước hết quan hệ sở hữu về liệu sản xuất, quyết định vị
trí, vai trò của mỗi con người, mỗi chủ thể trong quá trình tham gia các hoạt động kinh tế
- xã hội.
=> Do đó không có lợi ích kinh tế nằm ngoài những quan hệ sản xuất và trao đổi.
2.3.3. Chính sách phân phối thu nhập của nhà nước.
Chính sách phân phối thu nhập của nhà nước làm thay đổi mức thu nhập và tương
quan thu nhập của các chủ thể kinh tế. Khi mức thu nhập tương quan thu nhập thay
đổi, phương thức mức độ thỏa mãn các nhu cầu vật chất cũng thay đổi, tức kinh tế
và lợi ích kinh tế giữa các chủ thể cũng thay đổi.
2.3.4. Hội nhập kinh tế quốc tế
Khi mở cửa hội nhập, các quốc gia có thể gia tăng lợi ích kinh tế từ thương mại quốc
tế, đầuquốc tế. Tuy nhiên, khi đó, lợi ích của các doanh nghiệp, hộ gia đình sản xuất
hàng hóa tiêu thụ trên thị trường nội địa có thể bị ảnh hưởng bởi cạnh tranh của hàng hóa
nước ngoài.
2.4. Một số quan hệ lợi ích kinh tế cơ bản trong nền kinh tế thị trường.
7
Trong điều kiện kinh tế thị trường, đâu có hoạt động kinh tế, đó quan hệ lợi
ích. Trong đó, có một số quan hệ lợi ích kinh tế cơ bản sau đây:
Một là, quan hệ lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động.
Người lao động người có đủ thể lực trí lực để lao động, tức khả năng lao
động. Khi họ bán sức lao động sẽ nhận được tiền lương (hay tiền công) chịu sự quản
lý, điều hành của người sử dụng lao động. Bản chất của tiền lương là giá cả của hàng hóa
sức lao động, chỉ đủ để tái sản xuất sức lao động. Người sử dụng lao động chủ doanh
nghiệp (nhà bản trong CNTB), quan, tổ chức, hợp tác xã, hội gia đình, nhân
thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động. người trả tiền mua hàng hóa
sức lao động nên người sử dụng lao động quyền tổ chức, quản quá trình làm việc
của người lao động. Lợi ích kinh tế của người sử dụng lao động thể hiện tập trung lợi
nhuận mà họ thu được trong quá trình kinh doanh. Lợi ích kinh tế của người lao động thể
hiện tập trung thu nhập (trước hết tiền lương, tiền thưởng) họ nhận được từ việc
bán sức lao động của mình cho người sử dụng lao động. Lợi ích kinh tế của người lao
động và người sử dụng lao động có quan hệ chặt chẽ, vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn với
nhau.
Sự thống nhất về lợi ích kinh tế giữa người lao động người sử dụng lao động thể
hiện chỗ: nếu người sử dụng lao động thực hiện các hoạt động kinh tế trong điều kiện
bình thường họ sẽ thu được lợi nhuận, thực hiện được lợi ích kinh tế của mình; đồng thời,
họ sẽ tiếp tục sử dụng lao động nên người lao động cũng thực hiện được lợi ích kinh tế
của mình việc làm, nhận được tiền lương. Ngược lại, nếu người lao động tích cực
làm việc, lợi ích kinh tế của họ được thực hiện thông qua tiền lương được nhận, đồng
thời, góp phần vào sự gia tăng lợi nhuận của người sử dụng lao động. Vì vậy, tạo lập sự
thống nhất trong quan hệ lợi ích giữa người lao động người sử dụng lao động điều
kiện quan trọng thực hiện lợi ích kinh tế của cả hai bên.
Tuy nhiên, quan hệ lợi ích kinh tế giữa người lao động và người sử dụng lao động còn
có mâu thuẫn. Tại một thời điểm nhất định, thu nhập từ các hoạt động kinh tế là xác định
nên lợi nhuận của người sử dụng lao động tăng lên thì tiền lương của người lao động
giảm xuống ngược lại. lợi ích của mình, người sử dụng lao động luôn tìm cách cắt
giảm tới mức thấp nhất các khoản chi phí trong đó tiền lương của người lao động đề
tăng lợi nhuận. Tuy nhiên, tiền lương điều kiện để tái sản xuất sức lao động nên mức
tiền lương thấp nhất người sử dụng lao động phải trả cho người lao động mức tiền
lương tối thiểu. Vì lợi ích của mình, người lao động sẽ đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ
làm, bãi công... Nếu mâu thuẫn không được giải quyết hợp sẽnh hưởng xấu tới các
hoạt động kinh tế.
Để bảo vệ lợi ích kinh tế của mình, người lao động người sử dụng lao động đã
thành lập các tổ chức riêng. Công đoàn là tổ chức quan trọng nhất bảo vệ quyền lợi người
8
lao động. Người sử dụng lao động các nghiệp đoàn, hội nghề nghiệp...Trong hội
hiện đại, đấu tranh giữa các bên cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật.
Hai là, quan hệ lợi ích giữa những người sử dụng lao động.
Những người sử dụng lao động có quan hệ lợi ích kinh tế chặt chẽ với nhau. Trong
Cơ chế thị trường, những người sử dụng lao động vừa là đối tác, vừa là đối thủ của nhau,
từ đó tạo ra sự thống nhất và mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa họ. Những Người sử dụng
lao động liên kết cạnh tranh với nhau trong ứng xử với người lao động, với những
người cho vay vốn, cho thuc đất, với nhà nước, trong chiếm lĩnh thị trường...Trong
chế thị trường, mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa những người sử dụng lao động làm cho
họ cạnh tranh với nhau quyết liệt. Bộ quả tất yếu là các các nhà doanh nghiệp có giá trị cá
biệt cao hơn giá trị hội các rủi ro khác bị thua lỗ, phá sản... bị loại bỏ khỏi thương
trường. Đồng thời, những người thu được nhiều lợi nhuận sẽ phát triển nhanh chóng.
Những người sử dụng lao động không chỉ cạnh tranh trong cùng ngành, mà còn cạnh
tranh giữa các ngành, bằng việc di chuyển vốn (tư bản) từ ngành này sang ngành khác.
Từ đó hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân, tức những người sử dụng lao động đã
chia nhau lợi nhuận theo vốn đóng góp. Sự thống nhất mâu thuẫn về lợi ích kinh tế
giữa những người sử dụng lao động biểu hiện tập trung lợi nhuận bình quân họ
nhận được.
Sự thống nhất về lợi ích kinh tế làm cho những người sử dụng lao động liên kết chặt
chẽ với nhau, hỗ trợ lẫn nhau. Quan hệ chặt chẽ về lợi ích kinh tế giữa những người sử
dụng lao động làm cho họ trở thành đội ngũ doanh nhân. Trong cơ chế thị trường, đội
ngũ này đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội nên cần được tôn vinh, tạo
điều kiện thuận lợi để phát triển.
Ba là, quan hệ lợi ích giữa những người lao động.
Trong nền kinh tế thị trường, nhiều người muốn bán sức lao động. Để thực hiện lợi
ích kinh tế của mình, người lao động không chỉ phải quan hệ với người sử dụng lao động,
còn phải quan hệ với nhau. Nêu nhiều người bán sức lao động, người lao động
phải cạnh tranh với nhau. Hậu quả tiền lương của người lao động bị giảm xuống, một
bộ phận người lao động bị sa thải. Nếu những người lao động thống nhất được với nhau,
họ thể thực hiện được các yêu sách của mình (ở một chừng mực nhất định) đối với
giới chủ (những người sử dụng lao động).
Để hạn chế mâu thuẫn lợi ích kinh tế trong nội bộ, đặc trưng với những người sử
dụng lao động, những người lao động đã thành lập tổ chức riêng. Sự đoàn kết, giúp đỡ
lẫn nhau giữa những người lao động trong giải quyết các mối quan hệ rất cần thiết
nhưng phải dựa trên các quy định của pháp luật.
Bốn là, quan hệ giữa lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm và lợi ích xã hội.
9
Trong cơ chế thị trường, cá nhân tồn tại dưới nhiều hình thức. Người lao động, người
sử dụng lao động đều là thành viên của xã hội nên mỗi người đều có lợi ích cá nhân và có
quan hệ chặt chẽ với lợi ích hội. Nếu người lao động người sử dụng lao động làm
việc theo đúng các quy định của pháp luật và thực hiện được các lợi ích kinh tế của mình
thì họ đã góp phần phát triển nền kinh tế, thực hiện lợi ích kinh tế của xã hội. Khi lợi ích
kinh tế của hội được thực hiện, hội phát triển sẽ tạo lập môi trường thuận lợi để
người lao động và người sử dụng lao động thực hiện tốt hơn các lợi ích kinh tế của mình.
Ngược lại, nếu giữa người lao động người sử dụng lao động nảy sinh mâu thuẫn
không giải quyết được; hoặc người lao động người sử dụng lao động cộng tác với
nhau hàng giả, hàng nhái, trốn thuế... thì lợi ích kinh tế của hội sẽ bị tổn hại. Biểu
hiện nền kinh tế chậm phát triển, chất lượng cuộc sống của người dân chậm được cải
thiện,... Từ đó ảnh hưởng xấu đến lợi ích kinh tế của các chủ thể, trong đó có lợi ích kinh
tế của người lao động và người sử dụng lao động.
Sự tồn tại phát triển của cộng đồng, hội quyết định sự tồn tại, phát triển của
nhân nên lợi ích xã hội đóng vai trò định hướng cho lợi ích cá nhân và các hoạt động thực
hiện lợi ích nhân. Lợi ích hội sở của sự thống nhất giữa các lợi ích nhân,
tạo ra sự thống nhất trong hoạt động của các chủ thể khác nhau trong hội. Ph.
Ăngghen đã từng khẳng định: “Ớ đâu không lợi ích chung thì đó không thể sự
thống nhất về mục đích cũng không thể sự thống nhất về hành động được”. Quan
hệ lợi ích giữa các chủ thể trên cho thấy, lợi ích nhân lợi ích hội quan hệ
nhiều chiều.
Các nhân, tổ chức hoạt động trong cùng ngành, cùng lĩnh vực, liên kết với nhau
trong hành động để thực hiện tốt hơn lợi ích riêng (lợi ích nhân, tổ chức) của họ hình
thành nên “lợi ích nhóm”. Đó các hiệp hội ngành nghề, các tổ chức chính trị, hội,
các nhóm dân chung một số lợi ích theo vùng, theo sở thích... Các nhân, tố chức hoạt
động trong các ngành, lĩnh vực khác nhau nhưng mối liên hệ với nhau, liên kết với
nhau trong hành động để thực hiện tốt hơn lợi ích riêng mình hình thành nên “nhóm lợi
ích”. Đó là mô hình liên kết giữa 4 nhà trong nông nghiệp: nhà nông - nhà doanh nghiệp -
nhà khoa học - nhà nước; hình liên kết trên thị trường nhà ở: nhà doanh nghiệp kinh
doanh bất động sản - ngân hàng thương mại - người mua nhà…
Lợi ích nhóm”nhóm lợi ích” nếu phù hợp với lợi ích quốc gia, không gây tổn
hại đến các lợi ích khác cần được tôn trọng, bảo vệtạo điều kiện đất nước có thêm
động lực phát triển; ngược lại, khi chúng mâu thuẫn với lợi ích quốc gia, làm tổn hại các
lợi ích khác thì cần phải ngăn chặn.
Trong thực tế, “lợi ích nhóm” “nhóm lợi ích” sự tham gia của công chức,viên
chức hoặc các cơ quan công quyền nhiều khả năng sẽ tác động tiêu cực đến lợi ích xã hội
các lợi ích kinh tế khác quyền lực nhà nước sẽ bị lạm dụng phục vụ cho lợi ích
của các cá nhân. Điều cần lưu ỷ, “lợi ích nhóm” và “nhóm lợi ích”tiêu cực thường không
lộ diện. Vì vậy, việc chống “lợi ích nhóm” và “nhóm lợi ích” tiêu cực vô cùng khó khăn.
10
Để bảo đảm sự thống nhất giữa lợi ích nhân lợi ích hội, việc chống “lợi ích
nhóm” và “nhóm lợi ích” tiêu cực phải được thực hiện quyết liệt, thường xuyên.
2.5. Phương thức thực hiện lợi ích kinh tế trong các quan hệ lợi ích chủ yếu.
Mặc nhiều quan hệ lợi ích đan xen, tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có hai phương thức cơ bản để thực hiện lợi ích kinh
tế gồm:
Thứ nhất, thực hiện lợi ích kinh tế theo nguyên tắc thị trường.
Các quan hệ lợi ích, các chủ thể lợi ích kinh tế mặc dù đa dạng, song để có thể thực
hiện được lợi ích của mình, trong bối cảnh kinh tế thị trường cần phải căn cứ vào các
nguyên tắc của thị trường. Đây là phương thức phổ biến trong mọi nền kinh tế thị trường,
bao gồm cả kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Thứ hai, thực hiện lợi ích kinh tế theo chính sách của nhà nước và vai trò của các tổ
chức xã hội.
Khi thực hiện lợi ích kinh tế, nếu chỉ căn cứ theo nguyên tắc thị trường, tất yếu sẽ
dẫn đến những hạn chế về mặt hội. Do đó, để khắc phục những hạn chế của phương
thức thực hiện theo nguyên tắc thị trường, phương thức thực hiện lợi ích dựa trên chính
sách của nhà nước vai trò của các tổ chức hội cần phải được chú ý nhằm tạo s
bình đắng và thúc đẩy tiến bộ xã hội.
CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG ĐẢM BẢO HÀI HOÀ GIỮA
CÁC QUAN HỆ KINH TẾ
1.Bảo vệ lợi ích hợp pháp, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động tìm kiếm lợi
ích của các chủ thể kinh tế.
Các hoạt động kinh tế bao giờ cũng diễn ra trong một môi trường nhất định, thế
môi trường càng thuận lợi, các hoạt động kinh tế càng hiệu quả và không ngừng mở rộng
đặc biệt phải do nhà nước tạo lập.
- Nhà nước phải tạo lập môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh tế, trước
hết giữ vững ổn định về chính trị. Trong nhữngm gần đây, Việt Nam đã
thực hiện rất tốt điều này. Nhờ đó, những nhà đầu trong ngoài nước rất
hứng thú và có phần chắc chắn trong việc đầu tư tại đất nước mình.
- Nhà nước cần tạo lập môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh tế đòi hỏi
phải xây dựng được môi trường pháp luật thông thoáng, bảo vệ được lợi ích
chính đáng của các chủ thể kinh tế trong nước và ngoài nước (doanh nghiệp, cá
11
nhân…), đặc biệt lợi ích của đất nước. Trong những năm vừa qua, khi đất
nước hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, hệ thống pháp luật của nước ta đã
đang xoay đổi theo hướng tích cực để phù hợp, quan trọng tuân thể các
chuẩn mực và thông lệ quốc tế.
- Nhà nước cũng cần tạo lập môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh tế tất
yếu phải đầu xây dựng kết cấu hạ tầng của nền kinh tế (bao gồm hệ thống
đường bộ, đường sắt, đường sông, đường hàng không, hệ thống cầu cống, hệ
thống điện nước, hệ thống thông tin liên lạc…). Kết cấu hạ tầng của Việt Nam
những năm vừa qua được coi một trong ba đột phá lớn thế nên kết cấu hạ
tầng của nền kinh tế đã được cải thiện rất đáng kể, đáp ứng nhu cầu của các
hoạt động kinh tế. Và môi trường vĩ mô về kinh tế yêu cầu Nhà nước phải đưa
ra các chính sách phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế trong từng giai đoạn,
Việt Nam đang từng bước đáp ứng được các chính sách này.
- Nhà nước cần tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh tế còn là tạo lập
môi trường văn hóa tương ứng với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường. Trong
đó đòi hỏi con người năng động, sáng tạo, tôn trọng kỷ cương và pháp luật, giữ
chữ tín…
2.Điều hòa lợi ích giữa cá nhân - doanh nghiệp - xã hội.
Do mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể tác động của các quy luật thị
trường, sự phân hóa về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư làm cho lợi ích kinh tế của một
bộ phận dân cư được thực hiện rất khó khăn, hạn chế.
Nhà nước vai trò quan trọng trong việc điều hòa lợi ích kinh tế giữa các nhân,
doanh nghiệp hội. Chính lẽ đó, nhà nước đóng vai trò như một người giám sát,
kiểm soát hỗ trợ cho các hoạt động kinh tế trong quốc gia mình. Nhà nước chính
sách phân phối thu nhập nhằm bảo đảm hài hòa các lợi ích kinh tế. Cụ thể chính sách này
có các mục tiêu sau:
-Đảm bảo mức nhu cầu bản cho các công dân: Nhà nước cần đảm bảo mức thu
nhập bản đủ để đáp ứng nhu cầu bản của cuộc sống, bao gồm: nhà ở, thực
phẩm, y tế, giáo dục… Điều này đảm bảo rằng tất cả các công dân đều hội
phát triển và tiến bộ trong cuộc sống.
-Tăng cường tập trung các nguồn lực: Nhà nước phải chú ý nhân sự để đầu tư vào
các lĩnh vực bản của kinh tế như: hạ tầng, nông nghiệp, sản xuất giáo dục.
Điều này giúp tăng cường năng lực sản xuất và thu nhập của các cá nhân cũng như
doanh nghiệp.
-Cải thiện đời sống của các tầng lớp thấp hơn: Nhà nước cần có các chính sách đặc
biệt để giúp đỡ những tầng lớp thấp hơn từ người nghèo, người già, trẻ em đến
12
người tàn tật. Như vậy giúp cải thiện đời sống của những người điều kiện kém
hơn đặc biệt đóng góp vào việc giảm đói nghèo trong xã hội.
-Đảm bảo các quyền lợi của lao động: Nhà nước cần đảm bảo các quyền lợi của lao
động, cụ thể: mức lương tối thiểu, điều kiện làm việc an toàn bảo hiểm y tế.
Chính sách này nhằm bảo vệ chặt chẽ quyền lợi của người lao động ảnh
hưởng tích cực tới mức sống của họ.
Một mặt phải thừa nhận sự chênh lệch về thu nhập giữa các chủ thể kinh tế khách
quan, mặt khác phải ngăn chặn sự chênh lệch quá đáng. Mặc theo tổng quan, chính
sách này đảm bảo các lợi ích kinh tế được phân phối hài hòa giữanhân, doanh nghiệp
và xã hội.
-Nhà nước cũng nhiệm vụ quản giám sát hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp, đảm bảo các hoạt động này không gây thiệt hại đến môi trường, sức
khỏe người dân các lợi ích của hội. Về phía hội, các lợi ích của cộng
đồng cần được nhà nước bảo vệ phát triển, nhất trong các lĩnh vực như giáo
dục, y tế, an ninh, an toàn, văn hóa môi trường. Nhà nước cũng cần xây dựng
các chính sách kinh tế và xã hội hợp lý để đảm bảo sự phát triển bền vững của đất
nước.
-Ngoài ra phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, phát triển khoa học - công nghệ
để nâng cao thu nhập cho các chủ thể kinh tế, những điều kiện vật chất để thực
hiện sự công bằng hội trong phân phối. Điều này hoàn toàn đúng đắn. Tuy
nhiên, việc đạt được sự công bằng hội trong phân phối cũng đòi hỏi nhiều yếu
tố khác tác động như chính sách công bằng, phát triển giáo dục đào tạo, tăng
cường an sinh xã hội và bảo vệ môi trường.
Tóm lại, sự công bằng hội trong phân phối đòi hỏi cần nhiều yếu tố tác động
cùng nhau. Chính phủ cần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, đồng thời đưa ra các chính sách
hỗ trợ cho các chủ thể kinh tế vừa nhỏ, người lao động các đối tượng khó khăn.
Không những vậy còn phải thúc đẩy giáo dục đào tạo, xây dựng một môi trường
văn hóa, xã hội chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt.
3.Kiểm soát, ngăn ngừa các quan hệ lợi ích có ảnh hưởng tiêu cực đối với sự phát
triển xã hội.
Nhà nước phải tích cực chủ động thực hiện công bằng trong phân phối thu nhập để
đảm bảo hài hoà các lợi ích kinh tế vì lợi ích là kết quả trực tiếp của phân phối thu nhập.
Hiện nay, công bằng trong phân phối có hai quan niệm chính: công bằng theo mức độ
công bằng theo chức năng. Hai quan niệm này đều có ưu điểm và nhược điểm riêng. Nhà
13
nước phải chăm lo đời sống vật chất cho mọi người dân, mỗi giai đoạn phát triển, để
người dân ít nhất đạt được mức sống tối thiểu, Nhà nước cần thực hiện hiệu quả các
chính sách xóa đói, giảm nghèo, tạo điều kiện và cơ hội tiếp cận bình đẳng các nguồn lực
phát triển, hưởng thụ các dịch vụ hội bản, vươn lên thoát đói nghèo vững chắc
các vùng nghèo các bộ phận dân nghèo, khắc phục tưởng bao cấp, lại. Chú
trọng các chính sách ưu đãi hội, an sinh hội, vận động toàn dân tham gia các hoạt
động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn. Đẩy mạnh các hoạt động nhân đạo, từ
thiện,người lao động nghèo, người công với cách mạng những người dân vùng
sâu, vùng xa, đối tượng yếu thế trong xã hội. Có chính sách đãi ngộ tốt với người tài, đảm
bảo mức tiền lương thỏa đáng cho công nhân viên chức và người lao động. Nhà nước cần
các chính sách khuyến khích người dân làm giàu hợp pháp, tạo điều kiện giúp đỡ
họ bằng mọi biện pháp. Người dân thể được sự hỗ trợ của Nhà nước khi cần giúp
đỡ về kinh doanh, tuy nhiên không được kinh doanh dưới các hành vi trái pháp luật,
phạm pháp trong kinh doanh gây ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế quốc gia.
Nhà nước nên xây dựng thực thi các luật pháp quy định để giám sát hoạt
động của các tổ chức, doanh nghiệp nhân. Điều này bao gồm việc áp dụng biện
pháp trừng phạt cho vi phạm luật. Bên cạnh đó, trong cơ chế thị trường, các hoạt động bất
hợp pháp như buôn lậu, làm hàng giả, hàng nhái; lừa đảo; tham nhũng... tồn tại khá phổ
biến và nếu càng gia tăng sẽ càng làm tổn hại lợi ích kinh tế của các chủ thể làm ăn chân
chính. Để chống lại các hình thức thu nhập bất hợp pháp, bảo đảm hài hòa các lợi ích
kinh tế, Nhà nước phải có các biện pháp chống tham nhũng của các cán bộ nhà nước như
kiểm soát thu nhập của cán bộ, công khai minh bạch các chế của Nhà nước, xử
các vi phạm pháp luật của người dân và các cán bộ nhà nước theo quy định của pháp luật,
mọi người đều bình đẳng như nhau. Bên cạnh đó, đảm bảo rằng không s thiên vị
trong quan hệ kinh doanh và công việc của cá nhân. Các quy định về cạnh tranh và công
bằng kinh tế nên được thực thi một cách nghiêm ngặt để tránh sự lợi dụnggây tổn hại
cho xã hội.
Nhà nước cần tăng cường trong việc tạo ra ý thức về những hậu quả tiêu cực của
các quan hệ lợi ích không lành mạnh cho xã hội như việc thu thuế thu nhập cá nhân còn
bỏ sót nhiều đối tượng, gây thất thoát cho ngân sách nhà nước, chưa đảm bảo công bằng
cho những người phải nộp thuế. Chính sách trợ cấp xã hội, phân phối lại thu nhập của
Chính phủ trong thời gian qua còn bất cập. Trong quá trình hoạt động, lực lượng quản lý
thị trường vẫn gặp nhiều khó khăn do phương thức, thủ đoạn của các đối tượng ngày
càng tinh vi và phức tạp. Tình trạng nhân danh lợi ích xã hội để vi phạm vẫn tồn tại và
tiềm ẩn nhiều vấn đề cần giải quyết. Biểu hiện là tình trạng tham ô, tham nhũng, hoạt
động của các “nhóm lợi ích” tiêu cực; các hành vi xây dựng trái phép trong các thành phố
lớn và các khu đô thị;...làm cho lợi ích xã hội bị tổn thất lớn.
4. Giải quyết những mâu thuẫn trong quan hệ lợi ích kinh tế
14
Mâu thuẫn giữa các lợi ích kinh tế khách quan, nếu không được giải quyết sẽ ảnh
hưởng trực tiếp đến động lực của các hoạt động kinh tế. Khi nói đến giải quyết mâu
thuẫn, tức nói đến vai trò quyết định của nhà nước, của chính quyền; sự tham gia của
các tổ chức hội chỉ vai trò hỗ trợ. Các mâu thuẫn trong quan hệ lợi ích kinh tế đều
có nguyên nhân gốc rễ, do đó các mâu thuẫn chỉthể được giải quyết triệt để khi xử lý
được vấn đề gốc rễ của nó.
Để giải quyết những mâu thuẫn trong quan hệ lợi ích kinh tế làm chúng không ảnh
hưởng xấu đến xã hội Nhà nước ta có nguyên tắc sau:
-quan chức năng kịp thời phát hiện, điều chỉnh các mâu thuẫn quan hệ lợi ích
kinh tế trên nguyên tắc có sự tham gia giữa các bên liên quan, có nhân nhượng và
phải đặt lợi ích đất nước lên trên hết.
-Khi xung đột giữa người lao động người sử dụng lao động cần sự tham
gia hòa giải của các tổ chức xã hội có liên quan, đặc biệt là Nhà nước.
CHƯƠNG 3: NHỮNG THÀNH TỰU ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC, NHỮNG HẠN CHẾ CÒN
TỒN TẠI VÀ ĐỀ XUẤT NHỮNG GIẢI PHÁP
1.Những thành tựu đã đạt được
Thứ nhất, Nhà nước ta bảo vệ lợi ích hợp pháp, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt
động tìm kiếm lợi ích của các chủ thể kinh tế:
Việt Nam đã thực hiện rất tốt vấn đề giữ vững ổn định chính trị. Nhờ đó đã thu hút,
khiến các nhà đầu yên tâm khi tiến hành đầu tư. Bên cạnh đó, Nhà nước đã đang
không ngừng xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng: phục vụ mục tiêu
kiến tạo phát triển, tạo dựng hành lang pháp an toàn cho phát triển hội nhập sâu
rộng với khu vực thế giới cả về kinh tế, chính trị, văn hóa. Kết cấu hạ tầng của nền
kinh tế nước ta ngày càng được cải thiện, đáp ứng nhu cầu các hoạt động kinh tế.
Thứ hai, cả lợi ích cá nhân lợi ích hội bước đầu đã được quan tâm giải quyết
theo hướng thúc đẩy sự phát triển:
Có thể khẳng định, lợi ích cá nhân chính đáng được tạo điều kiện phát triển trên nhiều
phương diện qua đó tạo cơ sở bước đầu giải quyết lợi ích xã hội phù hợp và ngược lợi ích
xã hội bước đầu được thực hiện tốt đã tạo tiền đề, điều kiện để lợi ích cá nhân chính đáng
được thực hiện. Những kết quả tích cực trong phát triển kinh tế - hội cùng việc thực
hiện tốt các chính sách an sinh hội (ASXH) phúc lợi hội (PLXH) trong những
năm qua đã tạo lập những giá trị mới của hội, tạo lập sự công bằng về hội trong
việc hưởng thụ, tiếp cận các giá trị của phát triển. Đời sống của mỗi nhân không
ngừng được nâng lên, quyền và lợi ích chính đáng được pháp luật bảo vệ, nhất là trong sở
hữu và phân phối. Lợi ích của các giai tầng cụ thể, những đối tượng chính sách, đối tượng
15
yếu thế trong xã hội, đồng bào vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo được quan tâm đúng
mức, tỷ lệ hộ nghèo giảm, ASXH và PLXH được thực hiện tốt...
Thứ ba, kiểm soát, ngăn ngừa các quan hệ lợi ích ảnh hưởng tiêu cực đối với sự
phát triển xã hội:
Để bảo đảm hài hòa các lợi ích kinh tế giữa các chủ thể và loại bỏ các ảnh hưởng tiêu
cực trên nước ta, quyết tâm xây dựng bộ máy nhà nước liêm chính, trong sạch, hiệu quả,
kỷ luật kỉ cương. Thực hiện các nghị quyết của Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ và Ban
Chỉ đạo 389 Quốc gia về chống buôn lậu, gian lận thương mại hàng giả, hàng nhái,
các lực lượng chức năng đã tăng cường công tác kiểm tra, có nhiều biện pháp ngăn chặn,
hạn chế tình trạng sản xuất, buôn bán hàng lậu.
2.Những hạn chế còn tồn tại.
Bên cạnh những thành công và những thắng lợi, thành tựu là cơ bản, thì hiện nay, các
quan hệ lợi ích kinh tế tại Việt Nam vẫn còn một số hạn chế, bất cập, cần được nhận diện
một cách nghiêm túc, khoa học.
Thứ nhất, tình trạng nhân danh lợi ích hội để vi phạm lợi ích cá nhân chính đáng
của nhân dân lao động vẫn tồn tại tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp. Biểu hiện của tình
trạng này đó là những hiện tượng tham ô, tham nhũng, lãng phí, những biểu hiện của “lợi
ích nhóm” tiêu cực, hay “tư bản thân hữu”... trong rất nhiều lĩnh vực của hội, nhất
trong sở hữu, quản lý tài sản của Nhà nước, lĩnh vực đất đai, xây dựng.
dụ: Đại án Việt Á một vụ án hình sự điển hình về "tham nhũng hệ thống",
đặc biệt nghiêm trọng về các tội: vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm
trọng, vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí, lợi
dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ, đưa hối lộ nhận hối lộ xảy ra tại
Công ty Việt Á các đơn vị liên quan. Đây được chomột trong những đại án lớn
nhất của Việt Nam.
Thứ hai, tình trạng đề cao lợi ích cá nhân không chính đáng, vi phạm lợi ích xã hội và
lợi ích cá nhân khác gây ra những tổn hại cho sự phát triển xã hội vẫn có xu hướng phức
tạp. Hiện tượng buôn lậu, trốn thuế của nhiều nhân, doanh nghiệp; các hiện tượng
hàng giả, hàng kém chất lượng; thực phẩm “bẩn”, cho đến những hành vi xây dựng nhà
ở, khu đô thị, phá vỡ quy hoạch chung của thành phố, xây nhà không phép, lấn chiếm
lòng đường, vỉa hè, hành lang an toàn, không gian công cộng, xây dựng các chung
không theo quy định, không đảm bảo tiện ích theo quy định xảy ra nhiều nơi, nhất là ở
thành phố lớn; những hiện tượng xe quá khổ, quá tải, xâm hại, lấn chiếm các công trình
công cộng, công trình Nhà nước... đang làm cho lợi ích xã hội mà Nhà nước là đại diện bị
những tổn hại rất lớn. Cho đến những hiện tượng trộm, cướp nhiều nơi, đặc biệt
16
các thành phố lớn trở thành nỗi bất an của người dân; tình trạng lừa đảo, các hình
kinh doanh đa cấp biến tướng, “chơi hụi”, cho vay nặng lãi - tín dụng “đen”, đòi nợ
thuê... đang gây những hệ lụy không nhỏ đối với cuộc sống của nhiều cá nhân, gia đình,
gây phức tạp tình hình kinh tế - xã hội.
dụ: Nhiều chủ đầu muốn tiết kiệm chi phí xây dựng tối đa lợi nhuận đã
thực hiện sai phạm các quy định về phòng cháy chữa cháy tại các chung mini, góp
phần gián tiếp gây ra những thiệt hại nghiêm trọng về người của nếu như các đám
cháy xảy ra. Điển hình 56 người đã thiệt mạng trong vụ cháy chung mini tại quận
Thanh Xuân, Hà Nội
Thứ ba, nhiều lợi ích xã hội chưa được thực hiện một cách phổ quát song vẫn còn tồn
tại những biểu hiện đề cao lợi ích xã hội, trong khi lợi ích cá nhân chính đáng, chưa được
chú ý một cách đúng mức. Cụ thể khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng, nhóm dân
còn lớn, đời sống một bộ phận nhân dân còn nhiều khó khăn; thu nhập, đời sống của
người lao động còn thấp; lương của cán bộ, công chức, viên chức chưa cao; tỷ lệ hộ
nghèo và cận nghèo ở vùng sâu, vùng xa, nhất là trong đồng bào dân tộc thiểu số còn cao
(một số huyện, lên đến 50%), cả nước khoảng 1% số người vẫn trong tình trạng
thiếu đói. Một số nội dung của an sinh hội (chính sách bảo đảm việc làm, thu nhập
giảm nghèo; chính sách bảo hiểm xã hội; chính sách trợ giúp xã hội nhằm hỗ trợ đột xuất
thường xuyên cho người dân; chính sách dịch vụ hội bản) phúc lợi hội
chưa được thực hiện tốt, nhiều người vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo chưa được
hưởng phúc lợi xã hội nhưcác trung tâm, các thành phố lớn. Vẫn diễn ra “nghịch lý an
sinh hội”, thể hiện đặc biệt qua việc so sánh tỷ trọng trợ cấp ASXH các hộ gia
đình giàu nghèo nhận được. Nhóm nghèo nhất nhận được 6,6% tổng chỉ tiêu trợ cấp
ASXH tương đương 70.000 đồng/năm/người, trong khi đó nhóm giàu nhất nhận được
39% tương đương với 660.000 đồng/người /năm tiền chi tiêu trợ cấp ASXH.
Thứ tư, mặc dù, Đảng ta khẳng định: các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình
đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật, tuy nhiên có thể thấy lĩnh vực kinh tế tư nhân
còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn lực, thậm chí gặp những rào cản
trong quá trình phát triển (nhiều thủ tục hành chính còn rườm rà, nhận thức về kinh tế
nhân còn chưa thông suốt, tình trạng tham nhũng, tham ô, sách nhiễu đối với kinh tế
nhân còn nhiều...). Chính vì vậy, trong năm 2018, số doanh nghiệp tư nhân thành lập mới
chưa đáp ứng nhu cầu đề ra, hoạt động của kinh tế nhân chưa có những khởi sắc lớn,
chưa phát huy hết tiềm năng, lợi thế của thành phần kinh tế này đối với quá trình phát
triển đất nước.
3.Giải pháp đảm bảo hài hòa kinh tế ở Việt Nam
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa Việt Nam, để
thực hiện tốt hơn việc giải quyết hài hòa lợi ích kinh tế, tạo môi trường thuận lợi cho sự
phát triển kinh tế bền vững, cần thực hiện một số giải pháp sau:
17
Thứ nhất, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thể chế để đảm bảo gắn tăng trưởng kinh tế
với tiến bộ công bằng hội, tạo hội cho mọi thành viên trong hội tham gia
hưởng thụ thành quả của quá trình phát triển. Xây dựng hệ thống pháp luật tạo thuận lợi
cho các doanh nghiệp tham gia đầu trên thị trường, thúc đẩy doanh nghiệp đội ngũ
doanh nhân trở thành lực lượng đi đầu trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Nhà nước cần thực hiện tốt hơn nữa việc đảm bảo công khai, minh bạch trong quá
trình quản lý, xử nghiêm những hành vi tham ô, tham nhũng, “lợi ích nhóm” tiêu cực
gây tổn thất cho hội. Đẩy mạnh nâng cao công tác tuyên truyền, giáo dục, thống
nhất cao về ý chí hành động trong cán bộ, đảng viên nhân dân về phòng, chống
tham nhũng. Tăng cường kiểm tra, giám sát, xây dựng đội ngũ cán bộ Đảng và Nhà nước
trong sạch, vững mạnh, có năng lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong tình
hình mới.
Thứ hai, tạo sự đồng thuận trong phân phối thu nhập, tiếp tục hoàn thiện và nâng cao
hiệu quả của các chính sách an sinh hội, phúc lợi hội chính sách tiền lương.
Quan tâm, giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn, người lao động nghèo, người có công với
cách mạng những người dân vùng sâu, vùng xa, đối tượng yếu thế trong hội.
chính sách đãi ngộ tốt với người tài, đảm bảo mức tiền lương thỏa đáng cho công nhân
viên chức và người lao động.
Thứ ba, cần có chính sách khuyến khích người dân làm giàu hợp pháp, giáo dục người
dân biết đặt lợi ích của mình trong mối quan hệ với lợi ích của những chủ thể khác để tạo
ra sự thống nhất trong quan hệ lợi ích, tránh xung đột, mâu thuẫn. Thông qua hoạt động
giáo dục, tuyên truyền để nâng cao nhận thức của người dân về quyền nghĩa vụ của
mình trong các quan hệ lợi ích, về phân phối thu nhập để phân chia hợp giữa tiền
lương và lợi nhuận. Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân, mọi nhà đầu
mở mang ngành nghề, tạo nhiều việc làm cho người lao động, phát triển dịch vụ việc
làm;...
18
PHẦN KẾT LUẬN
Bài thảo luận đã cung cấp cho mọi người những thuyết về lợi ích kinh tế từ đó
đưa ra những giải pháp đảm bảo hài hoà các quan hệ lợi ích ở Việt Nam hiện nay. Vì vậy,
việc nghiên cứu vận dụng thuyết ý nghĩa lớn đối với sự phát triển bền vững của
đất nướcsự cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân. Qua đó, nhấn mạnh sự cần
thiết của việc thúc đẩy sự cân bằng và bền vững trong các quan hệ lợi ích kinh tế tại Việt
Nam để đảm bảo phát triển bền vững cải thiện chất lượng cuộc sống cho tất c các
tầng lớp xã hội.
19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Kinh tế Chính trị - Mác Lenin 2021-2022 của Bộ Giáo dục và Đào
tạo.
2. Phân tích các quan hệ lợi ích kinh tế Việt Nam hiện nay của Nguyễn Thuý
Vy - Trường ĐH Tôn Đức Thắng năm 2022.
3. “Lợi ích kinh tế gì? Bản chất, ý nghĩa, vai trò, dụ lợi ích kinh tế” của
Bùi Tuấn Anh, tham vấn bởi Luật sư Lê Minh Trường năm 2022.
4. Giải quyết hài hòa quan hệ giữa lợi ích nhânlợi ích hội trong điều
kiện kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay ThS Hoàng Văn Khải. TS Trần
Văn Thắng (2020).
5. Vai trò của nhà nước thị trường trong giải quyết hài hòa lợi ích kinh tế
Việt Nam hiện nay của Ths. Hoàng Hồng Đào – Trường Đại học Sư Phạm
thuật Hưng Yên năm 2023
20

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA TIẾNG ANH ---o0o--- BÀI THẢO LUẬN
KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN Đề tài:
Vận dụng những lý thuyết về lợi ích kinh tế nhằm đưa
ra những giải pháp đảm bảo hài hoà các quan hệ
lợi ích ở Việt Nam hiện nay
Giảng viên hướng dẫn: Đặng Thu Giang
Lớp học phần: 231_RLCP1211_33 Nhóm 5 Hà Nội 10/2023 1 LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS. Đặng Thu Giang.
Trong quá trình học tập môn Kinh tế Chính trị Mác- Lênin, chúng em đã nhận được sự
hướng dẫn, chỉ dạy tận tình của cô. Cô đã định hướng và giúp chúng em tiếp thu kiến
thức của môn học này một cách sâu sắc và hoàn thiện. Từ những kiến thức học được,
chúng em đã có cái nhìn tổng thể về những mối quan hệ và các quy luật kinh tế, sự phân
phối vận động của các sự vật hiện tượng và quá trình hoạt động kinh tế của con người
tương ứng với những trình độ phát triển nhất định trong nền xản xuất xã hội trên thế giới
và ở Việt Nam. Do đó, qua bài thảo luận này, chúng em xin trình bày lại những điều
chúng em đã tìm hiểu về lợi ích kinh tế nhằm đưa ra những giải pháp đảm bảo hài hoà
quan hệ lợi ích ở Việt Nam hiện nay.
Tuy nhiên, do sự tiếp thu kiến thức, khả năng liên hệ thực tế và nắm bắt xu hướng
phát triển của chúng em còn hạn chế, bài thảo luận này chắc chắn không thể tránh khỏi
những thiếu sót, chưa đầy đủ. Kính mong cô góp ý và nhận xét để bài thảo luận của
chúng em có thể hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn cô! 2 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...........................................................................................................................4
CHƯƠNG 1: LỢI ÍCH KINH TẾ VÀ QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ......................5
1. Lợi ích kinh tế.........................................................................................................5
1.1. Khái niệm.............................................................................................................5
1.2. Bản chất và biểu hiện............................................................................................5
1.3. Vai trò của lợi ích kinh tế.....................................................................................5
2. Quan hệ lợi ích kinh tế.............................................................................................6
2.1. Khái niệm.............................................................................................................6
2.2. Sự thống nhất và mâu thuẫn của quan hệ lợi ích kinh tế......................................6
2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ lợi ích kinh tế..............................................7
2.4. Một số quan hệ lợi ích kinh tế cơ bản trong nền kinh tế thị trường......................7
2.5. Phương thức thực hiện lợi ích kinh tế trong các quan hệ lợi ích chủ yếu............11
CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG ĐẢM BẢO HÀI HÒA GIỮA
CÁC QUAN HỆ KINH TẾ
........................................................................................11
1.Bảo vệ lợi ích hợp pháp, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động tìm kiếm lợi ích của
các chủ thể kinh tế........................................................................................................11
2.Điều hòa lợi ích giữa cá nhân - doanh nghiệp - xã hội...............................................12
3.Kiểm soát, ngăn ngừa các quan hệ lợi ích có ảnh hưởng tiêu cực đối với sự phát triển
xã hội............................................................................................................................13
CHƯƠNG 3: NHỮNG THÀNH TỰU ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC, NHỮNG HẠN CHẾ CÒN
TỒN TẠI VÀ ĐỀ XUẤT NHỮNG GIẢI PHÁP
......................................................15
1.Những thành tựu đã đạt được:....................................................................................15
2.Những hạn chế còn tồn tại.........................................................................................16
3.Giải pháp đảm bảo hài hòa kinh tế ở Việt Nam.........................................................17
PHẦN KẾT LUẬN.........................................................................................................19
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................................20
BIÊN BẢN HỌP NHÓM...............................................................................................21 3 MỞ ĐẦU
Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường trên thế giới và đặc biệt là nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam, những lợi ích kinh tế và việc đảm bảo
sự hài hoà giữa những quan hệ lợi ích là những vấn đề đã và đang rất được chú trọng.
Những quan hệ lợi ích có hài hoà, thống nhất thì mới tạo được động lực để thúc đẩy nền
kinh tế, góp phần thực hiện tốt hơn các lợi ích kinh tế - xã hội. Do đó, dựa trên cơ sở lý
thuyết về lợi ích kinh tế và quan hệ lợi ích kinh tế, bài thảo luận của nhóm tìm hiểu
những thành tựu đã đạt được, những hạn chế còn tồn tại từ đó đưa ra những giải pháp để
khắc phục chúng trong việc bảo đảm sự hài hoà các quan hệ lợi ích trong nên kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. 4
CHƯƠNG 1: LỢI ÍCH KINH TẾ VÀ QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ 1. Lợi ích kinh tế 1.1. Khái niệm
Lợi ích kinh tế là sự thỏa mãn nhu cầu của con người mà sự thỏa mãn nhu cầu này
phải được nhận thức và đặt trong mối quan hệ xã hội tương ứng với trình độ phát triển
của nền sản xuất xã hội đó.
Ph.Ăngghen viết: "Những quan hệ kinh tế của một xã hội nhất định nào đó biểu hiện
trước hết dưới hình thức lợi ích". Lê-nin cũng cho rằng: "Lợi ích của giai cấp này hay
giai cấp khác được xác định một cách khách quan theo vai trò mà họ có trong hệ thống
quan hệ sản xuất, theo những hoàn cảnh và điều kiện sống của họ".
1.2. Bản chất và biểu hiện
1.2.1. Bản chất của lợi ích kinh tế
Lợi ích kinh tế phản ánh mục đích và động cơ của các quan hệ giữa các chủ thể trong
nền sản xuất xã hội khi tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội; quan hệ giữa con
người với con người để tạo ra của cải vật chất cho bản thân. Lợi ích kinh tế là hình thức
biểu hiện của quan hệ sản xuất, do quan hệ sản xuất quyết định. Hệ thống quan hệ sản
xuất của mỗi một chế độ xã hội nhất định sẽ quy định hệ thống lợi ích kinh tế của xã hội đó.
1.2.2. Biểu hiện của lợi ích kinh tế
Lợi ích kinh tế là hình thức biểu hiện của quan hệ kinh tế và quy luật kinh tế. Trong
thực tế, lợi ích kinh tế thông thường sẽ được biểu hiện ở các hình thức thu nhập cụ thể:
Tiền lương, tiền công, lợi nhuận, lợi tức, địa tô, thuế, phí, lệ phí và các hình thức cụ thể
khác. Gắn với các chủ thể kinh tế khác nhau là những lợi ích tương ứng: lợi ích của chủ
doanh nghiệp trước hết là lợi nhuận, lợi ích người lao động là thu nhập. Khi đề cập tới
phạm trù lợi ích kinh tế có nghĩa rằng lợi ích đó được xác lập trong quan hệ nào, vai trò
của các chủ thể trong quan hệ đó thể hiện chủ thể đó biểu hiện như thế nào.
1.3. Vai trò của lợi ích kinh tế.
Một là, lợi ích kinh tế là động lực trực tiếp của các chủ thể và hoạt động kinh tế - xã hội.
Con người tiến hành các hoạt động kinh tế trước hết để thỏa mãn các nhu cầu vật
chất, nâng cao phương thức và mức độ thỏa mãn nhu cầu vật chất của bản thân. Trong
nền kinh tế thị trường, phương thức và mức độ phụ thuộc thỏa mãn nhu cầu vật chất tùy
thuộc vào mức thu nhập. Do đó, mức thu nhập càng cao, phương thức và mức độ thỏa
mãn nhu cầu càng tốt. Vì vậy, mọi chủ thể kinh tế đều phải hành động để nâng cao thu 5
nhập của mình. Thực hiện lợi ích kinh tế của các giai cấp tầng lớp xã hội, đặc biệt của
người dân vừa là cơ sở bảo đảm cho sự ổn định và phát triển xã hội vừa là biểu hiện sự phát triển.
Hai là, lợi ích kinh tế là cơ sở thúc đẩy sự phát triển các lợi ích khác.
Lợi ích kinh tế được thực hiện sẽ tạo điều kiện cho sự hình thành và thực hiện lợi ích
chính trị, lợi ích xã hội, văn hóa của các chủ thể xã hội. Lợi ích kinh tế mang tính khách
quan và là động lực mạnh mẽ để phát triển kinh tế - xã hội. Theo C.Mác: "Cội nguồn
phát triển của xã hội không phải là quá trình nhận thức mà là các quan hệ của đời sống
vật chất, tức là lợi ích kinh tế của con người".

2. Quan hệ lợi ích kinh tế. 2.1. Khái niệm.
Quan hệ lợi ích kinh tế là sự thiết lập những tương tác giữa con người với con người,
giữa các cộng đồng người, các tổ chức kinh tế, giữa các bộ phận hợp thành kinh tế, giữa
con người với tổ chức, giữa các quốc gia và phần còn lại của thế giới nhằm mục tiêu xác
lập lợi ích kinh tế trong các mối quan hệ với trình độ phát triển của lực lượng lượng sản
xuất và kiến trúc thượng tầng tương ứng của một giai đoạn phát triển xã hội nhất định.
Một số kiểu quan hệ kinh tế:
- Các quan hệ theo chiều dọc: giữa một tổ chức kinh tế với một cá nhân trong tổ chức kinh tế đó.
- Các quan hệ theo chiều ngang: giữa các chủ thể, các cộng đồng người, giữa các tổ
chức, các bộ phận hợp thành nền kinh tế khác nhau.
2.2. Sự thống nhất và mâu thuẫn của quan hệ lợi ích kinh tế.
2.2.1. Sự thống nhất của các quan hệ lợi ích kinh tế.
Các quan hệ lợi ích kinh tế thống nhất với nhau vì một chủ thể có thể trở thành bộ
phận cấu thành của chủ thể khác. Lợi ích của chủ thể này được thực hiện thì lợi ích của
chủ thể khác cũng trực tiếp hoặc gián tiếp được thực hiện.
Chẳng hạn, mỗi cá nhân người lao động có lợi ích của riêng mình, đồng thời các cá
nhân đó lại là bộ phận cấu thành tập thể doanh nghiệp và tham gia vào lợi ích kinh tế đó.
Doanh nghiệp hoạt động càng hiệu quả, lợi ích doanh nghiệp được đảm bảo thì lợi ích
người lao động càng được thực hiện tốt: việc làm được đảm bảo, thu nhập ổn định và
được nâng cao… Ngược lại, lợi ích người lao động càng được thực hiện tốt thì người lao
động càng tích cực làm việc, trách nhiệm với doanh nghiệp càng cao và từ đó lợi ích
doanh nghiệp càng được thực hiện tốt. 6
Khi các chủ thể kinh tế hành động vì mục tiêu chung hoặc các mục tiêu thống nhất
với nhau thì các lợi ích kinh tế của các chủ thể đó thống nhất với nhau.
2.2.2. Sự mâu thuẫn trong các quan hệ lợi ích kinh tế.
Các quan hệ lợi ích kinh tế mâu thuẫn với nhau vì các chủ thể kinh tế có thể hành
động theo phương thức khác nhau để thực hiện các lợi ích của mình. Sự khác nhau đó
đến mức đối lập thì trở thành mâu thuẫn. Lợi ích của những chủ thể kinh tế có quan hệ
trực tiếp trong việc phân phối kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng có thể mâu
thuẫn với nhau vì tại một thời điểm kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh là xác định.
Chẳng hạn như thu nhập chủ thể này tăng lên thì thu nhập của chủ thể khác giảm xuống.
Do đó có thể suy ra mâu thuẫn về lợi ích kinh tế là cội nguồn của các xung đột xã hội.
2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ lợi ích kinh tế.
2.3.1. Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Trình độ phát triển lực lượng sản xuất càng cao, việc đáp ứng lợi ích kinh tế của các
chủ thể càng tốt. Quan hệ lợi ích kinh tế vì vậy càng có điều kiện thống nhất với nhau.
=> Phát triển lực lượng sản xuất trở thành nhiệm vụ hàng đầu của các quốc gia.
2.3.2. Địa vị của chủ thể trong hệ thống quan hệ sản xuất xã hội.
Quan hệ sản xuất mà trước hết là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quyết định vị
trí, vai trò của mỗi con người, mỗi chủ thể trong quá trình tham gia các hoạt động kinh tế - xã hội.
=> Do đó không có lợi ích kinh tế nằm ngoài những quan hệ sản xuất và trao đổi.
2.3.3. Chính sách phân phối thu nhập của nhà nước.
Chính sách phân phối thu nhập của nhà nước làm thay đổi mức thu nhập và tương
quan thu nhập của các chủ thể kinh tế. Khi mức thu nhập và tương quan thu nhập thay
đổi, phương thức và mức độ thỏa mãn các nhu cầu vật chất cũng thay đổi, tức là kinh tế
và lợi ích kinh tế giữa các chủ thể cũng thay đổi.
2.3.4. Hội nhập kinh tế quốc tế
Khi mở cửa hội nhập, các quốc gia có thể gia tăng lợi ích kinh tế từ thương mại quốc
tế, đầu tư quốc tế. Tuy nhiên, khi đó, lợi ích của các doanh nghiệp, hộ gia đình sản xuất
hàng hóa tiêu thụ trên thị trường nội địa có thể bị ảnh hưởng bởi cạnh tranh của hàng hóa nước ngoài.
2.4. Một số quan hệ lợi ích kinh tế cơ bản trong nền kinh tế thị trường. 7
Trong điều kiện kinh tế thị trường, ở đâu có hoạt động kinh tế, ở đó có quan hệ lợi
ích. Trong đó, có một số quan hệ lợi ích kinh tế cơ bản sau đây:
Một là, quan hệ lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động.
Người lao động là người có đủ thể lực và trí lực để lao động, tức là có khả năng lao
động. Khi họ bán sức lao động sẽ nhận được tiền lương (hay tiền công) và chịu sự quản
lý, điều hành của người sử dụng lao động. Bản chất của tiền lương là giá cả của hàng hóa
sức lao động, chỉ đủ để tái sản xuất sức lao động. Người sử dụng lao động là chủ doanh
nghiệp (nhà tư bản trong CNTB), cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hội gia đình, cá nhân có
thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động. Là người trả tiền mua hàng hóa
sức lao động nên người sử dụng lao động có quyền tổ chức, quản lý quá trình làm việc
của người lao động. Lợi ích kinh tế của người sử dụng lao động thể hiện tập trung ở lợi
nhuận mà họ thu được trong quá trình kinh doanh. Lợi ích kinh tế của người lao động thể
hiện tập trung ở thu nhập (trước hết là tiền lương, tiền thưởng) mà họ nhận được từ việc
bán sức lao động của mình cho người sử dụng lao động. Lợi ích kinh tế của người lao
động và người sử dụng lao động có quan hệ chặt chẽ, vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn với nhau.
Sự thống nhất về lợi ích kinh tế giữa người lao động và người sử dụng lao động thể
hiện ở chỗ: nếu người sử dụng lao động thực hiện các hoạt động kinh tế trong điều kiện
bình thường họ sẽ thu được lợi nhuận, thực hiện được lợi ích kinh tế của mình; đồng thời,
họ sẽ tiếp tục sử dụng lao động nên người lao động cũng thực hiện được lợi ích kinh tế
của mình vì có việc làm, nhận được tiền lương. Ngược lại, nếu người lao động tích cực
làm việc, lợi ích kinh tế của họ được thực hiện thông qua tiền lương được nhận, đồng
thời, góp phần vào sự gia tăng lợi nhuận của người sử dụng lao động. Vì vậy, tạo lập sự
thống nhất trong quan hệ lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động là điều
kiện quan trọng thực hiện lợi ích kinh tế của cả hai bên.
Tuy nhiên, quan hệ lợi ích kinh tế giữa người lao động và người sử dụng lao động còn
có mâu thuẫn. Tại một thời điểm nhất định, thu nhập từ các hoạt động kinh tế là xác định
nên lợi nhuận của người sử dụng lao động tăng lên thì tiền lương của người lao động
giảm xuống và ngược lại. Vì lợi ích của mình, người sử dụng lao động luôn tìm cách cắt
giảm tới mức thấp nhất các khoản chi phí trong đó có tiền lương của người lao động đề
tăng lợi nhuận. Tuy nhiên, tiền lương là điều kiện để tái sản xuất sức lao động nên mức
tiền lương thấp nhất người sử dụng lao động phải trả cho người lao động là mức tiền
lương tối thiểu. Vì lợi ích của mình, người lao động sẽ đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ
làm, bãi công... Nếu mâu thuẫn không được giải quyết hợp lý sẽ ảnh hưởng xấu tới các hoạt động kinh tế.
Để bảo vệ lợi ích kinh tế của mình, người lao động và người sử dụng lao động đã
thành lập các tổ chức riêng. Công đoàn là tổ chức quan trọng nhất bảo vệ quyền lợi người 8
lao động. Người sử dụng lao động có các nghiệp đoàn, hội nghề nghiệp...Trong xã hội
hiện đại, đấu tranh giữa các bên cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật.
Hai là, quan hệ lợi ích giữa những người sử dụng lao động.
Những người sử dụng lao động có quan hệ lợi ích kinh tế chặt chẽ với nhau. Trong
Cơ chế thị trường, những người sử dụng lao động vừa là đối tác, vừa là đối thủ của nhau,
từ đó tạo ra sự thống nhất và mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa họ. Những Người sử dụng
lao động liên kết và cạnh tranh với nhau trong ứng xử với người lao động, với những
người cho vay vốn, cho thuc đất, với nhà nước, trong chiếm lĩnh thị trường...Trong cơ
chế thị trường, mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa những người sử dụng lao động làm cho
họ cạnh tranh với nhau quyết liệt. Bộ quả tất yếu là các các nhà doanh nghiệp có giá trị cá
biệt cao hơn giá trị xã hội và các rủi ro khác bị thua lỗ, phá sản... bị loại bỏ khỏi thương
trường. Đồng thời, những người thu được nhiều lợi nhuận sẽ phát triển nhanh chóng.
Những người sử dụng lao động không chỉ cạnh tranh trong cùng ngành, mà còn cạnh
tranh giữa các ngành, bằng việc di chuyển vốn (tư bản) từ ngành này sang ngành khác.
Từ đó hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân, tức là những người sử dụng lao động đã
chia nhau lợi nhuận theo vốn đóng góp. Sự thống nhất và mâu thuẫn về lợi ích kinh tế
giữa những người sử dụng lao động biểu hiện tập trung ở lợi nhuận bình quân mà họ nhận được.
Sự thống nhất về lợi ích kinh tế làm cho những người sử dụng lao động liên kết chặt
chẽ với nhau, hỗ trợ lẫn nhau. Quan hệ chặt chẽ về lợi ích kinh tế giữa những người sử
dụng lao động làm cho họ trở thành đội ngũ doanh nhân. Trong cơ chế thị trường, đội
ngũ này đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội nên cần được tôn vinh, tạo
điều kiện thuận lợi để phát triển.
Ba là, quan hệ lợi ích giữa những người lao động.
Trong nền kinh tế thị trường, nhiều người muốn bán sức lao động. Để thực hiện lợi
ích kinh tế của mình, người lao động không chỉ phải quan hệ với người sử dụng lao động,
mà còn phải quan hệ với nhau. Nêu có nhiều người bán sức lao động, người lao động
phải cạnh tranh với nhau. Hậu quả là tiền lương của người lao động bị giảm xuống, một
bộ phận người lao động bị sa thải. Nếu những người lao động thống nhất được với nhau,
họ có thể thực hiện được các yêu sách của mình (ở một chừng mực nhất định) đối với
giới chủ (những người sử dụng lao động).
Để hạn chế mâu thuẫn lợi ích kinh tế trong nội bộ, đặc trưng với những người sử
dụng lao động, những người lao động đã thành lập tổ chức riêng. Sự đoàn kết, giúp đỡ
lẫn nhau giữa những người lao động trong giải quyết các mối quan hệ là rất cần thiết
nhưng phải dựa trên các quy định của pháp luật.
Bốn là, quan hệ giữa lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm và lợi ích xã hội. 9
Trong cơ chế thị trường, cá nhân tồn tại dưới nhiều hình thức. Người lao động, người
sử dụng lao động đều là thành viên của xã hội nên mỗi người đều có lợi ích cá nhân và có
quan hệ chặt chẽ với lợi ích xã hội. Nếu người lao động và người sử dụng lao động làm
việc theo đúng các quy định của pháp luật và thực hiện được các lợi ích kinh tế của mình
thì họ đã góp phần phát triển nền kinh tế, thực hiện lợi ích kinh tế của xã hội. Khi lợi ích
kinh tế của xã hội được thực hiện, xã hội phát triển sẽ tạo lập môi trường thuận lợi để
người lao động và người sử dụng lao động thực hiện tốt hơn các lợi ích kinh tế của mình.
Ngược lại, nếu giữa người lao động và người sử dụng lao động nảy sinh mâu thuẫn
không giải quyết được; hoặc người lao động và người sử dụng lao động cộng tác với
nhau là hàng giả, hàng nhái, trốn thuế... thì lợi ích kinh tế của xã hội sẽ bị tổn hại. Biểu
hiện là nền kinh tế chậm phát triển, chất lượng cuộc sống của người dân chậm được cải
thiện,... Từ đó ảnh hưởng xấu đến lợi ích kinh tế của các chủ thể, trong đó có lợi ích kinh
tế của người lao động và người sử dụng lao động.
Sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, xã hội quyết định sự tồn tại, phát triển của cá
nhân nên lợi ích xã hội đóng vai trò định hướng cho lợi ích cá nhân và các hoạt động thực
hiện lợi ích cá nhân. Lợi ích xã hội là cơ sở của sự thống nhất giữa các lợi ích cá nhân,
tạo ra sự thống nhất trong hoạt động của các chủ thể khác nhau trong xã hội. Ph.
Ăngghen đã từng khẳng định: “Ớ đâu không có lợi ích chung thì ở đó không thể có sự
thống nhất về mục đích và cũng không thể có sự thống nhất về hành động được”. Quan
hệ lợi ích giữa các chủ thể trên cho thấy, lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội có quan hệ nhiều chiều.
Các cá nhân, tổ chức hoạt động trong cùng ngành, cùng lĩnh vực, liên kết với nhau
trong hành động để thực hiện tốt hơn lợi ích riêng (lợi ích cá nhân, tổ chức) của họ hình
thành nên “lợi ích nhóm”. Đó là các hiệp hội ngành nghề, các tổ chức chính trị, xã hội,
các nhóm dân cư chung một số lợi ích theo vùng, theo sở thích... Các nhân, tố chức hoạt
động trong các ngành, lĩnh vực khác nhau nhưng có mối liên hệ với nhau, liên kết với
nhau trong hành động để thực hiện tốt hơn lợi ích riêng mình hình thành nên “nhóm lợi
ích”. Đó là mô hình liên kết giữa 4 nhà trong nông nghiệp: nhà nông - nhà doanh nghiệp -
nhà khoa học - nhà nước; mô hình liên kết trên thị trường nhà ở: nhà doanh nghiệp kinh
doanh bất động sản - ngân hàng thương mại - người mua nhà…
“Lợi ích nhóm” và “nhóm lợi ích” nếu phù hợp với lợi ích quốc gia, không gây tổn
hại đến các lợi ích khác cần được tôn trọng, bảo vệ và tạo điều kiện vì đất nước có thêm
động lực phát triển; ngược lại, khi chúng mâu thuẫn với lợi ích quốc gia, làm tổn hại các
lợi ích khác thì cần phải ngăn chặn.
Trong thực tế, “lợi ích nhóm” và “nhóm lợi ích” có sự tham gia của công chức,viên
chức hoặc các cơ quan công quyền nhiều khả năng sẽ tác động tiêu cực đến lợi ích xã hội
và các lợi ích kinh tế khác vì quyền lực nhà nước sẽ bị lạm dụng và phục vụ cho lợi ích
của các cá nhân. Điều cần lưu ỷ, “lợi ích nhóm” và “nhóm lợi ích”tiêu cực thường không
lộ diện. Vì vậy, việc chống “lợi ích nhóm” và “nhóm lợi ích” tiêu cực vô cùng khó khăn. 10
Để bảo đảm sự thống nhất giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội, việc chống “lợi ích
nhóm” và “nhóm lợi ích” tiêu cực phải được thực hiện quyết liệt, thường xuyên.
2.5. Phương thức thực hiện lợi ích kinh tế trong các quan hệ lợi ích chủ yếu.
Mặc dù có nhiều quan hệ lợi ích đan xen, tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có hai phương thức cơ bản để thực hiện lợi ích kinh tế gồm:
Thứ nhất, thực hiện lợi ích kinh tế theo nguyên tắc thị trường.
Các quan hệ lợi ích, các chủ thể lợi ích kinh tế mặc dù đa dạng, song để có thể thực
hiện được lợi ích của mình, trong bối cảnh kinh tế thị trường cần phải căn cứ vào các
nguyên tắc của thị trường. Đây là phương thức phổ biến trong mọi nền kinh tế thị trường,
bao gồm cả kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Thứ hai, thực hiện lợi ích kinh tế theo chính sách của nhà nước và vai trò của các tổ chức xã hội.
Khi thực hiện lợi ích kinh tế, nếu chỉ căn cứ theo nguyên tắc thị trường, tất yếu sẽ
dẫn đến những hạn chế về mặt xã hội. Do đó, để khắc phục những hạn chế của phương
thức thực hiện theo nguyên tắc thị trường, phương thức thực hiện lợi ích dựa trên chính
sách của nhà nước và vai trò của các tổ chức xã hội cần phải được chú ý nhằm tạo sự
bình đắng và thúc đẩy tiến bộ xã hội.
CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG ĐẢM BẢO HÀI HOÀ GIỮA
CÁC QUAN HỆ KINH TẾ
1.Bảo vệ lợi ích hợp pháp, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động tìm kiếm lợi
ích của các chủ thể kinh tế.

Các hoạt động kinh tế bao giờ cũng diễn ra trong một môi trường nhất định, vì thế
môi trường càng thuận lợi, các hoạt động kinh tế càng hiệu quả và không ngừng mở rộng
đặc biệt phải do nhà nước tạo lập.
- Nhà nước phải tạo lập môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh tế, trước
hết là giữ vững ổn định về chính trị. Trong những năm gần đây, Việt Nam đã
thực hiện rất tốt điều này. Nhờ đó, những nhà đầu tư trong và ngoài nước rất
hứng thú và có phần chắc chắn trong việc đầu tư tại đất nước mình.
- Nhà nước cần tạo lập môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh tế đòi hỏi
phải xây dựng được môi trường pháp luật thông thoáng, bảo vệ được lợi ích
chính đáng của các chủ thể kinh tế trong nước và ngoài nước (doanh nghiệp, cá 11
nhân…), đặc biệt là lợi ích của đất nước. Trong những năm vừa qua, khi đất
nước hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, hệ thống pháp luật của nước ta đã
và đang xoay đổi theo hướng tích cực để phù hợp, quan trọng là tuân thể các
chuẩn mực và thông lệ quốc tế.
- Nhà nước cũng cần tạo lập môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh tế tất
yếu phải đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng của nền kinh tế (bao gồm hệ thống
đường bộ, đường sắt, đường sông, đường hàng không, hệ thống cầu cống, hệ
thống điện nước, hệ thống thông tin liên lạc…). Kết cấu hạ tầng của Việt Nam
những năm vừa qua được coi là một trong ba đột phá lớn thế nên kết cấu hạ
tầng của nền kinh tế đã được cải thiện rất đáng kể, đáp ứng nhu cầu của các
hoạt động kinh tế. Và môi trường vĩ mô về kinh tế yêu cầu Nhà nước phải đưa
ra các chính sách phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế trong từng giai đoạn,
Việt Nam đang từng bước đáp ứng được các chính sách này.
- Nhà nước cần tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh tế còn là tạo lập
môi trường văn hóa tương ứng với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường. Trong
đó đòi hỏi con người năng động, sáng tạo, tôn trọng kỷ cương và pháp luật, giữ chữ tín…
2.Điều hòa lợi ích giữa cá nhân - doanh nghiệp - xã hội.
Do mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể và tác động của các quy luật thị
trường, sự phân hóa về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư làm cho lợi ích kinh tế của một
bộ phận dân cư được thực hiện rất khó khăn, hạn chế.
Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc điều hòa lợi ích kinh tế giữa các nhân,
doanh nghiệp và xã hội. Chính vì lẽ đó, nhà nước đóng vai trò như một người giám sát,
kiểm soát và hỗ trợ cho các hoạt động kinh tế trong quốc gia mình. Nhà nước có chính
sách phân phối thu nhập nhằm bảo đảm hài hòa các lợi ích kinh tế. Cụ thể chính sách này có các mục tiêu sau:
-Đảm bảo mức nhu cầu cơ bản cho các công dân: Nhà nước cần đảm bảo mức thu
nhập cơ bản đủ để đáp ứng nhu cầu cơ bản của cuộc sống, bao gồm: nhà ở, thực
phẩm, y tế, giáo dục… Điều này đảm bảo rằng tất cả các công dân đều có cơ hội
phát triển và tiến bộ trong cuộc sống.
-Tăng cường tập trung các nguồn lực: Nhà nước phải chú ý nhân sự để đầu tư vào
các lĩnh vực cơ bản của kinh tế như: hạ tầng, nông nghiệp, sản xuất và giáo dục.
Điều này giúp tăng cường năng lực sản xuất và thu nhập của các cá nhân cũng như doanh nghiệp.
-Cải thiện đời sống của các tầng lớp thấp hơn: Nhà nước cần có các chính sách đặc
biệt để giúp đỡ những tầng lớp thấp hơn từ người nghèo, người già, trẻ em đến 12
người tàn tật. Như vậy giúp cải thiện đời sống của những người có điều kiện kém
hơn đặc biệt đóng góp vào việc giảm đói nghèo trong xã hội.
-Đảm bảo các quyền lợi của lao động: Nhà nước cần đảm bảo các quyền lợi của lao
động, cụ thể: mức lương tối thiểu, điều kiện làm việc an toàn và bảo hiểm y tế.
Chính sách này nhằm bảo vệ chặt chẽ quyền lợi của người lao động và có ảnh
hưởng tích cực tới mức sống của họ.
Một mặt phải thừa nhận sự chênh lệch về thu nhập giữa các chủ thể kinh tế là khách
quan, mặt khác phải ngăn chặn sự chênh lệch quá đáng. Mặc dù theo tổng quan, chính
sách này đảm bảo các lợi ích kinh tế được phân phối hài hòa giữa cá nhân, doanh nghiệp và xã hội.
-Nhà nước cũng có nhiệm vụ quản lý và giám sát hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp, đảm bảo các hoạt động này không gây thiệt hại đến môi trường, sức
khỏe người dân và các lợi ích của xã hội. Về phía xã hội, các lợi ích của cộng
đồng cần được nhà nước bảo vệ và phát triển, nhất là trong các lĩnh vực như giáo
dục, y tế, an ninh, an toàn, văn hóa và môi trường. Nhà nước cũng cần xây dựng
các chính sách kinh tế và xã hội hợp lý để đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước.
-Ngoài ra phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, phát triển khoa học - công nghệ
để nâng cao thu nhập cho các chủ thể kinh tế, là những điều kiện vật chất để thực
hiện sự công bằng xã hội trong phân phối. Điều này là hoàn toàn đúng đắn. Tuy
nhiên, việc đạt được sự công bằng xã hội trong phân phối cũng đòi hỏi nhiều yếu
tố khác tác động như chính sách công bằng, phát triển giáo dục và đào tạo, tăng
cường an sinh xã hội và bảo vệ môi trường.
Tóm lại, sự công bằng xã hội trong phân phối đòi hỏi cần có nhiều yếu tố tác động
cùng nhau. Chính phủ cần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, đồng thời đưa ra các chính sách
hỗ trợ cho các chủ thể kinh tế vừa và nhỏ, người lao động và các đối tượng khó khăn.
Không những vậy mà còn phải thúc đẩy giáo dục và đào tạo, xây dựng một môi trường
văn hóa, xã hội chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt.
3.Kiểm soát, ngăn ngừa các quan hệ lợi ích có ảnh hưởng tiêu cực đối với sự phát triển xã hội.
Nhà nước phải tích cực chủ động thực hiện công bằng trong phân phối thu nhập để
đảm bảo hài hoà các lợi ích kinh tế vì lợi ích là kết quả trực tiếp của phân phối thu nhập.
Hiện nay, công bằng trong phân phối có hai quan niệm chính: công bằng theo mức độ và
công bằng theo chức năng. Hai quan niệm này đều có ưu điểm và nhược điểm riêng. Nhà 13
nước phải chăm lo đời sống vật chất cho mọi người dân, ở mỗi giai đoạn phát triển, để
người dân ít nhất đạt được mức sống tối thiểu, Nhà nước cần thực hiện có hiệu quả các
chính sách xóa đói, giảm nghèo, tạo điều kiện và cơ hội tiếp cận bình đẳng các nguồn lực
phát triển, hưởng thụ các dịch vụ xã hội cơ bản, vươn lên thoát đói nghèo vững chắc ở
các vùng nghèo và các bộ phận dân cư nghèo, khắc phục tư tưởng bao cấp, ỷ lại. Chú
trọng các chính sách ưu đãi xã hội, an sinh xã hội, vận động toàn dân tham gia các hoạt
động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn. Đẩy mạnh các hoạt động nhân đạo, từ
thiện,người lao động nghèo, người có công với cách mạng và những người dân ở vùng
sâu, vùng xa, đối tượng yếu thế trong xã hội. Có chính sách đãi ngộ tốt với người tài, đảm
bảo mức tiền lương thỏa đáng cho công nhân viên chức và người lao động. Nhà nước cần
có các chính sách khuyến khích người dân làm giàu hợp pháp, tạo điều kiện và giúp đỡ
họ bằng mọi biện pháp. Người dân có thể có được sự hỗ trợ của Nhà nước khi cần giúp
đỡ về kinh doanh, tuy nhiên không được kinh doanh dưới các hành vi trái pháp luật,
phạm pháp trong kinh doanh gây ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế quốc gia.
Nhà nước nên xây dựng và thực thi các luật pháp và quy định để giám sát hoạt
động của các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân. Điều này bao gồm việc áp dụng biện
pháp trừng phạt cho vi phạm luật. Bên cạnh đó, trong cơ chế thị trường, các hoạt động bất
hợp pháp như buôn lậu, làm hàng giả, hàng nhái; lừa đảo; tham nhũng... tồn tại khá phổ
biến và nếu càng gia tăng sẽ càng làm tổn hại lợi ích kinh tế của các chủ thể làm ăn chân
chính. Để chống lại các hình thức thu nhập bất hợp pháp, bảo đảm hài hòa các lợi ích
kinh tế, Nhà nước phải có các biện pháp chống tham nhũng của các cán bộ nhà nước như
là kiểm soát thu nhập của cán bộ, công khai minh bạch các cơ chế của Nhà nước, xử lý
các vi phạm pháp luật của người dân và các cán bộ nhà nước theo quy định của pháp luật,
mọi người đều bình đẳng như nhau. Bên cạnh đó, đảm bảo rằng không có sự thiên vị
trong quan hệ kinh doanh và công việc của cá nhân. Các quy định về cạnh tranh và công
bằng kinh tế nên được thực thi một cách nghiêm ngặt để tránh sự lợi dụng và gây tổn hại cho xã hội.
Nhà nước cần tăng cường trong việc tạo ra ý thức về những hậu quả tiêu cực của
các quan hệ lợi ích không lành mạnh cho xã hội như việc thu thuế thu nhập cá nhân còn
bỏ sót nhiều đối tượng, gây thất thoát cho ngân sách nhà nước, chưa đảm bảo công bằng
cho những người phải nộp thuế. Chính sách trợ cấp xã hội, phân phối lại thu nhập của
Chính phủ trong thời gian qua còn bất cập. Trong quá trình hoạt động, lực lượng quản lý
thị trường vẫn gặp nhiều khó khăn do phương thức, thủ đoạn của các đối tượng ngày
càng tinh vi và phức tạp. Tình trạng nhân danh lợi ích xã hội để vi phạm vẫn tồn tại và
tiềm ẩn nhiều vấn đề cần giải quyết. Biểu hiện là tình trạng tham ô, tham nhũng, hoạt
động của các “nhóm lợi ích” tiêu cực; các hành vi xây dựng trái phép trong các thành phố
lớn và các khu đô thị;...làm cho lợi ích xã hội bị tổn thất lớn.
4. Giải quyết những mâu thuẫn trong quan hệ lợi ích kinh tế 14
Mâu thuẫn giữa các lợi ích kinh tế là khách quan, nếu không được giải quyết sẽ ảnh
hưởng trực tiếp đến động lực của các hoạt động kinh tế. Khi nói đến giải quyết mâu
thuẫn, tức là nói đến vai trò quyết định của nhà nước, của chính quyền; sự tham gia của
các tổ chức xã hội chỉ có vai trò hỗ trợ. Các mâu thuẫn trong quan hệ lợi ích kinh tế đều
có nguyên nhân gốc rễ, do đó các mâu thuẫn chỉ có thể được giải quyết triệt để khi xử lý
được vấn đề gốc rễ của nó.
Để giải quyết những mâu thuẫn trong quan hệ lợi ích kinh tế làm chúng không ảnh
hưởng xấu đến xã hội Nhà nước ta có nguyên tắc sau:
-Cơ quan chức năng kịp thời phát hiện, điều chỉnh các mâu thuẫn quan hệ lợi ích
kinh tế trên nguyên tắc có sự tham gia giữa các bên liên quan, có nhân nhượng và
phải đặt lợi ích đất nước lên trên hết.
-Khi có xung đột giữa người lao động và người sử dụng lao động cần có sự tham
gia hòa giải của các tổ chức xã hội có liên quan, đặc biệt là Nhà nước.
CHƯƠNG 3: NHỮNG THÀNH TỰU ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC, NHỮNG HẠN CHẾ CÒN
TỒN TẠI VÀ ĐỀ XUẤT NHỮNG GIẢI PHÁP
1.Những thành tựu đã đạt được
Thứ nhất, Nhà nước ta bảo vệ lợi ích hợp pháp, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt
động tìm kiếm lợi ích của các chủ thể kinh tế:

Việt Nam đã thực hiện rất tốt vấn đề giữ vững ổn định chính trị. Nhờ đó đã thu hút,
khiến các nhà đầu tư yên tâm khi tiến hành đầu tư. Bên cạnh đó, Nhà nước đã và đang
không ngừng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng: phục vụ mục tiêu
kiến tạo phát triển, tạo dựng hành lang pháp lý an toàn cho phát triển và hội nhập sâu
rộng với khu vực và thế giới cả về kinh tế, chính trị, văn hóa. Kết cấu hạ tầng của nền
kinh tế nước ta ngày càng được cải thiện, đáp ứng nhu cầu các hoạt động kinh tế.
Thứ hai, cả lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội bước đầu đã được quan tâm giải quyết
theo hướng thúc đẩy sự phát triển:

Có thể khẳng định, lợi ích cá nhân chính đáng được tạo điều kiện phát triển trên nhiều
phương diện qua đó tạo cơ sở bước đầu giải quyết lợi ích xã hội phù hợp và ngược lợi ích
xã hội bước đầu được thực hiện tốt đã tạo tiền đề, điều kiện để lợi ích cá nhân chính đáng
được thực hiện. Những kết quả tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội cùng việc thực
hiện tốt các chính sách an sinh xã hội (ASXH) và phúc lợi xã hội (PLXH) trong những
năm qua đã tạo lập những giá trị mới của xã hội, tạo lập sự công bằng về cơ hội trong
việc hưởng thụ, tiếp cận các giá trị của phát triển. Đời sống của mỗi cá nhân không
ngừng được nâng lên, quyền và lợi ích chính đáng được pháp luật bảo vệ, nhất là trong sở
hữu và phân phối. Lợi ích của các giai tầng cụ thể, những đối tượng chính sách, đối tượng 15
yếu thế trong xã hội, đồng bào vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo được quan tâm đúng
mức, tỷ lệ hộ nghèo giảm, ASXH và PLXH được thực hiện tốt...
Thứ ba, kiểm soát, ngăn ngừa các quan hệ lợi ích có ảnh hưởng tiêu cực đối với sự
phát triển xã hội:
Để bảo đảm hài hòa các lợi ích kinh tế giữa các chủ thể và loại bỏ các ảnh hưởng tiêu
cực trên nước ta, quyết tâm xây dựng bộ máy nhà nước liêm chính, trong sạch, hiệu quả,
kỷ luật kỉ cương. Thực hiện các nghị quyết của Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ và Ban
Chỉ đạo 389 Quốc gia về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, hàng nhái,
các lực lượng chức năng đã tăng cường công tác kiểm tra, có nhiều biện pháp ngăn chặn,
hạn chế tình trạng sản xuất, buôn bán hàng lậu.
2.Những hạn chế còn tồn tại.
Bên cạnh những thành công và những thắng lợi, thành tựu là cơ bản, thì hiện nay, các
quan hệ lợi ích kinh tế tại Việt Nam vẫn còn một số hạn chế, bất cập, cần được nhận diện
một cách nghiêm túc, khoa học.
Thứ nhất, tình trạng nhân danh lợi ích xã hội để vi phạm lợi ích cá nhân chính đáng
của nhân dân lao động vẫn tồn tại và tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp. Biểu hiện của tình
trạng này đó là những hiện tượng tham ô, tham nhũng, lãng phí, những biểu hiện của “lợi
ích nhóm” tiêu cực, hay “tư bản thân hữu”... trong rất nhiều lĩnh vực của xã hội, nhất là
trong sở hữu, quản lý tài sản của Nhà nước, lĩnh vực đất đai, xây dựng.
Ví dụ: Đại án Việt Á là một vụ án hình sự điển hình về "tham nhũng có hệ thống",
đặc biệt nghiêm trọng về các tội: vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm
trọng, vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí, lợi
dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ, đưa hối lộ và nhận hối lộ xảy ra tại
Công ty Việt Á và các đơn vị có liên quan. Đây được cho là một trong những đại án lớn nhất của Việt Nam.
Thứ hai, tình trạng đề cao lợi ích cá nhân không chính đáng, vi phạm lợi ích xã hội và
lợi ích cá nhân khác gây ra những tổn hại cho sự phát triển xã hội vẫn có xu hướng phức
tạp. Hiện tượng buôn lậu, trốn thuế của nhiều cá nhân, doanh nghiệp; các hiện tượng
hàng giả, hàng kém chất lượng; thực phẩm “bẩn”, cho đến những hành vi xây dựng nhà
ở, khu đô thị, phá vỡ quy hoạch chung của thành phố, xây nhà không phép, lấn chiếm
lòng đường, vỉa hè, hành lang an toàn, không gian công cộng, xây dựng các chung cư
không theo quy định, không đảm bảo tiện ích theo quy định xảy ra ở nhiều nơi, nhất là ở
thành phố lớn; những hiện tượng xe quá khổ, quá tải, xâm hại, lấn chiếm các công trình
công cộng, công trình Nhà nước... đang làm cho lợi ích xã hội mà Nhà nước là đại diện bị
những tổn hại rất lớn. Cho đến những hiện tượng trộm, cướp ở nhiều nơi, đặc biệt là ở 16
các thành phố lớn trở thành nỗi bất an của người dân; tình trạng lừa đảo, các mô hình
kinh doanh đa cấp biến tướng, “chơi hụi”, cho vay nặng lãi - tín dụng “đen”, đòi nợ
thuê... đang gây những hệ lụy không nhỏ đối với cuộc sống của nhiều cá nhân, gia đình,
gây phức tạp tình hình kinh tế - xã hội.
Ví dụ: Nhiều chủ đầu tư vì muốn tiết kiệm chi phí xây dựng và tối đa lợi nhuận đã
thực hiện sai phạm các quy định về phòng cháy chữa cháy tại các chung cư mini, góp
phần gián tiếp gây ra những thiệt hại nghiêm trọng về người và của nếu như có các đám
cháy xảy ra. Điển hình là 56 người đã thiệt mạng trong vụ cháy chung cư mini tại quận Thanh Xuân, Hà Nội
Thứ ba, nhiều lợi ích xã hội chưa được thực hiện một cách phổ quát song vẫn còn tồn
tại những biểu hiện đề cao lợi ích xã hội, trong khi lợi ích cá nhân chính đáng, chưa được
chú ý một cách đúng mức. Cụ thể khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư
còn lớn, đời sống một bộ phận nhân dân còn nhiều khó khăn; thu nhập, đời sống của
người lao động còn thấp; lương của cán bộ, công chức, viên chức chưa cao; tỷ lệ hộ
nghèo và cận nghèo ở vùng sâu, vùng xa, nhất là trong đồng bào dân tộc thiểu số còn cao
(một số huyện, xã lên đến 50%), cả nước có khoảng 1% số người vẫn trong tình trạng
thiếu đói. Một số nội dung của an sinh xã hội (chính sách bảo đảm việc làm, thu nhập và
giảm nghèo; chính sách bảo hiểm xã hội; chính sách trợ giúp xã hội nhằm hỗ trợ đột xuất
và thường xuyên cho người dân; chính sách dịch vụ xã hội cơ bản) và phúc lợi xã hội
chưa được thực hiện tốt, nhiều người ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo chưa được
hưởng phúc lợi xã hội như ở các trung tâm, các thành phố lớn. Vẫn diễn ra “nghịch lý an
sinh xã hội”, thể hiện đặc biệt rõ qua việc so sánh tỷ trọng trợ cấp ASXH mà các hộ gia
đình giàu và nghèo nhận được. Nhóm nghèo nhất nhận được 6,6% tổng chỉ tiêu trợ cấp
ASXH tương đương 70.000 đồng/năm/người, trong khi đó nhóm giàu nhất nhận được
39% tương đương với 660.000 đồng/người /năm tiền chi tiêu trợ cấp ASXH.
Thứ tư, mặc dù, Đảng ta khẳng định: các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình
đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật, tuy nhiên có thể thấy lĩnh vực kinh tế tư nhân
còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn lực, thậm chí gặp những rào cản
trong quá trình phát triển (nhiều thủ tục hành chính còn rườm rà, nhận thức về kinh tế tư
nhân còn chưa thông suốt, tình trạng tham nhũng, tham ô, sách nhiễu đối với kinh tế tư
nhân còn nhiều...). Chính vì vậy, trong năm 2018, số doanh nghiệp tư nhân thành lập mới
chưa đáp ứng nhu cầu đề ra, hoạt động của kinh tế tư nhân chưa có những khởi sắc lớn,
chưa phát huy hết tiềm năng, lợi thế của thành phần kinh tế này đối với quá trình phát triển đất nước.
3.Giải pháp đảm bảo hài hòa kinh tế ở Việt Nam
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, để
thực hiện tốt hơn việc giải quyết hài hòa lợi ích kinh tế, tạo môi trường thuận lợi cho sự
phát triển kinh tế bền vững, cần thực hiện một số giải pháp sau: 17
Thứ nhất, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thể chế để đảm bảo gắn tăng trưởng kinh tế
với tiến bộ và công bằng xã hội, tạo cơ hội cho mọi thành viên trong xã hội tham gia và
hưởng thụ thành quả của quá trình phát triển. Xây dựng hệ thống pháp luật tạo thuận lợi
cho các doanh nghiệp tham gia đầu tư trên thị trường, thúc đẩy doanh nghiệp và đội ngũ
doanh nhân trở thành lực lượng đi đầu trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Nhà nước cần thực hiện tốt hơn nữa việc đảm bảo công khai, minh bạch trong quá
trình quản lý, xử lý nghiêm những hành vi tham ô, tham nhũng, “lợi ích nhóm” tiêu cực
gây tổn thất cho xã hội. Đẩy mạnh và nâng cao công tác tuyên truyền, giáo dục, thống
nhất cao về ý chí và hành động trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về phòng, chống
tham nhũng. Tăng cường kiểm tra, giám sát, xây dựng đội ngũ cán bộ Đảng và Nhà nước
trong sạch, vững mạnh, có năng lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới.
Thứ hai, tạo sự đồng thuận trong phân phối thu nhập, tiếp tục hoàn thiện và nâng cao
hiệu quả của các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội và chính sách tiền lương.
Quan tâm, giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn, người lao động nghèo, người có công với
cách mạng và những người dân ở vùng sâu, vùng xa, đối tượng yếu thế trong xã hội. Có
chính sách đãi ngộ tốt với người tài, đảm bảo mức tiền lương thỏa đáng cho công nhân
viên chức và người lao động.
Thứ ba, cần có chính sách khuyến khích người dân làm giàu hợp pháp, giáo dục người
dân biết đặt lợi ích của mình trong mối quan hệ với lợi ích của những chủ thể khác để tạo
ra sự thống nhất trong quan hệ lợi ích, tránh xung đột, mâu thuẫn. Thông qua hoạt động
giáo dục, tuyên truyền để nâng cao nhận thức của người dân về quyền và nghĩa vụ của
mình trong các quan hệ lợi ích, về phân phối thu nhập để phân chia hợp lý giữa tiền
lương và lợi nhuận. Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân, mọi nhà đầu tư
mở mang ngành nghề, tạo nhiều việc làm cho người lao động, phát triển dịch vụ việc làm;... 18 PHẦN KẾT LUẬN
Bài thảo luận đã cung cấp cho mọi người những lý thuyết về lợi ích kinh tế từ đó
đưa ra những giải pháp đảm bảo hài hoà các quan hệ lợi ích ở Việt Nam hiện nay. Vì vậy,
việc nghiên cứu và vận dụng lý thuyết có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển bền vững của
đất nước và sự cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân. Qua đó, nhấn mạnh sự cần
thiết của việc thúc đẩy sự cân bằng và bền vững trong các quan hệ lợi ích kinh tế tại Việt
Nam để đảm bảo phát triển bền vững và cải thiện chất lượng cuộc sống cho tất cả các tầng lớp xã hội. 19 TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Kinh tế Chính trị - Mác Lenin 2021-2022 của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
2. Phân tích các quan hệ lợi ích kinh tế ở Việt Nam hiện nay của Nguyễn Thuý
Vy - Trường ĐH Tôn Đức Thắng năm 2022.
3. “Lợi ích kinh tế là gì? Bản chất, ý nghĩa, vai trò, ví dụ lợi ích kinh tế” của
Bùi Tuấn Anh, tham vấn bởi Luật sư Lê Minh Trường năm 2022.
4. Giải quyết hài hòa quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội trong điều
kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay ThS Hoàng Văn Khải. TS Trần Văn Thắng (2020). 5. Vai
trò của nhà nước và thị trường trong giải quyết hài hòa lợi ích kinh tế ở
Việt Nam hiện nay của Ths. Hoàng Hồng Đào – Trường Đại học Sư Phạm Kĩ
thuật Hưng Yên năm 2023
20