



















Preview text:
PHẦN 1
1. Hình thức nhà nước được hình thành từ các yếu tố nào? Hãy làm rõ các yếu tố đó.
Hình thức nhà nước là: những cách thức để tổ chức quyền lực nhà nước
và những biện pháp để tổ chức và để thực hiện quyền lực của nhà nước.
Các yếu tố cấu thành hình thức nhà nước gồm: hình thức chính thể, hình
thức cấu trúc nhà nước và chế độ chính trị.
Hình thức chính thể: - Là cách tổ chức, cơ cấu, trình tự thành lập các
cơ quan nhà nước cao nhất và mối liên hệ giữa chúng với nhau cũng
như mức độ tham gia của dân vào việc việc thiết lập các cơ quan này. -
Hình thức này gồm 2 dạng cơ bản: Chính thể quân chủ và chính thể cộng hoà.
+ Chính thể quân chủ: Là hình thức trong đó quyền lực tối cao của nhà
nước tập trung toàn bộ hoặc một phần vào người đứng đầu (vua, hoàng
đế) theo nguyên tắc thừa kế.
Trong chính thể quân chủ có chính thể quân chủ tuyệt đối và chính thể
quân chủ hạn chế. (trong các nước có ctqc tuyệt đối thì ng đứng đầu có
quyền lực vô hạn, trong các nước có ctqc hạn chế thì người đứng đầu
nằm một phần quyền lực và bên cạnh đó còn có cơ quan quyền lực khác).
+ Chính thể cộng hoà: Là hình thức trong đó quyền lực tối cao của
nhà nước phụ thuộc vào một cơ quan được bầu ra trong một tgian nhất định.
Trong chính thể cộng hoà thì có cộng hoà dân chủ và cộng hoà quý tộc.
Ở những nước cộng hoà dân chủ thì nhân dân được pháp luật quy định
có quyền bầu cử các cơ quan đại diện ( quyền lực) của nhà nước.
Ở những nước cộng hoà dân chủ quý tộc thì chỉ có tầng lớp giới quý
tộc đc bầu cử cơ quan đại diện quyền lực cho nhà nước và điều này có trong pháp luật.
Hình thức cấu trúc nhà nước: - Đây là sự tổ chức nhà nước theo các
đơn vị hành chính lãnh thổ và mqh giữa các cơ quan nhà nước ở trung
ương với các cơ quan nhà nước ở địa phương -
Có hai hình thức cấu trúc nhà nước chủ yếu là Hình thức nhà nước đơn
nhất và hình thức nhà nước liên bang.
+ Hình thức nhà nước đơn nhất là nhà nước có chủ quyền chung, các bộ
phận hợp thành nhà nước là các đơn vị hành chính- lãnh thổ không có chủ
quyền quốc gia, đồng thời có hệ thống cơ quan nhà nước thống nhất từ
trung ương xuống địa phương. Trong nước chỉ có một hệ thống pháp luật.
+Hình thức nhà nước liên bang là nhà nước có hai hay nhiều nhà nước
thành viên hợp lại. Trong các nhà nước liên bang thì không chỉ có liên
bang có dấu hiệu của nhà nước, mà các thành viên cũng có chủ quyền
riêng và ở mức độ này hay mức độ khác của nhà nước.
Nhà nước liên bang có hai hệ thống cơ quan quyền lực và quản lý: Một hệ
thống chung của nhà nước liên bang và một của mỗi nước thành viên.
Nhà nước liên bang có hai hệ thống pháp luật của Bang và của Liên bang.
Công dân của nhà nước liên bang mang 2 quốc tịch. Các nhà nước liên
bang như Mỹ, Đức, Ấn Độ,…
Chế độ chính trị: -Là tổng thể các phương pháp, cách thức mà các cơ
quan nhà nước sử dụng để thực hiện quyền lực nhà nước. -
Có 2 phương pháp chính thực hiện quyền lực nhà nước: Phương pháp dân
chủ và phương pháp phản dân chủ.
+ PP dân chủ: có nhiều loại, thể hiện dưới các hình thức khác nhau như
dân chủ thực sự và dân chủ giả hiệu, dân chủ rộng rãi và dân chủ hạn
chế,dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp
+PP phản dân chủ: thể hiện tính độc tài, thể hiện sâu sắc ở phương pháp
cai trị và quản lý xã hội, nó phát triển đến mức độ cao sẽ trở thành
phương pháp tàn bạo, quân phiệt, phát xít.
2. Kiểu nhà nước là gì? Nêu đặc trưng của các kiểu nhà nước và sự thay
thế các kiểu nhà nước trong lịch sử.
Kiểu nhà nước là tổng thể các dấu hiệu ( đặc điểm) cơ bản của nhà
nước thể hiện bản chất của nhà nước và những điều kiện tồn tại và phát
triển của nhà nước trong một hình thái kinh tế - xh nhất định.
Đặc trưng của các kiểu nhà nước.
Có 4 kiểu nhà nước chính: Kiểu nhà nước chủ nô, kiểu nhà nước
phong kiến, kiểu nhà nước tư sản, kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Kiểu nhà nước chủ nô, phong kiến, tư sản có chung bản chất vì đều
được xây dựng trên cơ sở tư hữu về tư liệu sản xuất, đều là những công
cụ bạo lực, bộ máy chuyên chính của giai cấp bóc lột chống lại nhân
dân lao động. Nhà nước xhcn là kiểu nhà nước tiến bộ nhất và cuối
cùng trong lịch sử nhân loại có bản chất khác hẳn so với 3 kiểu nhà
nước trước đó vì được xây dựng trên cơ sở công hữu về tư liệu sản
xuất và quan hệ thân thiện giữa những người lao động, do nhân dân
thiết lập và hđong vì nhân dân.
Sự thay thế kiểu nhà nước này bằng một kiểu nhà nước khác mới tiến
bộ hơn là một điều tất yếu. Quy luật về sự thay thế các kiểu nhà nước
mới phù hợp với quy luật về sự phát triển và thay thế của các hình thái
kinh tế - xh. Một kiểu nhà nước mới xuất hiện trong quá trình cách
mạng khi giai cấp cầm quyền cũ bị lật đổ và giai cấp thống trị mới
giành được chính quyền. Các cuộc cách mạng khác nhau diễn ra trong
lịch sử đều tuân theo quy luật đó: Nhà nước phong kiến thay thế nhà
nước chủ nô, nhà nước tư sản thay thế nhà nước phong kiến, nhà nước
xhcn thay thế nhà nước tư sản.
Tuy nhiên qtrinh thay thế nhà nước kiểu mới ko phải lúc nào cũng
giống nhau và trên thực tế k phải xh nào cũng trải qua đúng trình tự 4 kiểu nhà nước trên.
3. Nhà nước là gì, trình bày bản chất và đặc trưng của nhà nước. Nhà nước là gì: -
Theo Thuyết thần học, nhà nước là do Thượng đế tạo ra để bảo vệ trật tự
chung, vì thế họ cho rằng nhà nước là hiện tượng siêu nhiên là vĩnh cửu -
Theo Thuyết gia trưởng, nhà nước là kết quả của sự phát triển lịch sử gia
đình, đây là hình thức tổ chức tự nhiên của cuộc sống con người, vì vậy
nhà nước có trong mọi xã hội và quyền lực nhà nước về cơ bản giống
quyền lực của người đứng đầu gia đình. -
Theo Thuyết Khế ước xã hội thì Sự ra đời của nhà nước là một khế ước
giữa người với người trong tự nhiên không có nhà nước. Theo những nhà
tư tưởng của học thuyết này thì nhân dân có thể lật đổ nhà nước nếu họ vi phạm khế ước. -
Thuyết Bạo lực cho rằng, Nhà nước xuất hiện trực tiếp từ việc sử dụng
bạo lực của thị tộc này với thị tộc khác mà kết quả thị tộc thắng nghĩ ra
một hệ thống cơ quan đặc biệt (nhà nước ) để nô dịch kẻ thất bại.
Những học thuyết và quan điểm trên do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ
quan hạn chế lịch sử nên chưa gthich đúng nguồn gốc, bản chất của nhà nước.
Các nhà nghiên cứu của chủ nghĩa Mác Lê Nin đã chỉ ra rằng Nhà nước là một
phạm trù lịch sử có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong. Nhà nước chỉ
xuất hiện khi xã hội loài người phát triển ở một mức nhất định và tiêu vong khi
những điều kiện khách quan cho sự tồn tại của nó biến mất đi.
Bản chất của Nhà nước: -
Các nhà tư tưởng cổ đại và tư sản cố tình làm rắc rối thêm vấn đề nhà
nước, nhằm che giấu bản chất giai cấp của nhà nước, không coi nhà nước
là công cụ thống trị của giai cấp hoặc cùng lắm xem nhà nước là cơ quan
điều hoà lợi ích giai cấp. -
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lê Nin: Nhà nước là sản phẩm và
biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được.
Vì vậy nhà nước chỉ sinh ra trong xã hội có giai cấp và bao giờ cũng thể
hiện bản chất giai cấp sâu sắc. Cho nên trước hết nhà nước là bộ máy
cưỡng chế đặc biệt trong tay giai cấp cầm quyền, là công cụ sắc bén duy
nhất sự thống trị giai cấp.
Bản chất giai cấp của nhà nước:
Thứ nhất, nhà nước không tồn tại độc lập khỏi sự phân chia và xung đột
giai cấp xã hội. Bản chất giai cấp của nhà nước phản ánh ở mqh giữa tầng
lớp trong xh mà chủ yếu là giai cấp thống trị và bị áp bức. Nhà nước là
công cụ để giai cấp thống trị bảo vệ lợi ích của họ và duy trì trật tự xh.
Thứ hai, bản chất giai cấp của nhà nước thể hiện qua việc áp dụng các
chính sách và quyết định ưu tiên lợi ích của giai cấp thống trị. Nhà nước
thường có vai trò bảo vệ và duy trì lợi ích của giai cấp thống trị thông qua
việc xác định các chính sách kinh tế, chính trị và xã hội. Đồng thời, nhà
nước cũng thể hiện vai trò kiểm soát và kiềm chế các lực lượng giai cấp khác trong xã hội.
Thứ ba, bản chất giai cấp của nhà nước phản ánh mâu thuẫn và xung đột
giữa các lực lượng giai cấp trong xã hội. Giai cấp thống trị sử dụng nhà
nước để duy trì sự áp bức và khống chế giai cấp bị áp bức. Tuy nhiên, sự
phản kháng và đấu tranh của giai cấp bị áp bức cũng tạo ra áp lực và
thách thức đối với nhà nước.
Thứ tư, bản chất giai cấp của nhà nước không tĩnh lặng mà thường chịu sự
thay đổi và phát triển. Xã hội tiến bộ và các cuộc cách mạng có thể thay
đổi cấu trúc giai cấp làm ảnh hưởng đến vai trò và quyền lực của nhà
nước. Sự phân chia và xung đột giai cấp là một động lực quan trọng trong
sự phát triển xã hội cũng như sự thay đổi của nhà nước.
Thứ năm, bản chất giai cấp của nhà nước phản ánh quyền lực dân chủ và
tham gia của người dân trong việc xác định chính sách và quyết định của
nhà nước. Nhà nước xã hội chủ nghĩa thường đặt quyền lợi của người dân
lên hàng đầu và thúc đẩy tham gia dân chủ trong quá trình quản lý và hoạt động nhà nước.
Bản chất xã hội của nhà nước:
Thứ nhất, nhà nước không thể tồn tại và hoạt động độc lập với xã hội. Bản
chất xã hội của nhà nước được thể hiện trong sự tương tác giữa nhà nước
và các thành phần xã hội khác, bao gồm các tầng lớp, giai cấp, nhóm
người và cá nhân. Qua sự tương tác này, nhà nước tác động lên xã hội và
ngược lại, đồng thời xã hội cũng ảnh hưởng đến nhà nước.
Thứ hai, bản chất xã hội của nhà nước được thể hiện qua việc quản lý và
thực thi quyền lực. Nhà nước có quyền lực và có khả năng tạo ra quyết
định, áp dụng chính sách và ảnh hưởng đến lợi ích của các tầng lớp, giai
cấp cũng như cá nhân trong xã hội. Bản chất xã hội của nhà nước đồng
thời cũng phản ánh sự phân chia và cạnh tranh về quyền lực và lợi ích trong xã hội.
Thứ ba, Nhà nước không chỉ đóng vai trò quản lý và điều hành xã hội, mà
còn có mục tiêu và chức năng xã hội cụ thể. Bản chất xã hội của nhà nước
thể hiện qua việc đảm bảo trật tự, bình đẳng, công bằng và phát triển xã
hội. Nhà nước có trách nhiệm xây dựng và duy trì các cơ sở hạ tầng, cung
cấp các dịch vụ cơ bản, đáp ứng nhu cầu và quyền lợi của cộng đồng.
Thứ tư, bản chất xã hội của nhà nước cũng phản ánh mâu thuẫn và xung
đột giữa các thành phần xã hội. Nhà nước thể hiện vai trò bảo vệ lợi ích
của giai cấp thống trị và kiểm soát các lực lượng xã hội khác. Tuy nhiên,
sự phản kháng và tranh đấu của các tầng lớp và giai cấp bị áp bức cũng
tạo ra áp lực và thách thức đối với nhà nước.
Thứ năm, bản chất xã hội của nhà nước phản ánh quyền lực dân chủ và
tham gia của người dân trong việc xác định chính sách và quyết định của
nhà nước. Nhà nước xã hội chủ nghĩa thường đặt quyền lợi của người dân
lên hàng đầu và thúc đẩy tham gia dân chủ trong quá trình quản lý và hoạt động nhà nước.
Đặc trưng của nhà nước:
-Nhà nước thiết lập một quyền lực công cộng đặc biệt để không còn hoà nhập vs dân cư.
-Nhà nước phân chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính và thực hiện sự
quản lý đối với dân cư theo các đơn vị ấy chứ không tập hợp dân cư theo
chính kiến, huyết thống, nghề nghiệp, giới tính.
-Nhà nước có chủ quyền quốc gia
-Nhà nước ban hành pháp luật và thực hiện sự quản lý bắt buộc đối với mọi công dân
-Nhà nước quy định và thực hiện thu các loại thuế dưới hình thức bắt buộc.
4. Phân biệt nhà nước và tổ chức khác nhà nước Về quyền lực: -
Nhà nước: Nhà nước là tổ chức quyền lực chung và đặc biệt của toàn xã
hội, quyền lực của nhà nước có tác động bao trùm lên toàn xã hội, tới mọi
tổ chức, cá nhân, mọi khu vực lãnh thổ quốc gia và các lĩnh vực cơ bản
của đời sống: kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục... Mọi cá nhân và tổ
chức đang sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đều phải
phục tùng quyền lực và ý chí của nhà nước. Do đó, nhà nước là tổ chức có
cơ sở xã hội và phạm vi tác động rộng lớn nhất trong quốc gia.
Nhà nước có một lớp người tách ra khỏi lao động sản xuất để chuyên thực
thi quyền lực nhà nước, họ tham gia vào bộ máy nhà nước để làm hình
thành nên một hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương tới địa
phương, trong đó có các cơ quan bạo lực, cưỡng chế như quân đội, cảnh
sát, tòa án... Nhờ có quyền lực và bộ máy chuyên thực thi quyền lực đó
mà nhà nước có thể điều hành và quản lý xã hội, thiết lập và giữ gìn trật
tự xã hội, phục vụ và bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội cũng như lợi
ích của lực lượng cầm quyền. -
Tổ chức khác: Các tổ chức xã hội khác cũng có quyền lực chung song
quyền lực đó chỉ có tác động tới các hội viên trong tổ chức đó và không
một tổ chức nào có bộ máy riêng để chuyên thực thi quyền lực như nhà
nước. Cơ sở xã hội và phạm vi tác động của các tổ chức xã hội khác đều
hẹp hơn nhà nước, chỉ tới một bộ phận của dân cư.
Về quản lý dân cư/thành viên -
Nhà nước: thực hiện việc quản lý dân cư theo lãnh thổ. Nhà nước luôn
lấy việc quản lý dân cư theo lãnh thổ làm điểm xuất phát. Người dân
không phân biệt huyết thống, dân tộc, giới tính... cứ sống trên một khu
vực lãnh thổ nhất định thì chịu sự quản lý của một nhà nước nhất định và
do vậy, họ thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhà nước ở nơi mà họ cư
trú. Nhà nước thực hiện việc quản lý dân cư trong phạm vi lãnh thổ quốc
gia của mình cũng theo địa bàn cư trú của họ hay theo các đơn vị hành
chính - lãnh thổ. Nó phân chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính và
quản lý dân cư theo các đơn vị đó. -
Tổ chức khác: Các tổ chức khác thường tập hợp và quản lý dân cư theo
mục đích, chính kiến, lý tưởng, nghề nghiệp, độ tuổi hoặc giới tính...
Về tham gia đối nội, đối ngoại -
Nhà nước: nắm giữ và thực thi chủ quyền quốc gia. Chủ quyền quốc gia
là khái niệm chỉ quyền quyết định tối cao của quốc gia trong quan hệ đối
nội và quyền độc lập tự quyết trong quan hệ đối ngoại. Nhà nước là đại
diện chính thức cho toàn quốc gia, dân tộc trong các quan hệ đối nội và
đối ngoại. Trong quan hệ đối nội, quy định của nhà nước có giá trị bắt
buộc phải tôn trọng hoặc thực hiện đối với các tổ chức và cá nhân có liên
quan; nhà nước có thể cho phép các tổ chức xã hội khác được thành lập và
hoạt động hoặc nhà nước công nhận sự tồn tại và hoạt động hợp pháp của
các tổ chức xã hội khác. Trong quan hệ đối ngoại, nhà nước có toàn quyền
xác định và thực hiện các đường lối, chính sách đối ngoại của mình. -
Các tổ chức khác: chỉ được thành lập, tồn tại và hoạt động một cách hợp
pháp khi được nhà nước cho phép hoặc công nhận, đồng thời chỉ có thể
nhân danh chính tổ chức đó khi tham gia vào các quan hệ đối nội, đối
ngoại và chỉ dược tham gia vào quan hệ đối ngoại nào mà nhà nước cho phép.
Về ban hành văn bản pháp lý -
Nhà nước: ban hành pháp luật và dùng pháp luật làm công cụ quản lý xã
hội. Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung có giá trị bắt buộc phải
tôn trọng hoặc thực hiện đối với các tổ chức và cá nhân có liên quan trong
phạm vi lãnh thổ quốc gia. Nhà nước bảo đảm cho pháp luật được thực
hiện bằng nhiều biện pháp: tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, thuyết phục,
tổ chức thực hiện, động viên, khen thưởng, áp dụng các biện pháp cưỡng
chế nhà nước. Nhà nước sử dụng pháp luật đế quản lý xã hội, điều chỉnh
các quan hệ xã hội theo mục đích của nhà nước và pháp luật là một trong
những công cụ quản lý có hiệu quả nhất của nhà nước. -
Các tổ chức khác: chỉ có quyền ban hành các quy định dưới dạng điều lệ,
chỉ thị, nghị quyết có giá trị bắt buộc phải tôn trọng và thực hiện với các
hội viên trong tổ chức; đồng thời bảo đảm cho các quy định đó được thực
hiện bằng sự tự giác của các hội viên và bằng các hình thức kỷ luật của tổ chức. Về thu thuế, phí -
Nhà nước quy định và thực hiện việc thu thuế. Thuế là khoản tiền hay
hiện vật mà người dân buộc phải nộp cho nhà nước theo quy định của
pháp luật. Nhà nước là một bộ máy được tách ra khỏi lao động sản xuất
trực tiếp để chuyên thực hiện chức năng quản lý xã hội nên nó phải được
nuôi dưỡng từ nguồn của cải do dân cư đóng góp, không có thuế bộ máy
nhà nước không thể tồn tại được và thuế luôn là quốc sách của mọi nhà
nước. Thuế còn là nguồn của cải quan trọng phục vụ cho việc phát triển
các mặt của đời sống. Ngoài thuế, nhà nước còn có quyền phát hành tiền,
công trái, vì thế, nhà nước có lực lượng vật chất to lớn, không chỉ có thể
trang trải cho các hoạt động của nó, những hoạt động cơ bản của xã hội,
mà còn có thể hỗ trợ một phần kinh phí hoạt động cho một số tổ chức khác. -
Các tổ chức xã hội khác hoạt động trên cơ sở nguồn kinh phí do các hội viên đóng góp
5. Phân tích bản chất của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 1. Khái niệm • Nhà nước •
Nhà nước Cộng hoà XHCNVN: Điều 2 HP 2013 •
“Nhà nước CHXHCNVN là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. •
Nước CHXHCNVN do nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà
nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân
với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. •
Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm
soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.
2. Bản chất của NN CHXHCN VN •
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính là một trong
những mô hình cụ thể đang được tìm tòi và đổi mới để tạo ra những bước
đi thích hợp cho xã hội Việt Nam. •
Bản chất của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là sự
biểu hiện cụ thể của bản chất nhà nước xã hội chủ nghĩa. •
Bản chất bao trùm nhất, chi phối mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
của Nhà nước Việt Nam hiện nay từ tổ chức đến hoạt động thực tiễn là tính nhân dân.
6. Phân tích nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của bộ
máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 1. Khái niệm • Bộ máy nhà nước. •
Bộ máy Nhà nước Việt Nam (các cơ quan) •
Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước là những
nguyên lý, những tư tưởng chỉ đạo đúng đắn, khách quan và khoa học,
phù hợp với bản chất của nhà nước, tạo cơ sở cho tổ chức và hoạt động
của các cơ quan nhà nước và toàn thể bộ máy nhà nước.
2. 5 nguyên tắc cơ bản
Ở nước ta, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nhà nước được ghi
nhận trong Hiến pháp, bao gồm những nguyên tắc cơ bản sau: •
Nguyên tắc này bắt nguồn từ bản chất của NN XHCN: quyền lực NN thuộc về nhân dân. •
Thể hiện trên 3 phương diện: •
Bảo đảm cho nhân dân tham gia đông đảo và tích cực vào việc tổ
chức bộ máy nhà nước. •
Đảm bảo cho nhân dân tham gia đông đảo vào việc quản lý công
việc và quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước. •
Nhà nước phải có cơ chế đảm bảo cho nhân dân thực hiện việc
kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước. • Cần: •
Nâng cao nhận thức của nhân dân về văn hóa, chính trị, pháp luật. •
Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần. •
Cung cấp thông tin đầy đủ. •
Để dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra các hoạt động của nhà nước.
(2) Nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước: •
Sự lãnh đạo của Đảng giữ vai trò quyết định phương hướng tổ chức
và hoạt động của nhà nước xã hội chủ nghĩa. •
Nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước là
nguyên tắc hiến định. Điều 4 Hiến pháp năm 2013: “Đảng Cộng sản Việt
Nam… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. •
Sự lãnh đạo của Đảng đối với NN thể hiện ở các mặt chủ yếu: •
Đề ra đường lối chính trị, chủ trương, phương hướng lớn. •
Quyết định những vấn đề quan trọng về tổ chức bộ máy nhà nước. •
Các đảng viên phải thể hiện vai trò tiên phong, gương mẫu. Đảng
phải thường xuyên củng cố, đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo,
nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức Đảng và đảng viên.
(3) Nguyên tắc tập trung dân chủ: •
Thể hiện việc kết hợp hài hoà giữa sự chỉ đạo tập trung thống nhất
của các cơ quan nhà nước ở trung ương và các cơ quan nhà nước cấp trên
với việc mở rộng dân chủ, phát huy tính chủ động, sáng tạo của các cơ
quan nhà nước ở địa phương, các cơ quan nhà nước cấp dưới. •
Nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ được biểu hiện trên ba mặt chủ yếu: •
Tổ chức bộ máy: chế độ bầu cử, cơ quan bộ máy, chế độ công vụ.
Cơ chế hoạt động: các cơ quan nhà nước ở trung ương có quyền quyết
định các vấn đề cơ bản, quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…
trên phạm vi toàn quốc. Các cơ quan nhà nước ở địa phương quyết định
những vấn đề thuộc phạm vi địa phương mình •
Xây dựng và thực hiện tốt chế độ thông tin, báo cáo kiểm tra và xử
lý các vấn đề một cách kịp thời, đúng đắn trong quá trình tổ chức và thực
hiện quyền lực nhà nước.
(4)Nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc: • Điều 5 Hiến pháp 2013: •
“Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất
của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. •
Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát
triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.” •
Bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc với mục tiêu chung của dân
tộc ta là: Giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ,
phấn đấu xoá bỏ nghèo nàn, lạc hậu, tiến tới dân giàu, nước mạnh, xã hội
dân chủ, công bằng, văn minh. •
Ví dụ: Nhà nước có những chính sách ưu tiên con em dân tộc như
cộng điểm khu vực trong kỳ thi tốt nghiệp, cố định một số vị trí trong
quốc hội thuộc về người dân tộc thiểu số.
(5) Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa: •
Nguyên tắc này đòi hỏi các cơ quan trong bộ máy nhà nước phải
bảo đảm thực hiện quyền lực nhà nước thống nhất, có sự phân công và
phối hợp một cách nhịp nhàng, đồng bộ. •
Điều 8 Hiến pháp 2013: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo
Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật…”. • Cần phải: •
Các cơ quan nhà nước, tổ chức XH, cán bộ NN phải tôn trọng và
chấp hành theo đúng pháp luật. •
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát… •
Tăng cường pháp chế XHCN trong tổ chức và hoạt động của bộ máy NN. •
Đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật.
7. Thế nào là bộ máy nhà nước? Trình bày các loại cơ quan trong bộ
máy nhà nước ở Việt Nam hiện nay?
a. Khái niệm bộ máy nhà nước
Bộ máy nhà nước Việt Nam là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung
ương xuống cơ sở, được tổ chức theo những nguyên tắc chung thống nhất,
tạo thành một cơ chế đồng bộ để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước.
b. Các loại cơ quan trong bộ máy nhà nước ở Việt Nam hiện nay.
1. Cơ quan quyền lực nhà nước (cơ quan đại diện)
Bao gồm Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp
Các cơ quan quyền lực nhà nước do nhân dân trực tiếp bầu ra, nhân danh
nhân dân để thể hiện và thực thi quyền lực, phải chịu trách nhiệm và báo
cáo trước nhân dân (cử tri) về mọi hoạt động của mình.
Tất cả các cơ quan khác của bộ máy nhà nước đều do cơ quan đại diện
trực tiếp hoặc gián tiếp thành lập ra và đều phải chịu sự giám sát của các
cơ quan quyền lực nhà nước. Quốc hội:
Là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân và là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất
Là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp
Quyết định những vấn đề trọng đại nhất của đất nước và thực hiện quyền
giám sát tối cao với toàn bộ hoạt động của cơ quan nhà nước
Hội đồng nhân dân các cấp:
Là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân
Do nhân dân trực tiếp bầu ra, phải chịu trách nhiệm trước nhân dân địa
phương và cơ quan nhà nước cấp trên 2. Chủ tịch nước
Là người đứng đầu nhà nước, thay mặt nhà nước về đối nội và đối ngoại
Do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội, chịu trách nhiệm và báo cáo trước Quốc hội.
Được trao nhiều quyền hạn trong cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp
Là người giữ quyền thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân và giữ
chức vụ chủ tịch hội đồng quốc phòng và an ninh.
Chủ tịch nước xét trên nhiều phương diện là cơ quan có vị trí đặc biệt, giữ
vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự phối hợp thống nhất giữa các bộ
phận của bộ máy nhà nước XHCN.
3. Các cơ quan hành chính nhà nước
Khái niệm: Là bộ phận hợp thành của bộ máy nhà nước, được thành lập
để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước
Ở Việt Nam, cơ quan hành chính nhà nước được hình thành từ các cơ
quan quyền lực nhà nước cùng cấp.
Pháp luật quy định thẩm quyền, trách nhiệm cụ thể của mỗi cơ quan và
người đứng đầu cơ quan đó. Đồng thời, pháp luật cũng quy định mối quan
hệ giữa các cơ quan hành chính nhà nước với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước
=> Là cơ sở đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của bộ máy nhà nước 4. Các cơ quan xét xử
Khái niệm: Hệ thống các cơ quan xét xử là loại cơ quan có chức năng đặc
thù của bộ máy nhà nước XHCN.
Ở nước ta, hệ thống cơ quan xét xử gồm: Toà án nhân dân tối cao Toà án nhân dân cấp cao
Các toà án nhân dân địa phương Các toà án quân sự
Các toà án do luật định
Trong hoạt động xét xử, tòa án phải dựa trên nguyên tắc:
Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Xét xử công khai, xét xử tập thể và quyết định theo đa số, đảm bảo quyền bào chữa của bị cáo
Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và được bảo đảm sử dụng
tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình, không phân biệt giới tính, tín
ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội…
Bảo đảm quyền giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước đối với hoạt động xét xử.
5. Các cơ quan kiểm sát
Hệ thống cơ quan kiểm sát gồm viện kiểm sát nhân dân tối cao, viện kiểm
sát nhân dân cấp cao, các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện Kiểm sát Quân sự
Chức năng nhiệm vụ của Viện Kiểm sát Nhân dân theo quy định của pháp
luật hiện hành là thực hiện thực hành quyền Công Tố và kiểm sát hoạt động tư pháp
6. Hội đồng bầu cử Quốc gia và Kiểm toán nhà nước
Hội đồng bầu cử quốc gia và kiểm toán nhà nước là 2 thiết chế lần đầu
tiên được quy định trong Hiến pháp 2013
Hội đồng bầu cử quốc gia là cơ quan do quốc hội thành lập có nhiệm vụ
tổ chức bầu cử đại biểu quốc hội chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử
đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp
Hội đồng bầu cử quốc gia gồm chủ tịch, phó chủ tịch và các ủy viên
Kiểm toán nhà nước là cơ quan do quốc hội thành lập hoạt động độc lập
và chỉ tuân theo pháp luật thực hiện kiểm toán việc quản lý sử dụng tài chính tài sản công
Tổng kiểm toán nhà nước là người đứng đầu kiểm toán nhà nước do Hội
Đồng bầu có nhiệm vụ báo cáo kết quả kiểm toán báo cáo công tác trước
Quốc hội trong thời gian Quốc hội không họp chịu trách nhiệm và báo cáo
trước Ủy ban thường vụ quốc hội.
Hai thiết chế hội đồng bầu cử quốc gia và kiểm toán nhà nước được xem
như những công cụ quan trọng góp phần phát huy dân chủ thực hiện
nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
8. Trình bày bản chất của nhà nước và liên hệ thực tiễn Việt Nam hiện nay.
a. Bản chất của nhà nước
Theo quan điểm của chủ nghĩa MLN: “Nhà nước là sản phẩm và biểu
hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được”. Nhà nước
trước hết là bộ máy cưỡng chế đặc biệt nằm trong tay giai cấp cầm quyền,
là công cụ sắc bén nhất duy trì sự thống trị giai cấp.
Trong xã hội có giai cấp đối kháng, sự thống trị của giai cấp này đối với
giai cấp khác đều được thể hiện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư
tưởng. Muốn duy trì được sự thống trị này, giai cấp thống trị phải nắm giữ
cả ba loại quyền lực là quyền lực chính trị, quyền lực kinh tế, quyền lực tư
tưởng. Trong đó, quyền lực kinh tế giữ vai trò quyết định, là cơ sở để bảo
đảm cho sự thống trị giai cấp. Nhưng bản thân quyền lực kinh tế không
thể duy trì được quan hệ bóc lột. Vì vậy, cần phải có nhà nước, một bộ
máy cưỡng chế đặc biệt để củng cố quyền lực của giai cấp thống trị về
kinh tế và để trấn áp sự phản kháng của các giai cấp bị bóc lột. Nhờ có
nhà nước, giai cấp thống trị về kinh tế trở thành giai cấp thống trị về chính
trị. Nói cách khác, giai cấp thống trị khi đó trở thành chủ thể của quyền
lực kinh tế và quyền lực chính trị. Quyền lực chính trị “là bạo lực có tổ
chức của một giai cấp để trấn áp giai cấp khác”, nhà nước là một bộ máy
bạo lực do giai cấp thống trị tổ chức ra để trấn áp các giai cấp đối địch.
Với ý nghĩa đó, nhà nước chính là một tổ chức đặc biệt về quyền lực
chính trị. Thông qua nhà nước, ý chí của giai cấp thống trị được thể hiện
một cách tập trung, thống nhất và hợp pháp hóa thành ý chí nhà nước. Ý
chí nhà nước có sức mạnh bắt buộc các giai cấp khác phải tuân theo một
“trật tự” do giai cấp thống trị đặt ra, phải phục vụ cho lợi ích của giai cấp
thống trị. Làm như vậy, giai cấp thống trị đã thực hiện sự chuyên chính
của giai cấp mình đối với các giai cấp khác. Công cụ chủ yếu để thực hiện
sự chuyên chính giai cấp là nhà nước - một bộ máy do giai cấp thống trị tổ chức ra
Nhưng để thực hiện sự chuyên chính giai cấp không thể chỉ đơn thuần dựa
vào bạo lực và cưỡng chế mà còn cần đến sự tác động về tư tưởng. Giai
cấp thống trị đã thông qua nhà nước để xây dựng hệ tư tưởng của giai cấp
mình thành hệ tư tưởng thống trị trong xã hội, bắt các giai cấp khác phải
lệ thuộc mình về mặt tư tưởng.
Song, nhà nước không chỉ có tính giai cấp mà còn có vai trò xã hội, bởi lẽ
nhà nước được sinh ra không chỉ do nhu cầu thống trị giai cấp mà còn do
nhu cầu tổ chức và quản lý xã hội. Một nhà nước sẽ không thể tồn tại nếu
chỉ phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị mà không tính đến lợi ích,
nguyện vọng và ý chí của các giai tầng khác trong xã hội. Bên cạnh đó,
nhà nước phải bảo đảm các giá trị xã hội đã đạt được, bảo đảm xã hội trật
tự, ổn định và phát triển, thực hiện chức năng này hay chức năng khác
phù hợp với yêu cầu của xã hội. Điều đó nói lên rằng, nhà nước là một
hiện tượng phức tạp và đa dạng, nó vừa mang bản chất giai cấp lại vừa mang giá trị xã hội.
Như vậy, nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, có bộ
máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý
nhằm duy trì, bảo vệ trật tự xã hội, bảo vệ địa vị của giai cấp thống trị
trong xã hội có giai cấp.
b. Liên hệ thực tiễn Việt Nam hiện nay (nêu bản chất nhà nước CHXHCNVN)
Điều 2 Hiến pháp 2013 khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân,
do Nhân dân, vì Nhân dân. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do
Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền
tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội
ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối
hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền
lập pháp, hành pháp, tư pháp”
Bản chất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo Hiến
pháp 2013 là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Cụ thể:
Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước;
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của tất cả các
dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam, là biểu hiện tập trung của khối đại đoàn kết toàn dân tộc;
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức và hoạt
động trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng trong mối quan hệ giữa nhà nước và công dân;
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước dân chủ và
pháp quyền. Bản chất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
hiện nay thể hiện cụ thể bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa, bao gồm các đặc trưng sau:
a. Tính giai cấp công nhân của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tính giai cấp công nhân của Nhà nước ta được quy định bởi tính tiên
phong và sự lãnh đạo của giai cấp này. Tính tiên phong của giai cấp công
nhân được thể hiện trong quá trình đấu tranh cách mạng, ở sự trung thành
với lý tưởng cách mạng, ở khả năng nhận thức và tư tưởng đổi mới, phát triển.
Bản chất giai cấp của Nhà nước ta thể hiện bản chất của giai cấp công
nhân, là giai cấp tiên tiến nhất, cách mạng nhất, phấn đấu vì lợi ích của
nhân dân lao động và của toàn xã hội.
b. Tính dân tộc của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà nước ta là nhà nước của tất cả các dân tộc sống trên đất nước Việt
Nam, là biểu hiện tập trung của khối đoàn kết dân tộc. Các dân tộc anh
em đều bình đẳng trước pháp luật. Mỗi dân tộc đều có ngôn ngữ riêng,
được Nhà nước tạo điều kiện, hỗ trợ về mọi mặt để phát triển văn hóa,
kinh tế, xã hội. Các chính sách xã hội thể hiện tính dân chủ, nhân đạo của
nhà nước xã hội chủ nghĩa đang được triển khai thực hiện ở vùng đồng
bào các dân tộc. Ngày nay, tính dân tộc đó được phát huy nhờ kết hợp với
tính giai cấp, tính nhân dân và tính thời đại.
c. Tính nhân dân của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân,
do nhân dân và vì nhân dân. Điều 2 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do
nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức”.
Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân: Nhân dân thiết lập nên Nhà nước
bằng quyền bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân, sử dụng quyền lực
nhà nước chủ yếu thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.
Ngoài ra, nhân dân còn thực hiện quyền lực nhà nước bằng các hình thức
giám sát, khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện các quyết định, hành vi của các cơ
quan nhà nước và các cá nhân có thẩm quyền làm thiệt hại đến quyền lợi
của họ; tham gia góp ý vào các dự án chính sách, pháp luật.
Tính nhân dân không phủ nhận các biện pháp cương quyết, mạnh mẽ của
Nhà nước nhằm chống lại các hành vi gây mất ổn định chính trị, vi phạm
pháp luật, xâm hại đến lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân. Vì vậy,
cùng với việc đổi mới, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý của các cơ
quan nhà nước, Nhà nước cần tăng cường bộ máy cưỡng chế để đảm bảo
an ninh, an toàn cho xã hội và cho từng cá nhân con người
d. Tính thời đại của Nhà nước Cộng hoà XHCNVN
Nhà nước ta là một Nhà nước xã hội chủ nghĩa, thực hiện thiết chế của
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, Nhà nước ta hiện nay đang thực
hiện chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự quản
lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời thực hiện
dân chủ hóa đời sống xã hội. Nhà nước ta thừa nhận nền kinh tế thị trường
theo định hướng xã hội chủ nghĩa là phương tiện để đạt mục tiêu “dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Bên cạnh việc
chăm lo phát triển kinh tế, Nhà nước Việt Nam còn quan tâm đến việc
giải quyết các vấn đề xã hội, chú trọng phát triển giáo dục, y tế, văn hóa…
Tính thời đại của Nhà nước ta còn được thể hiện sinh động trong chính
sách đối ngoại với phương châm: “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các
nước trên thế giới”. Nhà nước Việt Nam thực hiện chính sách hòa bình,
hữu nghị, hợp tác trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh
thổ, không can thiệp vào nội bộ của nhau.
9. Trình bày các đặc điểm cơ bản của Nhà nước
Nhà nước có một số dấu hiệu đặc trưng sau đây:
Nhà nước thiết lập một quyền lực công cộng đặc biệt không còn hòa nhập
với dân cư. Để thực hiện quyền lực và để quản lý xã hội, nhà nước có một
lớp người chỉ chuyên hoặc hầu như chỉ làm nhiệm vụ quản lý và cưỡng
chế. Họ tham gia vào bộ máy nhà nước để hình thành nên một hệ thống
các cơ quan nhà nước từ trung ương đến cơ sở.
Nhà nước phân chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính và thực hiện sự
quản lý đối với dân cư theo các đơn vị ấy chứ không tập hợp dân cư theo
chính kiến, huyết thống, nghề nghiệp hoặc giới tính. Nhà nước thực thi
quyền lực chính trị trên phạm vi toàn bộ lãnh thổ. Mỗi nhà nước có lãnh
thổ riêng, trên lãnh thổ ấy lại phân thành các đơn vị hành chính nhỏ như tỉnh, huyện…
Nhà nước có chủ quyền quốc gia. Chủ quyền quốc gia mang nội dung
chính trị, pháp lý, nó thể hiện quyền độc lập, tự quyết định những vấn đề
đối nội, đối ngoại của mình, không phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài.
Nhà nước ban hành pháp luật và thực hiện sự quản lý bắt buộc đối với
mọi công dân. Nhà nước là một tổ chức duy nhất trong xã hội được quyền
ban hành pháp luật. Tất cả các quy định của nhà nước đối với mọi công
dân được thể hiện trong hệ thống pháp luật do nhà nước ban hành. Và
cũng chính nhà nước bảo đảm cho pháp luật được thực thi trong cuộc sống.
Nhà nước quy định và thực hiện thu các loại thuế dưới hình thức bắt
buộc. Bộ máy nhà nước bao gồm một bộ phận đặc biệt, tách ra khỏi sản
xuất làm công tác quản lý. Bộ phận này sẽ không thể tồn tại nếu không có
nguồn nuôi dưỡng. Đồng thời, việc xây dựng và duy trì các cơ sở vật chất
kỹ thuật cho bộ máy nhà nước cũng rất cần thiết. Thiếu thuế thì bộ máy
nhà nước không tồn tại được. Chỉ có nhà nước mới có quyền đặt ra thuế và tìm thuế.
Câu 10: Trình bày phương hướng xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Phương hướng xây dựng và hoàn thiện
Thứ nhất, tăng cường tinh giản, gọn nhẹ bộ máy hành chính nhà nước. Để đảm
bảo tính phục vụ, bộmáy hành chính nhà nước nhất thiết phải thiết kế lại theo
hướng tinh giản, gọn nhẹ nhằm giảm chi tiêu công, năng động, linh hoạt đáp ứng
quản trị rủi ro trong bối cảnh kinh tế - xã hội luôn biến đổi.Trong đó, cơ quan
hành chính phải xác định rõ việc gì nhà nước cần đảm nhận, việc gì nhà nước
chuyển giao khu vực tư nhân tham gia cùng với nhà nước, việc gì nhà nước
chuyển giao hoàn toàn cho khu vực tư nhân; nâng cao năng lực quản lý đa
ngành, đa lĩnh vực; giảm thiểu đầu mối quản lý;xác định rõ trách nhiệm của
người đứng đầu cơ quan nhà nước, quy định rõ trách nhiệm của cơ quan nhà
nước các cấp trong tổ chức thi hành chính sách và pháp luật của Nhà nước; đảm
bảo cho công tác tổ chức, cán bộ được tập trung, một đầu mối, dễ kiểm soát,
khắc phục những sai phạm, tiêu cực.
Thứ hai, đảm bảo tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt
động công vụ của cơ quan hành chính nhà nước. Công khai, minh bạch và trách
nhiệm giải trình trong hoạt động công vụ là một trong những yêu cầu quan trọng
của nền hành chính phục vụ, trong đó, cán bộ, công chức, viên chức phải có
nghĩa vụ giải đáp theo định kỳ những việc họ đã sử dụng thẩm quyền của họ như
thế nào, những nguồn lực sử dụng vào đâu và kết quả đạt được như thế nào. Bên
cạnh trách nhiệm giải trình nội bộ, cần tăng cường trách nhiệm giải trình với bên
ngoài nhằm bảo đảm sự kiểm soát từ bên ngoài đối với chất lượng cung ứng các
dịch vụ công. Ngoài ra, phải có cơ chế quy trách nhiệm cá nhân cho cán bộ,
công chức, viên chức trong quá trình thực thi công vụ, đồng thời cá biệt hoá
trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan hành chính.
Thứ ba, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức hành chính nhà nước
chuyên nghiệp, có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát
triển đất nước. “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “công tác cán bộ là then
chốt của then chốt”, vì thế, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức hành
chính nhà nước “vừa hồng, vừa chuyên” là nhiệm vụ thường trực hiện nay. Đại
hội Đảng lần thứ XIII đã xác định: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát triển đất
nước”; “có cơ chế lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài, khuyến khích,
bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phát, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích
chung”, từ đó tạo động lực cho đội ngũ cán bộ, công chức thực sự sáng tạo, dám
nghĩ, dám làm, vì dân, vì nước, vì sự phồn vinh của dân tộc.
Thứ tư, tăng cường kỷ luật, kỷ cương đi đôi với cải thiện chế độ, chính sách, đãi
ngộ, tạo môi trường, điều kiện làm việc để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phục vụ
phát triển. Thực hiện hài hoà giữa khen thưởng, đãi ngộ hấp dẫn, cạnh tranh và
kỷ luật nghiêm minh, kịp thời nhằm thu hút những người có tài, đức vào làm
việc trong các cơ quan hành chính nhà nước, đồng thời sàng lọc, thay thế kịp
thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, kỷ luật, đạo
đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, không còn uy tín với nhân dân.
Thứ năm, quyết liệt đẩy mạnh xây dựng Chính phủ điện tử, từng bước chuyển
sang Chính phủ số đáp ứng kịp thời quá trình chuyển đổi số quốc gia. Chính phủ
chỉ đạo quyết liệt các bộ ngành, các địaphương triển khai các biện pháp nhằm
xây dựng hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin, viễn thông đồng bộ; hệ thống cơ
sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu ngành, cơ sở dữ liệu địa phương đồng bộ liên
thông; thực hiện phổ biến các dịch công trực tuyến cấp độ 3, 4 và dịch vụ công
quốc gia; giảm tối đa việc giải quyết thủ tục hành chính theo hình thức thủ công
(trừ vùng sâu, vùng xa không đảm bảo về hạ tầng công nghệ thông tin, viễn
thông hoặc những thủ tục hành chính đòi hỏi tính bảo mật cao).Tóm lại, trong xã
hội đương đại, xu hướng chuyển đổi từ mô hình “quản lý”, “cai trị” sang mô
hình“quản trị”, “phục vụ” ngày càng phổ biến trong khu vực công, phù hợp với
yêu cầu dân chủ hoá đời sống kinh tế - xã hội. Vì thế, xây dựng nền hành chính
phục vụ hoàn toàn phù hợp với xu hướng của thời đại để Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Câu 11: Trình bày quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về nguồn gốc của nhà nước. Khái niệm nhà nước:
Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, có bộ máy
chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý
nhằm duy trì, bảo vệ trật tự xã hội, bảo vệ địa vị của giai cấp.
Quan điểm CNMLN về nguồn gốc của nhà nước:
Nhà nước không phải là hiện tượng vĩnh cửu, bất biến mà là một phạm trù lịch
sử, có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong. Nhà nước chỉ xuất hiện khi xã
hội loài người phát triển đến một mức độ nhất định và tiêu vong khi những điều
kiện khách quan cho sự tồn tại của nó mất đi. Chế độ Cộng sản nguyên thuỷ là
hình thái kinh tế- xã hội đầu tiên của xã hội loài người mà không tồn tại giai cấp
và vì vậy nhà nước chưa xuất hiện. Nhưng chính những nguyên nhân làm xuất
hiện nhà nước lại bắt nguồn từ xã hội đó. Vì vậy, việc nghiên cứu về xã hội
CSNT sẽ là cơ sở để giải thích nguyên nhân làm xuất hiện nhà nước. 1.
Chế độ cộng sản nguyên thủy và tổ chức thị tộc, bộ lạc
Trong chế độ Cộng sản nguyên thuỷ, do lực lượng sản xuất chưa phát triển, con
người phải sống dựavào nhau cùng chung sống thành nhóm, thị tộc, bộ lạc, dựa
vào nhau lao động hưởng thụ chung. Cơ sở kinh tế của xã hội Cộng sản nguyên
thuỷ được đặc trưng bằng chế độ sở hữu chung về tư liệu sản xuất và sản phẩm
lao động. Điều kiện kinh tế đã quyết định đời sống xã hội của chế độ Cộng sản nguyên thuỷ.
- Thị tộc là tế bào đầu tiên của xã hội, được tổ chức theo huyết thống. Đây là
đơn vị kinh tế vừa sản xuất, vừa tiêu dùng, mọi người tự do, bình đẳng, phân
công lao động chỉ là phân công tự nhiên chứ chưa mang tính xã hội. Tập hợp các
thị tộc gần gũi nhau về huyết tộc và địa bàn cư trú tạo thành bào tộc. Nhiều bào
tộc kết hợp lại thành bộ lạc và nhiều bộ lạc liên kết với nhau thành liên minh các bộ lạc.
Trong xã hội Cộng sản nguyên thuỷ tồn tại hệ thống quản lý các công việc của thị tộc bao gồm:
- Hội đồng thị tộc: là tổ chức quyền lực cao nhất của thị tộc, những người lớn
tuổi đều là thành viên của hội đồng thị tộc. Hội đồng này có quyền quyết định
tất cả những vấn đề quan trọng có liên quan đến thị tộc. Quyết định của hội đồng
thể hiện ý chí của toàn bộ thành viên trong xã hội nên được mọingười tự giác chấp hành.
- Tù trưởng, thủ lĩnh quân sự: là những người đứng đầu thị tộc do Hội nghị toàn
thể thị tộc bầu ra từ những người nhiều tuổi, có kinh nghiệm và uy tín trong
cộng đồng. Họ có quyền lực rất lớn. Tuy nhiên không có đặc quyền nào so với
các thành viên khác, vẫn phải lao động, thực hiện nghĩa vụ với thị tộc, hưởng
thụ bằng với các thành viên khác. Những người này có thể bị bãi miễn bất cứ lúc nào.
Như vậy, thứ quyền lực trong xã hội Cộng sản nguyên thuỷ là thứ quyền lực của
xã hội được tổ chức và thực hiện dựa trên cơ sở những nguyên tắc dân chủ thực