TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA HTTT KINH TẾ & TMĐT
----------
BÀI THẢO LUẬN
Học Phần: Kinh tế chính trị Mác - Lênin
Đề tài: Vai trò của nhà nước và thị trường trong giải quyết hài hòa lợi ích kinh
tế trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam ? Liên hệ thực tế ở
Việt Nam hiện nay ?
Nhóm thực hiện: Nhóm 6
Lớp HP: 2230RLCP1211
Giảng viên hướng dẫn: Đặng Thu Giang
Bảng đánh giá các thành viên tham gia thảo luận
STT Họ và tên Lớp Nhiệm vụ Đánh giá
(NT)
Ghi
chú
51 Hoàng Văn Tân K57S3 Vai trò của nhà nước và
thị trường
52 Đặng Văn Đức Thái K57S3 PPT
53 Trần Văn Thái K57S2 Lợi ích kinh tế Nhóm
trưởng
54 Trần Đình Thắng K57S3 Vai trò của nhà nước và
thị trường
55 Vũ Thị Thanh K57S2 Giải pháp và định
hướng, hoàn thiện bản
word
Thư ký
56 Bùi Phương Thảo K57S3 Giải pháp và định
hướng
57 Nguyễn Thị Thảo K57S2 Mở đầu + Kết luận
58 Nguyễn Văn Thịnh K57S2 Lợi ích kinh tế
59 Nguyễn Thị Anh Thư K57S3 Thực trạng
60 Nguyễn Thị Thương K57S2 Thuyết trình
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU........................................................................................................1
I. LÝ THUYẾT..........................................................................................................1
A. Lợi ích kinh tế....................................................................................................1
a) Khái niệm về lợi ích kinh tế.............................................................................1
b) Bản chất và biểu hiện của lợi ích kinh tế.........................................................1
c) Các nhân tố ảnh hưởng tới lợi ích kinh tế........................................................3
d) Vai trò của lợi ích kinh tế đối với các chủ thể kinh tế xã hội..........................4
B. Vai trò của nhà nước và thị trường trong giải quyết hài hòa lợi ích kinh tế......4
a. Vai trò của nhà nước trong việc giải quyết hài hòa lợi ích kinh tế..................4
b. Vai trò của thị trường trong giải quyết hài hòa lợi ích kinh tế.........................6
II. THỰC TRẠNG LỢI ÍCH KINH TẾ TRONG NỀN THỊ TRƯỜNG ĐỊNH
HƯỚNG XHCH.........................................................................................................7
a)Thực trạng của lợi ích kinh tế.............................................................................7
b)Nhà nước đã làm gì để đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các cá nhân tập thể........9
c)Những việc nhà nước đã làm được và chưa làm được......................................10
III. GIẢI PHÁP VÀ ĐỊNH HƯỚNG TƯƠNG LAI................................................11
3.1.Giải pháp.........................................................................................................11
3.2.Định hướng.....................................................................................................11
PHẦN KẾT LUẬN..................................................................................................12
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................14
PHẦN MỞ ĐẦU
Trong lịch sử đã chứng minh rằng, các nền kinh tế thị trường thành công nhất
đều không thể phát triển một cách tphát nếu thiếu sự can thiệp hỗ trcủa Nhà
nước. Nền kinh tế của Việt Nam tăng trưởng dưới tác động bên ngoài ngày một
phức tạp nên sự can thiệp của Nhà nước xuất hiện như một tất yếu cho sự hoạt
động có hiệu quả của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Theo quan điểm của Paul Samuelra - Nhà kinh tế học người Mỹ cho rằng “để
điều hành một nền kinh tế không cả chỉnh phủ lẫn thị trường cũng như định vỗ
tay bằng một bàn tay”. Sự thành công của đổi mới kinh tế nước ta càng khẳng
định vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường rất cần thiết dẫn dắt
thị trường phát triển theo hướng tích cực khắc phục những hạn chế của nền kinh
tế thị trường gây ra để phát triển nền kinh tế một cách tốt nhất. Vậy nhà nước cũng
như thị trường vai trò cụ thể như thế nào trong việc giải quyết hài hoà lợi ích
kinh tế ? Để hiểu hơn về vấn đề này nhóm 6 chúng em dưới sự trợ giúp của
Đặng Thu Giang đã chọn đề tài thảo luận ”Vai trò của nhà nước và thị trường trong
giải quyết hài hòa lợi ích kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Việt Nam ? Liên hệ thực tế ở Việt Nam hiện nay”.
I. LÝ THUYẾT
A. Lợi ích kinh tế
a) Khái niệm về lợi ích kinh tế
- Lợi ích sự thỏa mãn nhu cầu của con người sự thỏa mãn nhu cầu này phải
được nhận thức đặt trong mối quan hệ hội ứng với trình độ phát triển nhất
định của nền sản xuất xã hội đó.
- Lợi ích kinh tế lợi ích vật chất, lợi ích thu được khi thực hiện các hoạt động
kinh tế của con người.
b) Bản chất và biểu hiện của lợi ích kinh tế
*) Bản chất
- Lợi ích kinh tế phản ánh mục đích động của các quan hệ giữa các chủ thể
trong nền sản xuất xã hội.
- Các thành viên tronghội xác lập các quan hệ kinh tế với nhau vì trong quan hệ
đó hàm chứa những lợi ích kinh tế họ thể được. Ph.Ăngghen viết:” Các
quan hệ kinh tế của một hội nhất định biểu hiện trước hết dưới hình thức lợi
ích.”
- Các quan hệ hội luôn mang tính lịch sử do vậy lợi ích kinh tế trong mỗi giai
đoạn cũng phản ánh bản chất xã hội của giai đoạn lịch sử đó.
*) Biểu hiện
- Với mỗi chủ thể kinh tế khác nhau thì sẽ những lợi ích tương ứng: Lợi ích của
chủ doanh nghiệp trước hết là lợi nhuận, lợi ích của người lao động là thu nhập.
- Tất nhiên, với mỗi nhân, trong các mối quan hệ hội tổng hợp gắn với con
người đó, mặc khi thực hiện hoạt động kinh tế, trong nhất thời, không phải
luôn đặt mục tiêu lợi ích vật chất lên hàng đầu.
- Song, về lâu dài, đã tham gia vào hoạt động kinh tế thì lợi ích kinh tế lợi ích
quyết định. Nếu không thấy được vai trò này của lợi ích kinh tế sẽ làm suy giảm
động lực hoạt động của các cá nhân.
Nghiên cứu về sự phân phối giá trị thặng trong nền sản xuất bản chủ nghĩa
cho ta thấy, mỗi chủ thể tham gia vào quá trình phân phối giá trị thặng đó, với
vai trò của mình được những lợi ích tương ứng. Đây chính nguyên tắc
đảm bảo lợi ích phù hợp với vai trò của các chủ thể.
- Khi đề cập tới phạm trù lợi ích kinh tế, lợi ích đó được xác lập trong quan hệ nào,
vai trò của các chủ thể trong quan hệ đó thể hiện chủ thể đó biểu hiện như thế nào,
chẳng hạn họ chủ sở hữu, hay nhà quản lý; lao động làm thuê hay trung gian
trong hoạt động kinh tế; ai người thụ hưởng lợi ích, quyền hạn trách nhiệm
của các chủ thể đó, phương thức để thực hiện lợi ích cần phải thông qua các biện
pháp gì…
c) Các nhân tố ảnh hưởng tới lợi ích kinh tế
Thứ nhất, trình độ phát triển của nền kinh tế: lợi ích kinh tế trước hết phụ
thuộc vào số lượng, chất lượng hàng hóa dịch vụ điều này lại phụ thuộc vào
trình độ phát triển Trình độ phát triển của nền kinh tế càng cao, việc đáp ứng lợi
ích kinh tế của chủ thể càng tốt.
Thứ hai, địa vị của chủ thể trong kinh tế (quan hệ sản xuất): quan hệ sản
xuất, trước hết quan hệ sở hữu về liệu sản xuất, quyết định vị trí, vai trò của
mỗi con người, mỗi chủ thể trong quá trình tham gia các hoạt động kinh tế - hội
Không lợi ích kinh tế nằm ngoài những quan hệ sản xuất trao đổi,
sản phẩm của những quan hệ sản xuất trao đổi, nh thức tồn tại biểu
hiện của các quan hệ ấy trong thị trường.
Thứ ba, chính sách của nhà nước: các chính sách của nhà nước đặc biệt
chính sách phân phối thu nhập của nhà nước làm thay đổi mức thu nhập tương
quan thu nhập của các chủ thể kinh tế. Khi mức thu nhập tương quan thu nhập
thay đổi, phương thức mức dộ thỏa mãn các nhu cầu vật chất cũng thay đổi, tức
là lợi ích kinh tế giữa các chủ thể cũng thay đổi.
Thứ tư, truyền thống văn hóa: các hoạt động văn hóa chủ yếu diễn ra như
các hoạt động sinh hoạt “bên ngoài, bên lề” các quá trình phát triển kinh tế, mang
tính chất vui chơi giải trí, lễ hội,Nhưng nếu thiếu hiểu biết về vai trò của truyền
thống văn hóa thì kinh tế không thể vận hành hay nói cách khác không
hoặc giảm lợi ích kinh tế.
Thứ năm, mức độ hội nhập: khi mở cửa hội nhập, các quốc gia thể gia
tăng lợi ích kinh tế từ thương mại quốc tế, đầu quốc tế. Tuy nhiên lợi ích kinh tế
của các doanh nghiệp, hộ gia đình sản xuất hàng hóa tiêu thụ trên thị trường nội địa
thể bị ảnh hưởng bởi cạnh tranh của hàng hóa nước ngoài. Thông qua mở cửa
hội nhập có thể phát triển nhanh hơn nhưng cũng phải đối mặt với các nguy cạn
kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường… Mức độ hội nhập kinh tế sẽ tác dộng
mạnh mẽ và nhiều chiều đến lợi ích kinh tế của các chủ thể
d) Vai trò của lợi ích kinh tế đối với các chủ thể kinh tế xã hội
*) Lợi ích kinh tế động lực trực tiếp của các hoạt động kinh tế, của sự
phát triển xã hội.
Người lao động phải tích cực làm việc, nâng cao tay nghề, cải tiến công cụ
lao động; chủ doanh nghiệp phải tìm cách nâng cao hiệu quả sự dụng các nguồn
lực, đáp ứng các nhu cầu, thị hiếu của khách hàng… Tất cả những điều đó đề
tác dụng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, của nền kinh tế và nâng cao
đời sống của người dân.
*) Lợi ích kinh tế là cơ sở thúc đẩy sự phát triển các lợi ích khác
- Mọi sự vận động của lịch sử, dưới hình thức nào, xét đến cùng, đều xoay
quanh vấn đề lợi ích, trước hết là lợi ích kinh tế.
- Lợi ích kinh tế được thực hiện sẽ tạo điều kiện vật chất cho sự hình thành thực
hiện lợi ích chính trị, lợi ích hội, lợi ích văn hóa của các chủ thể hội. Lợi ích
kinh tế mang tính khách quan và là động lực mạnh mẽ để phát triển kinh tế - xã hội.
- Chỉ khi sự đồng thuận, thống nhất giữa các lợi ích kinh tế thì lợi ích kinh tế
mới thực hiện được vai trò của mình. Ngược lại, việc theo đuổi những lợi ích kinh
tế không chính đáng, không hợp lý, không hợp pháp sẽ trở thành trở ngại cho sự
phát triển kinh tế - hội. Hiện nay, trong điều kiện chế thị trường, quan điểm
của Đảng Nhà nước ta là: coi lợi ích kinh tế động lực của các hoạt động kinh
tế; phải tôn trọng lợi ích nhân chính đáng. Điều này góp phần tạo động lực cho
sự phát triển đất nước ta trong những năm vừa qua.
B. Vai trò của nhà nước và thị trường trong giải quyết hài hòa lợi ích kinh tế
a. Vai trò của nhà nước trong việc giải quyết hài hòa lợi ích kinh tế
Tính cấp thiết:
Qua hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã dần chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá, tập
trung quan liêu sang nền KTTT định hướng XHCN. Chính nhờ sự kết hợp hiệu quả
đó, kinh tế - hội Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, kinh tế phát
triển với tốc độ cao, đời sống của người dân được cải thiện, vị thế của Việt Nam
dần được nâng cao trên khu vực thế giới… Điều này thể hiện tính đúng đắn
trong việc phát triển nền KTTT định hướng XHCN Việt Nam. Tuy nhiên, trước
những biến động của tình hình kinh tế thế giới cũng như những yêu cầu từ nội tại
nền kinh tế, vai trò quản của Nhà nước những bước chuyển biến lớn trong
điều kiện KTTT. Nhà nước đã vai trò to lớn trong việc bảo đảm sự ổn định
cho phát triển tăng trưởng kinh tế, thể hiện sự cân đối, hài hòa các quan hệ
nhu cầu, lợi ích giữa người người, tạo ra sự đồng thuận hội trong hành động
vì mục tiêu phát triển của đất nước.
Vai trò nhà nước trong việc giải quyết hài hòa lợi ích kinh tế.
1. Bảo vệ lợi ích hợp pháp, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động tìm kiếm lợi ích
của các chủ thể kinh tế
Môi trường kinh tế thuận lợi thì các hoạt động kinh tế càng hiệu quả
không ngừng mở rộng. Tạo lập môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh tế
trước hết là giữ vững ổn định về chính trị. Tiếp tục giữ vững ổn định về chính trị
góp phần bảo đảm hài hòa các lợi ích kinh tế ở Việt Nam.
Nhà nước phải xây dựng được môi trường pháp luật thông thoáng, bảo vệ
được lợi ích chính đáng của các chủ thể kinh tế. Đầu xây dựng kết cấu hạ tầng
của nền kinh tế (đường, cầu, cống, hệ thống liên lạc, điện…).
Tạo lập môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh tế, phù hợp với yêu cầu
phát triển kinh tế thị trường. Đó môi trường trong đó con người năng động, sáng
tạo; tôn trọng kỷ cương, pháp luật; giữ chữ tín…
2. Điều hòa lợi ích giữa cá nhân - doanh nghiệp - xã hội
Do mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể và tác động của các quy luật
thị trường, sự phân hóa về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư làm cho lợi ích kinh tế
của một bộ phận dân được thực hiện rất khó khăn, hạn chế. vậy, nhà nước
cần các chính sách, trước hết chính sách phân phối thu nhập nhằm bảo đảm
hài hòa các lợi ích kinh tế.
3. Kiểm soát, ngăn ngừa các quan hệ lợi íchảnh hưởng tiêu cực đối với sự phát
triển xã hội
Lợi ích kinh tế kết quả trực tiếp của phân phối thu nhập. Phân phối công
bằng, hợp góp phần quan trọng đảm bảo hài hòa các lợi ích kinh tế. Do đó, nhà
nước phải tích cực, chủ động thực hiện công bằng trong phân phối thu nhập.
Nhà nước phải chăm lo đời sống vật chất cho mọi người dân. mỗi giai đoạn phát
triển, người dân phải đạt được mức sống tối thiểu. Để làm được điều này, nhà nước
cần thực hiện hiệu quả các chính sách xoá đói giảm nghèo, tạo điều kiện
hội tiếp cận bình đẳng các nguồn lực, chú trọng các chính sách ưu đãi xã hội,
Người sử dụng lao động cần phải hiểu được các nguyên tắc phân phối của
kinh tế thị trường để có sự phân chia hợp lý giữa tiền lương và lợi nhuận. Nâng cao
nhận thức cho người lao động về phân phối thu nhập để loại bỏ những đòi hỏi
không hợp lý về thu nhập.
Thu nhập từ các hoạt động bất hợp pháp như buôn lậu, làm hàng giả, hàng
nhái; lừa đảo; tham nhũng tồn tại khá phổ biến. Các hoạt động này làm tổn hại lợi
ích kinh tế của các chủ thể làm ăn chân chính. Để đảm bảo hài hoà lợi ích kinh tế,
phải có bộ máy nhà nước liêm chính có hiệu lực, kiểm soát được thu nhập của công
dân, thực hiện công khai, minh bạch mọi chế, chính sách quy định của nhà
nước.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động thanh tra, kiểm tra xử vi
phạm là đặc biệt cần thiết để khắc phục bất cập, thực hiện công bằng xã hội.
4. Giải quyết những mâu thuẫn trong quan hệ lợi ích kinh tế
Các quan chức năng của nhà nước cần phải thường xuyên quan tâm phát
hiện mâu thuẫn chuẩn bị chu đáo các giải pháp đối phó. Nguyên tắc giải quyết
mâu thuẫn giữa các lợi ích kinh tế phải sự tham gia của các bên liên quan,
nhân nhượng và phải đặt lợi ích đất nước lên trên hết. Khi có xung đột giữa các chủ
thể kinh tế, cần có sự tham gia hòa giải của các tổ chức xã hội có liên quan, đặc biệt
là nhà nước.
b. Vai trò của thị trường trong giải quyết hài hòa lợi ích kinh tế
Thứ nhất, quy thị trường điều kiện cho các chủ thể gia tăng thu nhập.
Mức độ thực hiện lợi ích kinh tế phụ thuộc vào số lượng, chất lượng hàng hóa, dịch
vụ các chủ thể nhận được. tầm mô, các lợi ích kinh tế phụ thuộc tốc độ,
chất lượng tăng trưởng, sự ổn định của tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Đồng
thời, phương thức mức độ thỏa mãn các nhu cầu vật chất luôn được thực hiện
trong môi trường xã hội an toàn, ổn định.
Thứ hai, thị trường môi trường cho các hoạt động kinh tế phát triển. Kinh
tế thị trường những ưu việt hơn hẳn so với kinh tế tự nhiên kinh tế chỉ huy:
năng động, hiệu quả, duy trì động lực mạnh mẽ để phát triển lực lượng sản xuất, cải
thiện nâng cao đời sống dân cư, loại bỏ nhanh chóng những nhân tố lạc hậu,
không hiệu quả,… Điều đó nghĩa kinh tế thị trường chế kinh tế đáp ứng
tốt nhất lợi ích kinh tế của các chủ thể. Do đó, thị trường điều kiện tiên quyết để
bảo đảm sự hài hòa lợi ích kinh tế của các chủ thể.
Thứ ba, kinh tế thị trường nhiều ưu việt nhưng cũng không ít khuyết
điểm: phát triển không ổn định, không đáp ứng được yêu cầu về hàng hóa công
cộng, sự xuất hiện của độc quyền, hiện tượng ngoại ứng,… Đặc biệt kinh tế thị
trường làm phân hóa giàu-nghèo ngày càng sâu sắc, ảnh hưởng xấu đến sự hài hòa
giữa các lợi ích kinh tế. Nhà nước cũng không ít khiếm khuyết: Cán bộ, công
chức nhà nước dễ chủ quan, lạm quyền, chế “xin-cho”,... Do đó nhàớc phải
can thiệp để hạn chế và khắc phục những khuyết điểm nêu trên. Và chính vì thế, thị
trường nhà nước luôn phải đi đôi kết hợp với nhau, tđó mới đảm bảo được
hài hòa lợi ích kinh tế.
II. THỰC TRẠNG LỢI ÍCH KINH TẾ TRONG NỀN THỊ TRƯỜNG ĐỊNH
HƯỚNG XHCH
a) Thực trạng của lợi ích kinh tế
Việt Nam đã ra khỏi tình trạng kém phát triển và trở thành nước đang phát triển có
thu nhập trung bình với định hướng xã hội chủ nghĩa được giữ vững. Đây chính là
lợi ích kinh tế của việc từng bước hiện thực hóa lý luận về kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa - sự đột phá về lý luận và xây dựng chủ nghĩa xã hội của
Đảng Cộng sản Việt Nam.
Với vai trò động lực trực tiếp của các chủ thể hoạt động kinh tế - hội, lợi
ích kinh tế mà nhà nước đạt được:
Kể từ khi đổi mới, nền kinh tế liên tục tăng trưởng, theo số liệu năm 2021
của Ngân hàng Thế giới, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam cao hơn mức
trung bình của thế giới (2,92%) và của khu vực kinh tế năng độngĐông Á
Thái Bình Dương (4,82%); quy nền kinh tế được mở rộng. Lạm phát
được duy trì mức có thể kiểm soát được và thấp trong những năm gần đây;
cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng hiện đại. Xuất khẩu, đầu nước
ngoài và dự trữ ngoại hối tăng mạnh.
Thể chế kinh tế thị trường từngớc được hoàn thiện. Môi trường đầu
kinh doanh ngày càng được cải thiện. Năng lực cạnh tranh quốc gia từng
bước được nâng lên; chỉ số sáng tạo liên tục tăng đã giúp cho nền kinh tế
vươn lên nhóm nửa trên bảng xếp hạng toàn cầu.
Với vai trò thúc đẩy các lợi ích khác của lợi ích kinh tế, một số thành tựu
nhà nước ta đã đạt được:
Các chỉ tiêu về hội liên tục được cải thiện, đời sống nhân dân được nâng
cao, tiến bộ công bằng hội. Chỉ trong hai thập kỷ, tỷ lệ hộ nghèo trung
bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%. Tỷ lệ thất nghiệp thiếu việc làm được
giữ mức thấp xu hướng giảm dần. Tuổi thọ trung bình của dân
tăng. Mức độ bất bình đẳng có xu hướng giảm; bình đẳng giới ngày càng tiến
bộ với tỷ l phụ nữ tham gia Quốc hội, các cấp chính quyền kinh doanh
cao. Tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông chỉ số phát triển con người
nhiều cải thiện.
Hệ thống các thị trường, đặc biệt là thị trường các nhân tố sản xuất được hình
thành và từng bước phát triển theo hướng đồng bộ hơn và gắn kết hơn với thị
trường quốc tế. Hầu hết các loại giá hàng hóa, dịch vụ được xác lập theo
nguyên tắc thị trường; giá một số loại hàng hóa, dịch vụ thiết yếu (điện, than,
nước sạch, xăng, dầu…) từng bước được điều chỉnh phù hợp hơn theo cơ chế
thị trường.
Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực toàn
cầu; đã kết 15 hiệp định thương mại tự do (tính đến tháng 12-2021), kết
nối nền kinh tế với phần lớn các thị trường trọng điểm trên thế giới, trong đó
những hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với tiêu chuẩn chất lượng
rất cao.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, Đảng cũng khách quan, thẳng thắn
chỉ ra một số hạn chế, khuyết điểm: Thể chế kinh tế thị trường định hướng hội
chủ nghĩa còn nhiều vướng mắc, bất cập; nhiều doanh nghiệp nhà nước chậm thực
hiện cấu lại đổi mới chế quản trị; phần lớn doanh nghiệp nhân quy
nhỏ, trình độ công nghệ thấp, năng lực tài chính quản trị yếu; đổi mới
phát triển kinh tế hợp tác còn chậm, nhiều hợp tác chưa làm tốt vai trò liên kết;
hội nhập kinh tế quốc tế hiệu quả mặt chưa cao... Những hạn chế, bất cập này
được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định cần kiên quyết khắc phục giải quyết
trong thời gian tới.
b) Nhà nước đã làm gì để đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các cá nhân tập thể
Từ khi đổi mới đến nay, vấn đề giải quyết quan hệ lợi ích giữa các chủ thể đã
được Đảng, Nhà nước ta quan tâm giải quyết, nhất là trong lĩnh vực sở hữu và phân
phối, tạo động lực cho sự phát triển của cá nhân và xã hội. Cụ thể như sau:
Cả lợi ích nhân lợi ích tập thể bước đầu đã được quan tâm giải quyết
theo hướng thúc đẩy sự phát triển.
Thứ nhất, lợi ích nhân chính đáng được tạo điều kiện phát triển qua đó tạo cơ sở
bước đầu giải quyết lợi ích tập thể phù hợp. Đời sống của mỗi nhân không
ngừng được nâng lên.
Thứ hai, lợi ích tập thể bước đầu được thực hiện tốt đã tạo tiền đề, điều kiện để lợi
ích cá nhân chính đáng được thực hiện.
Thứ ba, từng bước khắc phục được duy tuyệt đối hóa lợi ích tập thể trong việc
giải quyết quan hệ giữa lợi ích nhân lợi ích tập thể. Tạo lập môi trường bình
đẳng giữa các chủ thể kinh tế trong việc tiếp cận các nguồn lực phát triển.
Đảng và Nhà nước đã ban hành và tổ chức thực hiện ngày một tốt hơn những
chủ trương, chính sách đúng đắn về tạo hội phát triển của cả lợi ích nhân
lợi ích xã hội:
Một là, sự thay đổi chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước về sở
hữu. Trước hết, về chủ thể sở hữu: chuyển từ việc chỉ thừa nhận vai trò độc tôn của
chủ thể sở hữu Nhà nước đối với các liệu sản xuất bản sang công nhận
nhiều chủ thể sở hữu (nhà nước, tư nhân, hỗn hợp).
Hai là, sự thay đổi chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về phân
phối đã tác động rất lớn. Từ khi đổi mới đến nay, Đảng, Nhà nước đã những
thay đổi chủ trương, chính sách về phân phối một cách hợp lý hơn.
c) Những việc nhà nước đã làm được và chưa làm được
Một số vấn đề Nhà nước chưa thể giải quyết:
Thứ nhất quan điểm, chính sách về sở hữu, phân phối còn bất cập, . Đó việc xác
định thành phần kinh tế chủ đạo chứa đựng những mâu thuẫn, việc ác định chế độ
sở hữu, hình thức sở hữu, thành phần kinh tế/khu vực kinh tế bất cập, thiếu thống
nhất. Đi cùng với chế quản kinh tế yếu kém một số lĩnh vực, khu vực
kinh tế, nhất là đối với doanh nghiệp nhà nước…
Thứ hai chế, phương thức để giải quyết lợi ích nhân lợi ích tập thể chưa,
linh hoạt, hài hòa, nhất trong lĩnh vực phân phối. Các chính sách trong phân
phối ở nước ta hiện nay chưa thực sự đảm bảo tính công bằng, bình đẳng giữa đóng
góp hưởng thụ, giữa các chủ thể kinh tế, tiềm ẩn nhiều mâu thuẫn giữa các chủ
thể, nguy kìm hãm sự phát triển. Chính sách tiền lương còn nhiều bất hợp lý;
tính công khai, minh bạch trong quản tài chính, tài sản còn yếu; công tác thanh
tra, kiểm tra chưa đáp ứng yêu cầu...
Thứ ba năng lực, phẩm chất của các chủ thể lợi ích bộc lộ trong quá trình giải,
quyết một số nội dung của quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể xuất hiện
những yếu kém, lệch lạc. Bộ máy của Nhà ớc vẫn còn cồng kềnh, hiệu quả hoạt
động chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ; những biểu hiện quan liêu, lợi ích
nhóm, tham ô, tham nhũng, lãng phí... của đội ngũ cán bộ công quyền vấn đề
phức tạp... làm giảm động lực của sự phát triển gây cản trở đến việc thực hiện lợi
ích cá nhân và lợi ích xã hội.
III. GIẢI PHÁP VÀ ĐỊNH HƯỚNG TƯƠNG LAI
3.1.Giải pháp
Thứ nhất, nâng cao nhận thức của các chủ thể lợi ích trong việc giải quyết
quan hệ lợi ích, nhất là giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội
Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện chính sách về sở hữu, phân phối tổ chức thực
hiện tốt các chính sách trên thực tế để giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi
ích xã hội
Thứ ba, tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách tiền lương, kết hợp thực hiện
tốt chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội
Thứ tư, thực hiện các giải pháp đảm bảo công khai, minh bạch nhằm ngăn
chặn những hành vi tiêu cực như tham ô, tham nhũng, lợi ích nhóm
Thứ năm, khuyến khích nhân thực hiện lợi ích chính đáng của mình đồng
thời bảo đảm lợi ích xã hội
3.2.Định hướng
Để hưởng đến mục tiêu đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn
miền Nam, thống nhất đất nước: nước đang phát triển, công nghiệp theo
hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030, kỷ niệm
100 năm thành lập Đảng: nước đang phát triển, công nghiệp hiện đại, thu
nhập trung bình cao đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa, nay nước Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam: trở thành
nước phát triển, thu nhập cao, trên sở định hướng phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng hội chủ nghĩa Việt Nam trong Văn kiện Đại hội XIII của
Đảng, cần thực hiện đồng bộ một số định hướng sau:
Hoàn thiện bổ sung trong hệ thống luật pháp các chế, chính sách về
quyền kinh doanh, môi trường kinh doanh; thúc đẩy khởi nghiệp, đổi mới
sáng tạo doanh nghiệp; khuyến khích sự ra đời, hoạt động của những lĩnh
vực, hình kinh doanh các sản phẩm mới trên sở những thành tựu
của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4; cấu lại nền kinh tế phù hợp
vs xu thế phát triển chung trên thế giới.
Hoàn thiện thể chế về huy động, phân bổ các nguồn lực, về quản lý, sử dụng
đất đai, tài nguyên, nguồn vốn đầu tư của Nhà nước
Hoàn thiện thể chế phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường (Vd: giá cả). Phát
triển đồng bộ, với sở hạ tầng phương thức giao dịch hiện đại, các loại
thị trường hàng hóa, dịch vụ, thị trường tài chính, tiền tệ, thị trường khoa học
- công nghệ, thị trường lao động, thị trường bất động sản để các thị trường
vận hành thông suốt, kết nối thị trường trong nước với thị trường thế giới.
Giải quyết hài hòa mối quan hệ Nhà nước, thị trường hội trong phát
triển kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa Việt Nam. Phát huy đầy
đủ vai trò của thị trường, Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội trong từng
lĩnh vực.
Tiếp tục hoàn thiện thể chế, thúc đẩy phát triển nâng cao hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp.
Xây dựng, cụ thể hóa hệ tiêu chí xác định những đặc trưng của nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam
+ Về cơ cấu sở hữu và thành phần kinh tế: là nền kinh tế đa sở hữu, nhiều
thành phần; doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tự chủ, hợp tác, cạnh
tranh bình đẳng theo pháp luật.
+ Về chế vận hành: nền kinh tế vận hành theo chế thị trường
sự quản của Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt
Nam lãnh đạo.
+ Về trình độ phát triển: lực lượng sản xuất phát triển ngày càng hiện
đại; cấu hợp lý; tăng trưởng theo chiều sâu; năng suất, chất lượng, hiệu
quả, sức cạnh tranh cao; là nền kinh tế độc lập, tự chủ và chủ động, tích cực hội
nhập quốc tế….
PHẦN KẾT LUẬN
Nhà nước vai trò to lớn trong việc bảo đảm sự ổn định cho phát
triển tăng trưởng kinh tế, thể hiện sự cân đối, hài hòa các quan hệ nhu cầu, lợi
ích giữa người người, tạo ra sự đồng thuận hội trong hành động mục tiêu
phát triển của đất nước. Tính đúng đắn, hợp kịp thời của việc hoạch định
năng lực tổ chức thực hiện các chính sách phát triển vĩ mô do Nhà nước đảm nhiệm
điều kiện tiên quyết để hình thành sự đồng thuận đó. Việc tăng cường quản
sẽ nâng cao hiệu quả tác động của Nhà nước tới sự phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng hội chủ nghĩa nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1) Cổng Thông tin điện tử Bộ Tài Chính (mof.gov.vn)
2) Giải quyết hài hòa quan hệ giữa lợi ích nhân lợi ích hội trong điều kiện
kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay (lyluanchinhtri.vn)
3) Giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lênin
4) Phát triển kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa Việt Nam | Tạp chí
Tuyên giáo (tuyengiao.vn)

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA HTTT KINH TẾ & TMĐT ----- ----- BÀI THẢO LUẬN
Học Phần: Kinh tế chính trị Mác - Lênin
Đề tài: Vai trò của nhà nước và thị trường trong giải quyết hài hòa lợi ích kinh
tế trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam ? Liên hệ thực tế ở Việt Nam hiện nay ? Nhóm thực hiện: Nhóm 6 Lớp HP: 2230RLCP1211
Giảng viên hướng dẫn: Đặng Thu Giang
Bảng đánh giá các thành viên tham gia thảo luận STT Họ và tên Lớp Nhiệm vụ Đánh giá Ghi (NT) chú 51 Hoàng Văn Tân
K57S3 Vai trò của nhà nước và thị trường 52 Đặng Văn Đức Thái K57S3 PPT 53 Trần Văn Thái K57S2 Lợi ích kinh tế Nhóm trưởng 54 Trần Đình Thắng
K57S3 Vai trò của nhà nước và thị trường 55 Vũ Thị Thanh K57S2 Giải pháp và định Thư ký hướng, hoàn thiện bản word 56 Bùi Phương Thảo K57S3 Giải pháp và định hướng 57 Nguyễn Thị Thảo K57S2 Mở đầu + Kết luận 58 Nguyễn Văn Thịnh K57S2 Lợi ích kinh tế 59 Nguyễn Thị Anh Thư K57S3 Thực trạng 60 Nguyễn Thị Thương K57S2 Thuyết trình MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU........................................................................................................1
I. LÝ THUYẾT..........................................................................................................1
A. Lợi ích kinh tế....................................................................................................1
a) Khái niệm về lợi ích kinh tế.............................................................................1
b) Bản chất và biểu hiện của lợi ích kinh tế.........................................................1
c) Các nhân tố ảnh hưởng tới lợi ích kinh tế........................................................3
d) Vai trò của lợi ích kinh tế đối với các chủ thể kinh tế xã hội..........................4
B. Vai trò của nhà nước và thị trường trong giải quyết hài hòa lợi ích kinh tế......4
a. Vai trò của nhà nước trong việc giải quyết hài hòa lợi ích kinh tế..................4
b. Vai trò của thị trường trong giải quyết hài hòa lợi ích kinh tế.........................6
II. THỰC TRẠNG LỢI ÍCH KINH TẾ TRONG NỀN THỊ TRƯỜNG ĐỊNH
HƯỚNG XHCH.........................................................................................................7
a)Thực trạng của lợi ích kinh tế.............................................................................7
b)Nhà nước đã làm gì để đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các cá nhân tập thể........9
c)Những việc nhà nước đã làm được và chưa làm được......................................10
III. GIẢI PHÁP VÀ ĐỊNH HƯỚNG TƯƠNG LAI................................................11
3.1.Giải pháp.........................................................................................................11
3.2.Định hướng.....................................................................................................11
PHẦN KẾT LUẬN..................................................................................................12
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................14 PHẦN MỞ ĐẦU
Trong lịch sử đã chứng minh rằng, các nền kinh tế thị trường thành công nhất
đều không thể phát triển một cách tự phát nếu thiếu sự can thiệp và hỗ trợ của Nhà
nước. Nền kinh tế của Việt Nam tăng trưởng dưới tác động bên ngoài ngày một
phức tạp nên sự can thiệp của Nhà nước xuất hiện như một tất yếu cho sự hoạt
động có hiệu quả của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Theo quan điểm của Paul Samuelra - Nhà kinh tế học người Mỹ cho rằng “để
điều hành một nền kinh tế không có cả chỉnh phủ lẫn thị trường cũng như định vỗ
tay bằng một bàn tay”. Sự thành công của đổi mới kinh tế ở nước ta càng khẳng
định vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường là rất cần thiết vì nó dẫn dắt
thị trường phát triển theo hướng tích cực và khắc phục những hạn chế của nền kinh
tế thị trường gây ra để phát triển nền kinh tế một cách tốt nhất. Vậy nhà nước cũng
như thị trường có vai trò cụ thể như thế nào trong việc giải quyết hài hoà lợi ích
kinh tế ? Để hiểu rõ hơn về vấn đề này nhóm 6 chúng em dưới sự trợ giúp của cô
Đặng Thu Giang đã chọn đề tài thảo luận ”Vai trò của nhà nước và thị trường trong
giải quyết hài hòa lợi ích kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở
Việt Nam ? Liên hệ thực tế ở Việt Nam hiện nay”. I. LÝ THUYẾT A. Lợi ích kinh tế
a) Khái niệm về lợi ích kinh tế
- Lợi ích là sự thỏa mãn nhu cầu của con người mà sự thỏa mãn nhu cầu này phải
được nhận thức và đặt trong mối quan hệ xã hội ứng với trình độ phát triển nhất
định của nền sản xuất xã hội đó.
- Lợi ích kinh tế là lợi ích vật chất, lợi ích thu được khi thực hiện các hoạt động kinh tế của con người.
b) Bản chất và biểu hiện của lợi ích kinh tế *) Bản chất
- Lợi ích kinh tế phản ánh mục đích và động cơ của các quan hệ giữa các chủ thể
trong nền sản xuất xã hội.
- Các thành viên trong xã hội xác lập các quan hệ kinh tế với nhau vì trong quan hệ
đó hàm chứa những lợi ích kinh tế mà họ có thể có được. Ph.Ăngghen viết:” Các
quan hệ kinh tế của một xã hội nhất định biểu hiện trước hết dưới hình thức lợi ích.”
- Các quan hệ xã hội luôn mang tính lịch sử do vậy lợi ích kinh tế trong mỗi giai
đoạn cũng phản ánh bản chất xã hội của giai đoạn lịch sử đó. *) Biểu hiện
- Với mỗi chủ thể kinh tế khác nhau thì sẽ có những lợi ích tương ứng: Lợi ích của
chủ doanh nghiệp trước hết là lợi nhuận, lợi ích của người lao động là thu nhập.
- Tất nhiên, với mỗi cá nhân, trong các mối quan hệ xã hội tổng hợp gắn với con
người đó, mặc dù có khi thực hiện hoạt động kinh tế, trong nhất thời, không phải
luôn đặt mục tiêu lợi ích vật chất lên hàng đầu.
- Song, về lâu dài, đã tham gia vào hoạt động kinh tế thì lợi ích kinh tế là lợi ích
quyết định. Nếu không thấy được vai trò này của lợi ích kinh tế sẽ làm suy giảm
động lực hoạt động của các cá nhân.
Nghiên cứu về sự phân phối giá trị thặng dư trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa
cho ta thấy, mỗi chủ thể tham gia vào quá trình phân phối giá trị thặng dư đó, với
vai trò của mình mà có được những lợi ích tương ứng. Đây chính là nguyên tắc
đảm bảo lợi ích phù hợp với vai trò của các chủ thể.
- Khi đề cập tới phạm trù lợi ích kinh tế, lợi ích đó được xác lập trong quan hệ nào,
vai trò của các chủ thể trong quan hệ đó thể hiện chủ thể đó biểu hiện như thế nào,
chẳng hạn họ là chủ sở hữu, hay nhà quản lý; là lao động làm thuê hay trung gian
trong hoạt động kinh tế; ai là người thụ hưởng lợi ích, quyền hạn và trách nhiệm
của các chủ thể đó, phương thức để thực hiện lợi ích cần phải thông qua các biện pháp gì…
c) Các nhân tố ảnh hưởng tới lợi ích kinh tế
Thứ nhất, trình độ phát triển của nền kinh tế: lợi ích kinh tế trước hết phụ
thuộc vào số lượng, chất lượng hàng hóa và dịch vụ mà điều này lại phụ thuộc vào
trình độ phát triển Trình độ phát triển của nền kinh tế càng cao, việc đáp ứng lợi
ích kinh tế của chủ thể càng tốt.
Thứ hai, địa vị của chủ thể trong kinh tế (quan hệ sản xuất): quan hệ sản
xuất, trước hết là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quyết định vị trí, vai trò của
mỗi con người, mỗi chủ thể trong quá trình tham gia các hoạt động kinh tế - xã hội
Không có lợi ích kinh tế nằm ngoài những quan hệ sản xuất và trao đổi, mà nó
là sản phẩm của những quan hệ sản xuất và trao đổi, là hình thức tồn tại và biểu
hiện của các quan hệ ấy trong thị trường.
Thứ ba, chính sách của nhà nước: các chính sách của nhà nước và đặc biệt là
chính sách phân phối thu nhập của nhà nước làm thay đổi mức thu nhập và tương
quan thu nhập của các chủ thể kinh tế. Khi mức thu nhập và tương quan thu nhập
thay đổi, phương thức và mức dộ thỏa mãn các nhu cầu vật chất cũng thay đổi, tức
là lợi ích kinh tế giữa các chủ thể cũng thay đổi.
Thứ tư, truyền thống và văn hóa: các hoạt động văn hóa chủ yếu diễn ra như
các hoạt động sinh hoạt “bên ngoài, bên lề” các quá trình phát triển kinh tế, mang
tính chất vui chơi giải trí, lễ hội, … Nhưng nếu thiếu hiểu biết về vai trò của truyền
thống và văn hóa thì kinh tế không thể vận hành hay nói cách khác là không có
hoặc giảm lợi ích kinh tế.
Thứ năm, mức độ hội nhập: khi mở cửa hội nhập, các quốc gia có thể gia
tăng lợi ích kinh tế từ thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế. Tuy nhiên lợi ích kinh tế
của các doanh nghiệp, hộ gia đình sản xuất hàng hóa tiêu thụ trên thị trường nội địa
có thể bị ảnh hưởng bởi cạnh tranh của hàng hóa nước ngoài. Thông qua mở cửa
hội nhập có thể phát triển nhanh hơn nhưng cũng phải đối mặt với các nguy cơ cạn
kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường… Mức độ hội nhập kinh tế sẽ tác dộng
mạnh mẽ và nhiều chiều đến lợi ích kinh tế của các chủ thể
d) Vai trò của lợi ích kinh tế đối với các chủ thể kinh tế xã hội
*) Lợi ích kinh tế là động lực trực tiếp của các hoạt động kinh tế, của sự phát triển xã hội.
Người lao động phải tích cực làm việc, nâng cao tay nghề, cải tiến công cụ
lao động; chủ doanh nghiệp phải tìm cách nâng cao hiệu quả sự dụng các nguồn
lực, đáp ứng các nhu cầu, thị hiếu của khách hàng… Tất cả những điều đó đề có
tác dụng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, của nền kinh tế và nâng cao
đời sống của người dân.
*) Lợi ích kinh tế là cơ sở thúc đẩy sự phát triển các lợi ích khác
- Mọi sự vận động của lịch sử, dù dưới hình thức nào, xét đến cùng, đều xoay
quanh vấn đề lợi ích, trước hết là lợi ích kinh tế.
- Lợi ích kinh tế được thực hiện sẽ tạo điều kiện vật chất cho sự hình thành và thực
hiện lợi ích chính trị, lợi ích xã hội, lợi ích văn hóa của các chủ thể xã hội. Lợi ích
kinh tế mang tính khách quan và là động lực mạnh mẽ để phát triển kinh tế - xã hội.
- Chỉ khi có sự đồng thuận, thống nhất giữa các lợi ích kinh tế thì lợi ích kinh tế
mới thực hiện được vai trò của mình. Ngược lại, việc theo đuổi những lợi ích kinh
tế không chính đáng, không hợp lý, không hợp pháp sẽ trở thành trở ngại cho sự
phát triển kinh tế - xã hội. Hiện nay, trong điều kiện cơ chế thị trường, quan điểm
của Đảng và Nhà nước ta là: coi lợi ích kinh tế là động lực của các hoạt động kinh
tế; phải tôn trọng lợi ích cá nhân chính đáng. Điều này góp phần tạo động lực cho
sự phát triển đất nước ta trong những năm vừa qua.
B. Vai trò của nhà nước và thị trường trong giải quyết hài hòa lợi ích kinh tế
a. Vai trò của nhà nước trong việc giải quyết hài hòa lợi ích kinh tế Tính cấp thiết:
Qua hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã dần chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá, tập
trung quan liêu sang nền KTTT định hướng XHCN. Chính nhờ sự kết hợp hiệu quả
đó, kinh tế - xã hội Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, kinh tế phát
triển với tốc độ cao, đời sống của người dân được cải thiện, vị thế của Việt Nam
dần được nâng cao trên khu vực và thế giới… Điều này thể hiện tính đúng đắn
trong việc phát triển nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam. Tuy nhiên, trước
những biến động của tình hình kinh tế thế giới cũng như những yêu cầu từ nội tại
nền kinh tế, vai trò quản lý của Nhà nước có những bước chuyển biến lớn trong
điều kiện KTTT. Nhà nước đã có vai trò to lớn trong việc bảo đảm sự ổn định vĩ
mô cho phát triển và tăng trưởng kinh tế, thể hiện sự cân đối, hài hòa các quan hệ
nhu cầu, lợi ích giữa người và người, tạo ra sự đồng thuận xã hội trong hành động
vì mục tiêu phát triển của đất nước.
Vai trò nhà nước trong việc giải quyết hài hòa lợi ích kinh tế.
1. Bảo vệ lợi ích hợp pháp, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động tìm kiếm lợi ích
của các chủ thể kinh tế
Môi trường kinh tế thuận lợi thì các hoạt động kinh tế càng hiệu quả và
không ngừng mở rộng. Tạo lập môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh tế
trước hết là giữ vững ổn định về chính trị. Tiếp tục giữ vững ổn định về chính trị là
góp phần bảo đảm hài hòa các lợi ích kinh tế ở Việt Nam.
Nhà nước phải xây dựng được môi trường pháp luật thông thoáng, bảo vệ
được lợi ích chính đáng của các chủ thể kinh tế. Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng
của nền kinh tế (đường, cầu, cống, hệ thống liên lạc, điện…).
Tạo lập môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh tế, phù hợp với yêu cầu
phát triển kinh tế thị trường. Đó là môi trường trong đó con người năng động, sáng
tạo; tôn trọng kỷ cương, pháp luật; giữ chữ tín…
2. Điều hòa lợi ích giữa cá nhân - doanh nghiệp - xã hội
Do mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể và tác động của các quy luật
thị trường, sự phân hóa về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư làm cho lợi ích kinh tế
của một bộ phận dân cư được thực hiện rất khó khăn, hạn chế. Vì vậy, nhà nước
cần có các chính sách, trước hết là chính sách phân phối thu nhập nhằm bảo đảm
hài hòa các lợi ích kinh tế.
3. Kiểm soát, ngăn ngừa các quan hệ lợi ích có ảnh hưởng tiêu cực đối với sự phát triển xã hội
Lợi ích kinh tế là kết quả trực tiếp của phân phối thu nhập. Phân phối công
bằng, hợp lý góp phần quan trọng đảm bảo hài hòa các lợi ích kinh tế. Do đó, nhà
nước phải tích cực, chủ động thực hiện công bằng trong phân phối thu nhập.
Nhà nước phải chăm lo đời sống vật chất cho mọi người dân. Ở mỗi giai đoạn phát
triển, người dân phải đạt được mức sống tối thiểu. Để làm được điều này, nhà nước
cần thực hiện có hiệu quả các chính sách xoá đói giảm nghèo, tạo điều kiện và cơ
hội tiếp cận bình đẳng các nguồn lực, chú trọng các chính sách ưu đãi xã hội,
Người sử dụng lao động cần phải hiểu được các nguyên tắc phân phối của
kinh tế thị trường để có sự phân chia hợp lý giữa tiền lương và lợi nhuận. Nâng cao
nhận thức cho người lao động về phân phối thu nhập để loại bỏ những đòi hỏi
không hợp lý về thu nhập.
Thu nhập từ các hoạt động bất hợp pháp như buôn lậu, làm hàng giả, hàng
nhái; lừa đảo; tham nhũng tồn tại khá phổ biến. Các hoạt động này làm tổn hại lợi
ích kinh tế của các chủ thể làm ăn chân chính. Để đảm bảo hài hoà lợi ích kinh tế,
phải có bộ máy nhà nước liêm chính có hiệu lực, kiểm soát được thu nhập của công
dân, thực hiện công khai, minh bạch mọi cơ chế, chính sách và quy định của nhà nước.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi
phạm là đặc biệt cần thiết để khắc phục bất cập, thực hiện công bằng xã hội.
4. Giải quyết những mâu thuẫn trong quan hệ lợi ích kinh tế
Các cơ quan chức năng của nhà nước cần phải thường xuyên quan tâm phát
hiện mâu thuẫn và chuẩn bị chu đáo các giải pháp đối phó. Nguyên tắc giải quyết
mâu thuẫn giữa các lợi ích kinh tế là phải có sự tham gia của các bên liên quan, có
nhân nhượng và phải đặt lợi ích đất nước lên trên hết. Khi có xung đột giữa các chủ
thể kinh tế, cần có sự tham gia hòa giải của các tổ chức xã hội có liên quan, đặc biệt là nhà nước.
b. Vai trò của thị trường trong giải quyết hài hòa lợi ích kinh tế
Thứ nhất, quy mô thị trường là điều kiện cho các chủ thể gia tăng thu nhập.
Mức độ thực hiện lợi ích kinh tế phụ thuộc vào số lượng, chất lượng hàng hóa, dịch
vụ mà các chủ thể nhận được. Ở tầm vĩ mô, các lợi ích kinh tế phụ thuộc tốc độ,
chất lượng tăng trưởng, sự ổn định của tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Đồng
thời, phương thức và mức độ thỏa mãn các nhu cầu vật chất luôn được thực hiện
trong môi trường xã hội an toàn, ổn định.
Thứ hai, thị trường là môi trường cho các hoạt động kinh tế phát triển. Kinh
tế thị trường có những ưu việt hơn hẳn so với kinh tế tự nhiên và kinh tế chỉ huy:
năng động, hiệu quả, duy trì động lực mạnh mẽ để phát triển lực lượng sản xuất, cải
thiện và nâng cao đời sống dân cư, loại bỏ nhanh chóng những nhân tố lạc hậu,
không hiệu quả,… Điều đó có nghĩa là kinh tế thị trường là cơ chế kinh tế đáp ứng
tốt nhất lợi ích kinh tế của các chủ thể. Do đó, thị trường là điều kiện tiên quyết để
bảo đảm sự hài hòa lợi ích kinh tế của các chủ thể.
Thứ ba, kinh tế thị trường có nhiều ưu việt nhưng cũng có không ít khuyết
điểm: phát triển không ổn định, không đáp ứng được yêu cầu về hàng hóa công
cộng, sự xuất hiện của độc quyền, hiện tượng ngoại ứng,… Đặc biệt kinh tế thị
trường làm phân hóa giàu-nghèo ngày càng sâu sắc, ảnh hưởng xấu đến sự hài hòa
giữa các lợi ích kinh tế. Nhà nước cũng có không ít khiếm khuyết: Cán bộ, công
chức nhà nước dễ chủ quan, lạm quyền, cơ chế “xin-cho”,... Do đó nhà nước phải
can thiệp để hạn chế và khắc phục những khuyết điểm nêu trên. Và chính vì thế, thị
trường và nhà nước luôn phải đi đôi và kết hợp với nhau, từ đó mới đảm bảo được
hài hòa lợi ích kinh tế.
II. THỰC TRẠNG LỢI ÍCH KINH TẾ TRONG NỀN THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCH
a) Thực trạng của lợi ích kinh tế
Việt Nam đã ra khỏi tình trạng kém phát triển và trở thành nước đang phát triển có
thu nhập trung bình với định hướng xã hội chủ nghĩa được giữ vững. Đây chính là
lợi ích kinh tế của việc từng bước hiện thực hóa lý luận về kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa - sự đột phá về lý luận và xây dựng chủ nghĩa xã hội của
Đảng Cộng sản Việt Nam.
Với vai trò là động lực trực tiếp của các chủ thể và hoạt động kinh tế - xã hội, lợi
ích kinh tế mà nhà nước đạt được:
Kể từ khi đổi mới, nền kinh tế liên tục tăng trưởng, theo số liệu năm 2021
của Ngân hàng Thế giới, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam cao hơn mức
trung bình của thế giới (2,92%) và của khu vực kinh tế năng động là Đông Á
và Thái Bình Dương (4,82%); quy mô nền kinh tế được mở rộng. Lạm phát
được duy trì ở mức có thể kiểm soát được và thấp trong những năm gần đây;
cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng hiện đại. Xuất khẩu, đầu tư nước
ngoài và dự trữ ngoại hối tăng mạnh.
Thể chế kinh tế thị trường từng bước được hoàn thiện. Môi trường đầu tư và
kinh doanh ngày càng được cải thiện. Năng lực cạnh tranh quốc gia từng
bước được nâng lên; chỉ số sáng tạo liên tục tăng đã giúp cho nền kinh tế
vươn lên nhóm nửa trên bảng xếp hạng toàn cầu.
Với vai trò thúc đẩy các lợi ích khác của lợi ích kinh tế, một số thành tựu
nhà nước ta đã đạt được:
Các chỉ tiêu về xã hội liên tục được cải thiện, đời sống nhân dân được nâng
cao, tiến bộ và công bằng xã hội. Chỉ trong hai thập kỷ, tỷ lệ hộ nghèo trung
bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%. Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm được
giữ ở mức thấp và có xu hướng giảm dần. Tuổi thọ trung bình của dân cư
tăng. Mức độ bất bình đẳng có xu hướng giảm; bình đẳng giới ngày càng tiến
bộ với tỷ lệ phụ nữ tham gia Quốc hội, các cấp chính quyền và kinh doanh
cao. Tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông và chỉ số phát triển con người có nhiều cải thiện.
Hệ thống các thị trường, đặc biệt là thị trường các nhân tố sản xuất được hình
thành và từng bước phát triển theo hướng đồng bộ hơn và gắn kết hơn với thị
trường quốc tế. Hầu hết các loại giá hàng hóa, dịch vụ được xác lập theo
nguyên tắc thị trường; giá một số loại hàng hóa, dịch vụ thiết yếu (điện, than,
nước sạch, xăng, dầu…) từng bước được điều chỉnh phù hợp hơn theo cơ chế thị trường.
Việt Nam ngày càng hội nhập sâu và rộng vào nền kinh tế khu vực và toàn
cầu; đã ký kết 15 hiệp định thương mại tự do (tính đến tháng 12-2021), kết
nối nền kinh tế với phần lớn các thị trường trọng điểm trên thế giới, trong đó
có những hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với tiêu chuẩn chất lượng rất cao.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, Đảng cũng khách quan, thẳng thắn
chỉ ra một số hạn chế, khuyết điểm: Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa còn nhiều vướng mắc, bất cập; nhiều doanh nghiệp nhà nước chậm thực
hiện cơ cấu lại và đổi mới cơ chế quản trị; phần lớn doanh nghiệp tư nhân có quy
mô nhỏ, trình độ công nghệ thấp, năng lực tài chính và quản trị yếu; đổi mới và
phát triển kinh tế hợp tác còn chậm, nhiều hợp tác xã chưa làm tốt vai trò liên kết;
hội nhập kinh tế quốc tế hiệu quả có mặt chưa cao... Những hạn chế, bất cập này
được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định cần kiên quyết khắc phục và giải quyết trong thời gian tới.
b) Nhà nước đã làm gì để đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các cá nhân tập thể
Từ khi đổi mới đến nay, vấn đề giải quyết quan hệ lợi ích giữa các chủ thể đã
được Đảng, Nhà nước ta quan tâm giải quyết, nhất là trong lĩnh vực sở hữu và phân
phối, tạo động lực cho sự phát triển của cá nhân và xã hội. Cụ thể như sau:
Cả lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể bước đầu đã được quan tâm giải quyết
theo hướng thúc đẩy sự phát triển.
Thứ nhất, lợi ích cá nhân chính đáng được tạo điều kiện phát triển qua đó tạo cơ sở
bước đầu giải quyết lợi ích tập thể phù hợp. Đời sống của mỗi cá nhân không ngừng được nâng lên.
Thứ hai, lợi ích tập thể bước đầu được thực hiện tốt đã tạo tiền đề, điều kiện để lợi
ích cá nhân chính đáng được thực hiện.
Thứ ba, từng bước khắc phục được tư duy tuyệt đối hóa lợi ích tập thể trong việc
giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể. Tạo lập môi trường bình
đẳng giữa các chủ thể kinh tế trong việc tiếp cận các nguồn lực phát triển.
Đảng và Nhà nước đã ban hành và tổ chức thực hiện ngày một tốt hơn những
chủ trương, chính sách đúng đắn về tạo cơ hội phát triển của cả lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội:
Một là, sự thay đổi chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước về sở
hữu. Trước hết, về chủ thể sở hữu: chuyển từ việc chỉ thừa nhận vai trò độc tôn của
chủ thể sở hữu là Nhà nước đối với các tư liệu sản xuất cơ bản sang công nhận
nhiều chủ thể sở hữu (nhà nước, tư nhân, hỗn hợp).
Hai là, sự thay đổi chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về phân
phối đã có tác động rất lớn. Từ khi đổi mới đến nay, Đảng, Nhà nước đã có những
thay đổi chủ trương, chính sách về phân phối một cách hợp lý hơn.
c) Những việc nhà nước đã làm được và chưa làm được
Một số vấn đề Nhà nước chưa thể giải quyết: Thứ nhất, quan
điểm, chính sách về sở hữu, phân phối còn bất cập. Đó là việc xác
định thành phần kinh tế chủ đạo chứa đựng những mâu thuẫn, việc ác định chế độ
sở hữu, hình thức sở hữu, thành phần kinh tế/khu vực kinh tế bất cập, thiếu thống
nhất. Đi cùng với nó là cơ chế quản lý kinh tế yếu kém ở một số lĩnh vực, khu vực
kinh tế, nhất là đối với doanh nghiệp nhà nước… Thứ hai, cơ
chế, phương thức để giải quyết lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể chưa
linh hoạt, hài hòa, nhất là trong lĩnh vực phân phối. Các chính sách trong phân
phối ở nước ta hiện nay chưa thực sự đảm bảo tính công bằng, bình đẳng giữa đóng
góp và hưởng thụ, giữa các chủ thể kinh tế, tiềm ẩn nhiều mâu thuẫn giữa các chủ
thể, có nguy cơ kìm hãm sự phát triển. Chính sách tiền lương còn nhiều bất hợp lý;
tính công khai, minh bạch trong quản lý tài chính, tài sản còn yếu; công tác thanh
tra, kiểm tra chưa đáp ứng yêu cầu... Thứ ba, năng
lực, phẩm chất của các chủ thể lợi ích bộc lộ trong quá trình giải
quyết một số nội dung của quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể xuất hiện
những yếu kém, lệch lạc. Bộ máy của Nhà nước vẫn còn cồng kềnh, hiệu quả hoạt
động chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ; những biểu hiện quan liêu, lợi ích
nhóm, tham ô, tham nhũng, lãng phí... của đội ngũ cán bộ công quyền là vấn đề
phức tạp... làm giảm động lực của sự phát triển gây cản trở đến việc thực hiện lợi
ích cá nhân và lợi ích xã hội.
III. GIẢI PHÁP VÀ ĐỊNH HƯỚNG TƯƠNG LAI 3.1.Giải pháp
Thứ nhất, nâng cao nhận thức của các chủ thể lợi ích trong việc giải quyết
quan hệ lợi ích, nhất là giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội
Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện chính sách về sở hữu, phân phối và tổ chức thực
hiện tốt các chính sách trên thực tế để giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội
Thứ ba, tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách tiền lương, kết hợp thực hiện
tốt chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội
Thứ tư, thực hiện các giải pháp đảm bảo công khai, minh bạch nhằm ngăn
chặn những hành vi tiêu cực như tham ô, tham nhũng, lợi ích nhóm
Thứ năm, khuyến khích cá nhân thực hiện lợi ích chính đáng của mình đồng
thời bảo đảm lợi ích xã hội 3.2.Định hướng
Để hưởng đến mục tiêu đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn
miền Nam, thống nhất đất nước: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo
hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030, kỷ niệm
100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu
nhập trung bình cao và đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: trở thành
nước phát triển, thu nhập cao, trên cơ sở định hướng phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong Văn kiện Đại hội XIII của
Đảng, cần thực hiện đồng bộ một số định hướng sau:
Hoàn thiện và bổ sung trong hệ thống luật pháp các cơ chế, chính sách về
quyền kinh doanh, môi trường kinh doanh; thúc đẩy khởi nghiệp, đổi mới
sáng tạo doanh nghiệp; khuyến khích sự ra đời, hoạt động của những lĩnh
vực, mô hình kinh doanh và các sản phẩm mới trên cơ sở những thành tựu
của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4; cơ cấu lại nền kinh tế phù hợp
vs xu thế phát triển chung trên thế giới.
Hoàn thiện thể chế về huy động, phân bổ các nguồn lực, về quản lý, sử dụng
đất đai, tài nguyên, nguồn vốn đầu tư của Nhà nước
Hoàn thiện thể chế phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường (Vd: giá cả). Phát
triển đồng bộ, với cơ sở hạ tầng và phương thức giao dịch hiện đại, các loại
thị trường hàng hóa, dịch vụ, thị trường tài chính, tiền tệ, thị trường khoa học
- công nghệ, thị trường lao động, thị trường bất động sản để các thị trường
vận hành thông suốt, kết nối thị trường trong nước với thị trường thế giới.
Giải quyết hài hòa mối quan hệ Nhà nước, thị trường và xã hội trong phát
triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Phát huy đầy
đủ vai trò của thị trường, Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội trong từng lĩnh vực.
Tiếp tục hoàn thiện thể chế, thúc đẩy phát triển nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Xây dựng, cụ thể hóa hệ tiêu chí xác định những đặc trưng của nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam
+ Về cơ cấu sở hữu và thành phần kinh tế: là nền kinh tế đa sở hữu, nhiều
thành phần; doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tự chủ, hợp tác, cạnh
tranh bình đẳng theo pháp luật.
+ Về cơ chế vận hành: là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
+ Về trình độ phát triển: Có lực lượng sản xuất phát triển ngày càng hiện
đại; cơ cấu hợp lý; tăng trưởng theo chiều sâu; có năng suất, chất lượng, hiệu
quả, sức cạnh tranh cao; là nền kinh tế độc lập, tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế…. PHẦN KẾT LUẬN
Nhà nước có vai trò to lớn trong việc bảo đảm sự ổn định vĩ mô cho phát
triển và tăng trưởng kinh tế, thể hiện sự cân đối, hài hòa các quan hệ nhu cầu, lợi
ích giữa người và người, tạo ra sự đồng thuận xã hội trong hành động vì mục tiêu
phát triển của đất nước. Tính đúng đắn, hợp lý và kịp thời của việc hoạch định và
năng lực tổ chức thực hiện các chính sách phát triển vĩ mô do Nhà nước đảm nhiệm
là điều kiện tiên quyết để hình thành sự đồng thuận đó. Việc tăng cường quản lý vĩ
mô sẽ nâng cao hiệu quả tác động của Nhà nước tới sự phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1) Cổng Thông tin điện tử Bộ Tài Chính (mof.gov.vn)
2) Giải quyết hài hòa quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội trong điều kiện
kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay (lyluanchinhtri.vn)
3) Giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lênin
4) Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam | Tạp chí Tuyên giáo (tuyengiao.vn)