lOMoARcPSD| 61463864
1
1. Điều kiện hình thành và phát triển của văn hóa Việt Nam:
a. Điều kiện bên trong:
+ Là nơi bắt nguồn các dòng sông lớn của khu vực Nam Á và ĐNÁ.
+ Có nhiều vùng đồng bằng lớn nhỏ khác nhau nhưng rất phì nhiêu.
+ Khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều.
sở nội tại để phát sinh phát triển nền văn minh nông nghiệp lúa
nước.
+ Hệ sinh thái phong phú, thậm chí là phồn tạp.
+ Hệ thực vật phát triên hơn so với hệ động vật.
+ Hệ thống sông ngòi dày đặc, bờ biển dài 3260 km.
→ Hai tính trội của VHVN truyền thống là sông - nước và thực vật.
+ Đường biên giới khá dài với Cambodia, China, Laos.
giao điểm của các luồng n hóa, các luồng di dân, luồng giao thông
+ 2 đồng bằng lớn: ĐB s.Hồng và s. Cửu Long là 2 vựa lúa lớn.
+ S rừng núi chiêm ¾ S.
Không chỉ thuần túy nông nghiệp trồng lúa nước việc làm nương,
rẫy, thu hái lâm sản cũng đã trở thành tập tục thói quen có từ lâu đời.
- ĐK con người: * Nguồn gốc con người VN: o
Con người VN bắc nguồn từ chủng Indonesien. "
Tính thống nhất trong đa dạng và tính thống nhất
bộ phận. o Mảnh đất con người xuất hiện sớm.
lOMoARcPSD| 61463864
Tính bản địa được khăng định. o Cộng với
quá trình thiên di các luồng dân cư.
→ Chủ thể là quốc gia đa dân tộc, thể hiện tính đa dạng.
• Có 54 dân tộc, thuộc nhiều nhóm ngôn ngữ - tộc người khác nhau: Việt-
Mường, Môn-Khome,...
* Lịch sử dựng nước và giữ nước o Lịch sử dựng nước và giữ nước lâu
đời trên cơ sở 1 VH có bề dài và chiều sâu, phong phú, đặc sắc.
o Kỷ nguyên văn minh: Văn Lang - Âu Lạc, Đại Việt. o Thời kỳ 18
vua Hùng. o Thời kỳ 1000 năm Bắc thuộc. o Thời kỳ 1000 năm
dành và giữ chủ quyền. o Thời kỳ đô hộ thực dân.
o Thời kỳ giải phóng dân tộc và chống ngoại xâm.
o Thời kỳ xây dựng đất nước.
b. Điều kiện bên ngoài:
Giao lưu và tiếp biến VH Trung Quốc.
Giao lưu và tiếp biến VH Ăn Độ.
» Đạo Phật, Đạo Lão, Đạo Nho,... xâm nhập.
Giao lưu và tiếp biến với VH phương Tây.
2 Đặc trưng của văn hóa gốc nông nghiệp
Văn hóa gốc Nông nghiệp có những đặc trưng riêng biệt và phản ánh cuộc
sống, giá trị, tập tục của những người sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp.
Dưới đây là một số đặc trưng quan trọng của văn hóa này:
lOMoARcPSD| 61463864
1. Gắn kết với đất đai: Văn hóa gốc Nông nghiệp thường có mối gắn
kết mạnh mẽ với đất đai. Đất đai không chỉ nguồn sống còn
được xem xét với tôn trọng thần linh. Các nghi lễ tập tục
thường liên quan đến sự tôn trọng và bảo vệ đất đai.
2. Mùa màng chu kỳ tự nhiên: Những người sống trong văn hóa
này thường hiểu biết sâu rộng vcác mùa màng, thời tiết và các
sự kiện tự nhiên quan trọng liên quan đến nông nghiệp. Các nghi lễ
và lễ hội thường tổ chức để kỷ niệm và tôn vinh các sự kiện này.
3. Cộng đồng và sự chia sẻ: Văn hóa gốc Nông nghiệp thường đặt sự
chia sẻ sự hợp tác trong cộng đồng quan trọng. Việc giúp đỡ
lẫn nhau trong việc làm ruộng chăm sóc gia súc là một phần quan
trọng của cuộc sống hàng ngày.
4. Nghệ thuật âm nhạc nông nghiệp: Văn hóa này thường nghệ
thuật âm nhạc đặc trưng liên quan đến cuộc sống nông nghiệp. Ca
hát về việc gặt hái, những điệu nhảy vnông trại, các trình diễn
nghệ thuật vcuộc sống nông nghiệp thường được thực hiện trong
các lễ hội và sự kiện địa phương.
5. Truyền thống giáo dục: Truyền thống kiến thức về nông
nghiệp thường được truyền đạt từ thế hệ này sang thế hệ khác. Các
gia đình cộng đồng thường những phương thức đặc biệt đ
giảng dạy vcách làm việc trên nông trại bảo tồn kiến thức truyền
thống.
lOMoARcPSD| 61463864
6. Chế độ làm việc thời gian: Văn hóa gốc Nông nghiệp thường
tuân theo các chế độ làm việc lịch trình phụ thuộc vào chu kỳ tự
nhiên, chẳng hạn như mùa gặt và mùa vụ. Điều này tạo ra sự kết nối
sâu sắc với môi trường tự nhiên.
Những đặc trưng này thể hiện sự đa dạng và sâu sắc của văn hóa gốc Nông
nghiệp quyết định cách mọi người sống làm việc trong các hội
nông nghiệp.
3
Văn hóa
Văn hiến
Văn vâ
Văn minh
Đối
tượng
Vât c
ất
tinh thần
Thiên về
tinh thần
Thiên về
vât c ất
Thiên về yếu tố vât c
ất khoa học k
thuâ
Tính
Tính lịch sử
Chỉ sự phát triển, mang
chất
tính giai đoạn
Tính quốc tế
Kiểu xã
hôị
Phương T
4
lOMoARcPSD| 61463864
1. Những đặc trưng của đô thị Việt Nam truyền thống
1.1 Đặc trưng 1: Xét về nguồn gốc, đô thị Việt Nam phần lớn do nhà nước
sản sinh ra, vì vậy đô thị Việt Nam trước hết là trung tâm chính trị, rồi sau
đó mới là kinh tế, văn hóa.
Trái với hầu hết các đô thị phương Tây, đô thị Việt Nam do nhà nước khai
sinh ra thực hiện chức năng hành chính chủ yếu. Vào các giai đoạn
khác nhau, các đô thị lớn nhỏ ra đời như Văn Lang, Cổ Loa, Luy
Lâu, Thăng Long,
Phú Xuân (Huế)... đều hình thành theo con đường như thế. Ví dụ, Cổ Loa
- một đô thị quan trọng thời cổ đại, được hình thành từ việc vua An Dương
Vương dựa trên những thuận lợi về mặt địa lý, dời đô tvùng núi xây
dựng thành trì to lớn tại đây.
1.2 Đặc trưng 2: Xét về chức năng, đô thị Việt Nam thực hiện chức năng
hành chính chủ yếu chịu sự quản lý trực tiếp của nhà nước phong
kiến.
"Trong đô thị bphận quản bộ phận làm kinh tế (buôn bán); thường
thì bộ phận quảnhình thành trước theo kế hoạch, rồi dần dần, một cách
tự phát, bộ phận làm kinh tế mới được hình thành. Thậm chí trong nhiều
trường hợp, bộ phận quản của đô thị đã hoạt động rồi bộ phận làm
kinh tế vẫn không phát triển được hoặc phát triển rất yếu ớt như trường hợp
các kinh đô
lOMoARcPSD| 61463864
Hoa Lư của nhà Đinh, phủ Thiên Trường của nhà Trần, Tây Đô của nhà
Hồ,
Lam Kinh của nhà Lê, Phượng Hoàng Trung Đô của nhà Tây Sơn." ' Như
vậy, trong khi đô thị phương Tây thực hiện chức năng kinh tế chủ yếu
thì đô thị của ta thực hiện chức năng hành chính là chủ yếu. Khi nhà nước
có nhu cầu mở trung tâm hành chính thì họ thường chọn một trong những
đô thị sẵn nđô thị Athens tại Hy Lạp, đô thị Babylon - thành quốc
của Lưỡng Hà cổ đại.
5
phân tích các đặc trưng cơ bản của nông thôn Việt
Nam?
2 đặc trưng bản của nông thôn Việt Nam tính cộng đồng và tính tự trị,
2 đặc trưng bao trùm nhất, quan trọng nhất của làng xã, chúng tồn tại
song song như 2 mặt của một vấn đề
Tính cộng đồng:
* Định ngha:
Việc tổ chức nông thôn đồng thời theo nhiều nguyên tắc khác nhau tạo nên
tính cộng đồng làng xã. Tính cộng đồng là sự liên kết các thành viên trong
làng lại với nhau, mỗi người đều hướng tới những người khác - đặc
trưng dương tính, hưởng ngoại.
* Biểu tượng:
lOMoARcPSD| 61463864
Biểu tượng truyền thống của tính cộng đồng là sân đình, bến nước, cây đa
Làng nào cũng một cái đình. Đó biểu tượng tập trung nhất của làng
về mọi phương diện
Trước hết, là một trung tâm hành chính, nơi duễn ra mọi công việc quan
trọng, nơi hội họp, thu sưu thuế...
Thứ đến, đình một trung tâm văn hóa, nơi tố chức các cuộc hội hè, ăn
uống ( do vậy mà có từ đình đám), nơi biểu diên chèo tuống.
Đình còn là một trung tâm về mặt tôn giáo: thế đất, hướng đình được xem
quyết định vận mệnh cả làng, đình cũng nơi thờ thần Thành Hoàng
bảo vệ cho làng.
Cuối cùng, đình một trung tâm về mặt tình cảm: nói đến làng, người ta
ngh ngay tới cái đình với tất cả những tình cảm gắn bó thân thương nhất
Qua đình ngã nón trông đình, Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu.
Do ảnh hưởng của Trung Hoa, đình từ chỗ nơi tập trung của tất cả mọi
người dần dần chỉ còn là chốn lui tới của đàn ông. Bị đẩy ra khỏi đình, phụ
nữ quần tụ lại nơi BỀN NƯỚC ( ở những làng ko có sông chảy qua thì có
giếng nước )- chỗ hàng ngày chị e gặp nhau cùng rửa rau, giặt giũ, chuyện
trò...
Cây đa cổ thụ mọc um tùm ở đầu làng, gốc cây có miếu thờ lúc nào cũng
khói hương nghi ngút - đó nơi hội tụ của thánh thần: thần cây da, ma
cây gạo, cáo cây đề; sợ thần sợ cả cây đa. Cây đa, gốc cây quán
nước, còn nơi nghỉ chân gặp gỡ của những người đi làm đồng, những
lOMoARcPSD| 61463864
khách qua đường... nhờ khách qua đường, gốc cây đa trở thành cánh cửa
sổ liên kết làng với thế giới bên ngoài.
* Biểu hiện tích cực của tính cộng đồng trong nông thôn
Việt Nam
- Tinh thần đoàn kết, tương trợ
Tính cộng đồng nhấn mạnh vào sự đồng nhất. do đồng nhất ( cùng hội cùng
thuyên, đồng cảnh ngộ ) cho nên người Việt Nam luôn sẵng sàng đoàn kết,
giúp đỡ lẫn nhau, coi mọi người trong cộng đồng như anh chị e trong nhà:
tay đứt ruột xót; chị ngã e nâng...
- Tính tập thế hòa đông
Do đồng nhất ( giống nhau ) nên người Việt Nam luôn tính tập thể rất
cao, hòa đồng vào cuộc sống chung
- Nếp sống dân chủ, bình đẳng
Sự đồng nhất cũng chính là ngọn nguồn của nếp sống dân chủ - bình đăng
bookc look trong các nguyên tắc tổ chức nông thôn theo địa bàn trú,
theo nghê nghiệp, theo giáp. * Biểu hiện tiêu cực
- sự thủ tiêu vai trò cá nhân
Chính do đồng nhât mà ở người Việt Nam, ý thức về con người cá nhân bị
thủ tiêu: người Việt Nam luôn hòa tan vào các mối quan hệ hội ( với
người này là em, người kia là cháu, với người khác nữa là anh/ chị....), giải
quyết xung đột theo lối hòa cả làng. Điều này khác hắn với truyền thống
phương Tây, nơi con người được rèn luyện ý thức cá nhân ngay từ nhỏ.
lOMoARcPSD| 61463864
- Thói dựa dẫm, ỷ lại vào tập thể:
Sự đồng nhất còn dẫn đến chỗ người Việt Nam hay dựa dẫm, ỷ lại vào tập
thể: Nước trôi thì bèo trôi, Nước nổi thì bèo nối. Tệ hơn nữa tình trạng
Cha chung không ai khóc; Lăm sãi ko ai đóng cửa chùa... Cùng với thỏi
dựa dẫm, lại tư tưởng cầu an ( an phận thủ thường) cả nề, làm
cũng sợ rút dây động rừng nên có việc gì thường chi trương đóng cửa bảo
nhau...
- Thói cào băng, đố kị
Một nhược điểm trầm trọng thứ 3 là thói cào băng, đố kị, không muốn cho
ai hơn mình ( để cho tất cả đều giông nhau, đồng nhất) Xấu đều hơn tốt lòi,
Khôn độc không bằng ngốc đàn...
Những thói xấu nguồn gốc từ tính cộng đồng này khiến cho Việt Nam,
khái niệm " giá trị" trở nên hết sức tương đối ( khẳng định đặc điểm tính
chủ quan của lối duy ng nghiệp). cái tốt nhưng tốt riêng rẽ thì trở thành
cái xấu, ngược lại, cái xấu, nhưng xấu tập thể thì trở nên bình thường:
Toét mắt là tại hướng đình, cả làng cùng toét phải mình e đâu
Tính tự trị
* Định ngha
Sản phẩm của tính cộng đồng là một tập thể làng xã mang tính tự trị: làng
nào biết làng nấy, các làng tồn tại khá biệt lập với nhau phần nào độc
lập với triều đình phong kiến. Môi làng là một "vương quốc" nhỏ khép kín
lOMoARcPSD| 61463864
với luật pháp riêng ( hương ước ) "tiểu triều đình" riêng ( trong đó hội
đồng kì mục là cơ quan lập pháp, lí dịch là cơ quan hành pháp, nhiều làng
tôn xưng bốn cụ cao tuổi nhất làng là tứ trụ ). Sự biệt lập đó tạo nên truyền
thống phép vua thua lệ làng. Đây là đặc trưng âm tính - hướng nội.
* Biếu tượng
Biếu tượng truyền thống của tính ttrị là lũy tre. Rạng tre bao kín làng, trở
thành một thứ thành lũy kiên côbất khả xâm phạm: đốt ko cháy, trèo ko
được, đào đường hầm thì vướng rẽ ko qua ( chính vì vậy tiếng Việt mới
gọi rặng tre là lũy, thành lũy). Lũy tre là một đặc điểm quan trọng làm cho
làng xóm phương Nam khác hăn ấp lí Trung Hoa có thành quách đắp bằng
đất.
* Biểu hiện tích cực của tính tự trị trong nông thôn Việt
Nam
- Tinh thân tự lập
Tính tự trị chú trọng nhấn mạnh vào sự khác biệt. Khởi đầu là sự khác biệt
của cộng đồng ( làng, họ) này so với cộng đồng ( làng, họ ) khác. Sự khác
biệt - sở của tính tự trị - tạo nên tinh thần tự lập cộng đồng: mỗi làng,
mỗi tập thể phải tự lo liệu lấy mọi việc
- Nếp sống tự câp, tự túc, tính cần cù
Vì phải tự lo liệu, nên người Việt Nam có truyền thống cần cù, đầu tắt mặt
tối, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. nó cũng tạo nên nếp sống tự cấp tự
túc: mỗi làng tự đáp ứng mọi nhu cầu cho cuộc sống của làng mình; mỗi
lOMoARcPSD| 61463864
nhà có vường rau, chồng gà, ao cá - tự đảm bảo nhu cầu về ăn, có bụi tre,
rặng xoan, gốc mít - tự đảm bảo nhu cầu về ở.
* Biểu hiện tiêu cực của tính tự trị
- Oc tư hữu, ích kỉ
Chính do nhấn mạnh vào sự khác biệt - sở của tính ttrị - người Việt
Nam thói xấu óc hữu, ích kỉ: ai người nấy lo; ruộng ai người
nấy đắp bờ, ai thân người nấy lo; ai người nấy giữ...Óc hữu, ích
kỉ nảy sinh ra từ tính tự trị của làng xã Việt và đã luôn bị chính người Việt
phê phán: của mình thì gibo bo, của người thì để cho nó ăn; của người
bò tát, của mình buộc lạt...
- Óc bè phái, địa phương cục bộ
Làng nào biết làng ấy, chỉ lo vun vén cho địa phương mình: trống làng nào
làng nấy đánh, thánh làng nào làng nấy thờ; trâu ta ăn c đồng ta...
Óc gia trưởng - tôn ti:
Tính tôn ti, sản phẩm của nguyên tăc tố chức nông thôn theo huyết thống,
tự thân nó không phải là xấu, nhưng khi nó gắn liền với óc gia trưởng, tạo
nên tâm "quyền huynh thế phụ", áp đặt ý muốn của mình cho người khác,
tạo nên tưởng thứ bậc lý: sống lâu lên lão làng, áo mặc không qua
khỏi đầu, thì trở thành một lực cản đáng sợ cho sphát triển hội, nhất
là khi mà thói gia đình chủ ngha vẫn đang là một căn bệnh lan tràn.
Đặc điểm môi trường sống quy định đặc tính duy. Cả hai quy định tính
cách của dân tộc. cộc sống nông nghiệp lúa nước và lối tư duy biện chứng,
lOMoARcPSD| 61463864
như ta đã biết, dẫn đến dự hình thành nguyên âm dương lỗi ứng xử
nước đôi chính một đặc điểm tính cách của dân tộc Việt. Người Việt
đông thời vừa tinh thân đoàn kết tương trợ lại vừa óc hữu ích kỉ
thói cào bang; vừa tính tập thế hòa đồng lại vừa phái, địa
phương; vừa nếp sống dân chủ bình đăng lại vừa óc gia trưởng tôn
ti, vừa có tinh thần tự lập lại vừa xem nhẹ vai trò cá nhân;
vừa tính cần cù và nếp sống tự cấp tự túc vừa thói dựa dẫm, ỷ lại. Tất
cả những cái tốt và cái xấu ấy đều đi thành từng cặp và đều tồn tại ở người
Việt Nam; bởi lẻ tất cả đều bắt nguồn từ 2 đặc trưng gốc trái ngược nhau
là tính cộng đồng tính tự trị. Tùy lúc tùy nơi mà mặt tốt hoặc mặt xấu sẽ
được phát huy: khi đứng trước những khó khăn lớn, những nguy cơ đe dọa
sự sống còn của cộng đồng thì cái nổi lên sẽ tinh thần đoàn kết và tính
tập thể; nhưng khi nguy ấy đi qua rồi thì thói tư hữu óc phái địa
phương có thể nối lên.
6
Văn hóa làng, văn hóa Việt
Từ làng lên phố quá trình đô thị hóa không thể tránh, nhưng dẫu không
gian làng, tâm thức làng nhạt nhòa phần nào trong thời hiện đại, thì trong
mỗi người làng, nơi ấy vẫn ăm ắp những điều thiêng liêng, giản dị. Làng
vẫn sợi dây kết nối bền chặt mỗi nhân với cộng đồng, gốc gác ăn
sâu, bám rễ trong tâm thức người Việt.
lOMoARcPSD| 61463864
Làng Việt là “đất thiêng”, nơi “sinh - trưởng - tụ - về” của mỗi con người.
Sau lũy tre làng là một cộng đồng được liên kết chặt chẽ bởi quan hệ nghề
nghiệp, tín ngưỡng, láng giềng và đặc biệt là dòng tộc với những quy định
riêng có - lệ làng, “phép vua thua lệ làng”, “giàu làng, sang nước”. Học
hành, đỗ đạt thì trở về làng “vinh quy bái tổ”, “công thành danh toại” thì
công đức cho làng, đi ngược về xuôi buôn buôn, bán bán đâu, ngày hội
làng cũng về dlễ… Tính “cộng cư, cộng mệnh, cộng cảm” làm nên scố
kết cộng đồng là đặc trưng của làng xã Việt Nam. Đặc trưng ấy đã giữ cho
làng Việt Nam yên bình vững vàng trước những yếu tố ngoại lai trong
suốt chiều dài lịch sử dựng nước giữ nước. Theo nhà nghiên cứu n
hóa dân gian Nguyễn Hùng V, nhà - làng - nước là những thực thể gắn bó
chặt chẽ, không thể tách rời. Làng chính cái nôi gắn kết mỗi con
người, tạo nên khối đoàn kết cộng đồng, động lực phát triển, cũng sức
mạnh Việt Nam.
Trong tiến trình đô thị hóa, công nghiệp hóa nông thôn, nhiều làng quê đã
chuyển đổi từ hình sản xuất nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ.
Và những làn sóng công nghệ mới thâm nhập vào đời sống làng nghề, làm
nên những điều kỳ diệu cho các sản phẩm truyền thống, tạo nên những giá
trị mới mang yếu tố thời đại. Cùng với sự phát triển kinh tế, đời sống người
làng ngày càng khấm khá hơn, đình chùa, di tích được tu bổ tôn tạo, lễ hội
được phục dựng… Rồi những mô hình khai thác không gian văn hóa làng
lOMoARcPSD| 61463864
gắn với những giá trị lịch sử được hình thành, như: Du lịch tâm linh, du
lịch sinh thái… đem đến sắc thái mới cho nhiều miền quê. Tuy nhiên, cũng
một thực tế khác, những yếu tố tiêu cực, mặt trái của tiến trình này đã,
đang tác động mạnh mẽ đến đời sống nông thôn, làm phai nhạt giá trị truyền
thống, phá vỡ không gian cũng như những chuẩn mực văn hóa vốn là đặc
trưng của mỗi làng quê. Đây là điều thật sđáng lo ngại, bởi làng Việt
chính là căn cốt của nước Việt.
Văn hóa vừa là động lực, vừa là tài nguyên. Việc bảo tồn, phát huy những
giá trị văn hóa làng có vai trò đặc biệt quan trọng với Thăng Long - Hà
Nội ngàn năm văn hiến - đất trăm nghề nói riêng đất nước nói chung.
Trong thời đại hội nhập, quá trình tiếp biến văn hóa diễn ra với tốc độ của
những cơn lốc. Những cái người quê tình đánh mất hôm nay, rất khó
tìm lại trong tương lai. Do vậy, cần hình thành một duy mới trong tiếp
cận văn hóa triển khai hệ thống giải pháp căn cơ, bài bản hơn để ngăn
chặn sự suy thoái cũng như những biểu hiện lệch chuẩn trong đời sống văn
hóa làng. Từ đó xây dựng những giá trị mới trên nền tảng tốt đẹp của văn
hóa truyền thống, để mỗi làng quê trên đất Thủ đô không chỉ là nơi đáng
sống, mà còn mang đậm nét đặc trưng của nông thôn mới Hà Nội.
Văn hóa làng - nguồn tài nguyên tận cho cảm hứng sáng tạo, cũng
phương tiện của sự sáng tạo để mang đến những giá trị văn hóa, giá trị nhân
văn mới cho con người, những chủ thể của văn hóa làng, xã. Văn hóa làng
lOMoARcPSD| 61463864
- văn hóa Việt chính sợi dây kết nối truyền thống văn hóa trong mỗi
người dân nước Việt.
7
Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Ẩm Thực Việt
Vị trí địa lý sẽ ảnh hưởng đến việc lựa chọn nguyên liệu chế biến, kết cấu
bữa ăn. Tùy theo địa lý từng vùng miền sẽ ảnh hưởng đến việc nuôi trồng,
đánh bắt, sản xuất nguồn thực phẩm sẽ khác nhau từ đó bữa ăn của người
dân 3 miền cũng hoàn toàn khác nhau.
Khí hậu cũng ảnh hưởng lớn đến văn hóa m thực. Ở những vùng khí hậu
nóng, các món ăn thường được chế biến từ thực vật, tỷ lthịt hoặc chất béo
ít hơn. Phương pháp chế biến thường là luộc, nhúng, chần. Hương vị món
ăn sẽ mạnh, thơm nồng cay. Ngược lại, những vùng khí hậu lạnh,
nguyên liệu chủ yếu thịt động vật, giàu chất béo. Người dân thường sử
dụng phương pháp quay, hầm trong chế biến. Lịch sử cũng yếu tố ảnh
hưởng đến ẩm thực. Với bề dày lịch sử lâu đời, hào hùng, ẩm thực Việt
rất nhiều món ăn phong phú, mang tính cổ truyền nhiều tập quán ăn
uống độc đáo.
Ngoài ra những yếu tố khác như văn hóa, kinh tế, tôn giáo cũng ảnh hưởng
rất lớn đến văn hóa ẩm thực của người Việt.
Đặc Trưng Văn Hóa Ẩm Thực Việt Nam
Hòa Đồng Trong Đa Dạng
lOMoARcPSD| 61463864
Ẩm thực Việt Nam có sự giao lưu, tiếp biến với các quốc gia khác nhưng
biến tấu lại cho phù hợp với khẩu vị ca người dân bản địa. Điều này được
thể hiện rất qua cách cải biến nhiều món ăn cho phù hợp với khẩu vị
theo từng vùng miền.
Sử Dụng Ít Chất Béo
Đa số các món Việt được chế biến tnguyên liệu rau củ, ít béo, không dùng
nhiều chất đạm từ thịt hay dầu mỡ. Các món Việt đa số không gây ngán
tốt cho sức khỏe.
Hương Vị Đậm Đà
Món ăn Việt Nam được kết hợp từ nhiều loại gia vị như nước mắm, tiêu,
muối…, hay ăn kèm với các loại rau thơm, húng quế, tía tô, ngò…
Tổng Hòa Nhiều Chất Vị
Món ăn Việt có sự tổng hòa của nhiều hương vị. Một trong những món ăn
điển hình phải kể đến gỏi. Bạn sẽ bắt gặp tất cả các vị chua, cay, mặn,
ngọt, giòn, dai…
Ngon Và Lành
Món Việt còn chú trọng hài hòa yếu tố âm – dương để cân bằng cho cơ thể
đồng thời tăng hương vị. Trong bữa ăn của người Việt luôn rất nhiều
món khác nhau để cung cấp nhiều dưỡng chất cho cơ thể hơn.
Tính Cộng Đồng
lOMoARcPSD| 61463864
Tính cộng đồng của người Việt thể hiện rất trong từng bữa ăn. Chẳng
hạn như, mọi người sẽ cùng nhau chấm chung 1 chén nước mắm.
Hiếu Khách
Người Việt rất hiếu khách trong ăn uống. Họ thường mời khách đến ăn
cơm. Trước bữa ăn thường mời nhau.
Dọn Thành Mâm
Người Việt sẽ dọn tất cả các món ăn lên mâm, không quan trọng việc lên
món nào trước, món nào sau như người phương Tây.
Bữa Ăn Gia Đình
Bữa ăn của gia đình người Việt thường có mặt của nhiều thế hệ, là nơi thể
hiện văn hóa gia đình. Bữa ăn thường 3 5 món (món mặn, món canh, món
xào, món cuốn). Một ngày, người Việt thường ăn 3 – 4 bữa.
Lương Thực
Gạo lương thực chính. Một số hoa màu chứa tinh bột thay thế cho lúa
gạo bắp, khoai mì, mè, đậu… Các món ăn từ lúa gạo bánh chưng, bánh
xèo, bánh giò, bánh bèo…
Đặc Trưng Món Ăn 3 Miền
Miền Bắc
Khẩu vị ca người miền Bắc thường ít mặn, hơi nhạt, ít đắng, ít cay, ít ngọt
và vị chua vừa phải.
lOMoARcPSD| 61463864
Gia vị sử dụng trong nấu nướng thường cơm mẻ, giấm, nước tương, nước
mắm, tương bần, mắm tôm, riềng, nghệ, khế, sấu, tía tô, kinh giới… Người
miền Bắc chuộng các món có nước dùng như phở, bún. Một số món ăn nổi
tiếng của miền Bắc như phở, bánh đa cua Hải Phòng, tương bần Hưng Yên,
chả cá Lã Vọng, cốm Vòng, bún thang, giả cầy, ốc
bung…
Miền Trung
Khẩu vị của người miền Trung đậm đà, cay nhiều, ngọt vừa, ít chua.
Người miền Trung thường sdụng các loại gia vị như đường, bột ngọt, hạt
nêm, tiêu, muối, ớt bột, quế chi, nước mắm, mắm ruốc, mắm mực, củ nén,
lá giang, lá ổi…
Đa sngười miền Trung thường thích các món ăn từ hải sản, chú ý đến
cách bảo quản thực phẩm và yêu thích món ăn cung đình.
Các món ăn đặc trưng bánh bèo tôm cháy, bún suông cua gạch, cơm hến,
mì Quảng, bún bò Huế…
Miền Nam
Người miền Nam sử dụng vị ngọt của đường trong hầu hết các món ăn của
mình. Bên cạnh đó, dừa tươi, nước cốt dừa cũng được sử dụng để làm tăng
vị béo cho món ăn.
lOMoARcPSD| 61463864
Trong bữa ăn của người miền Nam c nào cũng canh. Trong đó, canh
chua chính món ăn đặc trưng của Nam Bộ. Với đặc trưng vùng đất
được khẩn hoang sau này, thiên nhiên ưu đãi, người dân luôn sử dụng mọi
thứ xung quanh để đem vào bữa ăn thậm chí là loại côn trùng hay động vật
hoang dại như đuông dừa, dế cơm, chuột đồng, rắn…
Trong mâm cỗ của người miền Nam thường 3 mâm bánh ngọt. Người
miền Nam thường ăn các loại bánh như bánh bò, bánh trái nhãn, bánh tai
yến, bánh ít nhân đồng, nhân dừa, bánh chuối nướng…
Với nguồn thủy hải sản dồi dào, ngoài sử dụng tươi sống, người miền Nam
còn nổi tiếng với các món khô, mắm như khôlóc, cá sặc, mắm cá linh,
mắm ba khía…
8
Trang phục là một trong ba yêu cầu của đời sống vật chất (ăn, ở, mặc).
Ðó sản phẩm văn hoá sớm nhất của hội loài người. Trang phục
cũng được thay đổi theo quá trình phát triển của lịch sử. Hai nét nổi
bật trong trang phục truyền thống của phụ nữ Việt Nam áo dài
nón lá.
Thời phong kiến, trang phục của phụ nlà: váy đen, yếm trắng, áo tứ thân,
đầu chít khăn mỏ quạ, thắt lưng hoa lý. Bộ lễ phục gồm ba chiếc áo, ngoài
cùng là áo dài tứ thân bằng the thâm hay màu nâu non, kế đến là chiếc áo
màu mỡ trong cùng chiếc áo màu cánh sen. Khi mặc, cả ba chiếc
lOMoARcPSD| 61463864
áo chỉ cài khuy bên sườn, phần từ ngực đến cổ lật chéo để lộ ba màu áo.
Bên trong chiếc yếm thắm. Ðầu đội nón trông rất duyên dáng kín đáo.
Tới nay, trang phục truyền thống của người Việt đã thay đổi. Bộ âu phục
dần thay thế cho bộ đồ truyền thống của đàn ông. Chiếc áo dài của phụ nữ
ngày càng được cải tiến và hoàn thiện hơn như ngày nay, mặt khác do yêu
cầu của lao động, công việc, không phải lúc nào phụ nữ cũng mặc áo dài
chỉ những ngày trang trọng, ngày vui... thì mới dịp để "thể hiện
mình".
Ðối với nhiều dân tộc khác Việt Nam, trang phục truyền thống cũng đang
dần dần mất đi nét riêng và thay thế bởi những hàng may sẵn, vừa tiện
dụng, rẻ lại thêm rất nhiều ưu điểm khác trong cuộc sống hiện tại cho bản
thân và gia đình họ.
Trang phục truyền thống
Áo dài

Preview text:

lOMoAR cPSD| 61463864 1
1. Điều kiện hình thành và phát triển của văn hóa Việt Nam: a. Điều kiện bên trong:
+ Là nơi bắt nguồn các dòng sông lớn của khu vực Nam Á và ĐNÁ.
+ Có nhiều vùng đồng bằng lớn nhỏ khác nhau nhưng rất phì nhiêu.
+ Khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều.
→ Cơ sở nội tại để phát sinh và phát triển nền văn minh nông nghiệp lúa nước.
+ Hệ sinh thái phong phú, thậm chí là phồn tạp.
+ Hệ thực vật phát triên hơn so với hệ động vật.
+ Hệ thống sông ngòi dày đặc, bờ biển dài 3260 km.
→ Hai tính trội của VHVN truyền thống là sông - nước và thực vật.
+ Đường biên giới khá dài với Cambodia, China, Laos.
→ Là giao điểm của các luồng văn hóa, các luồng di dân, luồng giao thông
+ 2 đồng bằng lớn: ĐB s.Hồng và s. Cửu Long là 2 vựa lúa lớn. + S rừng núi chiêm ¾ S.
→ Không chỉ thuần túy nông nghiệp trồng lúa nước mà việc làm nương,
rẫy, thu hái lâm sản cũng đã trở thành tập tục thói quen có từ lâu đời.
- ĐK con người: * Nguồn gốc con người VN: o
Con người VN bắc nguồn từ chủng Indonesien. "
Tính thống nhất trong đa dạng và tính thống nhất
bộ phận. o Mảnh đất con người xuất hiện sớm. lOMoAR cPSD| 61463864
→ Tính bản địa được khăng định. o Cộng với
quá trình thiên di các luồng dân cư.
→ Chủ thể là quốc gia đa dân tộc, thể hiện tính đa dạng.
• Có 54 dân tộc, thuộc nhiều nhóm ngôn ngữ - tộc người khác nhau: Việt- Mường, Môn-Khome,...
* Lịch sử dựng nước và giữ nước o Lịch sử dựng nước và giữ nước lâu
đời trên cơ sở 1 VH có bề dài và chiều sâu, phong phú, đặc sắc.
o Kỷ nguyên văn minh: Văn Lang - Âu Lạc, Đại Việt. o Thời kỳ 18
vua Hùng. o Thời kỳ 1000 năm Bắc thuộc. o Thời kỳ 1000 năm
dành và giữ chủ quyền. o Thời kỳ đô hộ thực dân.
o Thời kỳ giải phóng dân tộc và chống ngoại xâm.
o Thời kỳ xây dựng đất nước.
b. Điều kiện bên ngoài: •
Giao lưu và tiếp biến VH Trung Quốc. •
Giao lưu và tiếp biến VH Ăn Độ.
» Đạo Phật, Đạo Lão, Đạo Nho,... xâm nhập.
Giao lưu và tiếp biến với VH phương Tây.
2 Đặc trưng của văn hóa gốc nông nghiệp
Văn hóa gốc Nông nghiệp có những đặc trưng riêng biệt và phản ánh cuộc
sống, giá trị, và tập tục của những người sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp.
Dưới đây là một số đặc trưng quan trọng của văn hóa này: lOMoAR cPSD| 61463864
1. Gắn kết với đất đai: Văn hóa gốc Nông nghiệp thường có mối gắn
kết mạnh mẽ với đất đai. Đất đai không chỉ là nguồn sống mà còn
được xem xét với tôn trọng và thần linh. Các nghi lễ và tập tục
thường liên quan đến sự tôn trọng và bảo vệ đất đai.
2. Mùa màng và chu kỳ tự nhiên: Những người sống trong văn hóa
này thường có hiểu biết sâu rộng về các mùa màng, thời tiết và các
sự kiện tự nhiên quan trọng liên quan đến nông nghiệp. Các nghi lễ
và lễ hội thường tổ chức để kỷ niệm và tôn vinh các sự kiện này.
3. Cộng đồng và sự chia sẻ: Văn hóa gốc Nông nghiệp thường đặt sự
chia sẻ và sự hợp tác trong cộng đồng là quan trọng. Việc giúp đỡ
lẫn nhau trong việc làm ruộng và chăm sóc gia súc là một phần quan
trọng của cuộc sống hàng ngày.
4. Nghệ thuật và âm nhạc nông nghiệp: Văn hóa này thường có nghệ
thuật và âm nhạc đặc trưng liên quan đến cuộc sống nông nghiệp. Ca
hát về việc gặt hái, những điệu nhảy về nông trại, và các trình diễn
nghệ thuật về cuộc sống nông nghiệp thường được thực hiện trong
các lễ hội và sự kiện địa phương.
5. Truyền thống và giáo dục: Truyền thống và kiến thức về nông
nghiệp thường được truyền đạt từ thế hệ này sang thế hệ khác. Các
gia đình và cộng đồng thường có những phương thức đặc biệt để
giảng dạy về cách làm việc trên nông trại và bảo tồn kiến thức truyền thống. lOMoAR cPSD| 61463864
6. Chế độ làm việc và thời gian: Văn hóa gốc Nông nghiệp thường
tuân theo các chế độ làm việc và lịch trình phụ thuộc vào chu kỳ tự
nhiên, chẳng hạn như mùa gặt và mùa vụ. Điều này tạo ra sự kết nối
sâu sắc với môi trường tự nhiên.
Những đặc trưng này thể hiện sự đa dạng và sâu sắc của văn hóa gốc Nông
nghiệp và quyết định cách mọi người sống và làm việc trong các xã hội nông nghiệp. 3 Văn hóa Văn hiến
Văn vâṭ Văn minh Đối Vât cḥ Thiên
về Thiên về Thiên về yếu tố vât cḥ tượng ất và tinh thần ất khoa học kĩ tinh thần vât cḥ ất thuâṭ Tính Tính lịch sử
Chỉ sự phát triển, mang chất tính giai đoạn Tính dân tôc ̣ Tính quốc tế Kiểu xã Phương Đông Phương T hôị 4 lOMoAR cPSD| 61463864
1. Những đặc trưng của đô thị Việt Nam truyền thống
1.1 Đặc trưng 1: Xét về nguồn gốc, đô thị Việt Nam phần lớn do nhà nước
sản sinh ra, vì vậy đô thị Việt Nam trước hết là trung tâm chính trị, rồi sau
đó mới là kinh tế, văn hóa.
Trái với hầu hết các đô thị phương Tây, đô thị Việt Nam do nhà nước khai
sinh ra và thực hiện chức năng hành chính là chủ yếu. Vào các giai đoạn
khác nhau, các đô thị lớn nhỏ ra đời như Văn Lang, Cổ Loa, Luy Lâu, Thăng Long,
Phú Xuân (Huế)... đều hình thành theo con đường như thế. Ví dụ, Cổ Loa
- một đô thị quan trọng thời cổ đại, được hình thành từ việc vua An Dương
Vương dựa trên những thuận lợi về mặt địa lý, dời đô từ vùng núi và xây
dựng thành trì to lớn tại đây.
1.2 Đặc trưng 2: Xét về chức năng, đô thị Việt Nam thực hiện chức năng
hành chính là chủ yếu và chịu sự quản lý trực tiếp của nhà nước phong kiến.
"Trong đô thị có bộ phận quản lí và bộ phận làm kinh tế (buôn bán); thường
thì bộ phận quản lí hình thành trước theo kế hoạch, rồi dần dần, một cách
tự phát, bộ phận làm kinh tế mới được hình thành. Thậm chí trong nhiều
trường hợp, bộ phận quản lí của đô thị đã hoạt động rồi mà bộ phận làm
kinh tế vẫn không phát triển được hoặc phát triển rất yếu ớt như trường hợp các kinh đô lOMoAR cPSD| 61463864
Hoa Lư của nhà Đinh, phủ Thiên Trường của nhà Trần, Tây Đô của nhà Hồ,
Lam Kinh của nhà Lê, Phượng Hoàng Trung Đô của nhà Tây Sơn." ' Như
vậy, trong khi đô thị phương Tây thực hiện chức năng kinh tế là chủ yếu
thì đô thị của ta thực hiện chức năng hành chính là chủ yếu. Khi nhà nước
có nhu cầu mở trung tâm hành chính thì họ thường chọn một trong những
đô thị có sẵn như đô thị Athens tại Hy Lạp, đô thị Babylon - thành quốc
của Lưỡng Hà cổ đại. 5
phân tích các đặc trưng cơ bản của nông thôn Việt Nam?
2 đặc trưng cơ bản của nông thôn Việt Nam là tính cộng đồng và tính tự trị,
là 2 đặc trưng bao trùm nhất, quan trọng nhất của làng xã, chúng tồn tại
song song như 2 mặt của một vấn đề Tính cộng đồng: * Định nghĩa:
Việc tổ chức nông thôn đồng thời theo nhiều nguyên tắc khác nhau tạo nên
tính cộng đồng làng xã. Tính cộng đồng là sự liên kết các thành viên trong
làng lại với nhau, mỗi người đều hướng tới những người khác - nó là đặc
trưng dương tính, hưởng ngoại. * Biểu tượng: lOMoAR cPSD| 61463864
Biểu tượng truyền thống của tính cộng đồng là sân đình, bến nước, cây đa
Làng nào cũng có một cái đình. Đó là biểu tượng tập trung nhất của làng về mọi phương diện
Trước hết, nó là một trung tâm hành chính, nơi duễn ra mọi công việc quan
trọng, nơi hội họp, thu sưu thuế...
Thứ đến, đình là một trung tâm văn hóa, nơi tố chức các cuộc hội hè, ăn
uống ( do vậy mà có từ đình đám), nơi biểu diên chèo tuống.
Đình còn là một trung tâm về mặt tôn giáo: thế đất, hướng đình được xem
là quyết định vận mệnh cả làng, đình cũng là nơi thờ thần Thành Hoàng bảo vệ cho làng.
Cuối cùng, đình là một trung tâm về mặt tình cảm: nói đến làng, người ta
nghĩ ngay tới cái đình với tất cả những tình cảm gắn bó thân thương nhất
Qua đình ngã nón trông đình, Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu.
Do ảnh hưởng của Trung Hoa, đình từ chỗ là nơi tập trung của tất cả mọi
người dần dần chỉ còn là chốn lui tới của đàn ông. Bị đẩy ra khỏi đình, phụ
nữ quần tụ lại nơi BỀN NƯỚC ( ở những làng ko có sông chảy qua thì có
giếng nước )- chỗ hàng ngày chị e gặp nhau cùng rửa rau, giặt giũ, chuyện trò...
Cây đa cổ thụ mọc um tùm ở đầu làng, gốc cây có miếu thờ lúc nào cũng
khói hương nghi ngút - đó là nơi hội tụ của thánh thần: thần cây da, ma
cây gạo, cú cáo cây đề; sợ thần sợ cả cây đa. Cây đa, gốc cây có quán
nước, còn là nơi nghỉ chân gặp gỡ của những người đi làm đồng, những lOMoAR cPSD| 61463864
khách qua đường... nhờ khách qua đường, gốc cây đa trở thành cánh cửa
sổ liên kết làng với thế giới bên ngoài.
* Biểu hiện tích cực của tính cộng đồng trong nông thôn Việt Nam
- Tinh thần đoàn kết, tương trợ
Tính cộng đồng nhấn mạnh vào sự đồng nhất. do đồng nhất ( cùng hội cùng
thuyên, đồng cảnh ngộ ) cho nên người Việt Nam luôn sẵng sàng đoàn kết,
giúp đỡ lẫn nhau, coi mọi người trong cộng đồng như anh chị e trong nhà:
tay đứt ruột xót; chị ngã e nâng...
- Tính tập thế hòa đông
Do đồng nhất ( giống nhau ) nên người Việt Nam luôn có tính tập thể rất
cao, hòa đồng vào cuộc sống chung
- Nếp sống dân chủ, bình đẳng
Sự đồng nhất cũng chính là ngọn nguồn của nếp sống dân chủ - bình đăng
bookc look trong các nguyên tắc tổ chức nông thôn theo địa bàn cư trú,
theo nghê nghiệp, theo giáp. * Biểu hiện tiêu cực
- sự thủ tiêu vai trò cá nhân
Chính do đồng nhât mà ở người Việt Nam, ý thức về con người cá nhân bị
thủ tiêu: người Việt Nam luôn hòa tan vào các mối quan hệ xã hội ( với
người này là em, người kia là cháu, với người khác nữa là anh/ chị....), giải
quyết xung đột theo lối hòa cả làng. Điều này khác hắn với truyền thống
phương Tây, nơi con người được rèn luyện ý thức cá nhân ngay từ nhỏ. lOMoAR cPSD| 61463864
- Thói dựa dẫm, ỷ lại vào tập thể:
Sự đồng nhất còn dẫn đến chỗ người Việt Nam hay dựa dẫm, ỷ lại vào tập
thể: Nước trôi thì bèo trôi, Nước nổi thì bèo nối. Tệ hơn nữa là tình trạng
Cha chung không ai khóc; Lăm sãi ko ai đóng cửa chùa... Cùng với thỏi
dựa dẫm, ỷ lại là tư tưởng cầu an ( an phận thủ thường) và cả nề, làm gì
cũng sợ rút dây động rừng nên có việc gì thường chi trương đóng cửa bảo nhau...
- Thói cào băng, đố kị
Một nhược điểm trầm trọng thứ 3 là thói cào băng, đố kị, không muốn cho
ai hơn mình ( để cho tất cả đều giông nhau, đồng nhất) Xấu đều hơn tốt lòi,
Khôn độc không bằng ngốc đàn...
Những thói xấu có nguồn gốc từ tính cộng đồng này khiến cho ở Việt Nam,
khái niệm " giá trị" trở nên hết sức tương đối ( nó khẳng định đặc điểm tính
chủ quan của lối tư duy nông nghiệp). cái tốt nhưng tốt riêng rẽ thì trở thành
cái xấu, ngược lại, cái xấu, nhưng là xấu tập thể thì trở nên bình thường:
Toét mắt là tại hướng đình, cả làng cùng toét phải mình e đâu Tính tự trị * Định nghĩa
Sản phẩm của tính cộng đồng là một tập thể làng xã mang tính tự trị: làng
nào biết làng nấy, các làng tồn tại khá biệt lập với nhau và phần nào độc
lập với triều đình phong kiến. Môi làng là một "vương quốc" nhỏ khép kín lOMoAR cPSD| 61463864
với luật pháp riêng ( hương ước ) và "tiểu triều đình" riêng ( trong đó hội
đồng kì mục là cơ quan lập pháp, lí dịch là cơ quan hành pháp, nhiều làng
tôn xưng bốn cụ cao tuổi nhất làng là tứ trụ ). Sự biệt lập đó tạo nên truyền
thống phép vua thua lệ làng. Đây là đặc trưng âm tính - hướng nội. * Biếu tượng
Biếu tượng truyền thống của tính tự trị là lũy tre. Rạng tre bao kín làng, trở
thành một thứ thành lũy kiên côbất khả xâm phạm: đốt ko cháy, trèo ko
được, đào đường hầm thì vướng rẽ ko qua ( chính vì vậy mà tiếng Việt mới
gọi rặng tre là lũy, thành lũy). Lũy tre là một đặc điểm quan trọng làm cho
làng xóm phương Nam khác hăn ấp lí Trung Hoa có thành quách đắp bằng đất.
* Biểu hiện tích cực của tính tự trị trong nông thôn Việt Nam - Tinh thân tự lập
Tính tự trị chú trọng nhấn mạnh vào sự khác biệt. Khởi đầu là sự khác biệt
của cộng đồng ( làng, họ) này so với cộng đồng ( làng, họ ) khác. Sự khác
biệt - cơ sở của tính tự trị - tạo nên tinh thần tự lập cộng đồng: mỗi làng,
mỗi tập thể phải tự lo liệu lấy mọi việc
- Nếp sống tự câp, tự túc, tính cần cù
Vì phải tự lo liệu, nên người Việt Nam có truyền thống cần cù, đầu tắt mặt
tối, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. nó cũng tạo nên nếp sống tự cấp tự
túc: mỗi làng tự đáp ứng mọi nhu cầu cho cuộc sống của làng mình; mỗi lOMoAR cPSD| 61463864
nhà có vường rau, chồng gà, ao cá - tự đảm bảo nhu cầu về ăn, có bụi tre,
rặng xoan, gốc mít - tự đảm bảo nhu cầu về ở.
* Biểu hiện tiêu cực của tính tự trị - Oc tư hữu, ích kỉ
Chính do nhấn mạnh vào sự khác biệt - cơ sở của tính tự trị - mà người Việt
Nam có thói xấu là óc tư hữu, ích kỉ: bè ai người nấy lo; ruộng ai người
nấy đắp bờ, ai có thân người nấy lo; ai có bò người nấy giữ...Óc tư hữu, ích
kỉ nảy sinh ra từ tính tự trị của làng xã Việt và đã luôn bị chính người Việt
phê phán: của mình thì giữ bo bo, của người thì để cho bò nó ăn; của người
bò tát, của mình buộc lạt...
- Óc bè phái, địa phương cục bộ
Làng nào biết làng ấy, chỉ lo vun vén cho địa phương mình: trống làng nào
làng nấy đánh, thánh làng nào làng nấy thờ; trâu ta ăn cỏ đồng ta... Óc gia trưởng - tôn ti:
Tính tôn ti, sản phẩm của nguyên tăc tố chức nông thôn theo huyết thống,
tự thân nó không phải là xấu, nhưng khi nó gắn liền với óc gia trưởng, tạo
nên tâm lí "quyền huynh thế phụ", áp đặt ý muốn của mình cho người khác,
tạo nên tư tưởng thứ bậc vô lý: sống lâu lên lão làng, áo mặc không qua
khỏi đầu, thì nó trở thành một lực cản đáng sợ cho sự phát triển xã hội, nhất
là khi mà thói gia đình chủ nghĩa vẫn đang là một căn bệnh lan tràn.
Đặc điểm môi trường sống quy định đặc tính tư duy. Cả hai quy định tính
cách của dân tộc. cộc sống nông nghiệp lúa nước và lối tư duy biện chứng, lOMoAR cPSD| 61463864
như ta đã biết, dẫn đến dự hình thành nguyên lý âm dương và lỗi ứng xử
nước đôi chính là một đặc điểm tính cách của dân tộc Việt. Người Việt
đông thời vừa có tinh thân đoàn kết tương trợ lại vừa có óc tư hữu ích kỉ
và thói cào bang; vừa có tính tập thế hòa đồng lại vừa có có bè phái, địa
phương; vừa có nếp sống dân chủ bình đăng lại vừa có óc gia trưởng tôn
ti, vừa có tinh thần tự lập lại vừa xem nhẹ vai trò cá nhân;
vừa có tính cần cù và nếp sống tự cấp tự túc vừa có thói dựa dẫm, ỷ lại. Tất
cả những cái tốt và cái xấu ấy đều đi thành từng cặp và đều tồn tại ở người
Việt Nam; bởi lẻ tất cả đều bắt nguồn từ 2 đặc trưng gốc trái ngược nhau
là tính cộng đồng và tính tự trị. Tùy lúc tùy nơi mà mặt tốt hoặc mặt xấu sẽ
được phát huy: khi đứng trước những khó khăn lớn, những nguy cơ đe dọa
sự sống còn của cộng đồng thì cái nổi lên sẽ là tinh thần đoàn kết và tính
tập thể; nhưng khi nguy cơ ấy đi qua rồi thì thói tư hữu và óc bè phái địa
phương có thể nối lên. 6
Văn hóa làng, văn hóa Việt
Từ làng lên phố và quá trình đô thị hóa là không thể tránh, nhưng dẫu không
gian làng, tâm thức làng có nhạt nhòa phần nào trong thời hiện đại, thì trong
mỗi người làng, nơi ấy vẫn ăm ắp những điều thiêng liêng, giản dị. Làng
vẫn là sợi dây kết nối bền chặt mỗi cá nhân với cộng đồng, là gốc gác ăn
sâu, bám rễ trong tâm thức người Việt. lOMoAR cPSD| 61463864
Làng Việt là “đất thiêng”, nơi “sinh - trưởng - tụ - về” của mỗi con người.
Sau lũy tre làng là một cộng đồng được liên kết chặt chẽ bởi quan hệ nghề
nghiệp, tín ngưỡng, láng giềng và đặc biệt là dòng tộc với những quy định
riêng có - lệ làng, “phép vua thua lệ làng”, “giàu ở làng, sang ở nước”. Học
hành, đỗ đạt thì trở về làng “vinh quy bái tổ”, “công thành danh toại” thì
công đức cho làng, đi ngược về xuôi buôn buôn, bán bán ở đâu, ngày hội
làng cũng về dự lễ… Tính “cộng cư, cộng mệnh, cộng cảm” làm nên sự cố
kết cộng đồng là đặc trưng của làng xã Việt Nam. Đặc trưng ấy đã giữ cho
làng xã Việt Nam yên bình vững vàng trước những yếu tố ngoại lai trong
suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước. Theo nhà nghiên cứu văn
hóa dân gian Nguyễn Hùng Vĩ, nhà - làng - nước là những thực thể gắn bó
chặt chẽ, không thể tách rời. Làng xã chính là cái nôi gắn kết mỗi con
người, tạo nên khối đoàn kết cộng đồng, là động lực phát triển, cũng là sức mạnh Việt Nam.
Trong tiến trình đô thị hóa, công nghiệp hóa nông thôn, nhiều làng quê đã
chuyển đổi từ mô hình sản xuất nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ.
Và những làn sóng công nghệ mới thâm nhập vào đời sống làng nghề, làm
nên những điều kỳ diệu cho các sản phẩm truyền thống, tạo nên những giá
trị mới mang yếu tố thời đại. Cùng với sự phát triển kinh tế, đời sống người
làng ngày càng khấm khá hơn, đình chùa, di tích được tu bổ tôn tạo, lễ hội
được phục dựng… Rồi những mô hình khai thác không gian văn hóa làng lOMoAR cPSD| 61463864
gắn với những giá trị lịch sử được hình thành, như: Du lịch tâm linh, du
lịch sinh thái… đem đến sắc thái mới cho nhiều miền quê. Tuy nhiên, cũng
có một thực tế khác, những yếu tố tiêu cực, mặt trái của tiến trình này đã,
đang tác động mạnh mẽ đến đời sống nông thôn, làm phai nhạt giá trị truyền
thống, phá vỡ không gian cũng như những chuẩn mực văn hóa vốn là đặc
trưng của mỗi làng quê. Đây là điều thật sự đáng lo ngại, bởi làng Việt
chính là căn cốt của nước Việt.
Văn hóa vừa là động lực, vừa là tài nguyên. Việc bảo tồn, phát huy những
giá trị văn hóa làng có vai trò đặc biệt quan trọng với Thăng Long - Hà
Nội ngàn năm văn hiến - đất trăm nghề nói riêng và đất nước nói chung.
Trong thời đại hội nhập, quá trình tiếp biến văn hóa diễn ra với tốc độ của
những cơn lốc. Những cái mà người quê vô tình đánh mất hôm nay, rất khó
tìm lại trong tương lai. Do vậy, cần hình thành một tư duy mới trong tiếp
cận văn hóa và triển khai hệ thống giải pháp căn cơ, bài bản hơn để ngăn
chặn sự suy thoái cũng như những biểu hiện lệch chuẩn trong đời sống văn
hóa làng. Từ đó xây dựng những giá trị mới trên nền tảng tốt đẹp của văn
hóa truyền thống, để mỗi làng quê trên đất Thủ đô không chỉ là nơi đáng
sống, mà còn mang đậm nét đặc trưng của nông thôn mới Hà Nội.
Văn hóa làng - nguồn tài nguyên vô tận cho cảm hứng sáng tạo, cũng là
phương tiện của sự sáng tạo để mang đến những giá trị văn hóa, giá trị nhân
văn mới cho con người, những chủ thể của văn hóa làng, xã. Văn hóa làng lOMoAR cPSD| 61463864
- văn hóa Việt chính là sợi dây kết nối truyền thống văn hóa trong mỗi người dân nước Việt. 7
Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Ẩm Thực Việt
Vị trí địa lý sẽ ảnh hưởng đến việc lựa chọn nguyên liệu chế biến, kết cấu
bữa ăn. Tùy theo địa lý từng vùng miền sẽ ảnh hưởng đến việc nuôi trồng,
đánh bắt, sản xuất nguồn thực phẩm sẽ khác nhau từ đó bữa ăn của người
dân 3 miền cũng hoàn toàn khác nhau.
Khí hậu cũng ảnh hưởng lớn đến văn hóa ẩm thực. Ở những vùng khí hậu
nóng, các món ăn thường được chế biến từ thực vật, tỷ lệ thịt hoặc chất béo
ít hơn. Phương pháp chế biến thường là luộc, nhúng, chần. Hương vị món
ăn sẽ mạnh, thơm nồng và cay. Ngược lại, ở những vùng khí hậu lạnh,
nguyên liệu chủ yếu là thịt động vật, giàu chất béo. Người dân thường sử
dụng phương pháp quay, hầm trong chế biến. Lịch sử cũng là yếu tố ảnh
hưởng đến ẩm thực. Với bề dày lịch sử lâu đời, hào hùng, ẩm thực Việt có
rất nhiều món ăn phong phú, mang tính cổ truyền và nhiều tập quán ăn uống độc đáo.
Ngoài ra những yếu tố khác như văn hóa, kinh tế, tôn giáo cũng ảnh hưởng
rất lớn đến văn hóa ẩm thực của người Việt.
Đặc Trưng Văn Hóa Ẩm Thực Việt Nam
Hòa Đồng Trong Đa Dạng lOMoAR cPSD| 61463864
Ẩm thực Việt Nam có sự giao lưu, tiếp biến với các quốc gia khác nhưng
biến tấu lại cho phù hợp với khẩu vị của người dân bản địa. Điều này được
thể hiện rất rõ qua cách cải biến nhiều món ăn cho phù hợp với khẩu vị theo từng vùng miền.
Sử Dụng Ít Chất Béo
Đa số các món Việt được chế biến từ nguyên liệu rau củ, ít béo, không dùng
nhiều chất đạm từ thịt hay dầu mỡ. Các món Việt đa số không gây ngán và tốt cho sức khỏe.
Hương Vị Đậm Đà
Món ăn Việt Nam được kết hợp từ nhiều loại gia vị như nước mắm, tiêu,
muối…, hay ăn kèm với các loại rau thơm, húng quế, tía tô, ngò…
Tổng Hòa Nhiều Chất Và Vị
Món ăn Việt có sự tổng hòa của nhiều hương vị. Một trong những món ăn
điển hình phải kể đến là gỏi. Bạn sẽ bắt gặp tất cả các vị chua, cay, mặn, ngọt, giòn, dai… Ngon Và Lành
Món Việt còn chú trọng hài hòa yếu tố âm – dương để cân bằng cho cơ thể
đồng thời tăng hương vị. Trong bữa ăn của người Việt luôn có rất nhiều
món khác nhau để cung cấp nhiều dưỡng chất cho cơ thể hơn. Tính Cộng Đồng lOMoAR cPSD| 61463864
Tính cộng đồng của người Việt thể hiện rất rõ trong từng bữa ăn. Chẳng
hạn như, mọi người sẽ cùng nhau chấm chung 1 chén nước mắm. Hiếu Khách
Người Việt rất hiếu khách trong ăn uống. Họ thường mời khách đến là ăn
cơm. Trước bữa ăn thường mời nhau. Dọn Thành Mâm
Người Việt sẽ dọn tất cả các món ăn lên mâm, không quan trọng việc lên
món nào trước, món nào sau như người phương Tây. Bữa Ăn Gia Đình
Bữa ăn của gia đình người Việt thường có mặt của nhiều thế hệ, là nơi thể
hiện văn hóa gia đình. Bữa ăn thường 3 – 5 món (món mặn, món canh, món
xào, món cuốn). Một ngày, người Việt thường ăn 3 – 4 bữa. Lương Thực
Gạo là lương thực chính. Một số hoa màu chứa tinh bột thay thế cho lúa
gạo là bắp, khoai mì, mè, đậu… Các món ăn từ lúa gạo là bánh chưng, bánh
xèo, bánh giò, bánh bèo…
Đặc Trưng Món Ăn 3 Miền Miền Bắc
Khẩu vị của người miền Bắc thường ít mặn, hơi nhạt, ít đắng, ít cay, ít ngọt và vị chua vừa phải. lOMoAR cPSD| 61463864
Gia vị sử dụng trong nấu nướng thường là cơm mẻ, giấm, nước tương, nước
mắm, tương bần, mắm tôm, riềng, nghệ, khế, sấu, tía tô, kinh giới… Người
miền Bắc chuộng các món có nước dùng như phở, bún. Một số món ăn nổi
tiếng của miền Bắc như phở, bánh đa cua Hải Phòng, tương bần Hưng Yên,
chả cá Lã Vọng, cốm Vòng, bún thang, giả cầy, ốc bung… Miền Trung
Khẩu vị của người miền Trung đậm đà, cay nhiều, ngọt vừa, ít chua.
Người miền Trung thường sử dụng các loại gia vị như đường, bột ngọt, hạt
nêm, tiêu, muối, ớt bột, quế chi, nước mắm, mắm ruốc, mắm mực, củ nén, lá giang, lá ổi…
Đa số người miền Trung thường thích các món ăn từ hải sản, chú ý đến
cách bảo quản thực phẩm và yêu thích món ăn cung đình.
Các món ăn đặc trưng bánh bèo tôm cháy, bún suông cua gạch, cơm hến,
mì Quảng, bún bò Huế… Miền Nam
Người miền Nam sử dụng vị ngọt của đường trong hầu hết các món ăn của
mình. Bên cạnh đó, dừa tươi, nước cốt dừa cũng được sử dụng để làm tăng vị béo cho món ăn. lOMoAR cPSD| 61463864
Trong bữa ăn của người miền Nam lúc nào cũng có canh. Trong đó, canh
chua chính là món ăn đặc trưng của Nam Bộ. Với đặc trưng là vùng đất
được khẩn hoang sau này, thiên nhiên ưu đãi, người dân luôn sử dụng mọi
thứ xung quanh để đem vào bữa ăn thậm chí là loại côn trùng hay động vật
hoang dại như đuông dừa, dế cơm, chuột đồng, rắn…
Trong mâm cỗ của người miền Nam thường có 3 mâm bánh ngọt. Người
miền Nam thường ăn các loại bánh như bánh bò, bánh trái nhãn, bánh tai
yến, bánh ít nhân đồng, nhân dừa, bánh chuối nướng…
Với nguồn thủy hải sản dồi dào, ngoài sử dụng tươi sống, người miền Nam
còn nổi tiếng với các món khô, mắm như khô cá lóc, cá sặc, mắm cá linh, mắm ba khía… 8
Trang phục là một trong ba yêu cầu của đời sống vật chất (ăn, ở, mặc).
Ðó là sản phẩm văn hoá sớm nhất của xã hội loài người. Trang phục
cũng được thay đổi theo quá trình phát triển của lịch sử. Hai nét nổi
bật trong trang phục truyền thống của phụ nữ Việt Nam là áo dài và nón lá.
Thời phong kiến, trang phục của phụ nữ là: váy đen, yếm trắng, áo tứ thân,
đầu chít khăn mỏ quạ, thắt lưng hoa lý. Bộ lễ phục gồm ba chiếc áo, ngoài
cùng là áo dài tứ thân bằng the thâm hay màu nâu non, kế đến là chiếc áo
màu mỡ gà và trong cùng là chiếc áo màu cánh sen. Khi mặc, cả ba chiếc lOMoAR cPSD| 61463864
áo chỉ cài khuy bên sườn, phần từ ngực đến cổ lật chéo để lộ ba màu áo.
Bên trong là chiếc yếm thắm. Ðầu đội nón trông rất duyên dáng và kín đáo.
Tới nay, trang phục truyền thống của người Việt đã thay đổi. Bộ âu phục
dần thay thế cho bộ đồ truyền thống của đàn ông. Chiếc áo dài của phụ nữ
ngày càng được cải tiến và hoàn thiện hơn như ngày nay, mặt khác do yêu
cầu của lao động, công việc, không phải lúc nào phụ nữ cũng mặc áo dài
mà chỉ những ngày trang trọng, ngày vui... thì mới có dịp để "thể hiện mình".
Ðối với nhiều dân tộc khác ở Việt Nam, trang phục truyền thống cũng đang
dần dần mất đi nét riêng và thay thế bởi những hàng may sẵn, vừa tiện
dụng, rẻ lại thêm rất nhiều ưu điểm khác trong cuộc sống hiện tại cho bản thân và gia đình họ.
Trang phục truyền thống Áo dài