



















Preview text:
CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN
Câu 1: Phân tích sự hình thành và phát triển của kinh tế chính trị Mác – Lênin?
Kinh tế chính trị Mác-Lênin do C.Mác (1818-1883) và Ph. Ăng-ghen (1820-1895)
sáng lập, sau đó được V.I.Lê-nin (1870-1924) phát triển trong điều kiện lịch sử mới.
Điều kiện lịch sử mới đó là chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa tư
bản độc quyền, đặc biệt sự thành công của cách mạng tháng mười Nga năm 1917.
Kinh tế chính trị Mác-Lênin là một trong ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác-Lênin là triết học
Mác-Lênin, kinh tế chính trị Mác-Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học. Kinh tế chính trị Mác-
Lênin là sự kế thừa và phát triển kinh tế chính trị tư sản cổ điển. Để thấy được điều đó ta tìm
hiểu qua về sự phát triển của các học thuyết kinh tế chính trị:
Học thuyết kinh tế chính trị học đầu tiên là chủ nghĩa trọng thương, rất coi trọng thương nghiệp,
cho rằng giá trị được tạo ra từ lưu thông và tiền là nguồn gốc của mọi
sự giàu có của các quốc gia vì vậy phải tích luỹ tiền. Tuy nhiên, điểm thiếu sót cơ bản của học
thuyết này là đối tượng nghiên cứu chưa đúng. Đối tượng nghiên cứu của học thuyết này là sự
lưu thông hàng hóa nhưng nếu không có hàng hóa thì lấy gì để mà lưu thông? Do đó, học thuyết
trọng thương bộc lộ khá nhiều hạn chế trong cơ sở lý luận kinh tế chính trị.
Khi sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển, quan điểm trọng thương bộc lộ hạn chế thì các học
thuyết kinh tế chính trị tư sản cổ điển ra đời thay thế. Đó là chủ nghĩa trọng nông Pháp đã
chuyển phạm vi nghiên cứu của kinh tế chính trị sang lĩnh vực sản xuất, đi tìm nguồn gốc của giá
trị, của cải và sự giàu có từ trong quá trình lao động sản xuất. Học thuyết trọng nông có tiến bộ
hơn ở chỗ đã chỉ ra tư duy kinh tế đúng là hướng vào sản xuất hàng hóa. Học thuyết này khẳng
định rằng chỉ có nông nghiệp mới tạo ra “sản phẩm ròng”. Sản phẩm ròng được tính bằng tổng
sản lượng thu được trừ đi số lượng
giống ban đầu. Xã hội giàu có là do số lượng “sản phẩm ròng” nhiều hay ít.
Mặc dầu 2 học thuyết kinh tế trọng nông và trọng thương đã có được đối tượng nghiên cứu cụ
thể nhưng chúng chưa có đủ những đặc điểm cơ bản để trở thành một học thuyết thực sự mà
đúng ra, chỉ có thể gọi là hệ tư tưởng. Học thuyết trọng thương mới
chỉ chú trọng đến vấn đề lưu thông hàng hóa. Học thuyết trọng nông có tiến bộ hơn ở chỗ đã chỉ
ra tư duy kinh tế đúng là hướng vào sản xuất hàng hóa. Tuy nhiên, học thuyết trọng nông mới chỉ
nhắm đến lãnh vực sản xuất nông nghiệp thôi. Phương pháp mà 2 học thuyết này sử dụng là kinh
nghiệm chủ quan-bằng quan sát thực tiễn rồi khái quát nên thành kinh nghiệm của mình, chứ
chúng chưa có một cơ sở khoa học nào rõ ràng và có tính hệ thống. Một học thuyết thực sự cần
có những yếu tố để trở thành một khoa học độc lập: một là có đối tượng nghiên cứu riêng; hai là
có hệ thống lý luận cơ bản riêng; ba là có phương pháp khoa học đặc trưng. Từ đó, học thuyết
kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh ra đời. Học thuyết mới này đã đưa kinh tế chính trị trở thành
một khoa học thực sự với hệ thống các lý thuyết về giá trị lao động, tiền tệ, tư bản, tái sản xuất,
…Nó nghiên cứu không chỉ lãnh vực nông nghiệp mà còn cả công nghiệp và thương mại.
Phương pháp khoa học mà học thuyết này sử dụng là trừu tượng hóa.
Học thuyết này được coi là một trong những tiền đề lý luận hình thành chủ nghĩa Mác-Lênin nói
chung và kinh tế chính trị Mác-Lênin nói riêng. Tuy nhiên, học thuyết kinh tế chính trị tư sản cổ
điển cũng còn bộc lộ những hạn chế nhất định. Đó chính là phương pháp siêu hình; quan điểm
duy lịch sử; đồng nhất giá trị thặng dư với giá trị sử dụng; nhầm lẫn giữa sở hữu tư liệu sản xuất
và tư bản. Quan điểm siêu hình là quan sát nhận định hiện tượng trong sự đứng im, không vận
động, cô lập với các vấn đề khác.
Cuối thế kỷ 18 sang đầu thể kỷ 19, nền sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh đã bắt đầu bộc
lộ những mâu thuẫn, hạn chế. Nhiều vấn đề kinh tế nảy sinh mà các tư tưởng cổ điển không thể
lý giải được. Một loạt các học thuyết kinh tế ra đời mong muốn thay thế cho những tư tưởng cổ
điển như: các học thuyết kinh tế chính trị tư sản hậu cổ điển, kinh tế chính trị tiểu tư sản, kinh tế
chính trị của những người xã hội chủ nghĩa không tưởng, kinh tế chính trị Mác-Lênin,…Trong
đó chỉ có kinh tế chính trị Mác-Lênin là vượt qua được các nhà kinh tế chính trị tư sản cổ điển,
đánh dấu một bước phát triển vượt bậc trong lịch sử học thuyết kinh tế chính trị. Nó vừa mang
tính khoa học, vừa mang tính cách mạng. Nó mang tính khoa học ở chỗ phản ánh đúng hiện thực
khách quan. Nó mang tính cách mạng ở chỗ chỉ ra cho người ta cách thức
làm sao biến nền kinh tế xã hội theo hướng tiến bộ hơn, tích cực hơn, hiệu quả hơn.
Học thuyết này để chỉ ra được 2 mặt của sản xuất hàng hóa. Phương pháp được sử dụng chủ yếu
là biện chứng duy vật và biện chứng duy vật lịch sử
Kinh tế chính trị Mác-Lênin nói riêng cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung ra đời từ những
năm 40 của thế kỷ 19, được Lê-nin tiếp tục bổ sung phát triển trong những năm đầu thế kỷ 20 đã
trở thành đỉnh cao trong lịch sử các học thuyết kinh tế chính trị.
Câu 2: Phân tích điều kiện ra đời, tồn tại và các ưu thế của sản xuất hàng hóa? Những giải pháp
để phát huy các ưu thế của sản xuất hàng hóa ở nước ta hiện nay?
***Phân tích điều kiện ra đời, tồn tại và các ưu thế của sản suất hàng hoá:
Khái niệm sản xuất hàng hoá:
Thứ nhất: Khái niệm sản xuất hàng hóa
Sản xuất hàng hóa là một khái niệm được sử dụng trong kinh tế chính trị Mac-Lenin dùng để chỉ
về kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra không phải là để đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán. Hay có thể hiểu, sản xuất
hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm sản xuất ra là để bán.
Thứ hai: Đặc điểm của hàng hóa – Giá trị hàng hóa:
Giá trị hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh bên trong hàng hóa. Giá
trị là nội dung bên trong của hàng hóa, nó được biểu hiện ra bên ngoài bằng việc hai hàng hóa có
thể trao đổi được với nhau. Giá trị hàng hóa cũng có những đặc điểm riêng:
+ Giá trị hàng hóa biểu hiện mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa.
+ Giá trị hàng hóa là phạm trù lịch sử chỉ tổn tại ở kinh tế hàng hóa. – Giá trị sử dụng:
Giá trị sử dụng là công dụng của hàng hóa có thể thỏa mãn một số nhu cầu nào đó của con
người. Đối với giá trị sử dụng, hàng hóa có các đặc trung, cụ thể:
+ Do thuộc tính tự nhiên của hàng hóa quyết định.
+ Giá trị hàng hóa không nhất thiết chỉ có một giá trị sử dụng duy nhất. Khi khoa học kỹ thuật
càng phát triển người ta càng phát hiện ra nhiều thuộc tính mới của hàng hóa và sử dụng chính
cho nhiều mục đích khác nhau.
+ Là phạm trù vĩnh viễn vì nó tồn tại trong mọi phương thức hoặc mọi kiểu tổ chức sản xuất.
+ Giá trị này không dành cho bản thân người sản xuất hàng hóa mà cho người tiêu dùng hàng
hóa. Người mua có quyển sở hữu và sử dụng hàng hóa theo mục đích của họ. Hay nói cách khác,
sản phẩm hàng hóa đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Điều kiện ra đời và sự tồn tại:
Thứ nhất: Phân công lao động xã hội
– Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hóa sản xuất, phân chia lao động xã hội ra thành
các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau. Phân công lao động xã hội là cơ sở, là tiền đề của
sản xuất hàng hóa. Phân công lao động xã hội càng phát triển, thì sản xuất và trao đổi hàng hóa
càng mở rộng hơn, đa dạng hơn.
– Sự phân công lao động xã hội khiến cho việc trao đổi sản phẩm trở thành tất yếu. Khi có phân
công lao động xã hội, mỗi người chỉ sản xuất một hoặc một vài thứ sản phẩm nhất định, nhưng
nhu cầu của cuộc sống đòi hỏi họ phải có nhiều loại sản phẩm khác nhau. Bên cạnh đó, họ cần
đến sản phẩm của nhau, buộc phải trao đổi với nhau. Phân công lao động xã hội, chuyên môn
hóa sản xuất đồng thời làm cho năng suất lao động tăng lên, sản phẩm thặng dư ngày càng nhiều
nên càng thúc đẩy sự trao đổi sản phẩm.
Thứ hai: Sự tách biệt kinh tế
– Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất được hiểu là những người sản
xuất trở thành những chủ thể có sự độc lập nhất định với nhau. Vì thế, sản phẩm làm ra thuộc
quyền sở hữu của các chủ thể kinh tế, người này muốn tiêu dùng sản phẩm lao động của người
khác cần phải thông qua trao đổi, mua bán hàng hóa.
– Sự tách biệt này do chế độ tư hữu về tư hữu tư liệu sản xuất quy định. Trong chế độ tư hữu về
tư liệu sản xuất thì tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của mỗi cá nhân và kết quả là sản phẩm làm ra
thuộc quyền sở hữu của họ. Sản xuất hàng hóa ra đời trong chế độ chiếm hữu nô lệ.
Chính vì thế, hai điều kiện đã khẳng định phân công lao động xã hội làm cho những người sản
xuất phụ thuộc vào nhau, còn sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất lại
chia rẽ họ, làm cho họ độc lập với nhau. Đây là một mâu thuẫn. Mâu thuẫn này được giải quyết
thông qua trao đổi, mua bán sản phẩm của nhau. Đó là 02 điều kiện cần và đủ của sản xuất hàng hóa.
Ưu thế của việc sản xuất hàng hoá: -
Quy mô của sản xuất mở rộng, không bị giới hạn tạo điều kiện thuận lợi cho việc đưa các
ứng dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất, thúc đẩy phát triển sản xuất. -
Tạo điều kiện khai thác tốt những lợi thế của tự nhiên xã hội, thiên nhiên, kỹ thuật của từng
cá nhân, khu vực, địa phương và của từng quốc gia. -
Trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa, sự tác động từ các quy luật sẵn có của sản xuất và trao
đổi mua bán hàng hóa như cung cầu, quy luật giá trị, cạnh tranh khiến cho người sản xuất
hàng hóa luôn biến hóa thay đổi, năng động, nhạy bén, cải tiến kỹ thuật để nâng cao chất
lượng và năng suất. Từ đó, làm tăng hiệu quả kinh tế, cải tiến quy trình, giảm thiểu chi phí
sản xuất để đáp ứng thị hiếu, nhu cầu của người dùng. -
Trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa, việc phát triển sản xuất sẽ giúp cho đời sống vật chất,
văn hóa, tinh thần ngày một được nâng cao, phong phú và đa dạng.
*** Những giải pháp để phát huy các ưu thế của sản xuất hàng hóa ở nước ta hiện nay
-Tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng vật chất, pháp lý và tri thức khoa học công nghệ cho thương mại,
dịch vụ. Đây là cơ sở cho sự phát triển của thị trường cả trong nước và quốc tế. Ưu tiên đầu tư
vào hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc và xây dựng các khu chợ, trung tâm thương
mại. Đảm bảo cơ sở hạ tầng tốt để hàng hóa lưu thông thông suốt, thuận lợi và nhanh chóng.
Điều này sẽ giúp chuyển đổi cơ cấu sản xuất hàng hoá theo hướng năng động và hiệu quả hơn.
Để phát triển kết cấu hạ tầng phải có chính sách hợp lý để thu hút đầu tư cả trong nước và ngoài nước.
-Thúc đầy sự phát triển của sản xuất hàng hoá: Đây là biện pháp rất cơ bản để thúc đẩy sự phát
triển của thị trường. Cần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu sản xuất hàng hoá theo hướng tập
trung chuyên môn hoá cao ở những ngành có lợi thế so sánh. Nghiên cứu, lựa chọn các sản
phẩm có lợi thế so sánh của quốc gia, của từng địa phương và từng ngành để xây dựng chiến
lược phát triển. Sắp xếp nghiên cứu các thông tin về thị trường đầu ra, khả năng cạnh tranh.
Tránh tình trạng làm phong trào, tràn lan như thời gian qua.
- Nâng cao chất lượng công tác thông tin, dự báo thị trường và các hoạt động xúc tiến thương
mại. Cần xác định rõ phạm vi trách nhiệm và sự phối hợp giữa nhà nước với các doanh nghiệp,
doanh nhân trong công tác thị trường (cả thị trường trong nước và thị trường quốc tế). Ở tầm vĩ
mô, nhà nước cần đầu tư nâng cao chất lượng dự báo thị trường và phát triển thương mại của Bộ
Kế hoạch và đầu tư, Bộ Thương mại và một số Bộ ngành, địa phương trọng điểm. Đặc biệt là
việc bạn hành các dự báo dài hạn và hàng năm nhằm để giúp các doanh nghiệp định hướng hoạt
động kinh doanh và cảnh báo thị trường.
- Hoàn thiện cơ sở pháp lý cho tự do hoá kinh doanh, tự do hoá thương mại. Triệt để thực hiện
đúng nguyên tắc thương nhân được kinh doanh những mặt hàng mà luật pháp cho phép và luật
pháp không cấm. Thường xuyên rà soát hệ thống luật pháp hiện hành để bảo đảm tính hệ thống
tính pháp lý và môi trườngthông thoáng cho các chủ thể kinh doanh. Đồng thời phải nghiêm trị
các hành vi vi phạm luật thương mại nhất là buôn lậu, hàng rởm và hàng giả.
Câu 3: Phân tích tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa. Vì sao chỉ lao động sản xuất
hàng hóa mới có tính hai mặt?
*** Phân tích tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa
Hàng hóa có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị. Hai thuộc tính đó do tính chất hai mặt của
lao động sản xuất hàng hóa quyết định. Chính tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá quyết
định tính hai mặt của bản thần hàng hoá.
C. Mác là người đầu tiên đã phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá. Đó là
lao động cụ thể và lao động trừu tượng. Đây không phải là hai thứ lao động khác nhau mà chỉ là
lao động của người sản xuất hàng hoá, nhưng lao động đó mang tính hai mặt: vừa là lao động cụ
thể, vừa là lao động trừu tượng. – Lao động cụ thể
+ Khái niệm : Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề
nghiệp chuyên môn nhất định. Mỗi lao động cụ thể có mục đích riêng, đối tượng riêng, phương
tiện riêng, phương pháp riêng, và kết quả riêng.
Ví dụ: lao động cụ thể của người thợ mộc, mục đích là sản xuất cái bàn, cái ghế, đối tượng lao
động là gỗ, phương pháp của anh ta là các thao tác về cưa, về bào, khoan, đục; phương tiện được
sử dụng là cái cưa, cái đục, cái bào, cái khoan; kết quả lao động là tạo ra cái bàn, cái ghế.
+ Đặc trưng của lao động cụ thể:
* Mỗi lao động cụ thể tạo ra một loại giá trị sử dụng nhất định. Lao động cụ thể càng nhiều loại
thì càng tạo ra nhiều loại giá trị sử dụng khác nhau.
* Các lao động cụ thể hợp thành hệ thống phân công lao động xã hội. Cùng với sự phát triển
của khoa học – kỹ thuật, các hình thức lao động cụ thể ngày càng đa dạng, phong phú, nó phản
ánh trình độ phát triển của phân công lao động xã hội.
* Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa. Giá trị sử dụng là phạm trù vĩnh viễn, vì
vậy lao động cụ thể cũng là phạm trù vĩnh viễn tồn tại gắn liền vối vật phẩm, nó là một điều kiện
không thể thiếu trong bất kỳ hình thái kinh tế – xã hội nào.
* Các hình thức phong phú và đa dạng của lao động cụ thể phụ thuộc vào trình độ phát triển và
sự áp dụng khoa học – công nghệ vào sản xuất, đồng thời cũng là tấm gương phản chiếu trình độ
phát triển kinh tế và khoa học – công nghệ ở mỗi thời đại.
* Lao động cụ thể không phải là nguồn gốc duy nhất của giá trị sử dụng do nó sản giờ cũng do
hai nhân tố hợp thành: vật chất và lao động. Lao động cụ thể của con người chỉ thay đổi hình
thức tồn tại của các vật chất, làm cho nó thích hợp với nhu cầu của con người.
– Lao động trừu tượng
+ Khái niệm: Lao động của người sản xuất hàng hoá, nếu coi đó là sự hao phí óc, sức thần kinh
của sức cơ bắp nói chung của con người, chứ không kể đến hình thức cụ thể của nó như thế nào,
thì gọi là lao động trừu tượng.
Ví dụ: lao động của người thợ mộc và lao động của người thợ may, nếu xét về mặt lao động cụ
thể thì hoàn toàn khác nhau, nhưng nếu gạt bỏ tất cả những sự khác nhau ấy sang một bên thì
chúng chỉ còn có một cái chung, đều phải hao phí sức óc, sức bắp thịt và sức thần kinh của con người.
+ Đặc trưng của lao động trừu tượng:
* Lao động trừu tượng tạo ra giá trị hàng hóa, làm cơ sở cho sự ngang bằng trao đổi.
* Giá trị của hàng hóa là một phạm trù lịch sử, do đó lao động trừu tượng tạo ra giá trị hàng
hóa cũng là một phạm trù lịch sử, chỉ tồn tại trong nền sản xuất hàng hóa.
Chú ý: Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa có quan hệ với tính chất tư nhân và tính
chất xã hội của lao động sản xuất hàng hóa. Tính chất tư nhân và tính chất xã hội của lao động
sản xuất hàng hóa có mâu thuẫn với nhau, đó là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hóa giản
đơn biểu hiện ở chỗ sản phẩm của người sản xuất hàng hóa riêng biệt có thể không ăn khớp hoặc
không phù hợp với nhu cầu của xã hội hoặc hao phí lao động cá biệt của ngưòi sản xuất hàng hoá
có thể cao hơn hay thấp hơn hao phí lao động mà xã hội có thể chấp nhận. Chính vì những mâu
thuẫn đó mà sản xuất hàng hoá vừa vận động phát triển, lại vừa tiềm ẩn khả năng khủng hoảng “sản xuất thừa”.
*** Vì sao chỉ lao động sản xuất hàng hóa mới có tính hai mặt?
* Chỉ lao động sản xuất hàng hóa mới có tính hai mặt vì: Hàng hóa có hai thuộc tính là giá trị sử
dụng và giá trị. Hai thuộc tính đó do tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa quyết định.
Câu 4: Phân tích bản chất, chức năng của tiền. Từ đó hãy làm rõ vì sao tiền là một loại hàng hóa đặc biệt?
***Phân tích bản chất, chức năng của tiền: Bản chất:
Tiền được xem là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong thanh toán để đổi lấy hàng hoá, dịch
vụ hoặc để hoàn trả các khoản nợ. Định nghĩa này chỉ đưa ra các tiêu chí để nhận biết một vật có
phải là tiền tệ hay không. Tuy nhiên nó chưa giải thích được tại sao vật đó lại được chọn làm tiền
tệ. Để giải thích được điều này phải tìm hiểu bản chất của tiền tệ. Về bản chất, tiền tệ là vật trung
gian môi giới trong trao đổi hàng hoá, dịch vụ, là phương tiện giúp cho quá trình trao đổi được
thực hiện dễ dàng hơn. Bản chất của tiền tệ được thể hiện rõ hơn qua hai thuộc tính sau của nó:
Giá trị sử dụng của tiền tệ là khả năng thoả mãn nhu cầu trao đổi của xã hội, nhu cầu sử dụng
làm vật trung gian trong trao đổi. Như vậy người ta sẽ chỉ cần nắm giữ tiền khi có nhu cầu trao
đổi. Giá trị sử dụng của một loại tiền tệ là do xã hội qui định: chừng nào xã hội còn thừa nhận
nó thực hiện tốt vai trò tiền tệ (tức là vai trò vật trung gian môi giới trong trao đổi) thì chừng đó
giá trị sử dụng của nó với tư cách là tiền tệ còn tồn tại. Đây chính là lời giải thích cho sự xuất
hiện cũng như biến mất của các dạng tiền tệ trong lịch sử.
Giá trị của tiền được thể hiện qua khái niệm “sức mua tiền tệ”, đó là khả năng đổi được nhiều
hay ít hàng hoá khác trong trao đổi. Tuy nhiên khái niệm sức mua tiền tệ không được xem xét
dưới góc độ sức mua đối với từng hàng hoá nhất định mà xét trên phương diện toàn thể các hàng hoá trên thị trường. Chức năng:
Tiền tệ là thước đo giá trị, dùng để đo lường giá trị của các loại hàng hóa. Mỗi vật phẩm đều có
giá trị khác nhau và được đo lường bằng giá trị của tiền tệ. Giá trị hàng hóa tiền tệ (vàng) thay
đổi không ảnh hưởng gì đến chức năng tiêu chuẩn giá cả chức năng của tiền tệ. -
là phương tiện trao đổi: Như đã nói, khi trao đổi hàng hóa tiền tệ đóng vai trò làm vật
trung gian. Thời chưa có tiền tệ, người ta chỉ biết dùng hàng đổi hàng để có được những
sản phẩm mà họ mong muốn có được. Cách thức này cũng khá hợp lí nhưng dần trở nên
lỗi thời. Nhờ có tiền tệ ra đời mà việc trao đổi hàng hóa trở nên dễ dàng hơn. Bên cạnh đó
còn đảm bảo tính công bằng. Thay vì đổi một kg thịt gà lấy nửa cân thịt bò thì bạn có thể
bán gà với giá 120 nghìn đồng và mua thịt bò với số tiền 100 nghìn đồng. Như vậy thì
còn có thể dự trữ được 10 nghìn đồng cho những lần mua tiếp theo.
-Tiền tệ sử dụng để tích lũy: Khi thực tại dư giả và bạn muốn tương lai thoải mái hơn thì
có thể dự trữ tiền. Không ai cấm bạn làm việc này mà còn được nhiều ngân hàng khuyến
khích. Bạn tích lũy tiền trong ví của ngân hàng, hay thẻ tín dụng thì sẽ được hưởng rất nhiều ưu đãi.
Giả sử bạn có số tiền 2 tỷ và muốn đem dự trữ. Thay vì tự cất giữ trong nhà và đến một ngày nào
đó không còn giá trị như trước nữa thì bạn có thể gửi ngân hàng để có tiết kiệm hàng tháng. Như
vậy với lãi suất 7,5% trên năm thì trung bình một tháng bạn tiết kiệm thêm 6 triệu 250 nghìn đồng.
Trước đây người ta cất tiền bằng hiện vật vừa khó bảo quản lại dễ mất và hư hỏng. Việc để ngân
hàng cất giữ dùm là một sự lựa chọn khá thông minh. Đồng thời nếu muốn lời còn có một cách
là bạn cũng có thể quy đổi thành vàng bạc.
-Tiền tệ sử dụng để thanh toán: Tiền tệ là phương tiện thanh toán khi bạn phải đóng góp
nộp các khoản tiền nhà, thuế khóa. Hay tiền điện nước, vay mượn trong quá trình lưu
thông hàng hóa. Khi đảm nhận chức năng này tiền tệ không còn là vật ngang giá nữa.
Thay vào đó nó vận động tách rời hàng hóa sản phẩm. Cách thức này góp phần phổ biến việc bù
trừ lẫn nhau. Đồng thời khiến cho việc tính toán đơn giản hóa hơn nhiều. Để đáp ứng được
những nhu cầu trên đòi hỏi tiền phải có giá trị bền vững và ổn định.
-Tiền là thước đo giá trị hàng hóa: Nó là một đơn vị đo lường trong việc mua bán sản
phẩm hàng hóa. Khi đi siêu thị hay đến các cửa hàng quần áo chúng ta thường thấy người
ta in giá sản phẩm đi kèm. Điều đó cho thấy mỗi mặt hàng đều có giá trị nhất định.
Nó được quy đổi thành tiền để khách hàng chi trả và người bán lấy lại được vốn. Giả sử như
trong cửa hàng có bán một đôi giày fake và một đôi giày real. Giày fake có giá 150 nghìn đồng
và giày real có giá 1500000 nghìn đồng. Bạn sẽ so sánh được giá cả và chất lượng của sản phẩm.
-Chức năng của tiền tệ thế giới: Trong quá trình trao đổi hàng hóa trên thế giới, nếu tiền
của quốc gia nào được nhiều nước sử dụng nhất thì đó gọi là chức năng tiền tệ thế giới.
Nói chung cũng giống như là khi tiền tệ thực hiện được hết 4 khả năng kể trên thế giới.
***Từ đó hãy làm rõ vì sao tiền là một loại hàng hóa đặc biệt? Tiền tệ là hàng hóa
Tiền tệ không phải thứ gì đó quá trừu tượng, nó đơn giản cũng giống như hàng hóa bình thường.
Đa là hàng hóa thì phải có cả giá trị và giá trị sử dụng, Điều này đã được kể đến trong hệ thống
triết học Mác Lê Nin. Giả sử như nếu như bạc cũng có thể được chọn làm tiền tệ. Thì trên thực tế
bạc còn nhiều hạn chế so với tiền tệ.
Trước hết nó có công dụng của một vật ngang giá chung vừa có công dụng của một chất có khả
năng làm trang sức hay thuốc. Tuy nhiên, trong đó chưa tính đến công sức lao động tương đương
với việc làm ra nó tính theo giá trị. Tiền tệ còn hơn thế, bởi vậy chúng ta mới kể đến được hai từ đặc biệt sau đó.
Tiền tệ là hàng hóa đặc biệt
Những hàng hóa không phải là tiền thì nó không thể đem trao đổi với hàng hóa khác. Nhưng tiền
thì có thể. Đồng thời trong việc sử dụng tiền thì ít phải liên quan đến những công sức lao động được kết tinh trong nó.
Tiền được dùng làm vật trung gian để mua bán các loại hàng hóa cụ thể khác. Hay nói theo chiều
hướng khác trong vô số loại hàng hóa. Thì nó được tách ra làm vật ngang giá chung. Đồng thời
nó là kết quả của mối quan hệ giữa những người sản xuất, tạo ra sản phẩm hàng hóa.
Câu 5: Phân tích vai trò và chức năng của thị trường. Ưu thế và khuyết tật của nền kinh tế thị
trường? Liên hệ thực tiễn Việt Nam?
***Phân tích vai trò và chức năng của thị trường Vai trò của thị trường
Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp góp phần vào việc thoả mãn các nhu cầu của thị
trường, kích thích sự ra đời của các nhu cầu mới và nâng cao chất lượng nhu cầu... Tuy nhiên
trong cơ chế thị trường, thì thị trường có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Thị trường vừa là động lực, vừa là điều kiện, vừa là thước đo kết
quả và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp
- Là động lực: Thị trường đặt ra các nhu cầu tiêu dùng, buộc các doanh nghiệp nếu muốn tồn tại
được phải luôn nắm bắt được các nhu cầu đó và định hướng mục tiêu hoạt động cũng phải xuất
phát từ những nhu cầu đó. Ngày nay, mức sống của người dân được tăng lên một cách rõ rệt do
đó khả năng thanh toán của họ cũng cao hơn. Bên cạnh đó, các đơn vị, các tổ chức kinh tế trong
mọi lĩnh vực hoạt động kinh doanh đua nhau cạnh tranh dành giật khách hàng một cách gay gắt
bởi vì thị trường có chấp nhận thì doanh nghiệp mới tồn tại được nếu ngược lại sẽ bị phá sản.
Vậy thị trường là động lực sản xuất,cũng như kinh doanh thương mại của doanh nghiệp.
- Là điều kiện: Thị trường bảo đảm cung ứng có hiệu quả các yếu tố cần thiết để doanh nghiệp
thực hiện tốt nhiệm vụ hoạt động kinh doanh của mình. Nếu doanh nghiệp có nhu cầu về một
loại yếu tố sản xuất hay một loại hàng hóa nào đó thì tình hình cung ứng trên thị trường sẽ có ảnh
hưởng trực tiếp tiêu cực hoặc tích cực tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Vậy thị
trường là điều kiện của mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Là thước đo: Thị trường cũng kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của các phương án hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong qua trình hoạt động kinh doanh thương mại, các
doanh nghiệp luôn phải đối mặt với các trường hợp khó khăn đỏi hỏi phải có sự tính toán cân
nhắc trước khi ra quyết định. Mỗi một quyết định đều ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại
của các doanh nghiệp. Thị trường có chấp nhận, khách hàng có ưa chuộng sản phẩm hàng hoá
của doanh nghiệp thì mới chứng minh được phương án kinh doanh đó là có hiệu quả và ngược
lại. Vậy thị trường là thước đo hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Như vậy thông qua thị trường (mà trước hết là hệ thống giá cả) các doanh nghiệp có thể nhận
biết được sự phân phối các nguồn lực. Trên thị trường, giá cả hàng hoá và dịch vụ, giá cả các yếu
tố đầu vào (như máy móc thiết bị, nguồn sản phẩm hàng hóa, đất đai, lao động, vốn... ) luôn luôn
biến động nên phải sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để tạo ra các hàng hoá và dịch vụ đáp ứng
kịp thời nhu cầu hàng hoá của thị trường và xã hội.
Chức năng của thị trường: Chức năng thừa nhận:
Nếu sản phẩm doanh nghiệp sản xuất hay nhập khẩu tiêu thụ được trên thị trường, tức là khi đó
hàng hoá của doanh nghiệp đã được thị trường chấp nhận, lúc ấy sẽ tồn tại một lượng khách hàng
nhất định có nhu cầu và sãn sàng trả tiền để có hàng hoá nhằm thoả mãn nhu cầu đó và quá trình
tái sản xuất đầu tư của doanh nghiệp nhờ đó mà cũng được thực hiện. Thị trường thừa nhận tổng
khối lượng hàng hoá và dịch vụ đưa ra giao dịch, tức thừa nhận giá trị và giá trị sử dụng của
chúng, chuyển giá trị cá biệt thành giá trị xã hội. Sự phân phối và phân phối lại các nguồn lực nói
lên sự thừa nhận của thị trường.
Chức năng này đòi hỏi các doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động kinh doanh phải tìm hiểu kỹ thị
trường, đặc biệt là nhu cầu thị trường. Xác định cho được thị trường cần gì với khối lượng bao nhiêu...
Chức năng thực hiện của thị trường
Thông qua các hoạt động trao đổi trên thị trường, người bán và người mua thực hiện được các
mục tiêu của mình. Người bán nhận tiền và chuyển quyền sở hữu cho người mua. Đổi lại, người
mua trả tiền cho người bán để có được giá trị sử dụng của hàng hoá. Tuy nhiên, sự thể hiện về
gía trị chỉ xảy ra khi thị trường đã chấp nhận giá trị sử dụng của hàng hoá. Do đó, khi sản xuất
hàng hoá và dịch vụ doanh nghiệp không chỉ tìm mọi cách để giảm thiểu các chi phí mà còn phải
chú ý xem lợi ích đem lại từ sản phẩm có phù hợp với nhu cầu thị trường hay không.
Như vậy thông qua chức năng thực hiện của thị trường, các hàng hoá và dịch vụ hình thành nên
các giá trị trao đổi của mình để làm cơ sở cho việc phân phối các nguồn lực.
Chức năng điều tiết và kích thích của thị trường
Cơ chế thị trường sẽ điều tiết việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế , tức là kích thích các doanh nghiệp
đầu tư kinh doanh vào các lĩnh vực có mức lợi nhuận hấp dẫn, có tỷ suất lợi nhuận cao, tạo ra sự
di chuyển sản xuất từ ngành này sang ngành khác. Thể hiện rõ nhất của chức năng điều tiết là sự
đào thải trong quy luật cạnh tranh. Doanh nghiệp nào, bằng chính nội lực của mình, có thể thoả
mãn tốt nhất nhu cầu của thị trường, phản ứng một cách kịp thời, linh hoạt, sáng tạo với các biến
động của thị trường thì sẽ tồn tại và phát triển, ngược lại sẽ bị phá sản. Ngoài ra thị trường còn
hướng dẫn người tiêu dùng sử dụng theo mục đích có lợi nhất nguồn ngân sách của mình.
Chức năng này đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm bắt cho được chu kỳ sống của sản phẩm, để
xem sản phẩm đang ở giai đoạn nào, tức lã xem sét mức độ hấp dẫn của thị trường đến đâu để từ
đó có các chính sách phù hợp.
Chức năng thông tin của thị trường
Chức năng này được thể hiện ở chỗ, thị trường chỉ cho người đầu tư kinh doanh biết nên cung
cấp hàng hoá và dịch vụ nào, bằng cách nào và với khối lượng bao nhiêu để đưa vào thị trường
tại thời điểm nào là thích hợp và có lợi nhất, chỉ cho người tiêu dùng biết nên mua những loại
hàng hoá và dịch vụ tại những thời điểm nào là có lợi cho mình.
Thị trường sẽ cung cấp cho nhà sản xuất hay nhà kinh doanh thương mại và người tiêu dùng
những thông tin sau: Tổng số cung, tổng số cầu, cơ cấu cung và cầu, quan hệ cung cầu đối với
từng loại hàng hoá và dịch vụ, các điều kiện tìm kiếm hàng hoá và dịch vụ, các đơn vị sản xuất
và phân phối...Đây là những thông tin quan trọng cho cả nhà sản xuất và người tiêu dùng để đề
ra quyết định thích hợp đem lại lợi ích hiệu quả cho họ.
Để có những thông tin này doanh nghiệp phải tổ chức tốt hệ thống thông tin của mình bao gồm
các ngân hàng thống kê và ngân hàng mô hình cũng như các phương pháp thu thập xử lý thông
tin nhằm cung cấp những thông tin về thị trường cho lãnh đạo doanh nghiệp để xây dựng kế
hoạch chiến lược, kế hoạch phát triển thị trường.
***Ưu thế và khuyết tật của nền kinh tế thị trường Ưu thế:
Một là, nền kinh tế thị trường luôn tạo động lực cho sự sáng tạo của các chủ đề kinh tế. Trong
nền kinh tế thị trường các chủ thể luôn có cơ hội để tìm động lực cho sự sáng tạo của mình.
Thông qua vai trò của thị trường mà nền kinh tế thị trường trở thành phương thức hữu hiện kích
thích sự sáng tạo lao động tăng hiệu quả sản xuất làm cho nền kinh tế hoạt động hiệu quả.
Hai là, nền kinh tế thị trường luôn phát huy tốt nhất tiềm năng của mọi chủ thể cũng như lợi thế
quốc gia. Trong nền kinh tế thị trường mọi tiềm năng, lợi thế đèu có thể phát huy và trở thành lợi
ích đóng góp cho xã hội. Thông qua vai trò gắn kết của thị trường mà nền kinh tế thị trường trở
thành phương thức hiệu quả hơn so với nền kinh tế tự cấp tự túc hay nền kinh tế kế hoạch hoá để
phát huy tiềm năng lợi thế của từng thành viên, từng vùng miền trong quốc gia quan hệ kinh tế
với phần còn lại của thế giới.
Ba là, nền kinh tế thị trường luôn tạo ra các phương thức để thoả mãn tối đa nhu cầu của con
người từ đó thúc đẩy tiến bộ văn minh xã hội. trong nền kinh tế thị trường các thành viên của xã
hội luôn có thể tìm thấy cơ hội tối đa để thoả mãn nhu cầu của mình. Nền kinh tế thị trường với
sự tác động của các quy luật thị trường luôn tạo ra sự phù hợp giữ khối lượng cơ cấu sản suất với
khối lượng cơ cấu nhu cầu tiêu dùng xã hội. Nhờ đó nhu cầu tiêu dùng về các loại hàng hoá dịch
vụ khác nhau được đáp ứng kpj thời người tiêu dùng thoả mãn nhu cầu. Khuyết tật:
Một là, trong nền kinh tế thị trường luôn tiềm ẩn những rủi ro khủng hoảng. Sự vận động của cơ
chế thị trường khôn phải khi nào cũng tạo được những cân đối do đó luôn tiềm ẩn những nguy
cơ khủng hoảng. Khủng hoảng có thể diễn ra cục bộ cũng như trên phạm vi tổng thế. Khủng
hoảng có thể xảy ra với mọi hình thị trường. Sự khó khăn đối với các nền kinh tế thị trường thể
hiện ở chỗ các quốc gia rất khó dự báo chính xác thời điểm xảy ra khủng hoảng.
Hai là, nền kinh tế thị trường không tự khắc phục được xu hướng cạn kiệt tài nguyên không thể
tạo suy thoái môi trường tự nhiên môi trường xã hội. Do các chủ thể sản xuất trong nền kinh tế
thị trường luôn đặt mục tiêu lợi nhuận tối đa nên luôn tạo ra ảnh hưởng tiềm ẩn đối với nguồn
lực tài nguyên suy thoái môi trường. Cũng vì động cơ lợi nhuận các chủ thể sản xuất kinh doanh
có thể vi phạm cả nguyên tắc đạo đức kinh doang thậm chí cả đạo đức xã hội.
Ba là, nền kinh tế thị trường khônh tự khắc phục được hiện tượng phân hoá sâu sắc trong xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường hiện tượng phân hoá xã hội về thu nhập về cơ hội là tất yếu. Các
quy luật thị trường lôn phân bố lợi ích theo mức độ và loại hình hoạt động tham gia thi trường
cộng với tác động của cạnh tranh mà dẫn đến sự phân hoá như một tất yếu
ưuMột là, nền kinh tế thị trường luôn tạo động lực cho sự sáng tạo các chủ thể kinhtế. Trong nền
kinh tế thị trường, các chủ thể luôn có cơ hội để tìm động lực cho sự sáng tạo của mình. Thông
qua vai trò của thị trường mà nền kinh tế thị trường trở thành phương thức hữu hiệu kích thích sự
sáng tạo trong hoạt động của các chủ thể kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho họ để tăng năng suất
lao động, tăng hiệu quả sản xuất, làm cho nền kinh tế hoạt động hiệu quả.
Hai là, nền kinh tế thị trường luôn phát huy tốt nhất tiềm năng của mọi chủ thể
Một là, nền kinh tế thị trường luôn tạo động lực cho sự sáng tạo các chủ thể kinhtế. Trong nền
kinh tế thị trường, các chủ thể luôn có cơ hội để tìm động lực cho sự s
***Liên hệ thực tiễn Việt Nam?
Khủng hoảng kinh tế làm cho doanh nghiệp suy sụp, người lao động không có việc làm. Thất
nghiệp như là con đẻ của khủng hoảng kinh tế. Tỷ lệ thất nghiệp ngày càng lớn, vì trong cơ chế
thị trường, là nền kinh tế mở, hội nhập, kinh tế tri thức, đòi hỏi người lao động phải có trình độ,
có năng lực làm việc. Nạn thất nghiệp đưa người lao động tới những mặt trái trong đời sống xã
hội.ở đây, nguyên nhân chủ yếu là vấn đề tâm lý. Không có việc làm, việc làm không phù hợp
khả năng, dẫn tới tâm lý chán nản, bất mãn, làm việc không tích cực, không hiệu quả, những
gánh nặng về vật chất, những đòi hỏi từ phía gia đình, xã hội v.v đã đưa đẩy nhiều người lao
động tới sự tự huỷ hoại. Tệ nạn xã hội như: ma tuý, mại dâm, tham nhũng v.v; những suy đồi, tha
hoá về đạo đức tăng lên với tốc độ ghê gớm. Quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá luôn
mang tính hai mặt. Khí thải, chất thải công nghiệp, nếu không được xử lý một cách khoa học, thì
ô nhiễm môi trường là điều khó tránh khỏi. Nguyên nhân chính bắt nguồn từ phía các doanh
nghiệp, do chạy theo lợi nhuận mà không quan tâm tới vấn đề môi trường, làm ô nhiễm bầu
không khí, làm bẩn nguồn nước, tàn phá rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ.
Câu 6: Phân tích vai trò của các chủ thể chính tham gia thị trường? Liên hệ thực tiễn? Khái niệm thị trường
Thị trường là tổng hòa những quan hệ kinh tế trong đó nhu cầu của các chủ thể được đáp ứng
thông qua việc trao đổi, mua bán với sự xác định giá cả và số lượng hàng hóa, dịch vụ tương ứng
với trình độ phát triển nhất định của nền sản xuất xã hội.
Các chủ thể tham gia thị trường là: người sản xuất, người tiêu dùng, các chủ thể trung gian trong
thị trường và nhà nước.
Vai trò của các chủ thể chính tham gia thị trường - Người sản xuất:
Người sản xuất là những người trực tiếp tạo ra của cái vật chất, sản phẩm cho xã hội để phục vụ tiêu dùng.
Người sản xuất là những người sử dụng các yếu tố đầu vào để sản xuất, kinh doanh và thu lợi
nhuận. Nhiệm vụ của họ không chỉ làm thỏa mãn nhu cầu hiện tại của xã hội, mà còn tạo ra và
phục vụ cho những nhu cầu trong tương lai với mục tiêu đạt lợi nhuận tối đa trong điều kiện
nguồn lực có hạn. Vì vậy, người sản xuất luôn phải quan tâm đến việc lựa chọn sản xuất hàng
hóa nào, số lượng bao nhiêu, sản xuất với các yếu tố nào sao cho có lợi nhất.
Ngoài mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, người sản xuất cần phải có trách nhiệm đối với con người,
trách nhiệm cung cấp những hàng hóa dịch vụ không làm tổn hại tới sức khỏe và lợi ích của con người trong xã hội. - Người tiêu dùng:
Người tiêu dùng là những người mua hàng hóa, dịch vụ trên thị trường đề thỏa mãn nhu cầu tiêu
dùng. Sức mua của người tiêu dùng là yếu tố quyết định sự ptrien bền vữg of người sx. Sự phát
triển đa dạng về nhu cầu của người tiêu dùng là động lực quan trọng của sự phát triển sản xuất,
ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất.
Người tiêu dùng có vai trò rất quan trọng trong định hướng sản xuất. Do đó, trong điều kiện nền
kinh tế thị trường, người tiêu dùng ngoài việc thỏa mãn nhu cầu của mình, cần phải có trách
nhiệm đối với sự phát triển bền vững của xã hội.Việc phân chia người sản xuất, người tiêu dùng
chỉ có tính chất tương dối để thấy được chức năng chính của các chủ thề này khi tham gia thị
trường. Trên thực tế, doanh nghiệp luôn đóng vai trò vừa là người mua cũng vừa là người bán.
- Các chủ thể trung gian trong thị trường:
Chủ thể trung gian là những cá nhân, tổ chức đảm nhiệm vai trò cầu nối giữa các chủ thể sản
xuất, tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ trên thị trường. Nhờ vai trò của các trung gian này mà nền kinh
tế thị trường trở nên sống động, linh hoạt hơn. Hoạt dộng của các trung gian trong thị trường làm
tăng cơ hội thực hiện giá trị của hàng hóa cũng như thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng. Các
chủ thể trung gian làm tăng sự kết nối giữa sản xuất và tiêu dùng, làm cho sản xuất và tiêu dùng
trở nên ăn khớp với nhau.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện đại ngày nay, các chủ thể trung gian thị trường không
phải chỉ có các trung gian thương nhân mà còn rất nhiều các chủ thể trung gian phong phú trên
tất cả các quan hệ kinh tế như: trung gian môi giới chứng khoán, trung gian môi giới nhà đất,
trung gian môi giới khoa học công nghệ...Các trung gian trong thị trường không những hoạt động
trên phạm vi thị trường trong nước mà còn trên phạm vi quốc tế. Bên cạnh đó cũng có nhiều loại
hình trung gian khồng phù hợp với các chuẩn mực đạo đức (lừa đảo, môi giới bất hợp pháp...) và cần được loại trừ. - Nhà nước:
Trong nền kinh tế thị trường, xét về vai trò kinh tế, nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà
nước về kinh tế đồng thời thực hiện những biện pháp để khắc phục những khuyết tật của thị trường.
Với trách nhiệm như vậy, một mặt, nhà nước thực hiện quản trị phát triển nền kinh tế thông qua
việc tạo lập môi trường kinh tế tốt nhất cho các chủ thể kinh tế phát huy sức sáng tạo của họ.
Cùng với đó, nhà nước còn sử dụng các công cụ kinh tế để khắc phục các khuyết tật của nền kinh
tế thị trường, làm cho nền kinh tế thị trường hoạt động hiệu quả.
Tóm lại, trong nền kinh tế thị trường, mọi quan hệ sản xuất và trao đổi, các hoạt động của các
chủ thề đều chịu sự tác động của các quy luật kinh tế khách quan của thị trường; đồng thời chịu
sự điều tiết, can thiệp của nhà nước qua việc thực hiện hệ thống pháp luật và các chính sách kinh
tế. Mô hình kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước ở từng nước, từng giai đoạn có thể
khác nhau tùy thuộc vào mức độ can thiệp của chính phủ đối với thị trường, song tất cả các mô
hình đều có điềm chung là không thề thiếu vai trò kinh tế của nhà nước. Liên hệ thực tiễn: ướNhà n ả c qu n lý và ộ tác đ ế ng đ ườ n ng ả ấi s n xu t (doanh ệ nghi p), ườ ng i tiêu dùng thông qua ệ h ố th
ậ ng lu t pháp và chính sách kinh
ế ổ tứ; t ch c duyạ trì ho ộ t đủ ng c a ơcác c quan ả qu n lý nhà ướ ề n
c vế kinh t ; giám sát, làm tr ọ ng tài và s ử ụ dế ng ch tài ộ bu c DN, ng ườ i tiêu dùng ứ ng x ử đúng ậpháp lu t. Doanh nghi ệ p tác đ ộ ở ng tr ạ l i Nhà n ướ c, ng ườ
i tiêu dùng thông qua hai hành vi tích c ự c và ự tiêu ư c c nh : đóng ế thu cho Nhà n ướ
c,ị xác đ nh ảgiá c , quy mô ị th ườ tr ng (đ ầ u ra - ầ đ u vào); ạ t o công ệ ăn vi c làm ặ (ho c ả sa th i) ườ ng i ộ lao đ ng, đóng ặ (ho ố c tr n đóng) ả ểb o hi ố m, trế n thu , ầ ơ đ u c , thao túng ị ườ th tr ng, làm hàng ả gi , ứ cung ng hàng không ả đả m b ứ o sỏ c kh e ườ ng i dân, ả ả x ễth i ô nhi m ườ môi tr ng, tàn phá tài nguyên... ườ Ng i tiêu dùng ự thệ c hi n ề quy n và nghĩa ụ v ủ c a mình ố ớ đ i v i Nh ướ à n c, DN theo ế Hi n pháp và pháp ậ lu t, đó là quy ề n ở s ữ h u tài ả sợ n h p pháp, s ở ữ ư h ệ u tả li u ấ s n xu ề t, quy ượ n đ ộ c lao đ ng ở và tr thành ườ ng i
ộ lao đ ng trong các DN và ềquy n đ ượ ục th ưở h ứ ng x ng đáng v ớ i đóng góp c ủ a mình.
Câu 7: Phân tích nguồn gốc và bản chất của giá trị thặng dư? Hãy so sánh hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư?
Giá trị thặng dư là mức độ dôi ra khi lấy mức thu của một đầu vào nhân tố trừ đi phần giá cung của nó.
Nguồn gốc của giá trị thặng dư:
- Công thức chung của tư bản
+Tiền trong nền sx hàng hóa giản đơn: H – T - H
+Tiền trong nền sx hàng hóa tư bản: T – H - T
- Công thức vận động đầy đủ của TB (công thức chung) T – H – T’
T’ = T + t ( t là giá trị thặng dư, ký hiệu là m)
Việc mua, bán hàg hóa thấp hơn or = gtri sẽ ko có gtri tăng thêm, nếu ng mua gàg hóa để bán hàg
hóa đó cao hơn gtri thì chỉ đc lợi xét về ng bán, nhưg xét về ng mua thì lại bị thiệt. Trog nền kte
thị trg, mỗi ng đều đóg vai trò là ng bán và đồg thời cx là ng mua. Do đó, nếu đc lợi khi bán thì
lại bị thiệt khi mua. Lưu thông(mua, bán thôg thg) ko tạo ra gtri tăng thêm xét trên phạm vi xã hội. - Hàng hóa sức lao động
+ C.Mác: “Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể lực và tinh thần
tồn tại trong cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi
sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó”
+Sức lao động là điều kiện cơ bản của sản xuất
- Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa
+Người LĐ được tự do về thân thể, làm chủ sức LĐ của mình.
+Người LĐ bị tước đoạt hết mọi tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt.
- HAI THUỘC TÍNH CỦA hàng hoá sức lao động
+Giá trị hàng hóa sức lao động
+Giá trị sử dụng hàng hóa sức lao động
- Giá trị hàng hóa sức lao động
+Do thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất sức lao động quyết định.
+Cơ cấu giá trị sức lao động gồm: Giá trị tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần và Duy trì đời
sống của bản thân và gia đình người CN
- Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động
Hình thức biểu hiện: quá trình tiêu dùng SLĐ, tức quá trình lao động của người công nhân.
Trong lao động người công nhân sáng tạo ra giá trị mới.
Khả năng: Giá trị mới sáng tạo sẽ lớn hơn giá trị sức lao động.
===> Giá trị thặng dư= Giá trị mới do sử dụng SLĐ mà có-Giá trị sức lao động
Kết luận: Hàng hóa SLĐ có giá trị sử dụng đặc biệt, thể hiện ở chỗ khi sử dụng nó, nó có khả
năng sáng tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó.
Nói cách khác, nó chính là nguồn gốc của giá trị thặng dư.
Giá trị hàng hóa (W) được sản xuất ra gồm hai phần: giá trị những tư liệu sản xuất đã hao phí
được lao động cụ thể bảo tồn và chuyển vào sản phẩm (giá trị cũ, ký hiệu c) và giá trị mới (v+m)
do lao động trìu tượng của công nhân tạo ra (lớn hơn giá trị hàng hóa sức lao động). Phần giá trị
mới do lao động sống tạo thêm ra ngoài giá trị hàng hóa sức lao động, được nhà tư bản thu lấy
mà không trả cho người lao động, được gọi là giá trị thặng dư (m). Như vậy, lao động sống là
nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư.
Bản chất và ý nghĩa của giá trị thặng dư:
Mục đích của nhà tư bản trong nền kte thị trường tư bản chủ nghĩa không những chỉ dừng lại ở
mức có được giá trị thặng dư, mag quan trọng là phải thu được nhiều giá trị thặng dư, do đó cần
có thước đo để đo lường giá trị thặng dư về mặt lượng.
-Tỷ suất giá trị thặng dư:
Tỷ suất giá trị thặng dư (m’) là tỷ lệ phần trăm giữa giá trị thặng dư và tư bản khả biến
cần thiết để sản xuất ra giá trị thặng dư đó m’ = m/v*100%
(m’ là tỷ suất gtri thặg dư ; m là gttd; v là TB khả biến) Hoặc: m’ = 100%
Tỷ suất giá trị thặng dư nói lên trình độ bóc lột của nhà tư bản đối với công nhân làm thuê
-Khối lượng giá trị thặng dư
Khối lượng giá trị thặng dư (M) là lượng gttd bằg tiền mà nhà TB thu đc. M =m’*V
M: khối lượng giá trị thặng dư
m’: Tỷ suất giá trị thặng dư
V: Tổng tư bản khả biến được sử dụng
Chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì khối lượng giá trị thặng dư càng tăng, vì trình độ bóc lột sức lao động càng tăng.
Học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác ra đời trên cơ sở nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản
chủ nghĩa. Phát hiện giá trị thặng dư làm nổ ra cuộc cách mạng thực sự trong toàn bộ khoa học
kinh tế, vũ trang cho giai cấp vô sản thứ vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản.
So sánh phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và phương pháp
sản xuất giá trị thặng dư tương đối: - Giống nhau:
+ Mục đích: đều tăng m, tức là kéo dài thời gian lao động thặng dư.
Cả hai phương pháp đều làm tăng tỷ suất giá trị thặng dư, do đó đều nâng cao trình độ bóc lột
của tư bản đối với lao động làm thuê. Giá trị thặng dư tuyệt đối là cơ sở của giá trị thặng dư
tương đối. Hai phương pháp không loại trừ nhau. - Khác nhau: + Biện pháp
Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối kéo dài ngày lao động trong điều kiện năng suất
lao động, giá trị sức lao động, thời gian lao động tất yếu không đổi.
Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối rút ngắn thời gian lao động cần thiết trong điều
kiện độ dài ngày lao động, cường độ lao động không đổi. + Kết quả
Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối tạo ra nhiều giá trị thặng
dư hơn so với phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối với cùng
quy mô sản xuất và thời gian sản xuất. + Cơ sở thực hiện
Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối dựa vào tăng cường độ lao động, thích hợp với
thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản, năng suất lao động còn thấp.
Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối ựa vào sự tăng năng suất lao động, chiếm ưu
thế trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản đã phát triển cao, năng suất lao động tăng lên nhanh chóng + Giới hạn
Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối có giới hạn bởi thời gian tự nhiên trong ngày và
bởi yếu tố thể chất, tinh thần của người lao động
Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối không có giới hạn vì năng suất lao động có thể tăng lên vô hạn
Câu 8: Phân tích nội dung cơ bản của tích lũy tư bản và các nhân tố ảnh hưởng tới quy mô tích
lũy. Liên hệ và vận dụng?
Khái niệm tích lũy tư bản
Tích lũy cơ bản là quá trình giữ lại một phần lợi nhuận để gộp vào với phần giá trị vốn bỏ ra từ
đầu, sau khi bán hàng đã thu về được để làm vốn cho việc tái sản xuất mở rộng vào lần sau.
Bản chất của tích lũy tư bản
“Bản chất của tích lũy tư bản là quá trình tái sản xuất mở rộng tư bản chủ nghĩa, thông qua việc
biến giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm để mở rộng quy mô sản xuất, hay nói cách khác nhà
tư bản không sử dụng hết giá trị thặng dư thu được cho tiêu dùng cá nhân mà biến nó thành tư
bản phụ thêm để phục vụ trở lại cho quá trình tái sản xuất.”
Nguồn gốc duy nhất of tích lũy TB là gtri thặg dư. Nhờ có tích lũy cơ bản, QHSX tư bản chủ
nghĩa ko nhữg trở thành thốg trị, mà còn ko ngừg mở rộg sự thốg trị đó.
Động cơ của tích lũy tư bản bắt nguồn từ hai quy luật kinh tế khách quan trong chủ nghĩa tư bản:
Quy luật giá trị thặng dư: Các nhà tư bản luôn có xu hướng quay trở lại tái sản xuất mở
rộng bởi ham muốn về giá trị thặng dư, lợi nhuận là vô hạn. Để làm được như vậy, vốn
bắt buộc phải tăng tức là nhà tư bản phải tìm nguồn vốn, nâng cao năng suất lao động.
Quy luật cạnh tranh: Để giữ sức cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp trong tương lai,
các nhà tư bản cần tìm đến việc đổi mới thiết bị máy móc, đặc biệt trong thời đại khoa
học công nghệ phát triển nhanh chóng như hiện nay. Do đó, yêu cầu về vốn luôn là yêu
cầu hàng đầu được đặt ra đối với mọi doanh nghiệp.
Theo hai quy luật trên, các nhà tư bản cần có nguồn vốn, để có nguồn vốn của riêng mình, nhà tư
bản cần tiến hành tích lũy tư bản.
Các nhân tố ảnh hưởng tới quy mô tích lũy
Có 4 nhóm nhân tố tác động đến tích lũy tư bản, bao gồm:
Thứ nhất, trình độ bóc lột lao động: Trình độ này phản ánh tỷ lệ giữa lượng tư bản ứng ra mua
sức lao động công nhân và lượng giá trị thu về được từ lao động đó. Thực tế, công nhân bị chiếm
đoạt một phần lao động tất yếu, cắt xén tiền công để tăng trình độ bóc lột sức lao động mà
phương pháp được áp dụng phổ biến ở các thời kỳ trước là kéo dài ngày lao động. Bên cạnh đó,
nhà tư bản cũng tăng cường độ lao động.
Thứ hai, trình độ năng suất lao động xã hội: Năng suất lao động tăng làm cho gtri tư liệu sinh
hoạt giảm xuống, giá trị sức lao động giảm giúp cho nhà TB thu đc nhiều gtri thặg dư hơn, góp
phần tăng quy mô của tích lũy.
Thứ ba, sự chênh lệch giữa tư bản được sử dụng và sử dụng tư bản đã tiêu dùng: Sự chênh lệch
này ngày càng tăng theo thời gian, các tư liệu lao động tham gia vào toàn bộ quá trình sản xuất
nhưng mức độ hao mòn ít. Hiện nay, máy móc thiết bị ngày càng hiện đại thì sức phục vụ không
công ngày càng lớn, giá trị sức lao động của con người giảm khiến mức chênh lệch giữa hai loại tư bản ngày càng lớn.
Thứ tư là đại lượng tư bản ứng trước. Thị trg thuận lợi, hàg hóa luôn bán đc, tư bản ứng trước
càng lớn sẽ là tiền đề cho tăng quy mô tích lũy. Liên hệ và vận dụng
Trước đây, trong nền kinh tế bao cấp, cuộc sống của người dân gặp nhiều khó khăn nên quá trình
tích lũy còn nhiều trở ngại. Nền kinh tế nhà nước can thiệp quá sâu khiến cho các tổ chức doanh
nghiệp không phát huy được khả năng tham gia vào thị trường trong khi đó nguồn viện trợ quốc
tế chưa phát huy được khả năng của nó. Hiện nay, khi nhà nước thực hiện chính sách mở cửa
phát triển kinh tế, đời sống nhân dân đã dần được cải thiện, tổng thu nhập quốc dân tăng mạnh và
thị trường hàng hóa ngày càng sôi động,….Tuy nhiên, nền kinh tế của nước ta vẫn còn khá lạc
hậu, đây là một trong những nguyên nhân khiến thực trạng tích lũy vốn của nước ta chưa đáp
ứng được yêu cầu phát triển, quy mô vốn của các doanh nghiệp còn thấp.
Vận dụng quy luật tích lũy tư bản trong phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay
Thứ nhất, cần giải quyết đúng đắn quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng: Mối tương quan giữa tích
lũy và tiêu dùng trở nên tối ưu khi sử dụng được các tài sản hiện có, thực hiện được mức tích lũy
có thể đảm bảo phát triển sản xuất với tốc độ cao và ổn định mà vẫn đảm bảo tăng tiêu dùng và
tích lũy không đến mức cao nhất.
Thứ hai, sử dụng các nguồn vốn một cách hiệu quả. Để sử dụng vốn hiệu quả, cần xác định rõ
từng đối tượng được cấp vốn từ đó phân bổ một cách hợp lý giữa các ngành để tạo ra hiệu quả.
Thứ ba, tăng cường tích lũy vốn trong nước và có biện pháp thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Tích
lũy vốn trong nước là giải pháp hàng đầu để giải quyết các nhu cầu chi của nhà nước về chi
thường xuyên, chi cho đầu tư phát triển và cho phát triển công nghiệp. Bên cạnh đó, còn thể tăng
cường vốn thông qua việc thu hút vốn nhàn rỗi trong nhân dân và tăng cường các nguồn vốn từ đầu tư nước ngoài.
Câu 9: Phân tích các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản? Ý nghĩa thực tiễn?
** Các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản:
-Lợi nhuận thương nghiệp:
Lợi nhuận thương nghiệp là một phần giá trị thặng dư được tạo ra trong quá trình sản
xuất mà nhà tư bản công nghiệp nhượng cho tư bản thương nghiệp, để tư bản thương
nghiệp bán hàng hoá thay cho mình.Thực chất, lợi nhuận thương nghiệp chỉ là hình thức
biến tướng của giá trị thặng dư nên nguồn gốc của lợi nhuận thương nghiệp chính là một
bộ phận laođộng của công nhân không được trả công.
- Sự hình thành lợi nhuận thương nghiệp:
Tư bản công nghiệp nhượng một phần giá trị thặng dư cho tư bản thương nghiệp bằng
cách bán hàng hoá thấp hơn giá trị của nó, để rồi tư bản thương nghiệp bán hàng hoá
theo đúng giá trị sẽ thu được khoản chênh lệch (hoa hồng).
Tư bản công nghiệp ------ > Tư bản thương nghiệp ---- -- > Người tiêu dùng.
Việc nhượng giá trị thặng dư giữa nhà tư bản công nghiệp và tư bản thương nghiệp cũng
diễn ra theo quy luật tỷ suất lợi nhuận bình quân. Nghĩa là, tư bản thương nghiệp cũng
tham gia vào cạnh tranh giữa các ngành để thu được lợi nhuận bình quân cho mình. -Lợi tức và tỷ suất:
+ Lợi tức chính là một phần của lợi nhuận bình quân mà nhà tư bản đi vay trả cho nhà tư bản cho
vay về quyền sở hữu tư bản để được quyền sử dụng tư bản trong một thời gian nhất định. Ký hiệu là z.
Nguồn gốc của lợi tức cũng chính là từ giá trị thặng dư do công nhân làm thuê sáng tạo ra từ
trong lĩnh vực sản xuất. Vì vậy,có thể khẳng định tư bản cho vay cũng gián tiếp bót lột công nhân
làm thuê thông qua nhà tư bản đi vay.
+ Tỷ suất lợi tức là tỷ lệ phần trăm giữa tổng số lợi tức và số tư bản tiền tệ cho vay trong
một thời gian nhất định. Ký hiệu z’ z z ’ = Kcv x 100 % z Kcv x 100 %
Tỷ suất lợi tức phụ thuộc vào tỷ suất lợi nhuận bình quân và quan hệ cung cầu về tư bản
cho vay. Thông thường giới hạn vận động của tỷ suất lợi tức là: 0 < z’ < p’ -Địa tô:
Cũng như các nhà tư bản kinh doanh trên các lĩnh vực khác, nhà tư bản kinh doanh trên lĩnh vực
nông nghiệp cũng thu được lợi nhuận bình quân. Khác với các chủ thể kinh doanh khác, nhà tư
bản kinh doanh trên lĩnh vực nông nghiệp phải trả một lượng tiền cho địa chủ vì đã thuê đất của họ.
Để có tiền trả cho địa chủ, ngoài số lợi nhuận bình quân thu được tương tự như kinh doanh trên
các lĩnh vực khác, nhà tư bản kinh doanh trên lĩnh vực nông nghiệp còn thu thêm được một phần
giá trị thặng dư dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân nữa, tức là lợi nhuận siêu ngạch, lợi nhuận siêu
ngạch này phải trả cho địa chủ dưới dạng địa tô.
C.Mác khái quát, địa tô là phần giá trị thặng dư còn lại sau khi đã khấu trừ đi phần lợi nhuận
bình quân mà các nhà tư bản kinh doanh trên lĩnh vực nông nghiệp phải trả cho địa chủ.
Theo C.Mác, có các hình thức địa tô như: Địa tô chênh lệch. Trong đó, địa tô chênh lệch I là địa
tô mà địa chủ thu được do chỗ cho thuê ruộng đất tốt và độ màu mỡ cao, điều kiện tự nhiên thuận
lợi. Địa tô chênh lệch II là địa tô mà địa chủ thu được do chỗ cho thuê mảnh đất đã dược đầu tư,
thâm canh và làm tăng độ màu mỡ của đất. Địa tô tuyệt đối, là địa tô mà địa chủ thu được trên
mảnh đất cho thuê, không kề độ màu mỡ tự nhiên thuận lợi hay do thâm canh. Đó là phần lợi
nhuận siêu ngạch dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân được tính bằng số chênh lệch giữa giá trị
nông sản và giá cả sản xuất chung của nông sản.
C.Mác ký hiệu địa tô là R.
Trong thực tế đời sống kinh tế, địa tô là một trong những căn cứ để tính toán giá cả ruộng đất khi
thực hiện bán quyền sử dụng đất cho người khác.
Về nguyên lý, giá cả mộng đất được tính trên cơ sở so sánh với tỷ lệ lãi suất ngân hàng, theo công thức:
Lý luận địa tô tư bản chủ nghĩa của C.Mác không những chỉ rõ bản chất quan hệ sản xuất tư bản
chủ nghĩa trong nông nghiệp mà còn là cơ sở khoa học để xây dựng các chính sách kinh tế liên
quan đến thuê, đến điều tiết các loại địa tô, đến giải quyết các quan hệ đất đai... nhằm kết hợp hài