










Preview text:
lOMoARcPSD|32338071
Lý thuyết hngđ - xem nha nha
luật (Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh) Scan to open on Studeersnel
Studocu is not sponsored or endorsed by any college or university
Downloaded by Trâm Tú (dnntutram0508@gmail.com) lOMoARcPSD|32338071
CÂU HỎI LÝ THUYẾT
Câu 1. Phân tích căn cứ hủy việc kết hôn trái pháp luật.
Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn tại cơ quan đăng ký kết hôn
nhưng vi phạm điều kiện kết hôn, cụ thể là vi phạm một trong các qui định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
* Căn cứ để tòa án hủy kết hôn trái pháp luật là:
- Thứ nhất, Nam, nữ chưa đến tuổi được kết hôn theo qui định tại Khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 mà đã kết hôn.
Theo quy định tại điều 8 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 thì độ tuổi nam, nữ được phép kết hôn là nam từ đủ 20
tuổi trở lên và nữ từ đủ 18 tuổi trở lên.
Như vậy, căn cứ vào giấy khai sinh thì nếu nam, nữ chưa đủ độ tuổi theo luật định mà kết hôn thì tòa án có thể hủy việc kết hôn của họ.
- Thứ hai, việc kết hôn thiếu sự tự nguyện của nam và nữ hoặc của cả hai nam và nữ.
Việc kết hôn thiếu sự tự nguyện của nam, nữ là khi nam nữ kết hôn có hành vi cưỡng ép kết hôn, lừa dối để kết hôn.
Cưỡng ép kết hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc
người khác phải kết hôn trái với ý muốn của họ.
Lừa dối kết hôn là việc một trong hai người kết hôn đã nói sai sự thật về người đó làm cho người kia tưởng làm mà
kết hôn hoặc một trong hai người kết hôn đã hứa hẹn làm việc gì đó có lợi cho người kia làm người đó đồng ý kết hôn.
- Thứ ba, người mất năng lực hành vi dân sự nhưng vẫn kết hôn.
Người mất năng lực hành vi dân sự là người bị tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ
được hành vi của mình, đồng thời có quyết định tuyên bố một người bị mất năng lực hành vi dân sự của tòa án trên
cơ sở kết luận của tổ chức giám định.
Những người bị mất năng lực hành vi dân sự thường không có khả năng chăm sóc cho bản thân và những người
xung quanh, thậm chí còn là gánh nặng trong gia đình. Bên cạnh đó, đôi lúc các bệnh về mất năng lực hành vi dân
sự còn có yếu tố di truyền, mặt khác trên thực tế còn xảy ra tình trạng người bị mất năng lực hành vi dân sự gây ra
các vụ bạo lực gia đình hay là nạn nhân bạo lực gia đình từ những người bạn đời của họ.. từ những nguyên nhân
đó, nếu người bị mất năng lực hành vi dân sự mà có quyết định có hiệu lực của tòa án tuyên bố một người bị mất
năng lực hành vi dân sự thì người đó bị hạn chế quyền kết hôn.
- Thứ tư, Người đang có vợ hoặc có chồng lại kết hôn với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn
hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ.
Nhằm bảo vệ nguyên tắc một vợ một chồng thì luật hôn nhân gia đình 2014 tiếp tục quy định cấm các trường hợp
"Người đang có vợ hoặc có chồng lại kết hôn với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc
chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ". Cơ sở để xác định một người đang có vợ, có chồng là
căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp và phải đang có hiệu lực. Các trường
hợp vi phạm sẽ bị tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật.
- Thứ năm, Những người cùng dòng máu về trực hệ, những người có họ trong phạm vi ba đời đã bị cấm kết hôn với nhau mà vẫn kết hôn.
+ Những người có cùng dòng máu về trực hệ là những người có quan hệ huyết thống, trong đó người này sinh ra người kia kế tiếp nhau.
+ Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra gồm cha mẹ là đời thứ nhất; anh,
chị, em cùng cha, mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh, chị, em con chú, con bác, con cô,
con cậu, con dì là đời thứ ba.
Kết quả nghiên cứu của các ngành khoa học về huyết học khảo sát thực nghiệm cho thấy những người có quan hệ
huyết thống gần mà kết hôn với nhau thì con của họ sinh ra thường bị bệnh tật và những dị dạng, thậm chí còn có
trường hợp con sinh ra bị tử vong ngay sau sinh và tỷ lệ tử vong của những trẻ em sơ sinh càng cao nếu quan hệ
huyết thống của cha mẹ càng gần. vì vậy, pháp luật cấm những người có quan hệ huyết thống gần kết hôn với nhau
để đảm bảo cho con sinh ra khỏe mạnh, nòi giống phát triển mạnh, làm lành mạnh các môi squan hệ gia đình, phù
hợp với đạo đức, đảm bảo lợi ích gia đình và xã hội.
- Thứ sáu, Việc kết hôn giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha
chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.
Pháp luật cấm những người có quan hệ cha, mẹ nuôi với con nuôi hoặc đã từng là cha, mẹ nuôi và con nuôi, cha
chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng nhằm làm ổn
định các mổi quan hệ trong gia đình, ngăn chặn lợi dụng mối quan hệ phụ thuộc mà có thể xảy ra hành vi cưỡng ép
kết hôn. Quy định này đảm bảo thuần phong, mỹ tục trong quan hệ hôn nhân và gia đình. Xét về khía cạnh đạo đức,
người ta không thể chấp nhận quan hệ hôn nhân giữa những người trước đây là "cha con", "mẹ con" (dù không
cùng huyết thống) nay là vợ chồng. Đây vừa là quy định pháp luật vừa là quy tắc đạo đức.
- Thứ bảy, hai người kết hôn cùng giới tính.
Downloaded by Trâm Tú (dnntutram0508@gmail.com) lOMoARcPSD|32338071
Hôn nhân là sự kết hôn giữa một người nam và một người nữ nhằm xây dựng gia đình. Gia đình phải thực hiện
chức năng xã hội, một trong những chức năng đó là chức năng sinh đẻ nhằm duy trì nòi giống. nếu hai người cùng
giới tính kết hôn vơi nhau thì trái với quy luật tự nhiên và quy luật xã hội.
Câu 2: Hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật.
Căn cứ điều 12 luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định : Hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật.
1. Khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì hai bên kết hôn phải chấm dút quan hệ như vợ chồng.
2. Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn.
3. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 16 của Luật này. Cụ thể.
- Về nguyên tắc nhà nước không thừa nhận hai người kết hôn trái pháp luật là vợ chồng. Do đó giữa họ không tồn
tại quyền nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng. Kể từ ngày quyết định hủy kết hôn trái pháp luật của Tòa án có
hiệu lực pháp luật, hai người phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng, đồng thời phải chấm dứt cuộc sống chung trái pháp luật.
- Về tài sản: Do hai người kết hôn trái pháp luật không phải là vợ chồng hợp pháp. Vì vậy, tài sản mà họ tạo ra
trong thời gian sống chung không phải là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng. Khi tòa án hủy việc
kết hôn trái pháp luật, tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó.
Người có tài sản không chứng minh được thì tài sản đó được coi là tài sản chung
- Về quyền nghĩa vụ cha, mẹ - con: được pháp luật quy định không phụ thuộc hôn nhân của cha, mẹ có hợp pháp
hay không hợp pháp, còn tồn tại hay chấm dứt. Vì vậy, việc tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật không làm ảnh
hưởng đến quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con.
Khi hủy việc kết hôn trái pháp luật, vấn đề con chung được giải quyết nhưe vợ chồng ly hôn nhằm bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của con.
Câu 3: Phân tích quy định của pháp luật hiện hành về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Việc chia tài sản chung của vợ chồng dựa trên những điều kiện và nguyên tắc quy định tại luật hôn nhân năm 2014
và nghị định 126/2014/NĐ-CP nhăm bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng đối với tài sản chung.
- Cách thức chia tài sản chung của gia đinh trong thời ky hôn nhân, quy định tại đều 38 luật hôn nhân gia đình năm 2014.
"1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần
hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có
quyền yêu cầu Tòa án giải quyết."
Như vậy tài sản của vợ chồng trong thời kỳ trong thời ky hôn nhân có thể giải quyết theo thỏa thuận của vợ chồng
hoặc vợ chồng có quyền yêu cầu tòa án giải quyết.
- Hình thức thảo thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân :
"2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của
vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.'
3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định
tại Điều 59 của Luật này."
- Thời điêm có hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân: được quy định tại điều 39
luật hôn nhân và gia đình năm 2014
+ Thời điểm do vợ chồng thỏa thuận và được ghi trong văn bản; nếu trong văn bản không xác định thời điểm có
hiệu lực thì thời điểm có hiệu lực được tính từ ngày lập văn bản.
+ Trong trường hợp tài sản được chia mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân
theo hình thức nhất định thì việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực từ thời điểm việc thỏa thuận tuân thủ
hình thức mà pháp luật quy định.
+ Trong trường hợp Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng thì việc chia tài sản chung có hiệu lực kể từ ngày bản
án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
+ Quyền, nghĩa vụ về tài sản giữa vợ, chồng với người thứ ba phát sinh trước thời điểm việc chia tài sản chung có
hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
- Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân:
+ Về quan hệ nhân thân: Sau khi chia tài sản chung, quan hệ vợ chồng vẫn tồn tại. Dù vợ chồng sống chung hay ở
riêng cũng không làm hạn chế các quyền nhân thân giữa vợ, chồng.
+ Về quan hệ tài sản: Điều 14 Nghị định 126/2014/NĐ-CP quy định: việc chia tài sản chung của vợ chồng trong
thời kỳ hôn nhân không làm chấm dứt chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định.
Từ thời điểm việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực, nếu vợ chồng không có thỏa thuận khác thì phần tài
sản được chia; hoa lợi, lợi tức phát sinh ừt tài sản đó; hoa lợi, lợi tức phát sinh ừt tài sản riêng khác của vợ, chồng
là tài sản riêng của vợ, chồng. Nếu tài sản có được từ việc khai thác tài sản riêng của vợ, chồng mà không xác định
Downloaded by Trâm Tú (dnntutram0508@gmail.com) lOMoARcPSD|32338071
được đó là thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh của vợ, chồng hay là hoa lợi, lợi tức phát sinh từ
tài sản riêng đó thì thuộc sở hữu chung của vợ chồng.
Câu 4: Phân tích nguyên tắc hôn nhân tự nguyện tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng?
* Nguyên tắc hôn nhân tự nguyện tiến bộ:
Căn cứ vào điểm b, khoản 1, điều 8 “Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định”. Hôn nhân tự nguyện, tiến
bộ được hiểu là mỗi bên nam nữ được tự mình quyết định việc kết hôn. Mọi hành vi cưỡng ép kết hôn, lừa dối để
kết hôn, cản trở việc kết hôn tự nguyện, tiến bộ đều bị coi là vi phạm pháp luật. Khi vợ chồng đang chung sống hòa
thuận, hạnh phúc thì không ai có thể buộc họ ly hôn. Nhưng khi cuộc sống chung của vợ chồng phát sinh mâu
thuẫn và bản thân vợ, chồng mong muốn được chấm dứt cuộc sống chung thì họ có quyền yêu cầu ly hôn. Việc kết
hôn dựa trên cơ sở tình yêu giữa nam và nữ, việc ly hôn dựa trên thực chất quan hệ vợ chồng không thể tiếp tục tồn tại.
* Nguyên tắc hôn nhân 1 vợ 1 chồng:
Căn cứ vào điểm c, khoản 2, điều 5, Luật Hôn nhân và gia đình 2014
“Cấm các hành vi sau đây: … Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người
khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ”
Hôn nhân một vợ một chồng là vào thời điểm xác lập quan hệ hôn nhân (thời điểm đăng ký kết hôn), các bên kết
hôn đang không có vợ hoặc có chồng. Có nghĩa là vào một thời điểm, một người đàn ông chỉ có một người vợ, một
người đàn bà chỉ có một người chồng.
Luật Hôn nhân và gia đình xây dựng trên nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng nhằm xóa bỏ chế độ nhiều vợ của
người đàn ông trong pháp luật thời kỳ phong kiến. Để đảm bảo hôn nhân được xây dựng trên nguyên tắc một vợ,
một chồng, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc
chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như
vợ chồng với người đang có chồng, có vợ (điểm c khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014)
* Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng:
Căn cứ vào điều 17, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 “Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang
nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến
pháp, Luật này và các luật khác có liên quan.”
Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng còn góp phần xóa bỏ sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng trong gia đình phong kiến,
khẳng định quyền bình đẳng về mọi mặt giữa nam và nữ, góp phần vào sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Nguyên tắc
vợ chồng bình đẳng còn thể hiện rõ quan điểm của Nhà nước Việt Nam là không phân biệt dân tộc, tôn giáo, quốc
tịch trong quan hệ hôn nhân. Khi đã xác lập quan hệ vợ chồng, không phụ thuộc vào việc người tham gia quan hệ
hôn nhân có dân tộc gì, theo hoặc không theo tôn giáo, mang quốc tịch Việt Nam hay nước ngoài, quyền và nghĩa
vụ của mỗi bên được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
Câu 5: Phân tích nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa các con?
* Nguyên tắc này được ghi nhận tại khoản 3, điều 2, Luật Hôn nhân và gia đình 2014, “Xây dựng gia đình ấm no,
tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân
biệt đối xử giữa các con.”
* Nguyên tắc hướng đến việc không phân biệt đối xử giữa các con tức là trong quá trình nuôi nấng, dạy dỗ, chăm
sóc con cái, cha mẹ phải đối xử công bằng giữa các con của mình, với con nuôi cũng như con đẻ, con gái cũng như
con trai, con riêng cũng như con chung, con ra đời tự nhiên cũng như con ra đời nhờ kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, con
chưa thành niên cũng như con đã thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự,…
* Không chỉ riêng lĩnh vực hôn nhân và gia đình, các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội cũng đòi hỏi sự công
bằng, không phân biệt đối xử trong mọi mối quan hệ, chẳng hạn trong lĩnh vực lao động, ngoại giao, y tế, giáo
dục,. . Khi một người ý thức được việc mình đang bị phân biệt đối xử, người đó sẽ nảy sinh tâm lý phản kháng, đòi
hỏi được đối xử bình đẳng, đồng thời có cảm giác ức chế và suy nghĩ tiêu cực về bản thân cũng như về phía người
đã phân biệt đối xử với mình. Cùng rất nhiều hệ quả xấu khác về mặt tâm lý và hành vi sau này của người đó.
Tương tự với việc cha mẹ phân biệt đối xử giữa các con trong gia đình. Đứa trẻ dù ở độ tuổi nào, có thể phải hứng
chịu những tổn thương tâm lý nhất định, ảnh hưởng đến quá trình phát triển nhân cách của trẻ và lối sống sau này khi đã trưởng thành.
⇒ Chính vì vậy, việc đặt ra nguyên tắc “không phân biệt đối xử giữa các con” có ý nghĩa quan trọng trong việc
đảm bảo cho trẻ em lớn lên hoàn thiện và phát triển một cách toàn diện cả về trí tuệ lẫn nhân cách.
Câu 6: Phân tích các trường hợp chung sống như vợ chồng mà không vi phạm các điều kiện nội dung của
điều kiện kết hôn?
- Trường hợp 1: Chung sống như vợ chồng trước ngày 03/01/1987
Hai bên chung sống với nhau như vợ chồng trước thời điểm ngày 03/01/1987 mà không đăng ký kết hôn, do vậy sẽ
áp dụng quy định của Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân
và gia đình năm 2000 và Thông tư số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 hướng dẫn thi
hành Nghị quyết số 35/2000/QH10 để xem xét tính hợp pháp của quan hệ chung sống giữa hai bên.
Theo quy định tại điểm a khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội thì “Trong trường
Downloaded by Trâm Tú (dnntutram0508@gmail.com) lOMoARcPSD|32338071
hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 1 năm 1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có
hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì
được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000”. Như vậy, đối với
những trường hợp nam nữ chung sống với nhau trước ngày 03/01/1987, hiện họ chưa đăng ký kết hôn thì vẫn được
pháp luật công nhận là vợ chồng (hôn nhân thực tế).
- Trường hợp 2: Nam nữ đủ tuổi, tự nguyện, đủ năng lực hành vi dân sự và không vi phạm vào các trường hợp cấm
kết hôn chung sống như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn.
Trường hợp này không vi phạm điều kiện nội dung mà vi phạm vào điều kiện hình thức của kết hôn. Việc chung
sống như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn không vi phạm pháp luật do pháp luật không cấm, nhưng pháp luật
cũng không khuyến khích hành vi này. Do không đăng kí kết hôn sẽ không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ
chồng, việc giải quyết hậu quả sau khi chấm dứt quan hệ chung sống như vợ chồng sẽ gặp nhiều khó khăn.
Câu 7: Phân tích ý nghĩa của gia đình đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội?
Ở mỗi chế độ khác nhau sẽ có một mô hình với những chức năng xã hội khác nhau. Tuy nhiên ở chế độ nào, gia
đình cũng thực hiện các chức năng chủ yếu sau để duy trì sự tồn tại và phát triển của xã hội: chức năng sinh đẻ,
chức năng giáo dục và chức năng kinh tế.
- Chức năng sinh đẻ (tái sản xuất sức lao động)
Nếu không có sản xuất và tái sản xuất ra con người thì xã hội không thể phát triển, thậm chí không thể tồn tại được.
Đó cũng là lý do giải thích cho việc tại sao hôn nhân đồng giới không được pháp luật Việt Nam thừa nhận.
C.Mác và Ph.Ăngghen đã từng đề cập đến chức năng đó của gia đình: “Con người ta thay đổi hằng ngày cuộc sống
của chính mình, bắt đầu sản xuất ra những con người khác, tức tự tái sản xuất, đó là quan hệ giữa đàn ông và đàn
bà, giữa cha mẹ và con cái, đó là gia đình”.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, con người là sản phẩm của xã hội, trong tính hiện thực của nó, bản
chất của con người là tổng hòa của tất cả các quan hệ xã hội. Con người là thành viên của gia đình, đồng thời cũng
là thành viên của xã hội, đại diện cho 1 tầng lớp, 1 gia cấp, 1 xã hội nhất định.
Trong chế độ XHCN, chức năng tự tái sản xuất sức lao động nhằm phục vụ cho lợi ích CNXH, kết hợp hài hòa lợi
ích cá nhân, gia đình và lợi ích XH. - Chức năng giáo dục
Chức năng giáo dục là chức năng chủ yếu của gia đình. Mỗi con người sinh ra và lớn lên trong 1 gia đình cụ thể.
Việc giáo dục của gia đình bắt đầu kể từ lúc con người được sinh ra cho đến suốt cuộc đời. Do đó, không thể phủ
nhận rằng việc này ảnh hưởng lớn đến việc hình thành nhân cách, đến sự trưởng thành của các thành viên khác.
Việc xác lập hệ thống kinh tế xã hội đảm bảo lợi ích chung về vật chất là tinh thần - là cơ sở quan trọng giúp cho
việc giáo dục ý thức thống nhất lợi ích xã hội và gia đình, làm cho gia đình phát triển không tách biệt, mà gắn liền
với tập thể, với xã hội.
Trong điều kiện của CNXH, vai trò của gia đình càng được đề cao hơn trong việc giáo dục con cái và tạo nên sự
gắn bó mật thiết giữa gia đình và nhà trường, xã hội trong sự nghiệp giáo dục trẻ. - Chức năng kinh tế
Chức năng kinh tế của gia đình ở mỗi chế độ khác nhau sẽ có nội dung khác nhau. Trong xã hội, khi mà chế độ
công hữu về tư liệu sản xuất được xác lập, gia đình không còn là đơn vị kinh tế nữa; chức năng kinh tế của gia đình
chủ yếu là tổ chức đời sống cho mọi thành viên trong gia
đình, thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của các thành viên đó.
Câu 8: Phân tích nguyên tắc hôn nhân tự nguyện tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng?
* Nguyên tắc hôn nhân tự nguyện tiến bộ:
Căn cứ vào điểm b, khoản 1, điều 8 “Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định”. Hôn nhân tự nguyện, tiến
bộ được hiểu là mỗi bên nam nữ được tự mình quyết định việc kết hôn. Mọi hành vi cưỡng ép kết hôn, lừa dối để
kết hôn, cản trở việc kết hôn tự nguyện, tiến bộ đều bị coi là vi phạm pháp luật. Khi vợ chồng đang chung sống hòa
thuận, hạnh phúc thì không ai có thể buộc họ ly hôn. Nhưng khi cuộc sống chung của vợ chồng phát sinh mâu
thuẫn và bản thân vợ, chồng mong muốn được chấm dứt cuộc sống chung thì họ có quyền yêu cầu ly hôn. Việc kết
hôn dựa trên cơ sở tình yêu giữa nam và nữ, việc ly hôn dựa trên thực chất quan hệ vợ chồng không thể tiếp tục tồn tại.
* Nguyên tắc hôn nhân 1 vợ 1 chồng:
Căn cứ vào điểm c, khoản 2, điều 5, Luật Hôn nhân và gia đình 2014
“Cấm các hành vi sau đây: … Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người
khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ”
Hôn nhân một vợ một chồng là vào thời điểm xác lập quan hệ hôn nhân (thời điểm đăng ký kết hôn), các bên kết
hôn đang không có vợ hoặc có chồng. Có nghĩa là vào một thời điểm, một người đàn ông chỉ có một người vợ, một
người đàn bà chỉ có một người chồng.
Luật Hôn nhân và gia đình xây dựng trên nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng nhằm xóa bỏ chế độ nhiều vợ của
người đàn ông trong pháp luật thời kỳ phong kiến. Để đảm bảo hôn nhân được xây dựng trên nguyên tắc một vợ,
một chồng, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc
Downloaded by Trâm Tú (dnntutram0508@gmail.com) lOMoARcPSD|32338071
chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như
vợ chồng với người đang có chồng, có vợ (điểm c khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014)
* Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng:
Căn cứ vào điều 17, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 “Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang
nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến
pháp, Luật này và các luật khác có liên quan.”.
Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng còn góp phần xóa bỏ sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng trong gia đình phong kiến,
khẳng định quyền bình đẳng về mọi mặt giữa nam và nữ, góp phần vào sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Nguyên tắc
vợ chồng bình đẳng còn thể hiện rõ quan điểm của Nhà nước Việt Nam là không phân biệt dân tộc, tôn giáo, quốc
tịch trong quan hệ hôn nhân. Khi đã xác lập quan hệ vợ chồng, không phụ thuộc vào việc người tham gia quan hệ
hôn nhân có dân tộc gì, theo hoặc không theo tôn giáo, mang quốc tịch Việt Nam hay nước ngoài, quyền và nghĩa
vụ của mỗi bên được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
Câu 9: Phân tích nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa các con?
Nguyên tắc này được ghi nhận tại khoản 3, điều 2, Luật Hôn nhân và gia đình 2014, “Xây dựng gia đình ấm no,
tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân
biệt đối xử giữa các con.”
Nguyên tắc hướng đến việc không phân biệt đối xử giữa các con tức là trong quá trình nuôi nấng, dạy dỗ, chăm sóc
con cái, cha mẹ phải đối xử công bằng giữa các con của mình, với con nuôi cũng như con đẻ, con gái cũng như con
trai, con riêng cũng như con chung, con ra đời tự nhiên cũng như con ra đời nhờ kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, con chưa
thành niên cũng như con đã thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự,…
Không chỉ riêng lĩnh vực hôn nhân và gia đình, các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội cũng đòi hỏi sự công
bằng, không phân biệt đối xử trong mọi mối quan hệ, chẳng hạn trong lĩnh vực lao động, ngoại giao, y tế, giáo
dục,. . Khi một người ý thức được việc mình đang bị phân biệt đối xử, người đó sẽ nảy sinh tâm lý phản kháng, đòi
hỏi được đối xử bình đẳng, đồng thời có cảm giác ức chế và suy nghĩ tiêu cực về bản thân cũng như về phía người
đã phân biệt đối xử với mình. Cùng rất nhiều hệ quả xấu khác về mặt tâm lý và hành vi sau này của người đó.
Tương tự với việc cha mẹ phân biệt đối xử giữa các con trong gia đình. Đứa trẻ dù ở độ tuổi nào, có thể phải hứng
chịu những tổn thương tâm lý nhất định, ảnh hưởng đến quá trình phát triển nhân cách của trẻ và lối sống sau này khi đã trưởng thành.
⇒ Chính vì vậy, việc đặt ra nguyên tắc “không phân biệt đối xử giữa các con” có ý nghĩa quan trọng trong việc
đảm bảo cho trẻ em lớn lên hoàn thiện và phát triển một cách toàn diện cả về trí tuệ lẫn nhân cách.
Câu 10: Phân tích các quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng?
Các quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng được Luật Hôn nhân và gia đình quy định tại các điều từ 17 đến 23:
- Bình đẳng về quyền, nghĩa vụ giữa vợ, chồng và bảo vệ quyền và nghĩa vụ nhân thân của vợ và chồng (Điều
17,18): Vợ chồng phải cùng nhau chia sẻ công việc gia đình. Mỗi bên vợ, chồng phải nhận thức và hành động đúng
pháp luật về bình đẳng giới trong gia đình. Xóa bỏ định kiến giới và tình trạng phân công lao động truyền thống là
lao động việc nhà thuộc về phụ nữ.
- Tình nghĩa vợ chồng và lựa chọn nơi cư trú của vợ chồng (Điều 19, 20): Vợ chồng phải chung sống với nhau để
có thể thực hiện tốt nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực
hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, tùy hoàn cảnh của mỗi cặp vợ chồng mà họ có thể thỏa thuận về việc
sống chung hay sống riêng. Trong trường hợp vì lý do nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính
trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác thì vợ, chồng có thể không sống chung với nhau.
- Tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng (Điều 21, 22): Sự tôn
trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau giữa vợ và chồng thể hiện ở hành vi, cách xử sự và thái độ của họ đối với
nhau. Đó là việc giữ gìn danh dự, uy tín, nhân phẩm cho nhau, lắng nghe ý kiến của nhau, quan tâm, động viên lẫn
nhau. . Mọi hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm giữa vợ và chồng bị nghiêm cấm.
Hiện nay, tình trạng bạo lực gia đình xảy ra tương đối phổ biến trong các gia đình mà nạn nhân có thể là vợ hoặc
chồng. Bạo lực giữa vợ và chồng đã vi phạm quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng. Đây là nguyên nhân
chính dẫn đến tình trạng ly hôn hiện nay.
- Quyền, nghĩa vụ về học tập, làm việc, tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội (Điều 23): Đây là
những quyền cơ bản của mỗi cá nhân trong xã hội, phục vụ cho nhu cầu sống, phát triển lành mạnh, tích cực của
mỗi cá nhân. Khi chưa kết hôn và đã là người trưởng thành chúng ta dễ dàng hơn khi có thể tự quyết định những
vấn đề của mình. Tuy nhiên, khi đã có gia đình với những sự ràng buộc của trách nhiệm, những lo toan, tính toán
không chỉ cho mình mà cả người vợ/chồng và các thành viên khác, mọi lựa chọn đều cần có sự ủng hộ, giúp đỡ của
người còn lại. Đặc biệt là đối với người phụ nữ, ngay cả khi giá trị bình đẳng đã trở thành quyền được pháp luật
bảo vệ và quy định thì khi trở thành người có gia đình – với thiên chức làm vợ, làm mẹ, họ đều dễ gặp phải những
cản trở khi thực hiện những quyền trên của mình.
Câu 11: Phân tích các nguyên tắc của chế độ tài sản vợ chồng?
Downloaded by Trâm Tú (dnntutram0508@gmail.com) lOMoARcPSD|32338071
Căn cứ Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:
“ Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản
chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.
Vợ, chồng có nghĩa vụ bảo đảm điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.
Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng,
gia đình và của người khác thì phải bồi thường”
Nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ tài sản của vợ chồng
1. Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung
- Bình đẳng là sự ngang hàng về mặt nào đó bao gồm các quan hệ trong quan hệ xã hội, không có ai hơn ai về
quyền, nghĩa vụ, địa vị pháp lý.
- Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản.
- Sử dụng là việc khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản.
- Định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, quyền tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản.
- Tạo lập tài sản là làm ra tài sản như lao động có thu nhập.
2. Không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập
Điều này cho thấy lao động trong gia đình (công việc nội trợ, chăm sóc con cái…) phần lớn do người phụ nữ thực
hiện đã được pháp luật ghi nhận một cách công bằng, bình đẳng với lao động tạo ra thu nhập bên ngoài xã hội.
Nguyên tắc này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn phát triển của xã hội Việt Nam cũng như thế giới trong bối cảnh
bình đẳng giới luôn là vấn đề được quan tâm, đặt ra trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là ở trong gia đình.
Nguyên tắc bảo đảm nhu cầu thiết yếu
Theo đó dù vợ, chồng áp dụng chế độ tài sản nào, có tài sản chung hay không thì việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu
của gia đình vẫn là trách nhiệm của cả hai bên vợ chồng. Bởi nhu cầu thiết yếu giúp duy trì và bảo đảm sự bền vững trong gia đình.
- Nhu cầu thiết yếu là nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu
sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình. Tùy theo từng kiểu gia
đình mà mỗi gia đình sẽ có những nhu cầu tối thiểu khác nhau. Ví dụ nhu cầu của gia đình ở nông thôn sẽ khác với
nhu cầu của gia đình ở thành phố.
- Nhu cầu không thiết yếu là nhu cầu không bắt buộc phải có, nếu không đáp ứng được nhu cầu đó thì cũng không
ảnh hưởng đến đời sống chung của gia đình. Ví dụ nhu cầu đổi một chiếc quạt gió thành chiếc điều hòa.
Nguyên tắc này khẳng định sự ngang nhau về trách nhiệm của vợ chồng đối với gia đình, khắc phục việc ỷ lại cho
đối phương, thiếu trách nhiệm với gia đình.
Nguyên tắc bảo đảm lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, thành viên khác trong gia đình và người khác
Theo đó, quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, gia đình và của người khác được pháp luật bảo vệ. Việc thực hiện
quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng dù theo chế độ tài sản nào mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của
người khác cũng sẽ phải bồi thường thiệt hại.
Ví dụ: Vợ hoặc chồng sử dụng chiếc máy tính là tài sản chung của cả gia đình (bao gồm phần sở hữu của cha và
mẹ) mà làm hư hỏng máy tính thì phải bồi thường cho cha mẹ.
Đây là nguyên tắc quan trọng xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ về
tài sản của vợ chồng mà gây thiệt hại cho người khác hoặc các thành viên gia đình.
Câu 12: So sánh nghĩa vụ cấp dưỡng và nghĩa vụ nuôi dưỡng? *) Giống nhau:
Là loại quan hệ nhân thân gắn liền với tài sản giữa các thành viên trong gia đình trên cơ sở huyết thống hoặc nuôi dưỡng.
Điều kiện phát sinh: người được nuôi dưỡng, cấp dưỡng không có khả năng tự nuôi mình và chủ thể còn lại có khả
năng để nuôi dưỡng, cấp dưỡng. (Người được nuôi dưỡng, cấp dưỡng là người chưa thành niên, người đã thành
niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu). *) Khác nhau: Nuôi dưỡng Cấp dưỡng
Downloaded by Trâm Tú (dnntutram0508@gmail.com) lOMoARcPSD|32338071
Nuôi dưỡng là việc một người chăm sóc, đáp ứng những nhu Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc
cầu cần thiết cho người được nuôi dưỡng nhằm tạo điều kiện tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không
duy trì và phát triển cuộc sống của người đó
sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống
hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa
thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao
động và không có tài sản để tự nuôi bản thân mình hoặc
người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của LHNGĐ 2014
Phát sinh khi các thành viên trong gia đình dựa trên cơ sở Chỉ phát sinh khi người có nghĩa vụ nuôi dưỡng vì hoàn cảnh
quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng, sống cùng nhau, trực nhất định mà không thể nuôi dưỡng, chăm sóc người kia hoặc
tiếp chăm sóc về mặt vật chất, tinh thần cho nhau.
khi cả 2 không còn sống chung với nhau nữa.
VD: sau khi ly hôn, cha mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con
Nuôi dưỡng là cơ sở của việc cấp dưỡng.
cái nếu không trực tiếp nuôi con,. .
Được thực hiện giữa những người có quan hệ huyết thống, Được thực hiện giữa những người có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng nuôi dưỡng và hôn nhân.
Không chỉ bao gồm các loại chi phí, tiền bạc mà còn chứa Người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải chu cấp 1 số tiền nhất
đựng hành vi chăm sóc, nuôi nấng trực tiếp.
định để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của bên được cấp dưỡng.
Là nghĩa vụ, trách nhiệm mà người nuôi dưỡng luôn phải Phát sinh trong những trường hợp và điều kiện cụ thể theo thực hiện
quy định của pháp luật.
Người có nghĩa vụ nuôi dưỡng mà trốn tránh nghĩa vụ thì Quan hệ cấp dưỡng là quan hệ tài sản gắn liền với nhân thân
phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng
với người có nghĩa vụ cấp dưỡng
Vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng sẽ không được hưởng thừa kế Quan hệ cấp dưỡng không mang tính đền bù tương đương,
không có tính tuyệt đối và không diễn ra đồng thời Tình huống1:
Ông A và bà B chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1982, không đăng ký kết hôn, 2 người có 01 con chung
là C sinh năm 1983. Đến năm 1986, ông A bỏ nhà ra đi nơi khác làm ăn sinh sống và chung sống như vợ chồng với
bà X, 2 người sau đó có với nhau 03 người con chung là X1,X2,X3.
Năm 2000, bà B mua được mảnh đất có diện tích là 1400m2, sau đó được cấp GCNQSD đất; năm 2001, bà X mua
được 01 ngôi nhà 3 tầng trên diện tích 300m2 đất tại phố Y.
Năm 2015, ông A khởi kiện, yêu cầu ly hôn với bà X, yêu cầu chia TS là ngôi nhà tại phố Y, đồng thời khởi kiện
bà B, yêu cầu được chia TS là mảnh đất 1400m2; bà X phản bác yêu cầu của ông A, đồng thời yêu cầu Toà án huỷ
hôn nhân trái pháp luật giữa mình và ông A.
Anh (chị) cho biết quan điểm giải quyết của mình? Bài làm:
Ly hôn với bà X: được ly hôn theo yêu cầu của 1 bên
Chia tài sản ngôi nhà của bà X: đồng ý chia theo quy định của pháp luật
Khởi kiện bà B, yêu cầu chia tài sản là mảnh đất: trong khoảng thời gian 10 năm (suốt từ năm 1986 đến năm 2000),
Downloaded by Trâm Tú (dnntutram0508@gmail.com) lOMoARcPSD|32338071
ông A không thực sự chung sống, giúp đỡ, xây dựng gia đình với bà B
→ quan hệ chung sống như vợ chồng giữa ông A và bà B có thể đã kết thúc theo điểm c mục 2 Thông tư liên tịch
số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001
Bà X yêu cầu hủy hôn nhân trái pháp luật: không được yêu cầu hủy hôn nhân trái pháp lu mà chỉ được yêu cầu ly hôn. Tình huống 2:
Năm 2011, anh Hoà kết hôn với chị Hợp, đến năm 2012 thì chị Hợp sinh được cháu Hạnh. Do cuộc sống khó khăn,
anh Hoà lại ốm đau liên miên nên đến 2013, 2 vợ chồng thống nhất chị Hợp sẽ lên thành phố làm ăn, kiếm tiền gửi
về nuôi chồng con. Ngay khi ra thành phố, chị Hợp đã cắt đứt liên lạc với gia đình. Đến năm 2015, anh Hoà đã gửi
đơn đến Tòa án yêu cầu tuyên bố chị Hợp mất tích (Toà án sau đó đã ra quyết định tuyên bố chị Hợp mất tích).
Năm 2019, anh Hoà lại tiếp tục làm đơn yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố chị Hợp là đã chết, Toà án sau đó
cũng đã ra quyết định tuyên bố chị Hợp là đã chết.
Tháng 2/2020, anh Hoà đã bán ngôi nhà là tài sản chung trước đây của 2 vợ chồng, sau đó dùng số tiền bán nhà này
để mua 01 căn nhà mới tại phố X. Đến tháng 3/2020, anh Hoà kết hôn với chị Thuận.
Tháng 6/2020, chị Hợp trở về, yêu cầu Tòa án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố chị đã chết; yêu cầu Toà
án huỷ hôn nhân trái pháp luật giữa anh Hoà và chị Thuận; yêu cầu chia TS chung là ngôi nhà mới mua trên phố X.
Anh (chị) cho biết quan điểm giải quyết của mình? Bài làm
Yêu cầu 1: Đồng ý hủy bỏ quyết định tuyên bố chị đã chết theo K1 Điều 73, BLDS 2015
Yêu cầu 2: Không đồng ý hủy hôn nhân trái pháp luật giữa anh Hòa và chị Thuận theo điểm b khoản 2 điều 73 của
BLDS 2015 và điều 67 BLHNVGĐ
trong giai đoạn mà chị Hợp đã được tuyên bố đã chết → tình trạng hôn nhân của anh hòa, chị Hợp bị chấm dứt
Yêu cầu 3: Chia tài giá trị tài sản căn nhà cũ, vốn là tài sản chung của vợ chồng anh chị Hòa Hợp. Còn căn nhà mới
mua trên phố X, không liên quan đến chị Hợp, nên anh chỉ cần thanh toán đủ cho chị Hợp một nửa giá trị của căn nhà cũ.
SO SÁNH KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT VÀ KẾT HÔN KHÔNG ĐÚNG THẨM QUYỀN: Giống nhau:
. Phần giống nhau (Tổng hợp)
Dù là kết hôn trái pháp luật hay không đúng thẩm quyền, cả hai trường hợp đều có những đặc điểm chung sau:
Về hình thức bên ngoài: Cả hai trường hợp đều đã thực hiện thủ tục đăng ký tại cơ quan nhà nước và đã
được cấp Giấy chứng nhận kết hôn (GCNKH).
Về tính chất pháp lý: Đều là những quan hệ hôn nhân không hoàn chỉnh, vi phạm các quy định của Luật
Hôn nhân và gia đình hoặc Luật Hộ tịch.
Hệ quả chung: Quan hệ hôn nhân đều bị xem xét xử lý (hủy bỏ hoặc thu hồi giấy tờ) để đảm bảo tính
nghiêm minh của pháp luật.
Mục đích xử lý: Đều nhằm bảo vệ chế độ hôn nhân tiến bộ, một vợ một chồng và đúng quy định quản lý nhà nước. Khác nhau: Tiêu chí
Kết hôn trái pháp luật
Kết hôn không đúng thẩm quyền Bản chất vi
Vi phạm các điều kiện nội dung (độ tuổi, tự
Vi phạm về thủ tục/thẩm quyền (đối phạm
nguyện, các điều cấm tại Điều 8 Luật
tượng đủ điều kiện kết hôn nhưng đăng HNGĐ). ký sai nơi quy định). Căn cứ pháp lý
Khoản 6 Điều 3 Luật HNGĐ 2014.
Điều 8 Luật HNGĐ 2014 và Luật Hộ tịch 2014. Cơ quan có
Ủy ban nhân dân (UBND) cấp trên trực thẩm quyền xử
Tòa án nhân dân (có thẩm quyền ra quyết
tiếp (có thẩm quyền thu hồi và hủy bỏ lý
định hủy việc kết hôn trái pháp luật). GCNKH). Hình thức xử lý
Ra quyết định Hủy việc kết hôn trái pháp
Thu hồi và hủy bỏ Giấy chứng nhận kết chính luật. hôn đã cấp sai. Hệ quả đối với
- Có thể bị hủy bỏ hoàn toàn.
- Buộc phải thực hiện đăng ký lại tại quan hệ hôn
đúng cơ quan có thẩm quyền. nhân
- Nếu tại thời điểm xét xử đã đủ điều kiện
Downloaded by Trâm Tú (dnntutram0508@gmail.com) lOMoARcPSD|32338071 Tiêu chí
Kết hôn trái pháp luật
Kết hôn không đúng thẩm quyền
thì có thể được Tòa án công nhận.
- Thời điểm hôn nhân vẫn được tính từ ngày đăng ký cũ. Trách nhiệm
Có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu
Thường chỉ xử lý về mặt hành chính pháp lý khác
trách nhiệm hình sự (tội giao cấu với trẻ
hoặc kỷ luật cán bộ thực hiện sai thẩm
em, cưỡng ép hôn nhân. .). quyền.
SO SÁNH CHẾ ĐỊNH QUAN HỆ TÀI SẢN VỢ CHỒNG THEO LUẬT ĐỊNH VÀ THEO THỎA THUẬN: Khác nhau Tiêu chí
Chế độ tài sản theo Luật định
Chế độ tài sản theo Thỏa thuận Căn cứ pháp lý
Điều 33 - Điều 46 Luật HNGĐ 2014
Điều 47 - Điều 50 Luật HNGĐ 2014 Thời điểm lập
Mặc nhiên có hiệu lực từ khi kết hôn.
Phải lập trước khi kết hôn. Hình thức Không yêu cầu văn bản.
Phải bằng văn bản có công chứng/chứng thực. Xác định tài
Theo nguồn gốc: Thu nhập từ lao động, kinh
Theo sự thống nhất của hai bên (có thể quy sản chung
doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh trong kỳ hôn
định tất cả là tài sản riêng hoặc tất cả là nhân (Điều 33). chung). Xác định tài
Tài sản có trước kết hôn, được thừa kế/tặng
Theo danh mục cụ thể đã liệt kê trong bản sản riêng
cho riêng, tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu (Điều 43). thỏa thuận. Chiếm hữu,
Tài sản lớn phải có sự đồng ý của cả hai
Theo thỏa thuận (thường là ai đứng tên định đoạt (Điều 35).
người đó có quyền quyết định). Chia tài sản
Nguyên tắc chia đôi nhưng có tính đến công
Thực hiện đúng theo các cam kết đã ghi khi ly hôn
sức, lỗi của các bên (Điều 59).
trong văn bản thỏa thuận (Điều 48). Hiệu lực với
Luôn có hiệu lực bảo vệ quyền lợi chính
Vợ chồng có nghĩa vụ cung cấp thông tin bên thứ 3 đáng của bên thứ ba.
thỏa thuận cho bên thứ ba khi giao dịch (Điều 47). Giống nhau:
Tôi sẽ tổng hợp lại các điểm giống nhau giữa chế độ tài sản theo luật định và theo thỏa thuận dưới dạng văn bản
liệt kê để bạn dễ nắm bắt các nguyên tắc cốt lõi:
Giống nhau về Nguyên tắc Bình đẳng
Dù áp dụng chế độ nào, vợ và chồng đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng và
định đoạt tài sản chung. Pháp luật không cho phép bất kỳ thỏa thuận nào tước bỏ quyền bình đẳng cơ bản này của một bên.
Căn cứ: Điều 29 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
Giống nhau về Nghĩa vụ đáp ứng Nhu cầu thiết yếu
Trong cả hai chế độ, vợ chồng đều có quyền và nghĩa vụ thực hiện các giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt
thiết yếu của gia đình (như: chi phí ăn uống, khám chữa bệnh, giáo dục cho con, tiền thuê nhà. .).
Nếu một bên thực hiện giao dịch này, bên kia vẫn phải có trách nhiệm liên đới trả nợ dù không trực tiếp ký tên.
Căn cứ: Điều 30 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
Giống nhau về Trách nhiệm liên đới với bên thứ ba
Vợ chồng đều phải chịu trách nhiệm chung trước các nghĩa vụ tài chính phát sinh từ:
Giao dịch do vợ và chồng cùng thỏa thuận.
Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con cái gây ra mà theo luật cha mẹ phải bồi thường.
Downloaded by Trâm Tú (dnntutram0508@gmail.com) lOMoARcPSD|32338071
Các khoản vay để duy trì nguồn sống duy nhất của gia đình.
Căn cứ: Điều 27 và Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
Giống nhau về Quyền có tài sản riêng
Dưới bất kỳ chế độ nào, pháp luật luôn tôn trọng và bảo vệ quyền có tài sản riêng của mỗi bên. Các loại tài sản
như: đồ dùng cá nhân, tài sản được thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc tài sản có trước khi kết hôn đều có thể được
xác định là tài sản riêng nếu có bằng chứng chứng minh.
Căn cứ: Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
Giống nhau về sự Bảo vệ người yếu thế
Cả hai chế độ tài sản đều bị giới hạn bởi các quy định bảo vệ quyền lợi của:
Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động.
Bảo vệ quyền có chỗ ở của vợ/chồng khi ly hôn.
Mọi thỏa thuận (dù đã công chứng) nếu nhằm mục đích tẩu tán tài sản để trốn nanh nghĩa vụ cấp dưỡng thì
đều bị Tòa án tuyên vô hiệu.
Giống nhau về Tính linh hoạt (Có thể thay đổi)
Cả hai chế độ đều không "đóng băng" suốt đời:
Chế độ luật định: Vợ chồng có thể thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
Chế độ thỏa thuận: Vợ chồng có thể sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ bản thỏa thuận ban đầu để chuyển sang
chế độ luật định thông qua văn bản công chứng.
Downloaded by Trâm Tú (dnntutram0508@gmail.com)
Document Outline
- Câu 6: Phân tích các trường hợp chung sống như vợ chồng mà không vi phạm các điều kiện nội dung của điều kiện kết hôn?
- Câu 7: Phân tích ý nghĩa của gia đình đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội?
- Câu 8: Phân tích nguyên tắc hôn nhân tự nguyện tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng?
- Câu 9: Phân tích nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa các con?
- Câu 10: Phân tích các quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng?
- Câu 11: Phân tích các nguyên tắc của chế độ tài sản vợ chồng?
- Câu 12: So sánh nghĩa vụ cấp dưỡng và nghĩa vụ nuôi dưỡng?