LỜI CẢM ƠN
Thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học vừa qua quả thực một quãng thời gian
cùng ý nghĩa. Bên cạnh sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của bản thân người làm
nghiên cứu, nhóm nghiên cứu còn nhận được sự quan tâm giúp đỡ, được tạo điều kiện
thuận lợi từ mọi phía.
Nhóm nghiên cứu xin được tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Thị Huyền Ngân -
Giảng viên khoa Khách sạn - Du lịch Trường Đại học Thương mại đã tận tình chỉ bảo,
hướng dẫn trong quá trình lựa chọn, nghiên cứu, thực hiện đề tài, hỗ trợ tích cực, tạo
động lực to lớn giúp nhóm hoàn thiện bài nghiên cứu khoa học.
Đồng thời nhóm cũng xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới cộng đồng dân cư địa phương trên
địa bàn Nội, đại diện các khách sạn nổi tiếng đã không ngần ngại bớt chút thời gian
chia sẻ ý kiến cung cấp thông tin, số liệu tạo điều kiện để nhóm hoàn thành đề tài
nghiên cứu này.
Cuối cùng nhóm nghiên cứu xin chân thành gửi lời cảm ơn đến các thầy giáo khoa
Khách sạn - Du lịch cùng toàn thể Ban Giám hiệu Trường Đại học Thương mại gia
đình, bạn đã luôn quan tâm, giúp đỡ, động viên đồng hành với nhóm trong quá trình
học tập và nghiên cứu.
Do lần đầu tiên làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, trong khuôn khổ thời gian có
hạn nên bài nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Kính mong các thầy
giáo cùng bạn quan tâm, đóng góp ý kiến để đề tài nghiên cứu ngày càng hoàn
chỉnh hơn.
Nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 2 năm 2023
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài
Về mặt lý luận
Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của Internet công nghệ thông tin trong thời đại 4.0
đã thay đổi hành vi của khách du lịch .Sự bùng nổ của các ứng dụng di động và hệ thống
trực tuyến đã tác động tích cực đến phương thức tiếp cận, chia sẻ thông tin du lịch, lựa
chọn điểm đến, nơi lưu trú, địa điểm ăn uống cũng như đặt mua dịch vụ của khách du
lịch. Đồng thời, các tổ chức đã bắt đầu ngày càng chú trọng giao tiếp, tương tác với
khách hàng thông qua các ứng dụng trên internet. Quảng cáo qua mạng hội như
Facebook, Twitter hay các trang mạng tương tự tiếp tục được các khách sạn ưu tiên, chủ
yếu do khách du lịch sử dụng ngày một nhiều mạng hội. Gần 100% khách sạn tham
gia khẳng định họ sử dụng kênh này để thu hút sự chú ý từ người dùng mạng xã hội. Với
các ứng dụng điện tử, rào cản không gian, thời gian đang dần biến mất cả thế giới
đang ngày càng trở thành một cộng đồng tích hợp người mua người bán. Do vậy, đặt
phòng trực tuyến đang dần trở thành cách thức phổ biến để người tiêu dùng mua dịch vụ
du lịch.
Hệ thống đặt phòng trực tuyến một phần mềm cho phép người tiêu dùng đặt phòng
thanh toán trực tiếp tại một website hoặc ứng dụng mọi thứ như ngày đặt phòng, thời
gian lưu trú thanh toán đều được xử trực tuyến (Johnston, 2017). Sự hiện diện của
hệ thống đặt phòng trực tuyến tạo điều kiện dễ dàng cho khách hàng tìm thông tin về giá,
về dịch vụ, về các chương trình khuyến mãi…giao tiếp trực tiếp với khách sạn bất cứ
lúc nào, bất cứ nơi đâu. vậy, hệ thống đặt phòng trực tuyến như một kênh bán hàng,
kênh phân phối giúp khách hàng dễ dàng hơn trong việc chọn lựa sản phẩm, dịch vụ; tạo
điều kiện thuận lợi cho khách hàng khi ra quyết định mua hàng trực tuyến hoạt động
mua hàng. Hơn nữa, khách hàng thể quản đặt phòng thanh toán cho kỳ nghỉ của
họ trong vòng vài phút đăng ký thông qua hệ thống đặt phòng trực tuyến. Trong bối cảnh
ấy, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến trực tuyến có vai trò rất quaný định đặt phòng
trọng đối với hoạt động kinh doanh của các khách sạn.
Về mặt thực tiễn
Nghiên cứu khảo sát của Ivivu đã đưa ra một kết luận hết sức đáng quan tâm: 65% khách
du lịch tự túc người Việt thói quen đặt phòng trực tiếp tại khách sạn Tuy nhiên, ngày.
nay khách đặt phòng đã thay đổi thói quen đặt phòng của họ, không còn thói quen đặt
phòng qua các công ty du lịch hay các đại bán sỉ và thay vào đó sự lên ngôi của các
trang đặt phòng online như: Agoda, Expedia, Booking.com,… Theo Tổ chức Du lịch Thế
giới, số lượng khách du lịch quốc tế toàn cầu năm 2019 đã vượt mốc 1,4 tỷ lượt khách,
tăng khoảng 80 triệu lượt so với năm 2018. Năm 2019, tổng lượng khách du lịch toàn cầu
dự kiến tăng khoảng 6% so với năm 2018. Dự báo đến năm 2023, số lượng khách du lịch
đạt khoảng 1.5-1.6 tỷ lượt, năm 2030 khoảng 1.8 tỷ lượt, và khi đó Đông Bắc Á sẽ là khu
vực thu hút nhiều khách du lịch quốc tế nhất với 293 triệu lượt, vượt qua khu vực Nam
Âu, Địa Trung Hải (264 triệu lượt) và Tây Âu (222 triệu lượt). Trong đó, Đông Nam Á sẽ
trở thành khu vực thu hút khách du lịch quốc tế lớn thứ 4 thế giới với 187 triệu lượt.
Cũng theo dự đoán của Tổ chức Du lịch Thế giới, đến năm 2030, khách du lịch đi với
mục đích tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí chiếm 54% tổng lượng khách du lịch quốc tế;
với mục đích thăm hỏi, sức khỏe tôn giáo chiếm khoảng 31%; với mục đích công việc
nghề nghiệp chiếm 15%. Trong đó, nhu cầu trải nghiệm của khách du lịch hướng tới
những giá trị mới đều bị hấp dẫn bởi giá trị văn hoá truyền thống, giá trị về tự nhiên, giá
trị sáng tạo, ứng dụng khoa học, công nghệ cao… Để đáp ứng được nhu cầu du lịch hiệu
quả, không bị rào cản về khoảng cách, rút ngắn thời gian đi lại, về phương tiện vận
chuyển khách cũng được du khách đặc biệt quan tâm, trong đó việc cần phát triển các
dịch vụ đặt phòng khách sạn trực tuyến. Đặc biệt, trong bối cảnh thế giới đang gặp phải
các vấn đề như biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh hay điển hình gần đây
nhất là đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng rất lớn đến ngành du lịch và việc kinh doanh dịch
vụ khách sạn, ảnh hưởng trực tiếp đến ý định hành vi của khách du lịch. Điều này đặt ra
một vấn đề không nhỏ với các nhà quản hoạch định chính sách cần đưa ra các tiêu
chí, hướng giải quyết phù hợp để thích nghi với tình hình mới. việc đặt phòng khách
sạn thông qua hệ thống thông tin trực tuyến đã và đang ngày càng thu hút nhiều hơn sự
quan tâm của du khách, đáp ứng nhu cầu một cách tối đa, cung cấp thông tin đầy đủ cho
du khách trong quá trình tìm kiếm trải nghiệm.
Tại Việt Nam, trong s8 nguồn thu từ dịch vụ phục vụ khách du lịch, doanh thu từ khối
kinh doanh nhà hàng khách sạn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng doanh thu. Dịch vụ
cho thuê phòng chiếm 23%, dịch vụ ăn uống chiếm 23% dịch vụ đi lại chiếm 21%.
Tổng nguồn thu từ 3 dịch vụ cơ bản này chiếm 67%; còn lại 33% là tổng doanh thu từ các
dịch vụ khác; trong đó, 14% từ hoạt động mua sắm, 8% từ tham quan, 4% văn hoá,
thể thao, giải trí, 1% là y tế và 6% là từ các dịch vụ khác (theo Tổng cục Du lịch). Qua đó
thể thấy, du lịch Việt Nam cần đẩy mạnh hơn nữa việc phát triển kinh doanh các dịch
vụ khách sạn, trong đó đặc biệt cần phát triển việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến
ý định đặt phòng trực tuyến của khách du lịch để phù hợp với các tiêu chí của thời đại
mới.
Là thủ đô cũng như một trong những thành phố phát triển nền kinh tế trọng điểm của Việt
Nam, Nội đang những lợi thế nhất định cho việc đẩy mạnh kinh doanh trực tuyến,
hay cụ thể việc đặt phòng khách sạn trực tuyến tại địa bàn. Nội được đánh giá
điểm đến hấp dẫn với nhiều loại hình du lịch phong phú đặc sắc, hệ thống sở lưu trú
phát triển đáp ứng nhu cầu lưu trú của khách, đặc biệt là khách cao cấp. Tính đến hết năm
2020, trên địa bàn thành phố 576 sở lưu trú du lịch với tổng số buồng đạt 21.757
buồng, trong đó phòng khách sạn 5 sao 4.789 buồng, phòng khách sạn 4 sao 2.239
buồng,… Trong 6 tháng đầu năm 2021, lượng khách du lịch đến Nội đạt gần 12 triệu
lượt, tăng 8% so với cùng kỳ năm 2020; khách quốc tế đạt gần 5 triệu lượt, tăng 5% so
với cùng kỳ năm 2020. Dựa trên hiện trạng nhu cầu du lịch của du khách, các khách sạn
trên địa bàn ngày một phát triển cải tiến nhiều hơn. Du khách hoàn toàn thể cập
nhật thông tin về các điểm đến du lịch tại Nội, đặt vé, phòng khách sạn qua mạng,
nhận các thông tin sự kiện văn hóa, du lịch Nội; đánh giá, góp ý về chất lượng dịch
vụ, phục vụ của du lịch thủ đô,... Nội cũng đã đầu bài bản phát triển DLTM bằng
việc xây dựng một cổng thông tin chung cho du lịch Thủ đô với tên miền
https://sodulich.hanoi.gov.vn hoặc ứng dụng cho điện thoại thông minh là: Visit Hanoi
chạy trên các hệ điều hành di động iOS Android. Sở Du lịch đang tiếp tục phối hợp
với đối tác xây dựng ứng dụng với tên gọi Myhanoi trên App Store Google Store.
Phần mềm ứng dụng DLTM trên thiết bị di động tên gọi "myHanoi" sẽ được tích hợp
bản đồ số du lịch Thủ đô, giúp các “thượng đế” tìm kiếm thông tin hữu ích một cách chủ
động trong suốt chuyến đi; từ việc tra cứu các thông tin bản, các sự kiện đang sắp
diễn ra, lịch trình chuyến bay, tàu xe,... tới việc kết nối du khách với các điểm đến, nhà
hàng, khách sạn, siêu thị, sở mua sắm, đặc biệt giúp khách hàng tìm ra những lựa
chọn phù hợp cho địa điển lưu trú như giá phòng khách sạn, các dịch vụ kèm theo như
giặt là, bể bơi, ăn sáng tại khách sạn, dịch vụ dọn phòng,… MyHanoi được xem như một
trợ lý du lịch ảo uy tín cho du khách. Bên cạnh đó, việc bố trí vị trí của các khách sạn trên
địa bàn Nội cũng một sự sắp xếp có chủ đích của các nhà kinh doanh, chẳng hạn
như các khách sạn nằm gần trung tâm thành phố như Somerset, Marriott Hotel Hanoi,
Intercontinental Lanmark 72, Pan Pacific… thuận tiện cho trải nghiệm của du khách tại
thủ đô của đất nước. Để việc kinh doanh dịch vụ khách sạn ngày càng phát triển, việc đẩy
mạnh, nâng cao chất lượng của các kênh trực tuyến về khách sạn đóng vai trò hết sức
quan trọng, tác động trực tiếp đến nhu cầu của du khách trong bối cảnh hiện nay.
Mặc vậy, không phải bất cứ khách sạn nào trên địa bàn cũng tiếp cận được những
công nghệ hiện đại để phục vụ nhu cầu của du khách. Đồng thời, những tác động nặng nề
của đại dịch Covid-19 đã làm trì trệ sự phát triển kinh doanh khách sạn tại Nội. Năm
2021, tổng thu từ khách du lịch nội địa đạt 11,28 nghìn tỷ đồng (bằng 40% tổng thu năm
2020 bằng 23% kế hoạch đề ra), công suất sử dụng phòng trung bình khối khách sạn
1- 5 sao ước đạt 23%, so với m 2020 giảm 7%. Rơi vào giai đoạn khó khăn chưa
từng có, các hầu hết tạm thời “đóng băng”.hoạt động kinh doanh khách sạn
Do vậy, việc phát triển hình đặt phòng khách sạn trực tuyến Việt Nam nói chung
Nội nói riêng nhiệm vụ cấp thiết. Tuy nhiên, việc phát triển hình đặt phòng
khách sạn trực tuyến tại Nội hiện còn rất nhiều khó khăn. doanh nghiệpThứ nhất
kinh doanh dịch vụ khách sạn còn thiếu kinh nghiệm. So với các tập đoàn khách sạn
nước ngoài bề dày trăm năm lịch sử, ưu thế vượt trội về tài chính kinh nghiệm
thương mại điện tử, truyền thông tiếp thị online, thì các khách sạn Việt Nam nói chung và
tại Nội nói riêng còn quá non trẻ quy nhỏ, kinh doanh theo hình truyền
thống. thế, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp này trên thị trường online chưa
được như kỳ vọng. khó khăn về nguồn nhân lực. Muốn phát triển kinh doanhThứ hai
khách sạn trực tuyến cần một đội ngũ nhân viên giàu kinh nghiệm để giải quyết các
vấn đề vướng mắc trong quá trình xử lý thông tin đặt phòng khách sạn của du khách. Tuy
nhiên, các trường đào tạo khách sạn - du lịch hiện nay vẫn thiên về cách dạy truyền
thống, khả năng thích ứng công nghệ còn chậm. Để nhân sự đáp ứng tốt mảng công nghệ
trong quản lý khách sạn, công ty thường phải bỏ chi phí, thời gian đào tạo lại từ đầu. Thứ
ba, so với các quốc gia trên thế giới, Việt Nam trình độ công nghệ còn hạn chế.
thế, việc nghiên cứu, sản xuất các sản phẩm công nghệ ứng dụng cho kinh doanh khách
sạn vẫn còn nhiều hạn chế, cũng như sự tiếp cận, nhận biết của du khách vẫn còn gặp
phải nhiều rào cản, mức độ sẵn sàng về công nghệ để phát triển nó ở Hà Nội chưaThứ tư,
cao cùng với đó hạ tầng cơ sở cũng đangvấn đề bất cập. Xây dựng hạ tầng viễn thông
tại các điểm du lịch tại Nội không hề đơn giản, hạ tầng công nghệ thông tin (mạng
lưới viễn thông, trang thiết bị hiện đại đi kèm) ở các quận, huyện không đồng đều, chênh
lệch rõ rệt giữa khu vực nội thành, khu vực trọng điểm so với các vùng ngoại thành, nông
thôn,… Có thể lấy ví dụ như tiến độ lắp đặt trạm phát sóng điện thoại di động của VNPT
Hà Nội tại một số địa phương bị chậm do chưa nhận được sự đồng thuận từ người dân.
Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần tìm ra những giá trị tiêu biểu về thế mạnh, tập trung phát triển
kinh doanh theo mô hình trực tuyến để phù hợp với bối cảnh của thời đại.Từ đây tạo điều
kiện thuận lợi cho du lịch tại Nội phát triển đồng đều, sánh bước cùng sự phát triển
chung của đất nước, thúc đẩy phát triển nền kinh tế Việt Nam. Do đó, việc nghiên cứu
các nhân tố ảnh hưởng đến việc đặt phòng khách sạn trực tuyến là hết sức cần thiết.
Xuất phát từ những do khách quan trên, nhóm nghiên cứu quyết định lựa chọn đề tài:
“Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi đặt phòng khách sạn trực tuyến của
người dân Hà Nội” để tiến hành nghiên cứu với mong muốn đề xuất một số giải pháp và
kiến nghị tính khả thi góp phần phát triển sản phẩm dịch vụ khách sạn phù hợp hơn
với nhu cầu của khách du lịch nội địa và quốc tế trong thời gian tới.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Mục tiêu nghiên cứu: Tìm hiểu các yếu tố như giá cả, truyền miệng trực tuyến, tính
hữu ích, dịch bệnh, rủi ro, bảo mật ảnh hưởng đến hành vi đặt phòng khách sạn trực
tuyến của người dân Hà Nội.
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để giải quyết được mục tiêu nghiên cứu đề ra, nhiệm vụ của đề
tài bao gồm:
Một là, khảo sát, thu thập số liệu, hệ thống hoá các vấn đề luận chung về kinh doanh
khách sạn, dịch vụ đặt phòng trực tuyến tại các khách sạn trên địa bàn Nội. Làm
các điều kiện, nội dung, tiêu chí ảnh hưởng đến hành vi đặt phòng khách sạn trực tuyến.
Xác định, đánh giá các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh doanh dịch vụ
khách sạn trực tuyến. Nghiên cứu kinh nghiệm từ các đề tài nghiên cứu trước đó cả
trong nước nước ngoài, rút ra các bài học kinh nghiệm cho kinh doanh khách sạn trực
tuyến tại Hà Nội.
Hai là, phân tích thực trạng phát triển kinh doanh khách sạn cũng như những yếu tố cụ
thể tác động đến hành vi đặt phòng khách sạn của du khách trên địa bàn Hàn Nội, làm rõ
tầm quan trọng của các điều kiện phát triển đó.
Ba là, đề xuất các giải pháp kiến nghị nhằm phát triển, nâng cao số lượng du khách,
cải thiện ý định và hành vi của du khách về đặt phongf khách sạn trực tuyến tại Hà Nội.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi đặt phòng khách
sạn trực tuyến của người dân Hà Nội.
* Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung nghiên cứu:
Đề tài tập trung vào nghiên cứu các yếu tố tác động đến hành vi đặt phòng trực tuyến của
người dân trên địa bàn Nội, trong đó tập trung làm các điều kiện, nội dung tiêu
chí phát triển, những lợi thế mà doanh nghiệp đang nắm giữ đề định ra hướng đi phù hợp
trong tương lai; phân tích cụ thể những tiêu chí chuẩn chủ quan mà người dân Hà Nội đặt
ra, từ đó đề xuất khung nghiên cứu với các điều kiện phát triển sự thay đổi tương ứng
trong bối cảnh hiện nay để doanh nghiệp nâng cao doanh thu, tạo dựng thương hiệu.
Đề tài cũng tiến hành kiểm định khung nghiên cứu các biến quan sát để làm tăng độ tin
cậy làm tầm quan trọng của việc phát triển hình kinh doanh đặt phòng khách
sạn trực tuyến thông qua hình, thang đo. Từ đó xác định được các giải pháp ưu tiên
nhằm phát triển kinh doanh khách sạn trên địa bàn Hà Nội.
- Phạm vi về không gian nghiên cứu: Đề tài giới hạn nghiên cứu trên địa bàn thành phố
Hà Nội.
- : Số liệu thứ cấp sử dụng trong đề tài được thu thậpPhạm vi về thời gian nghiên cứu
trong giai đoạn từ tháng 10/ 2022 đến tháng 11/2022; số liệu điều tra cấp được thu
thập từ tháng 12/2022 đến tháng 1/2023. Các giải pháp, kiến nghị được đề xuất đến năm
2025 và tầm nhìn đến năm 2030.
4. Tính mới và đóng góp của đề tài
- Về lý thuyết: Nghiên cứu này sẽ giúp phần làm sáng tỏ về những nhân tố tác động đến ý
định, hành vi đặt phòng trực tuyến của người dân trên địa bàn Nội, phân tích cụ thể
nguyên nhân khiến lượng khách đặt phòng trực tuyến ngày càng tăng cao, những ưu thế
đáng ghi nhận của việc đặt phòng khách sạn trực tuyến. Nghiên cứu này cũng sẽ làm
những nhân tố ảnh hưởng tới lòng trung thành của khách du lịch đối với phương thức đặt
phòng khách sạn trong tương lai, từ đó xác định được mức độ ảnh hưởng của những nhân
tố ấy.
* Về thực tiễn:
- Đối với các tổ chức/doanh nghiệp
Bài nghiên cứu sẽ giúp các khách sạn nắm bắt thêm được tầm quan trọng của việc phát
triển kinh doanh dịch vụ khách sạn thông qua các kênh thông tin trực tuyến, đặc biệt
trong bối cảnh tình hình mới hiện nay, qua đó cung cấp thêm thông tin, các chỉ số, thang
đo đáng tin cậy cho các khách sạn đã, đang và sẽ gia nhập vào thị trường kinh doanh hoạt
động cả trực tiếp trực tuyến. Từ đó, khách sạn thể cải thiện những yếu tố tác
động tích cựctiêu cực, đưa ra hướng đi rõ ràng trong sự phát triển hình ảnh khách sạn
cách để giữ chân khách hàng. Đây cũng nguồn tài liệu tham khảo để các khách sạn
thể dựa vào đó để nâng cao nhận thức của nhân viên về tác phongthái độ phục vụ,
nâng cao kỹ năng nghiệp vụ của cá nhân và tập thể.
- Đối với xã hội
Nghiên cứu này sẽ chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng tới hành vi đặt phòng trực tuyến của
người dân trên địa bàn Hà Nội, phân tích cụ thể các nhân tố đó, nâng cao nhận thức, tiêu
chí để lựa chọn phục vụ khách hàng một cách toàn diện, đáp ứng nhu cầu ngày một
hoàn thiện hơn. Từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ ngành khách sạn tại Việt Nam, nâng
cao hình ảnh ngành công nghiệp khách sạn Việt với quốc tế.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần lời cảm ơn, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục sơ đồ, hình vẽ, danh mục
từ viết tắt, phần mở đầu, tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài được kết cấu gồm 4 chương:
- Chương 1: sở luận tổng quan nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hành
vi đặt phòng khách sạn trực tuyến
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến các nhân tố ảnh hưởng đến
hành vi đặt phòng khách sạn trực tuyến của người dân Hà Nội
- Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu và kiến nghị
CHƯƠNG 1: SỞ LUẬN TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÁC YẾU
TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI ĐẶT PHÒNG KHÁCH SẠN TRỰC TUYẾN
1.1. Khái quát về hành vi đặt phòng khách sạn trực tuyến
Trong những năm gần đây, sự trỗi dậy của những phát minh công nghệ mới như truy cập
internet tốc độ cao hay việc áp dụng các web đã gia tăng số lượng các nền tảng truyền
thông dành nơi người dùng sản xuất nội dung, dẫn đến sự chuyển đổi từ hình thức truyền
miệng sang nhiều loại hình cộng đồng điện tử mạng lưới thực tế ảo số ý kiến về
khách sạn, điểm đến du lịch dịch vụ du lịch thường được ràng dưới hình thức đánh
giá của người tiêu dùng trực tuyến (Sigala, 2009). Đồng thời, tìm kiếm thông tin liên
quan đến kế hoạch của họ, từ các chuyến bay đến đặt phòng khách sạn, đã trở thành một
bước không thể thiếu trong quá trình ra quyết định của khách du lịch (Guillet Law,
2011; IP và cộng sự, 2011; Litvin và cộng sự, 2008; Ye et al., 2011).
Báo cáo của Ananadan Sipahimalani (2017) cho thấy, du lịch trực tuyến đạt 26,6 tỷ
USD, dẫn đầu là tăng trưởng đặt phòng trực tuyến hàng không và khách sạn, đứng ở vị trí
thứ 3 về tốc độ tăng trưởngvà dự đoán sẽ đạt 9 tỷ USD vào năm 2025. Do đó, đây sẽ
hội rất lớn cho sự phát triển của các Đại du lịch trực tuyến. Theo thống cấu
từng kênh đặt phòng theo báo cáo của Thornton (2019) cho thấy, trên thị trường kinh
doanh sở lưu trú chỉ nói riêng khách sạn 05 sao tại Việt Nam thì tỉ lệ đặt phòng được
bán cho các đại lý du lịch trực tuyến OTA (25,6%), xếp thứ 02 trên thị trường, xếp sau số
lượng phòng bán cho các công ty lữ hành các nhà điềunh tour (30,4 %). Ngoài ra,
người dân ngày càng đi du lịch nhiều hơn, theo số liệu thống của Tổng cục du lịch
(2019) thì cả nước 85 triệu lượt khách du lịch nội địa, tăng 6,3% so với năm 2018.
Trong các giao dịch điện tử thì hoạt động liên quan đến du lịch (bao gồm du lịch lưu
trú) chiếm hơn 108 tỷ Việt Nam đồng, tăng lên 12% so với năm 2018 (Tổng cục Du lịch,
2019).
Trong môi trường tăng trưởng cao này, điều quan trọng đối với các đại du lịch trực
tuyến phải hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng để thể được
triển khai một cách chính xác nhằm củng cố các yếu tố tác động đến khách hàng nhiều
nhất (Dutta cộng sự, 2017). Một trong những thách thức của các doanh nghiệp tham
gia dịch vụ du lịch trực tuyến là giữ khách hàng, hay nói cách khác là tạo sự hài lòng cho
khách hàng thông qua chất lượng dịch vụ cung cấp, từ đó dẫn đến hành vi mua dịch vụ
cuối cùng là tiếp tục sử dụng 3 dịch vụ OTA (Đào Phúc Chiêu Hoàng, 2018). Tuy nhiên,
cho đến thời điểm này, tại Việt Nam chưa nhiều nghiên cứu về nội dung này, đặc biệt
về người dân trên địa bàn Hà Nội người nguồn thu nhập để đi du lịch hoặc tính
chất công việc cần phải di chuyển để công tác, họp, hội thảo. Vì lý do đó, tác giả đã quyết
định lựa chọn nghiên cứu về đề tài: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi đặt
phòng khách sạn trực tuyến của người dân Hà Nội”.
1.2. Tổng quan nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi đặt phòng khách
sạn trực tuyến
1.2.1. Các công trình nghiên cứu trong nước
Theo Nguyễn Quyết Thắng và các cộng sự (2022)
Với mục đích xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng và ý định tiếp tục đặt phòng
qua website của đại du lịch trực tuyến (OTA), nghiên cứu này đã được thực hiện trên
296 đối tượng khách hàng nhân viên văn phòng hiện đang làm việc tại TPHCM. Kết
hợp phương pháp nghiên cứu định tính định lượng thông qua phân tích hình cấu
trúc tuyến tính SEM bằng phần mềm SPSS AMOS. Kết quả nghiên cứu cho thấy,
05 yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng gồm chất lượng thông tin, tính bảo
mật, chất lượng dịch vụ, thiết kế giao diện website, giá cả; trong đó, 03 yếu tố sự hài
lòng, giá cả, niềm tin ảnh hưởng trực tiếp, cùng chiều đến ý định tiếp tục đặt phòng.
Dựa vào kết quả nghiên cứu, các khuyến nghị được như ứng dụng khoa học kỹ thuật, thắt
chặt bảo bảo mật, tạo dựng niềm tin, gia tăng trải nghiệm trực tuyến của người dùng, đề
xuất một số biện pháp gia tăng chất lượng dịch vụ, các chính sách giá, kỹ thuật giảm
giá... nhằm nâng cao sự hài lòng ý định tiếp tục đặt phòng của khách hàng thông qua
website OTA
Chất lượng
thông tin
Tính bảo mật
Sự hài lòng và ý định sử dụng
Chất lượng dịch
vụ
Theo TS. Lê Nguyễn Hậu, Đặng Hoàng Đan Vy
Bài viết được thực hiện dưới dạng đề cương nhằm mục đích tham khảo cung cấp một
số tài liệu cần thiết. Qua đó tạo tiền đề để nghiên cứu về các nhân tố tác động đến quyết
định đặt phòng trực tuyến của người tiêu dùng tại TP HCM. Để nghiên cứu đạt tính xác
thực cao, tác giả đã đưa ra hướng giải quyết vấn đề như sau: Toàn bộ dữ liệu thu thập
được xử bằng phần mềm SPSS, bao gồm: - Phân tích thống tả - Phân tích nhân
tố khám phá EFA - Đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha -
Phân tích hồi quy - Phân tích Anova .Qua đó rút ra được các nhân tố tác động đến quyết
định đặt phòng của người tiêu dùng tại TP HCM như sau: (1): Thái độ, (2): chuẩn chủ
quan, (3):Kiểm soát hành vi cảm nhận,(4): Mong đợi về giá
Thiết kế giao
diện website
Niềm tin Giá cả
Thái độ
Ý định đặt phòng trực tuyến
Chuẩn chủ quan
Kiểm soát hành vi
cảm nhận
Mong đợi về giá
Theo Bùi Thanh Tráng (2019)
Nghiên cứu này nhằm mục đích xác định các nhân tố liên quan đến nhận thức rủi ro tác
động đến ý định mua sắm trực tuyến của khách hàng. Phương pháp nghiên cứu sử dụng
bao gồm định tính và định lượng. Phân tích được thực hiện thông qua kiểm định thang đo
hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá - EFA phân tích hồi quy
tuyến tính bội. Kết quả nghiên cứu chỉ ra nhận thức rủi ro tác động nghịch chiều đến ý
định mua sắm trực tuyến của khách hàng bao gồm 4 nhân tố theo thứ tự từ lớn đến nhỏ:
(1) Rủi ro tài chính, (2) rủi ro sản phẩm, (3) rủi ro bảo mật thông tin, và ro về sự gian lận
của người bán.
1.2.2. Các công trình nghiên cứu nước ngoài
Theo Jin et al., (2014)
Rủi ro sản phẩm
Rủi ro tài chính
Ý định mua sắm trực tuyến
Rủi ro bảo mật
thông tin
Rủi ro về sự gian
lận của người bán
Đứng trên quan điểm của người tiêu dung mua sắm trực tuyến, Jin et al., (2014) đã đánh
giá mối liên hệ của hai nhân tố là nhận thức sự hữu ích và sự tin cậy đến hành vi mua sắm
trực tuyến của người tiêu dung miền bắc Malaysia. Kết quả của công trình cho thấy sự
hữu ích sự tin cậy những nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới hành vi mua sắm trực
tuyến của người tiêu dung ở miền Bắc Malaysia.
Theo Khomson Tunsakul và cộng sự (2020)
Sự phát triển bùng nổ của Internet đã tạo điều kiện cho thương mại điện tửbán lẻ trực
tuyến phát triển. Người tiêu dùng cũng được hưởng lợi từ việc tùy chỉnh sản phẩm
dịch vụ, dễ dàng giao dịch và thời gian thực truyền thông tương tác. Người tiêu dùng Gen
Z đối tượng chính trong nghiên cứu này do số lượng ngày càng tăng sự ảnh hưởng
của họ trên thị trường toàn cầu, bao gồm cả Thái Lan. Nghiên cứu Khomson Tunsakul và
cộng s(2020). Động cơ, thái độ và ý định mua sắm trực tuyến của người tiêu dung Gen
Z nhằm điều tra xem liệu ý định mua sắm trực tuyến của Gen Zbị ảnh hưởng bởi các
biến như động cơ, tính đơn giản và tính hữu ích không. Ngoài ra, thái độ đối với mua sắm
trực tuyến đã được đưa ra giả thuyết để làm trung gian cho mối quan hệ giữa các biến độc
lập và ý định mua sắm trực tuyến. Phân tích cho thấy động lợi ích ảnh hưởng
đáng kể đến thái độ đối với mua sắm trực tuyến. Hơn nữa, thái độ đối với mua sắm trực
tuyến đã có một tác động đáng kể đến ý định mua sắm trực tuyến.
Nhận thức sự
hữu ích
Hành vi mua trực
tuyến
Sự tin cậy
Động cơ
Ý định mua sắm trực
tuyến
Thái độ sử dụng
Sự đơn giản
Theo Rong et al. (2007)
Trung quốc là một cường quốc nền kinh tế phát triển manh mẽ cùng dân số đông nhất
thế giới. Với những đặc điểm thuận lợi vốncủa mình, quốc gia này đã, đang sẽ tạo
ra nhiều hội tốt cho hoạt động kinh doanh doanh nghiệp phải kể đến lĩnh vực mua
sắm trực tuyến. Một số trang web nổi tiếng như: Alibaba, Taobao.com,… được biết đến
rất rộng rãi. Đề tài nghiên cứu Rong et al. (2007) phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới ý
định mua sắm trực tuyến.
Tính hữu ích
Kiến thức về TMĐT
Danh tiếng cảm nhận Ý định mua sắm trực
tuyến
Sự tin tưởng
Rủi ro
Sự dễ sử dụng
1.3. sở thuyết về các yếu tố tác động đến hành vi đặt phòng khách sạn trực
tuyến
1.3.1. Lý thuyết hành vi mua sắm của người tiêu dùng
1.3.1.1. Hành vi người tiêu dùng
Hành vi người tiêu dùng phản ánh tổng thể các quyết định của người tiêu dùng
đối với việc thu nhận, tiêu dùng, loại bỏ hàng hóa, bao gồm sản phẩm, dịch vụ, hoạt động
ý tưởng, bởi các đơn vị ra quyết định (con người) theo thời gian. Đối với đề tài nhóm
nghiên cứu đang thực hiện, hành vi cụ thể hành vi đặt phòng khách sạn trực tuyến của
người dân trên địa bàn Hà Nội.
1.3.1.2. Tiến trình mua của người tiêu dùng
Tiến trình mua của người tiêu dùng có thể được mô hình hóa thành năm giai đoạn:
ý thức về nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá các phương án, quyết định mua hành
vi sau khi mua. Như vậy, tiến trình quyết định mua của người tiêu dùng đã bắt đầu trước
khi việc mua thực sự diễn ra và còn kéo dài sau khi mua (Philip Kotler).
1.3.1.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến hành vi mua sắm của người tiêu dùng
a. Các yếu tố thuộc về văn hoá-xã hội: Văn hoá, nhánh văn hoá, địa vị xã hội.
b. Các yếu tố mang tính chất nhân: Tuổi tác giai đoạn trong đời sống gia
đình, nghề nghiệp, tình trạng kinh tế, lối sống, cá tính.
c. Các yếu tố mang tính chất xã hội : Nhóm tham khảo, gia đình, vai trò và địa vị.
d. Các yếu tố mang tính chất tâm : Động cơ, tri giác, lĩnh hội, niềm tin thái
độ.
Nghiên cứu hành vi của con người trong các môi trường khác nhau một trong
những chủ đề nghiên cứu được nhiều học giả quan tâm. Một trong số các nghiên cứu đó
phân tích mối quan hệ giữa thái độ của con người các hành vi. Từ năm 1862, các nhà
tâm học đã bắt đầu phát triển các thuyết về mối quan hệ giữa thái độ hành vi,
chứng minh rằng thái độ có thể lý giải cho các hành động. Hoặc nói cách khác thái độ của
con người ảnh hưởng đến hành động hay hành vi của con người.
Hình ….: Mối quan hệ giữa thái độ và hành vi
1.3.2. Lý thuyết hành động hợp lí (TRA)
Hình….: Thuyết hành động hợp lý TRA (Ajzen và Fishbein, 1975)
Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action) được Ajzen và Fishbein xây dựng
từ cuối thập niên 60 của thế kỷ 20 được hiệu chỉnh mở rộng trong thập niên 70. Theo
TRA, ý định hành vi (Behavior Intention) yếu tố quan trọng nhất dự đoán hành vi tiêu
dùng. Ý địnhnh vi bị ảnh hưởng bởi hai yếu tố: thái độ (Attitude) chuẩn chủ quan
(Subjective Norm). Trong đó, thái độ biểu hiện yếu tố nhân thể hiện niềm tin tích
cực hay tiêu cực của người tiêu dung đối với của sản phẩm. Còn chuẩn chủ quan thể hiện
ảnh hưởng của quan hệ xã hội lên cá nhân người tiêu dùng.
1.3.3. Thuyết nhận thức rủi ro
Trong thuyết nhận thức rủi TPR (Theory of Perceived Risk), Bauer (1960) cho rằng hành
vi tiêu dùng sản phẩm công nghệ thông tin nhận thức rủi ro, bao gồm hai yếu tố: (1)
Thái độ Hành vi/ hành động
nhận thức rủi ro liên quan đến sản phẩm/dịch vụ (2) nhận thức rủi ro liên quan đến
giao dịch trực tuyến.
Hình….: Thuyết nhận thức rủi ro PRT (Bauer, 1960)
Thành phần nhận thức rủi ro liên quan đến sản phẩm dịch vụ: như mất tính năng, mất tài
chính, tốn thời gian, mất cơ hội và nhận thức rủi ro toàn bộ đối với sản phẩm/dich vụ.
Thành phần nhận thức rủi ro liên quan đến giao dịch trực tuyến: các rủi ro thể xảy ra
khi người tiêu dùng thực hiện giao dịch trên các phương tiện điện tử như: sự bí mật, sự an
toàn và nhận thức rủi ro toàn bộ về giao dịch.
1.3.4. Mô hình chấp nhận thương mại điện tử (e-CAM)
Hình….: hình chấp nhận thương mại điện tử E-CAM (Joongho Ahn, Jinsoo
Park, Dongwon Lee, 2001)
Tác giả Joongho Ahn và cộng sự (2001) đã xây dựng mô hình chấp nhận sử dụng thương
mại điện tử E-CAM (E-commerce Adoption Model) bằng cách tích hợp hình TAM
của Davis (1986) với thuyết nhận thức rủi ro. hình E-CAM được nghiên cứu thực
nghiệm hai thị trường Hàn Quốc Mỹ giải thích sự chấp nhận sử dụng thương mại
điện tử.
1.4. hình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi đặt phòng khách sạn
trực tuyến
1.4.1. Hành vi đặt phòng khách sạn trực tuyến các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi
đặt phòng khách sạn trực tuyến
1.4..1.1. Hành vi đặt phòng khách sạn trực tuyến
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ trong thời đại ngày nay, ngày càng
có nhiều dịch vụ cung ứng thỏa mãn nhu cầu tối ưu của con người, trong đó có sự phát
triển của việc đặt phòng khách sạn trực tuyến. Đặt phòng trực tuyến hay còn gọi là đặt
phòng online, là hình thức đặt phòng thông qua các Website (có thể là Website của chính
khách sạn đó hoặc kênh đặt khách sạn trực tuyến). Đây là hình thức đặt khách sạn trung
gian qua Internet mà không cần phải trao đổi trực tiếp với khách sạn mà bạn muốn đặt.
Ưu điểm lớn của cách đặt phòng này là là ở điểm thuận tiện, nhanh gọn. Chỉ cần
một cú nhấp chuột, bạn đã có thể đặt được phòng không lo về giá cả hay “chặt chém”.
Thông tin được cung cấp rất minh bạch, rõ ràng. Ngoài ra, với các thông tin mà các trang
cung cấp, bạn có thể dễ dàng so sánh, đánh giá và cân nhắc để chọn ra được một khách
sạn phù hợp với nhu cầu. Nếu là lần đầu đến với một điểm du lịch nào đó, bạn nên cân
nhắc việc đặt phòng khách sạn trực tuyến để tiết kiệm thời gian, không lo bỡ ngỡ. Đây
cũng chính là lí do để hình thành của con hành vi đặt phòng khách sạn trực tuyến
người nói chung và người dân trên địa bàn Hà Nội nói riêng.
1.4.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi đặt phòng khách sạn trực tuyến
Qua quá trình tham khảo các tài liệu đi trước, nhóm nghiên cứu đã chọn lọc ra
những yếu tố cốt lõi, chủ đạo và có ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi đặt phòng khách sạn
trực tuyến của người dân. Mỗi yếu tố sẽ những tác động những mặt khác nhau của
tâm chung hành vi người tiêu dùng, từ đó hình thành hành vi chuẩn mực của đa số
người dân khi đặt phòng khách sạn.
, có ảnh hưởng đến hành vi đặt phòng khách sạn trực tuyến. Giá cảThứ nhất giá cả
khi đặt phòng qua đại lý kinh doanh trực tuyến là tổng chi phí mà khách hàng bỏ ra để
sử dụng dịch vụ lưu trú. Trong mua sắm trực tuyến, khách hàng có xu hướng so sánh giá
được cung cấp bởi nhà cung cấp hiện tại với giá được cung cấp bởi các nhà cung cấp
khác (Kim và cộng sự, 2012). Nghiên cứu của Yulisetiarini và cộng sự (2017) cho thấy,
giá và chất lượng dịch vụ có ảnh hưởng quan trọng đến sự hài lòng và ý định mua
lại của khách hàng trực tuyến ở Indonesia. Đào Phúc Chiêu Hoàng (2018) đã
khẳng định rằng, giá cả là mối ưu tiên hàng đầu của khách hàng khi đặt phòng khách
sạn trực tuyến. Ngoài ra, công cụ tìm kiếm trên các website đặt phòng khách sạn ngày
nay có thể cho phép hiển thị mức giá hiện tại của nhiều khách sạn khác nhau tại một địa
điểm nhất định, giá cả thực sự là điểm khác biệt chính giúp phân biệt các đối thủ
cạnh tranh và là yếu tố quyết định đặt mua dịch vụ của khách hàng.Trong nghiên cứu
của tác giả Hong (2017), yếu tố giá cả có tác động mạnh đến ý định mua lại của khách
hàng. Nhóm tác giả đề cập đến tầm quan trọng của khả năng so sánh giá trên
website đặt phòng khách sạn, cụ thể cho phép khách hàng so sánh giá của các chỗ ở khác
nhau và sau đó chọn một chỗ ở phù hợp với túi tiền của họ nhất. Theo Hasslinger, Selma
Hodzic, Claudio Opazo (2011), người tiêu dùng sẽ cân nhắc chi phí trên hai phương diện
đó là chi phí họ mua hàng khi đi mua trực tiếp và tổng chi phí họ bỏ ra để nhận món hàng
đó trên tay khi mua trực tuyến.
, có ảnh hưởng đến hành vi đặt phòng khách sạn Thứ hai truyền miệng trực tuyến
trực tuyến. Truyền miệng điện tử ra đời dưới sự hình thành của internet, lan tỏa một cách
nhanh và rộng, ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng (Pourabedin và
Migin, 2015). Cụ thể thông qua công cụ tìm kiếm trên internet giúp người mua có thể tìm
kiếm bất kì sản phẩm nào có những thông tin cụ thể và những thảo luận liên quan đến sản
phẩm từ những người tiêu dùng khác. Người tiêu dùng có thể gửi ý kiến, đánh giá sản
phẩm ở nhiều nơi như diễn đàn, website,… Những việc làm như vậy đã tạo ra một cộng
đồng truyền miệng đa dạng. Trong lĩnh vực du lịch khách sạn, các dịch vụ được coi là sản
phẩm vô hình, khó có thể hình dung trong đầu khi khách hàng chưa trải nghiệm, từ đó
việc dự đoán hành vi hay ý định của các khách hàng của các nhà quản trị sẽ trở nên khó
khăn hơn. Chính vì vậy, truyền miệng trực tuyến được coi là loại hình truyền thông có
sức thuyết phục tuyệt vời vì sự tín nhiệm và sự tin tưởng được cảm nhận từ khách hàng.
Trong ngành công nghiệp du lịch và khách sạn, Basarani (2011), Wu (2013) và Le (2014)
đã khẳng định những tiến bộ của công nghệ internet đã làm tăng số lượng người đang sử
dụng internet để tìm kiếm thông tin điểm đến du lịch và tiến hành các giao dịch trực
tuyến. Tương tự, sự tiến bộ của công nghệ, phương tiện truyền thông mới này cho phép
người tiêu dùng tác động qua lại (Jalilvand và Samiei, 2012) và dẫn đến làm thay đổi
hành vi người tiêu dùng (Cantallops và Salvi, 2014). Do đó, khi xét đến các yếu tố ảnh
hưởng đến hành vi đặt phòng khách sạn, không thể bỏ qua yếu tố truyền miệng trực
tuyến.
, có ảnh hưởng đến hành vi đặt phòng khách sạn trực tuyến. Thứ ba tính hữu ích
Tính hữu ích của việc đặt phòng khách sạn trực tuyến bao hàm sự tiện lợi, sự lựa chọn
sản phẩm và dịch vụ, thông tin phong phú đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng.
Phần lớn các nghiên cứu đã chỉ ra sự tiện lợi và tiết kiệm thời gian là những lý do chính
thúc đẩy người sử dụng đặt phòng khách sạn trực tuyến. Thực tế đã chứng minh, việc tìm
kiếm sản phẩm, dịch vụ qua Internet nói chung và các trang mua sắm trực tuyến nói riêng
sẽ nhanh chóng, tiện lợi và giảm nhiều công sức cũng như chi phí. Cùng một thời gian, có
thể khám phá ra nhiều loại hàng hóa, nhiều thương hiệu khác nhau, đây là điểm khác biệt
so với mua sắm truyền thống (Tunsakul, 2020).
, có ảnh hưởng đến hành vi đặt phòng khách sạn trực tuyến. Thứ tư dịch bệnh
Không thể phủ nhận rằng đại dịch Covid-19 đã gây ra những tác động mạng mẽ đối với
sự phát triển của nền kinh tế nói chung và với việc kinh doanh dịch vụ khách sạn nói
riêng. Do đại dịch có thể lây lan qua đường hô hấp, tụ tập đông người,… nên khi khách
hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ tại một khách sạn nhất định hoặc sử dụng khách sạn để
cách li thì việc đặt phòng khách sạn trực tuyến trở nên tiện lợi và dễ dàng hơn bao giờ
hết. Ngành khách sạn đã bắt đầu đầu tư vào công nghệ nhiều hơn trong những năm gần
đây. Những kết quả đáng chú ý nhất có thể thấy là sự phát triển của các ứng dụng khách
sạn trên di động nhằm đơn giản hóa việc đặt phòng, cùng với đó là quy trình lắp đặt các
thiết bị xuyên suốt khách sạn nhằm cá nhân hóa trải nghiệm của khách hàng. Vì thế,
trong thời kì dịch bệnh bùng phát, hình thức đặt phòng khách sạn trực tuyến đóng vai trò
xuyên suốt trong việc duy trì doanh thu của toàn bộ ngành kinh doanh khách sạn.
Thứ năm, có ảnh hưởng đến hành vi đặt phòng khách sạn trực tuyến. Bên rủi ro
cạnh những lợi ích của đặt phòng khách sạn trực tuyến, người tiêu dùng cũng rất quan
tâm đến các rủi ro về sản phẩm, dịch vụ, sự không trung thực của người bán, vấn đề
thanh toán, thay đổi lịch trình hay gói dịch vụ khi lưu trú tại khách sạn. Rủi ro sản phẩm
trong đặt phòng khách sạn trực tuyến, đặc biệt với những người mới tham gia hoặc mới

Preview text:

LỜI CẢM ƠN
Thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học vừa qua quả thực là một quãng thời gian
vô cùng ý nghĩa. Bên cạnh sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của bản thân người làm
nghiên cứu, nhóm nghiên cứu còn nhận được sự quan tâm giúp đỡ, được tạo điều kiện
thuận lợi từ mọi phía.
Nhóm nghiên cứu xin được tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Thị Huyền Ngân -
Giảng viên khoa Khách sạn - Du lịch Trường Đại học Thương mại đã tận tình chỉ bảo,
hướng dẫn trong quá trình lựa chọn, nghiên cứu, thực hiện đề tài, hỗ trợ tích cực, tạo
động lực to lớn giúp nhóm hoàn thiện bài nghiên cứu khoa học.
Đồng thời nhóm cũng xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới cộng đồng dân cư địa phương trên
địa bàn Hà Nội, đại diện các khách sạn nổi tiếng đã không ngần ngại bớt chút thời gian
chia sẻ ý kiến và cung cấp thông tin, số liệu tạo điều kiện để nhóm hoàn thành đề tài nghiên cứu này.
Cuối cùng nhóm nghiên cứu xin chân thành gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo khoa
Khách sạn - Du lịch cùng toàn thể Ban Giám hiệu Trường Đại học Thương mại và gia
đình, bạn bè đã luôn quan tâm, giúp đỡ, động viên đồng hành với nhóm trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Do lần đầu tiên làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, trong khuôn khổ thời gian có
hạn nên bài nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Kính mong các thầy
cô giáo cùng bạn bè quan tâm, đóng góp ý kiến để đề tài nghiên cứu ngày càng hoàn chỉnh hơn.
Nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 2 năm 2023 PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài
Về mặt lý luận
Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của Internet và công nghệ thông tin trong thời đại 4.0
đã thay đổi hành vi của khách du lịch .Sự bùng nổ của các ứng dụng di động và hệ thống
trực tuyến đã tác động tích cực đến phương thức tiếp cận, chia sẻ thông tin du lịch, lựa
chọn điểm đến, nơi lưu trú, địa điểm ăn uống cũng như đặt mua dịch vụ của khách du
lịch. Đồng thời, các tổ chức đã bắt đầu và ngày càng chú trọng giao tiếp, tương tác với
khách hàng thông qua các ứng dụng trên internet. Quảng cáo qua mạng xã hội như
Facebook, Twitter hay các trang mạng tương tự tiếp tục được các khách sạn ưu tiên, chủ
yếu do khách du lịch sử dụng ngày một nhiều mạng xã hội. Gần 100% khách sạn tham
gia khẳng định họ sử dụng kênh này để thu hút sự chú ý từ người dùng mạng xã hội. Với
các ứng dụng điện tử, rào cản không gian, thời gian đang dần biến mất và cả thế giới
đang ngày càng trở thành một cộng đồng tích hợp người mua và người bán. Do vậy, đặt
phòng trực tuyến đang dần trở thành cách thức phổ biến để người tiêu dùng mua dịch vụ du lịch.
Hệ thống đặt phòng trực tuyến là một phần mềm cho phép người tiêu dùng đặt phòng và
thanh toán trực tiếp tại một website hoặc ứng dụng và mọi thứ như ngày đặt phòng, thời
gian lưu trú và thanh toán đều được xử lý trực tuyến (Johnston, 2017). Sự hiện diện của
hệ thống đặt phòng trực tuyến tạo điều kiện dễ dàng cho khách hàng tìm thông tin về giá,
về dịch vụ, về các chương trình khuyến mãi… và giao tiếp trực tiếp với khách sạn bất cứ
lúc nào, bất cứ nơi đâu. Vì vậy, hệ thống đặt phòng trực tuyến như một kênh bán hàng,
kênh phân phối giúp khách hàng dễ dàng hơn trong việc chọn lựa sản phẩm, dịch vụ; tạo
điều kiện thuận lợi cho khách hàng khi ra quyết định mua hàng trực tuyến và hoạt động
mua hàng. Hơn nữa, khách hàng có thể quản lý đặt phòng và thanh toán cho kỳ nghỉ của
họ trong vòng vài phút đăng ký thông qua hệ thống đặt phòng trực tuyến. Trong bối cảnh
ấy, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định đặt phòng trực tuyến có vai trò rất quan
trọng đối với hoạt động kinh doanh của các khách sạn.
Về mặt thực tiễn
Nghiên cứu khảo sát của Ivivu đã đưa ra một kết luận hết sức đáng quan tâm: 65% khách
du lịch tự túc người Việt có thói quen đặt phòng trực tiếp tại khách sạn Tuy . nhiên, ngày
nay khách đặt phòng đã thay đổi thói quen đặt phòng của họ, không còn thói quen đặt
phòng qua các công ty du lịch hay các đại lý bán sỉ và thay vào đó là sự lên ngôi của các
trang đặt phòng online như: Agoda, Expedia, Booking.com,… Theo Tổ c hức Du lịch Thế
giới, số lượng khách du lịch quốc tế toàn cầu năm 2019 đã vượt mốc 1,4 tỷ lượt khách,
tăng khoảng 80 triệu lượt so với năm 2018. Năm 2019, tổng lượng khách du lịch toàn cầu
dự kiến tăng khoảng 6% so với năm 2018. Dự báo đến năm 2023, số lượng khách du lịch
đạt khoảng 1.5-1.6 tỷ lượt, năm 2030 khoảng 1.8 tỷ lượt, và khi đó Đông Bắc Á sẽ là khu
vực thu hút nhiều khách du lịch quốc tế nhất với 293 triệu lượt, vượt qua khu vực Nam
Âu, Địa Trung Hải (264 triệu lượt) và Tây Âu (222 triệu lượt). Trong đó, Đông Nam Á sẽ
trở thành khu vực thu hút khách du lịch quốc tế lớn thứ 4 thế giới với 187 triệu lượt.
Cũng theo dự đoán của Tổ chức Du lịch Thế giới, đến năm 2030, khách du lịch đi với
mục đích tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí chiếm 54% tổng lượng khách du lịch quốc tế;
với mục đích thăm hỏi, sức khỏe và tôn giáo chiếm khoảng 31%; với mục đích công việc
và nghề nghiệp chiếm 15%. Trong đó, nhu cầu trải nghiệm của khách du lịch hướng tới
những giá trị mới đều bị hấp dẫn bởi giá trị văn hoá truyền thống, giá trị về tự nhiên, giá
trị sáng tạo, ứng dụng khoa học, công nghệ cao… Để đáp ứng được nhu cầu du lịch hiệu
quả, không bị rào cản về khoảng cách, rút ngắn thời gian đi lại, về phương tiện vận
chuyển khách cũng được du khách đặc biệt quan tâm, trong đó có việc cần phát triển các
dịch vụ đặt phòng khách sạn trực tuyến. Đặc biệt, trong bối cảnh thế giới đang gặp phải
các vấn đề như biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh hay điển hình gần đây
nhất là đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng rất lớn đến ngành du lịch và việc kinh doanh dịch
vụ khách sạn, ảnh hưởng trực tiếp đến ý định hành vi của khách du lịch. Điều này đặt ra
một vấn đề không nhỏ với các nhà quản lý và hoạch định chính sách cần đưa ra các tiêu
chí, hướng giải quyết phù hợp để thích nghi với tình hình mới. Và việc đặt phòng khách
sạn thông qua hệ thống thông tin trực tuyến đã và đang ngày càng thu hút nhiều hơn sự
quan tâm của du khách, đáp ứng nhu cầu một cách tối đa, cung cấp thông tin đầy đủ cho
du khách trong quá trình tìm kiếm trải nghiệm.
Tại Việt Nam, trong số 8 nguồn thu từ dịch vụ phục vụ khách du lịch, doanh thu từ khối
kinh doanh nhà hàng – khách sạn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng doanh thu. Dịch vụ
cho thuê phòng chiếm 23%, dịch vụ ăn uống chiếm 23% và dịch vụ đi lại chiếm 21%.
Tổng nguồn thu từ 3 dịch vụ cơ bản này chiếm 67%; còn lại 33% là tổng doanh thu từ các
dịch vụ khác; trong đó, 14% là từ hoạt động mua sắm, 8% từ tham quan, 4% là văn hoá,
thể thao, giải trí, 1% là y tế và 6% là từ các dịch vụ khác (theo Tổng cục Du lịch). Qua đó
có thể thấy, du lịch Việt Nam cần đẩy mạnh hơn nữa việc phát triển kinh doanh các dịch
vụ khách sạn, trong đó đặc biệt cần phát triển việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến
ý định đặt phòng trực tuyến của khách du lịch để phù hợp với các tiêu chí của thời đại mới.
Là thủ đô cũng như một trong những thành phố phát triển nền kinh tế trọng điểm của Việt
Nam, Hà Nội đang có những lợi thế nhất định cho việc đẩy mạnh kinh doanh trực tuyến,
hay cụ thể là việc đặt phòng khách sạn trực tuyến tại địa bàn. Hà Nội được đánh giá là
điểm đến hấp dẫn với nhiều loại hình du lịch phong phú đặc sắc, hệ thống cơ sở lưu trú
phát triển đáp ứng nhu cầu lưu trú của khách, đặc biệt là khách cao cấp. Tính đến hết năm
2020, trên địa bàn thành phố có 576 cơ sở lưu trú du lịch với tổng số buồng đạt 21.757
buồng, trong đó phòng khách sạn 5 sao là 4.789 buồng, phòng khách sạn 4 sao là 2.239
buồng,… Trong 6 tháng đầu năm 2021, lượng khách du lịch đến Hà Nội đạt gần 12 triệu
lượt, tăng 8% so với cùng kỳ năm 2020; khách quốc tế đạt gần 5 triệu lượt, tăng 5% so
với cùng kỳ năm 2020. Dựa trên hiện trạng nhu cầu du lịch của du khách, các khách sạn
trên địa bàn ngày một phát triển và cải tiến nhiều hơn. Du khách hoàn toàn có thể cập
nhật thông tin về các điểm đến du lịch tại Hà Nội, đặt vé, phòng khách sạn qua mạng,
nhận các thông tin sự kiện văn hóa, du lịch Hà Nội; đánh giá, góp ý về chất lượng dịch
vụ, phục vụ của du lịch thủ đô,... Hà Nội cũng đã đầu tư bài bản phát triển DLTM bằng
việc xây dựng một cổng thông tin chung cho du lịch Thủ đô với tên miền
https://sodulich.hanoi.gov.vn hoặc ứng dụng cho điện thoại thông minh là: Visit Hanoi
chạy trên các hệ điều hành di động iOS và Android. Sở Du lịch đang tiếp tục phối hợp
với đối tác xây dựng ứng dụng với tên gọi Myhanoi trên App Store và Google Store.
Phần mềm ứng dụng DLTM trên thiết bị di động có tên gọi "myHanoi" sẽ được tích hợp
bản đồ số du lịch Thủ đô, giúp các “thượng đế” tìm kiếm thông tin hữu ích một cách chủ
động trong suốt chuyến đi; từ việc tra cứu các thông tin cơ bản, các sự kiện đang và sắp
diễn ra, lịch trình chuyến bay, tàu xe,... tới việc kết nối du khách với các điểm đến, nhà
hàng, khách sạn, siêu thị, cơ sở mua sắm, đặc biệt là giúp khách hàng tìm ra những lựa
chọn phù hợp cho địa điển lưu trú như giá phòng khách sạn, các dịch vụ kèm theo như
giặt là, bể bơi, ăn sáng tại khách sạn, dịch vụ dọn phòng,… MyHanoi được xem như một
trợ lý du lịch ảo uy tín cho du khách. Bên cạnh đó, việc bố trí vị trí của các khách sạn trên
địa bàn Hà Nội cũng là một sự sắp xếp có chủ đích của các nhà kinh doanh, chẳng hạn
như các khách sạn nằm gần trung tâm thành phố như Somerset, Marriott Hotel Hanoi,
Intercontinental Lanmark 72, Pan Pacific… thuận tiện cho trải nghiệm của du khách tại
thủ đô của đất nước. Để việc kinh doanh dịch vụ khách sạn ngày càng phát triển, việc đẩy
mạnh, nâng cao chất lượng của các kênh trực tuyến về khách sạn đóng vai trò hết sức
quan trọng, tác động trực tiếp đến nhu cầu của du khách trong bối cảnh hiện nay.
Mặc dù vậy, không phải bất cứ khách sạn nào trên địa bàn cũng tiếp cận được những
công nghệ hiện đại để phục vụ nhu cầu của du khách. Đồng thời, những tác động nặng nề
của đại dịch Covid-19 đã làm trì trệ sự phát triển kinh doanh khách sạn tại Hà Nội. Năm
2021, tổng thu từ khách du lịch nội địa đạt 11,28 nghìn tỷ đồng (bằng 40% tổng thu năm
2020 và bằng 23% kế hoạch đề ra), công suất sử dụng phòng trung bình khối khách sạn
1- 5 sao ước đạt là 23%, so với năm 2020 giảm 7%. Rơi vào giai đoạn khó khăn chưa
từng có, các hoạt động kinh doanh khách sạn hầu hết tạm thời “đóng băng”.
Do vậy, việc phát triển mô hình đặt phòng khách sạn trực tuyến ở Việt Nam nói chung
và Hà Nội nói riêng là nhiệm vụ cấp thiết. Tuy nhiên, việc phát triển mô hình đặt phòng
khách sạn trực tuyến tại Hà Nội hiện còn rất nhiều khó khăn. Thứ nhất là doanh nghiệp
kinh doanh dịch vụ khách sạn còn thiếu kinh nghiệm. So với các tập đoàn khách sạn
nước ngoài có bề dày trăm năm lịch sử, có ưu thế vượt trội về tài chính và kinh nghiệm
thương mại điện tử, truyền thông tiếp thị online, thì các khách sạn Việt Nam nói chung và
tại Hà Nội nói riêng còn quá non trẻ và quy mô nhỏ, kinh doanh theo mô hình truyền
thống. Vì thế, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp này trên thị trường online chưa
được như kỳ vọng. Thứ hai là khó khăn về nguồn nhân lực. Muốn phát triển kinh doanh
khách sạn trực tuyến cần có một đội ngũ nhân viên giàu kinh nghiệm để giải quyết các
vấn đề vướng mắc trong quá trình xử lý thông tin đặt phòng khách sạn của du khách. Tuy
nhiên, các trường đào tạo khách sạn - du lịch hiện nay vẫn thiên về cách dạy truyền
thống, khả năng thích ứng công nghệ còn chậm. Để nhân sự đáp ứng tốt mảng công nghệ
trong quản lý khách sạn, công ty thường phải bỏ chi phí, thời gian đào tạo lại từ đầu. Thứ
ba
, so với các quốc gia trên thế giới, Việt Nam có trình độ công nghệ còn hạn chế. Vì
thế, việc nghiên cứu, sản xuất các sản phẩm công nghệ ứng dụng cho kinh doanh khách
sạn vẫn còn nhiều hạn chế, cũng như sự tiếp cận, nhận biết của du khách vẫn còn gặp
phải nhiều rào cản, Thứ tư, mức độ sẵn sàng về công nghệ để phát triển nó ở Hà Nội chưa
cao cùng với đó hạ tầng cơ sở cũng đang là vấn đề bất cập. Xây dựng hạ tầng viễn thông
tại các điểm du lịch tại Hà Nội không hề đơn giản, hạ tầng công nghệ thông tin (mạng
lưới viễn thông, trang thiết bị hiện đại đi kèm) ở các quận, huyện không đồng đều, chênh
lệch rõ rệt giữa khu vực nội thành, khu vực trọng điểm so với các vùng ngoại thành, nông
thôn,… Có thể lấy ví dụ như tiến độ lắp đặt trạm phát sóng điện thoại di động của VNPT
Hà Nội tại một số địa phương bị chậm do chưa nhận được sự đồng thuận từ người dân.
Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần tìm ra những giá trị tiêu biểu về thế mạnh, tập trung phát triển
kinh doanh theo mô hình trực tuyến để phù hợp với bối cảnh của thời đại.Từ đây tạo điều
kiện thuận lợi cho du lịch tại Hà Nội phát triển đồng đều, sánh bước cùng sự phát triển
chung của đất nước, thúc đẩy phát triển nền kinh tế Việt Nam. Do đó, việc nghiên cứu
các nhân tố ảnh hưởng đến việc đặt phòng khách sạn trực tuyến là hết sức cần thiết.
Xuất phát từ những lý do khách quan trên, nhóm nghiên cứu quyết định lựa chọn đề tài:
“Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi đặt phòng khách sạn trực tuyến của
người dân Hà Nội”
để tiến hành nghiên cứu với mong muốn đề xuất một số giải pháp và
kiến nghị có tính khả thi góp phần phát triển sản phẩm dịch vụ khách sạn phù hợp hơn
với nhu cầu của khách du lịch nội địa và quốc tế trong thời gian tới.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Mục tiêu nghiên cứu: Tìm hiểu các yếu tố như giá cả, truyền miệng trực tuyến, tính
hữu ích, dịch bệnh, rủi ro, bảo mật có ảnh hưởng đến hành vi đặt phòng khách sạn trực
tuyến của người dân Hà Nội.
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để giải quyết được mục tiêu nghiên cứu đề ra, nhiệm vụ của đề tài bao gồm:
Một là, khảo sát, thu thập số liệu, hệ thống hoá các vấn đề lý luận chung về kinh doanh
khách sạn, dịch vụ đặt phòng trực tuyến tại các khách sạn trên địa bàn Hà Nội. Làm rõ
các điều kiện, nội dung, tiêu chí ảnh hưởng đến hành vi đặt phòng khách sạn trực tuyến.
Xác định, đánh giá các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh doanh dịch vụ
khách sạn trực tuyến. Nghiên cứu kinh nghiệm từ các đề tài nghiên cứu trước đó ở cả
trong nước và nước ngoài, rút ra các bài học kinh nghiệm cho kinh doanh khách sạn trực tuyến tại Hà Nội.
Hai là, phân tích thực trạng phát triển kinh doanh khách sạn cũng như những yếu tố cụ
thể tác động đến hành vi đặt phòng khách sạn của du khách trên địa bàn Hàn Nội, làm rõ
tầm quan trọng của các điều kiện phát triển đó.
Ba là, đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển, nâng cao số lượng du khách,
cải thiện ý định và hành vi của du khách về đặt phongf khách sạn trực tuyến tại Hà Nội.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi đặt phòng khách
sạn trực tuyến của người dân Hà Nội.
* Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung nghiên cứu:
Đề tài tập trung vào nghiên cứu các yếu tố tác động đến hành vi đặt phòng trực tuyến của
người dân trên địa bàn Hà Nội, trong đó tập trung làm rõ các điều kiện, nội dung và tiêu
chí phát triển, những lợi thế mà doanh nghiệp đang nắm giữ đề định ra hướng đi phù hợp
trong tương lai; phân tích cụ thể những tiêu chí chuẩn chủ quan mà người dân Hà Nội đặt
ra, từ đó đề xuất khung nghiên cứu với các điều kiện phát triển và sự thay đổi tương ứng
trong bối cảnh hiện nay để doanh nghiệp nâng cao doanh thu, tạo dựng thương hiệu.
Đề tài cũng tiến hành kiểm định khung nghiên cứu các biến quan sát để làm tăng độ tin
cậy và làm rõ tầm quan trọng của việc phát triển mô hình kinh doanh đặt phòng khách
sạn trực tuyến thông qua mô hình, thang đo. Từ đó xác định được các giải pháp ưu tiên
nhằm phát triển kinh doanh khách sạn trên địa bàn Hà Nội.
- Phạm vi về không gian nghiên cứu: Đề tài giới hạn nghiên cứu trên địa bàn thành phố Hà Nội.
- Phạm vi về thời gian nghiên cứu: Số liệu thứ cấp sử dụng trong đề tài được thu thập
trong giai đoạn từ tháng 10/ 2022 đến tháng 11/2022; số liệu điều tra sơ cấp được thu
thập từ tháng 12/2022 đến tháng 1/2023. Các giải pháp, kiến nghị được đề xuất đến năm
2025 và tầm nhìn đến năm 2030.
4. Tính mới và đóng góp của đề tài
- Về lý thuyết: Nghiên cứu này sẽ giúp phần làm sáng tỏ về những nhân tố tác động đến ý
định, hành vi đặt phòng trực tuyến của người dân trên địa bàn Hà Nội, phân tích cụ thể
nguyên nhân khiến lượng khách đặt phòng trực tuyến ngày càng tăng cao, những ưu thế
đáng ghi nhận của việc đặt phòng khách sạn trực tuyến. Nghiên cứu này cũng sẽ làm rõ
những nhân tố ảnh hưởng tới lòng trung thành của khách du lịch đối với phương thức đặt
phòng khách sạn trong tương lai, từ đó xác định được mức độ ảnh hưởng của những nhân tố ấy.
* Về thực tiễn:
- Đối với các tổ chức/doanh nghiệp
Bài nghiên cứu sẽ giúp các khách sạn nắm bắt thêm được tầm quan trọng của việc phát
triển kinh doanh dịch vụ khách sạn thông qua các kênh thông tin trực tuyến, đặc biệt là
trong bối cảnh tình hình mới hiện nay, qua đó cung cấp thêm thông tin, các chỉ số, thang
đo đáng tin cậy cho các khách sạn đã, đang và sẽ gia nhập vào thị trường kinh doanh hoạt
động cả trực tiếp và trực tuyến. Từ đó, khách sạn có thể cải thiện những yếu tố có tác
động tích cực và tiêu cực, đưa ra hướng đi rõ ràng trong sự phát triển hình ảnh khách sạn
và cách để giữ chân khách hàng. Đây cũng là nguồn tài liệu tham khảo để các khách sạn
có thể dựa vào đó để nâng cao nhận thức của nhân viên về tác phong và thái độ phục vụ,
nâng cao kỹ năng nghiệp vụ của cá nhân và tập thể.
- Đối với xã hội
Nghiên cứu này sẽ chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng tới hành vi đặt phòng trực tuyến của
người dân trên địa bàn Hà Nội, phân tích cụ thể các nhân tố đó, nâng cao nhận thức, tiêu
chí để lựa chọn và phục vụ khách hàng một cách toàn diện, đáp ứng nhu cầu ngày một
hoàn thiện hơn. Từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ ngành khách sạn tại Việt Nam, nâng
cao hình ảnh ngành công nghiệp khách sạn Việt với quốc tế.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần lời cảm ơn, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục sơ đồ, hình vẽ, danh mục
từ viết tắt, phần mở đầu, tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài được kết cấu gồm 4 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hành
vi đặt phòng khách sạn trực tuyến
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến các nhân tố ảnh hưởng đến
hành vi đặt phòng khách sạn trực tuyến của người dân Hà Nội
- Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu và kiến nghị
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÁC YẾU
TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI ĐẶT PHÒNG KHÁCH SẠN TRỰC TUYẾN

1.1. Khái quát về hành vi đặt phòng khách sạn trực tuyến
Trong những năm gần đây, sự trỗi dậy của những phát minh công nghệ mới như truy cập
internet tốc độ cao hay việc áp dụng các web đã gia tăng số lượng các nền tảng truyền
thông dành nơi người dùng sản xuất nội dung, dẫn đến sự chuyển đổi từ hình thức truyền
miệng sang nhiều loại hình cộng đồng điện tử và mạng lưới thực tế ảo Vô số ý kiến về
khách sạn, điểm đến du lịch và dịch vụ du lịch thường được rõ ràng dưới hình thức đánh
giá của người tiêu dùng trực tuyến (Sigala, 2009). Đồng thời, tìm kiếm thông tin liên
quan đến kế hoạch của họ, từ các chuyến bay đến đặt phòng khách sạn, đã trở thành một
bước không thể thiếu trong quá trình ra quyết định của khách du lịch (Guillet và Law,
2011; IP và cộng sự, 2011; Litvin và cộng sự, 2008; Ye et al., 2011).
Báo cáo của Ananadan và Sipahimalani (2017) cho thấy, du lịch trực tuyến đạt 26,6 tỷ
USD, dẫn đầu là tăng trưởng đặt phòng trực tuyến hàng không và khách sạn, đứng ở vị trí
thứ 3 về tốc độ tăng trưởngvà dự đoán sẽ đạt 9 tỷ USD vào năm 2025. Do đó, đây sẽ là
cơ hội rất lớn cho sự phát triển của các Đại lý du lịch trực tuyến. Theo thống kê cơ cấu
từng kênh đặt phòng theo báo cáo của Thornton (2019) cho thấy, trên thị trường kinh
doanh cơ sở lưu trú chỉ nói riêng khách sạn 05 sao tại Việt Nam thì tỉ lệ đặt phòng được
bán cho các đại lý du lịch trực tuyến OTA (25,6%), xếp thứ 02 trên thị trường, xếp sau số
lượng phòng bán cho các công ty lữ hành và các nhà điều hành tour (30,4 %). Ngoài ra,
người dân ngày càng đi du lịch nhiều hơn, theo số liệu thống kê của Tổng cục du lịch
(2019) thì cả nước có 85 triệu lượt khách du lịch nội địa, tăng 6,3% so với năm 2018.
Trong các giao dịch điện tử thì hoạt động liên quan đến du lịch (bao gồm du lịch và lưu
trú) chiếm hơn 108 tỷ Việt Nam đồng, tăng lên 12% so với năm 2018 (Tổng cục Du lịch, 2019).
Trong môi trường tăng trưởng cao này, điều quan trọng đối với các đại lý du lịch trực
tuyến là phải hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng để có thể được
triển khai một cách chính xác nhằm củng cố các yếu tố tác động đến khách hàng nhiều
nhất (Dutta và cộng sự, 2017). Một trong những thách thức của các doanh nghiệp tham
gia dịch vụ du lịch trực tuyến là giữ khách hàng, hay nói cách khác là tạo sự hài lòng cho
khách hàng thông qua chất lượng dịch vụ cung cấp, từ đó dẫn đến hành vi mua dịch vụ và
cuối cùng là tiếp tục sử dụng 3 dịch vụ OTA (Đào Phúc Chiêu Hoàng, 2018). Tuy nhiên,
cho đến thời điểm này, tại Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về nội dung này, đặc biệt
là về người dân trên địa bàn Hà Nội – người có nguồn thu nhập để đi du lịch hoặc tính
chất công việc cần phải di chuyển để công tác, họp, hội thảo. Vì lý do đó, tác giả đã quyết
định lựa chọn nghiên cứu về đề tài: “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi đặt
phòng khách sạn trực tuyến của người dân Hà Nội
”.
1.2. Tổng quan nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi đặt phòng khách sạn trực tuyến
1.2.1. Các công trình nghiên cứu trong nước
Theo Nguyễn Quyết Thắng và các cộng sự (2022)
Với mục đích xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng và ý định tiếp tục đặt phòng
qua website của đại lý du lịch trực tuyến (OTA), nghiên cứu này đã được thực hiện trên
296 đối tượng khách hàng là nhân viên văn phòng hiện đang làm việc tại TPHCM. Kết
hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng thông qua phân tích mô hình cấu
trúc tuyến tính SEM bằng phần mềm SPSS và AMOS. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có
05 yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng gồm chất lượng thông tin, tính bảo
mật, chất lượng dịch vụ, thiết kế giao diện website, giá cả; trong đó, 03 yếu tố là sự hài
lòng, giá cả, niềm tin có ảnh hưởng trực tiếp, cùng chiều đến ý định tiếp tục đặt phòng.
Dựa vào kết quả nghiên cứu, các khuyến nghị được như ứng dụng khoa học kỹ thuật, thắt
chặt bảo bảo mật, tạo dựng niềm tin, gia tăng trải nghiệm trực tuyến của người dùng, đề
xuất một số biện pháp gia tăng chất lượng dịch vụ, các chính sách giá, kỹ thuật giảm
giá... nhằm nâng cao sự hài lòng và ý định tiếp tục đặt phòng của khách hàng thông qua website OTA Chất lượng thông tin Tính bảo mật Chất lượng dịch
Sự hài lòng và ý định sử dụng vụ Thiết kế giao diện website Niềm tin Giá cả
Theo TS. Lê Nguyễn Hậu, Đặng Hoàng Đan Vy
Bài viết được thực hiện dưới dạng đề cương nhằm mục đích tham khảo và cung cấp một
số tài liệu cần thiết. Qua đó tạo tiền đề để nghiên cứu về các nhân tố tác động đến quyết
định đặt phòng trực tuyến của người tiêu dùng tại TP HCM. Để nghiên cứu đạt tính xác
thực cao, tác giả đã đưa ra hướng giải quyết vấn đề như sau: Toàn bộ dữ liệu thu thập
được xử lý bằng phần mềm SPSS, bao gồm: - Phân tích thống kê mô tả - Phân tích nhân
tố khám phá EFA - Đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha -
Phân tích hồi quy - Phân tích Anova .Qua đó rút ra được các nhân tố tác động đến quyết
định đặt phòng của người tiêu dùng tại TP HCM như sau: (1): Thái độ, (2): chuẩn chủ
quan, (3):Kiểm soát hành vi cảm nhận,(4): Mong đợi về giá Thái độ Chuẩn chủ quan
Ý định đặt phòng trực tuyến Kiểm soát hành vi cảm nhận Mong đợi về giá
Theo Bùi Thanh Tráng (2019)
Nghiên cứu này nhằm mục đích xác định các nhân tố liên quan đến nhận thức rủi ro tác
động đến ý định mua sắm trực tuyến của khách hàng. Phương pháp nghiên cứu sử dụng
bao gồm định tính và định lượng. Phân tích được thực hiện thông qua kiểm định thang đo
hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá - EFA và phân tích hồi quy
tuyến tính bội. Kết quả nghiên cứu chỉ ra nhận thức rủi ro tác động nghịch chiều đến ý
định mua sắm trực tuyến của khách hàng bao gồm 4 nhân tố theo thứ tự từ lớn đến nhỏ:
(1) Rủi ro tài chính, (2) rủi ro sản phẩm, (3) rủi ro bảo mật thông tin, và ro về sự gian lận của người bán. Rủi ro sản phẩm Rủi ro tài chính
Ý định mua sắm trực tuyến Rủi ro bảo mật thông tin Rủi ro về sự gian lận của người bán
1.2.2. Các công trình nghiên cứu nước ngoài Theo Jin et al., (2014)
Đứng trên quan điểm của người tiêu dung mua sắm trực tuyến, Jin et al., (2014) đã đánh
giá mối liên hệ của hai nhân tố là nhận thức sự hữu ích và sự tin cậy đến hành vi mua sắm
trực tuyến của người tiêu dung miền bắc Malaysia. Kết quả của công trình cho thấy sự
hữu ích và sự tin cậy là những nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới hành vi mua sắm trực
tuyến của người tiêu dung ở miền Bắc Malaysia. Sự tin cậy Hành vi mua trực tuyến Nhận thức sự hữu ích
Theo Khomson Tunsakul và cộng sự (2020)
Sự phát triển bùng nổ của Internet đã tạo điều kiện cho thương mại điện tử và bán lẻ trực
tuyến phát triển. Người tiêu dùng cũng được hưởng lợi từ việc tùy chỉnh sản phẩm và
dịch vụ, dễ dàng giao dịch và thời gian thực truyền thông tương tác. Người tiêu dùng Gen
Z là đối tượng chính trong nghiên cứu này do số lượng ngày càng tăng và sự ảnh hưởng
của họ trên thị trường toàn cầu, bao gồm cả Thái Lan. Nghiên cứu Khomson Tunsakul và
cộng sự (2020). Động cơ, thái độ và ý định mua sắm trực tuyến của người tiêu dung Gen
Z nhằm điều tra xem liệu ý định mua sắm trực tuyến của Gen Z có bị ảnh hưởng bởi các
biến như động cơ, tính đơn giản và tính hữu ích không. Ngoài ra, thái độ đối với mua sắm
trực tuyến đã được đưa ra giả thuyết để làm trung gian cho mối quan hệ giữa các biến độc
lập và ý định mua sắm trực tuyến. Phân tích cho thấy động cơ và lợi ích có ảnh hưởng
đáng kể đến thái độ đối với mua sắm trực tuyến. Hơn nữa, thái độ đối với mua sắm trực
tuyến đã có một tác động đáng kể đến ý định mua sắm trực tuyến. Động cơ Ý định mua sắm trực Thái độ sử dụng Sự đơn giản tuyến Tính hữu ích
Theo Rong et al. (2007)
Trung quốc là một cường quốc có nền kinh tế phát triển manh mẽ cùng dân số đông nhất
thế giới. Với những đặc điểm thuận lợi vốn có của mình, quốc gia này đã, đang và sẽ tạo
ra nhiều cơ hội tốt cho hoạt động kinh doanh doanh nghiệp và phải kể đến lĩnh vực mua
sắm trực tuyến. Một số trang web nổi tiếng như: Alibaba, Taobao.com,… được biết đến
rất rộng rãi. Đề tài nghiên cứu Rong et al. (2007) phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới ý
định mua sắm trực tuyến. Kiến thức về TMĐT Danh tiếng cảm nhận Ý định mua sắm trực Sự tin tưởng tuyến Rủi ro Sự dễ sử dụng
1.3. Cơ sở lý thuyết về các yếu tố tác động đến hành vi đặt phòng khách sạn trực tuyến
1.3.1. Lý thuyết hành vi mua sắm của người tiêu dùng
1.3.1.1. Hành vi người tiêu dùng
Hành vi người tiêu dùng phản ánh tổng thể các quyết định của người tiêu dùng
đối với việc thu nhận, tiêu dùng, loại bỏ hàng hóa, bao gồm sản phẩm, dịch vụ, hoạt động
và ý tưởng, bởi các đơn vị ra quyết định (con người) theo thời gian. Đối với đề tài nhóm
nghiên cứu đang thực hiện, hành vi cụ thể là hành vi đặt phòng khách sạn trực tuyến của
người dân trên địa bàn Hà Nội.
1.3.1.2. Tiến trình mua của người tiêu dùng
Tiến trình mua của người tiêu dùng có thể được mô hình hóa thành năm giai đoạn:
ý thức về nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá các phương án, quyết định mua và hành
vi sau khi mua. Như vậy, tiến trình quyết định mua của người tiêu dùng đã bắt đầu trước
khi việc mua thực sự diễn ra và còn kéo dài sau khi mua (Philip Kotler).
1.3.1.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến hành vi mua sắm của người tiêu dùng
a. Các yếu tố thuộc về văn hoá-xã hội: Văn hoá, nhánh văn hoá, địa vị xã hội.
b. Các yếu tố mang tính chất cá nhân: Tuổi tác và giai đoạn trong đời sống gia
đình, nghề nghiệp, tình trạng kinh tế, lối sống, cá tính.
c. Các yếu tố mang tính chất xã hội : Nhóm tham khảo, gia đình, vai trò và địa vị.
d. Các yếu tố mang tính chất tâm lý : Động cơ, tri giác, lĩnh hội, niềm tin và thái độ.
Nghiên cứu hành vi của con người trong các môi trường khác nhau là một trong
những chủ đề nghiên cứu được nhiều học giả quan tâm. Một trong số các nghiên cứu đó
phân tích mối quan hệ giữa thái độ của con người và các hành vi. Từ năm 1862, các nhà
tâm lý học đã bắt đầu phát triển các lý thuyết về mối quan hệ giữa thái độ và hành vi,
chứng minh rằng thái độ có thể lý giải cho các hành động. Hoặc nói cách khác thái độ của
con người ảnh hưởng đến hành động hay hành vi của con người. Thái độ Hành vi/ hành động
Hình ….: Mối quan hệ giữa thái độ và hành vi
1.3.2. Lý thuyết hành động hợp lí (TRA)
Hình….: Thuyết hành động hợp lý TRA (Ajzen và Fishbein, 1975)
Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action) được Ajzen và Fishbein xây dựng
từ cuối thập niên 60 của thế kỷ 20 và được hiệu chỉnh mở rộng trong thập niên 70. Theo
TRA, ý định hành vi (Behavior Intention) là yếu tố quan trọng nhất dự đoán hành vi tiêu
dùng. Ý định hành vi bị ảnh hưởng bởi hai yếu tố: thái độ (Attitude) và chuẩn chủ quan
(Subjective Norm). Trong đó, thái độ là biểu hiện yếu tố cá nhân thể hiện niềm tin tích
cực hay tiêu cực của người tiêu dung đối với của sản phẩm. Còn chuẩn chủ quan thể hiện
ảnh hưởng của quan hệ xã hội lên cá nhân người tiêu dùng.
1.3.3. Thuyết nhận thức rủi ro
Trong thuyết nhận thức rủi TPR (Theory of Perceived Risk), Bauer (1960) cho rằng hành
vi tiêu dùng sản phẩm công nghệ thông tin có nhận thức rủi ro, bao gồm hai yếu tố: (1)
nhận thức rủi ro liên quan đến sản phẩm/dịch vụ và (2) nhận thức rủi ro liên quan đến giao dịch trực tuyến.
Hình….: Thuyết nhận thức rủi ro PRT (Bauer, 1960)
Thành phần nhận thức rủi ro liên quan đến sản phẩm dịch vụ: như mất tính năng, mất tài
chính, tốn thời gian, mất cơ hội và nhận thức rủi ro toàn bộ đối với sản phẩm/dich vụ.
Thành phần nhận thức rủi ro liên quan đến giao dịch trực tuyến: các rủi ro có thể xảy ra
khi người tiêu dùng thực hiện giao dịch trên các phương tiện điện tử như: sự bí mật, sự an
toàn và nhận thức rủi ro toàn bộ về giao dịch.
1.3.4. Mô hình chấp nhận thương mại điện tử (e-CAM)
Hình….: Mô hình chấp nhận thương mại điện tử E-CAM (Joongho Ahn, Jinsoo
Park, Dongwon Lee, 2001)
Tác giả Joongho Ahn và cộng sự (2001) đã xây dựng mô hình chấp nhận sử dụng thương
mại điện tử E-CAM (E-commerce Adoption Model) bằng cách tích hợp mô hình TAM
của Davis (1986) với thuyết nhận thức rủi ro. Mô hình E-CAM được nghiên cứu thực
nghiệm ở hai thị trường Hàn Quốc và Mỹ giải thích sự chấp nhận sử dụng thương mại điện tử.
1.4. Mô hình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi đặt phòng khách sạn trực tuyến
1.4.1. Hành vi đặt phòng khách sạn trực tuyến và các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi
đặt phòng khách sạn trực tuyến

1.4..1.1. Hành vi đặt phòng khách sạn trực tuyến
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ trong thời đại ngày nay, ngày càng
có nhiều dịch vụ cung ứng thỏa mãn nhu cầu tối ưu của con người, trong đó có sự phát
triển của việc đặt phòng khách sạn trực tuyến. Đặt phòng trực tuyến hay còn gọi là đặt
phòng online, là hình thức đặt phòng thông qua các Website (có thể là Website của chính
khách sạn đó hoặc kênh đặt khách sạn trực tuyến). Đây là hình thức đặt khách sạn trung
gian qua Internet mà không cần phải trao đổi trực tiếp với khách sạn mà bạn muốn đặt.
Ưu điểm lớn của cách đặt phòng này là là ở điểm thuận tiện, nhanh gọn. Chỉ cần
một cú nhấp chuột, bạn đã có thể đặt được phòng không lo về giá cả hay “chặt chém”.
Thông tin được cung cấp rất minh bạch, rõ ràng. Ngoài ra, với các thông tin mà các trang
cung cấp, bạn có thể dễ dàng so sánh, đánh giá và cân nhắc để chọn ra được một khách
sạn phù hợp với nhu cầu. Nếu là lần đầu đến với một điểm du lịch nào đó, bạn nên cân
nhắc việc đặt phòng khách sạn trực tuyến để tiết kiệm thời gian, không lo bỡ ngỡ. Đây
cũng chính là lí do để hình thành hành vi đặt phòng khách sạn trực tuyến của con
người nói chung và người dân trên địa bàn Hà Nội nói riêng.
1.4.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi đặt phòng khách sạn trực tuyến
Qua quá trình tham khảo các tài liệu đi trước, nhóm nghiên cứu đã chọn lọc ra
những yếu tố cốt lõi, chủ đạo và có ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi đặt phòng khách sạn
trực tuyến của người dân. Mỗi yếu tố sẽ có những tác động ở những mặt khác nhau của
tâm lý chung hành vi người tiêu dùng, từ đó hình thành hành vi chuẩn mực của đa số
người dân khi đặt phòng khách sạn.
Thứ nhất, giá cả có ảnh hưởng đến hành vi đặt phòng khách sạn trực tuyến. Giá cả
khi đặt phòng qua đại lý kinh doanh trực tuyến là tổng chi phí mà khách hàng bỏ ra để
sử dụng dịch vụ lưu trú. Trong mua sắm trực tuyến, khách hàng có xu hướng so sánh giá
được cung cấp bởi nhà cung cấp hiện tại với giá được cung cấp bởi các nhà cung cấp
khác (Kim và cộng sự, 2012). Nghiên cứu của Yulisetiarini và cộng sự (2017) cho thấy,
giá và chất lượng dịch vụ có ảnh hưởng quan trọng đến sự hài lòng và ý định mua
lại của khách hàng trực tuyến ở Indonesia. Đào Phúc Chiêu Hoàng (2018) đã
khẳng định rằng, giá cả là mối ưu tiên hàng đầu của khách hàng khi đặt phòng khách
sạn trực tuyến. Ngoài ra, công cụ tìm kiếm trên các website đặt phòng khách sạn ngày
nay có thể cho phép hiển thị mức giá hiện tại của nhiều khách sạn khác nhau tại một địa
điểm nhất định, giá cả thực sự là điểm khác biệt chính giúp phân biệt các đối thủ
cạnh tranh và là yếu tố quyết định đặt mua dịch vụ của khách hàng.Trong nghiên cứu
của tác giả Hong (2017), yếu tố giá cả có tác động mạnh đến ý định mua lại của khách
hàng. Nhóm tác giả đề cập đến tầm quan trọng của khả năng so sánh giá trên
website đặt phòng khách sạn, cụ thể cho phép khách hàng so sánh giá của các chỗ ở khác
nhau và sau đó chọn một chỗ ở phù hợp với túi tiền của họ nhất. Theo Hasslinger, Selma
Hodzic, Claudio Opazo (2011), người tiêu dùng sẽ cân nhắc chi phí trên hai phương diện
đó là chi phí họ mua hàng khi đi mua trực tiếp và tổng chi phí họ bỏ ra để nhận món hàng
đó trên tay khi mua trực tuyến.
Thứ hai, truyền miệng trực tuyến có ảnh hưởng đến hành vi đặt phòng khách sạn
trực tuyến. Truyền miệng điện tử ra đời dưới sự hình thành của internet, lan tỏa một cách
nhanh và rộng, ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng (Pourabedin và
Migin, 2015). Cụ thể thông qua công cụ tìm kiếm trên internet giúp người mua có thể tìm
kiếm bất kì sản phẩm nào có những thông tin cụ thể và những thảo luận liên quan đến sản
phẩm từ những người tiêu dùng khác. Người tiêu dùng có thể gửi ý kiến, đánh giá sản
phẩm ở nhiều nơi như diễn đàn, website,… Những việc làm như vậy đã tạo ra một cộng
đồng truyền miệng đa dạng. Trong lĩnh vực du lịch khách sạn, các dịch vụ được coi là sản
phẩm vô hình, khó có thể hình dung trong đầu khi khách hàng chưa trải nghiệm, từ đó
việc dự đoán hành vi hay ý định của các khách hàng của các nhà quản trị sẽ trở nên khó
khăn hơn. Chính vì vậy, truyền miệng trực tuyến được coi là loại hình truyền thông có
sức thuyết phục tuyệt vời vì sự tín nhiệm và sự tin tưởng được cảm nhận từ khách hàng.
Trong ngành công nghiệp du lịch và khách sạn, Basarani (2011), Wu (2013) và Le (2014)
đã khẳng định những tiến bộ của công nghệ internet đã làm tăng số lượng người đang sử
dụng internet để tìm kiếm thông tin điểm đến du lịch và tiến hành các giao dịch trực
tuyến. Tương tự, sự tiến bộ của công nghệ, phương tiện truyền thông mới này cho phép
người tiêu dùng tác động qua lại (Jalilvand và Samiei, 2012) và dẫn đến làm thay đổi
hành vi người tiêu dùng (Cantallops và Salvi, 2014). Do đó, khi xét đến các yếu tố ảnh
hưởng đến hành vi đặt phòng khách sạn, không thể bỏ qua yếu tố truyền miệng trực tuyến.
Thứ ba, tính hữu ích có ảnh hưởng đến hành vi đặt phòng khách sạn trực tuyến.
Tính hữu ích của việc đặt phòng khách sạn trực tuyến bao hàm sự tiện lợi, sự lựa chọn
sản phẩm và dịch vụ, thông tin phong phú đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng.
Phần lớn các nghiên cứu đã chỉ ra sự tiện lợi và tiết kiệm thời gian là những lý do chính
thúc đẩy người sử dụng đặt phòng khách sạn trực tuyến. Thực tế đã chứng minh, việc tìm
kiếm sản phẩm, dịch vụ qua Internet nói chung và các trang mua sắm trực tuyến nói riêng
sẽ nhanh chóng, tiện lợi và giảm nhiều công sức cũng như chi phí. Cùng một thời gian, có
thể khám phá ra nhiều loại hàng hóa, nhiều thương hiệu khác nhau, đây là điểm khác biệt
so với mua sắm truyền thống (Tunsakul, 2020).
Thứ tư, dịch bệnh có ảnh hưởng đến hành vi đặt phòng khách sạn trực tuyến.
Không thể phủ nhận rằng đại dịch Covid-19 đã gây ra những tác động mạng mẽ đối với
sự phát triển của nền kinh tế nói chung và với việc kinh doanh dịch vụ khách sạn nói
riêng. Do đại dịch có thể lây lan qua đường hô hấp, tụ tập đông người,… nên khi khách
hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ tại một khách sạn nhất định hoặc sử dụng khách sạn để
cách li thì việc đặt phòng khách sạn trực tuyến trở nên tiện lợi và dễ dàng hơn bao giờ
hết. Ngành khách sạn đã bắt đầu đầu tư vào công nghệ nhiều hơn trong những năm gần
đây. Những kết quả đáng chú ý nhất có thể thấy là sự phát triển của các ứng dụng khách
sạn trên di động nhằm đơn giản hóa việc đặt phòng, cùng với đó là quy trình lắp đặt các
thiết bị xuyên suốt khách sạn nhằm cá nhân hóa trải nghiệm của khách hàng. Vì thế,
trong thời kì dịch bệnh bùng phát, hình thức đặt phòng khách sạn trực tuyến đóng vai trò
xuyên suốt trong việc duy trì doanh thu của toàn bộ ngành kinh doanh khách sạn.
Thứ năm, rủi ro có ảnh hưởng đến hành vi đặt phòng khách sạn trực tuyến. Bên
cạnh những lợi ích của đặt phòng khách sạn trực tuyến, người tiêu dùng cũng rất quan
tâm đến các rủi ro về sản phẩm, dịch vụ, sự không trung thực của người bán, vấn đề
thanh toán, thay đổi lịch trình hay gói dịch vụ khi lưu trú tại khách sạn. Rủi ro sản phẩm
trong đặt phòng khách sạn trực tuyến, đặc biệt với những người mới tham gia hoặc mới