Câu 1. Tại sao Mỹ học khoa học nhân văn? Tại sao Mỹ học lại đi nghiên c
cái Đẹp Ngh thuật? nh ứng dụng của Mỹ học?
Tại sao Mỹ học khoa học nhân văn?
Nhân con người, văn đẹp, khoa học nhân văn khoa học hướng vào con
người, nghiên cứu v năng lực và phẩm chất người, để kiến tạo, hoàn thiện một
phẩm chất người, để con người đẹp n, không phải đẹp về hình thức đẹp
về ý nghĩa giá trị hội của con người. Con người chỉ giá trị, không bao gi
giá cả (khi quy về giá cả: lệ). Lịch sử hội loài người lịch sử của quá
trình đấu tranh giành tự do, thoát ra khỏi sự lệ, áp bức bóc lột để khẳng
định giá trị của mình.
Nghĩa thứ 2 ngành khoa học, hiện ợng trong đó con người được thức tỉnh
để nhận ra được những giá tr bản thân cần có, tự thực hiện, tự xây dựng những
giá trị đó một cách độc lập mà không nhờ vào sự dẫn dắt của người khác,
giá trị đó chính tính tự chịu trách nhiệm trong công việc của bản thân, tình
thương yêu đối với con người, đó sự tôn trọng người khác, đó sự khoan
dung trong các mối quan hệ, tôn trọng các giá trị trong dân chủ, liêm chính
trong học thuật, trung thực trong khoa học,....
Sự vận động trong giới tự nhiên không phải sự vận động của hội loài
người, vậy khoa học nhân văn thì đối ợng riêng, lĩnh vực riêng
phương pháp riêng để nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu của khoa học nhân
văn con người, khác với đối tượng nghiên cứu của khoa học tự nhiên tự
nhiên. Trong lịch sử đã sự đồng nhất phương pháp nghiên cứu khoa học tự
nhiên cũng phương pháp nghiên cứu khoa học nhân văn chúng ta đã phải
trả giá, dụ: Hitler thực hiện cuộc diệt chủng để “thanh lọc” dân tộc Đức, bảo
vệ sự thuần chủng cao quý của dân tộc Đức - Aryan. Khoa học nhân văn
mang lại sự phản tỉnh cho con người (phản tỉnh nhìn lại, nhận thức và thẩm
định giá trị mình).
Mỹ học cảm năng học: Cảm năng học khoa học giúp cho con người biết
được cách tạo lập cảm xúc tích cực nâng cao khả năng cảm thụ cái đẹp nghệ
thuật trong cuộc sống của mình. Điều y thể hiện các cấp độ (tháp nhu cầu cảm
xúc):
Nhẹ nhàng chấp nhận: hãy để cảm xúc được chính mình
Lòng trắc ẩn: bao dung với bản thân (kể cả tha nhân)
Thân thuộc: chấp nhận buông bỏ đôi đôi bản thân
Sự kết nối: kết nối với chính mình, hội thiên nhiên
Can đảm: do hạnh phúc hay khổ đau chẳng ngại đối mặt
Thấu mình: không thấu được đời mình, sao hiểu được đời?
Tỉnh thức: Vẻ đẹp trong cuộc sống nằm trong đôi mắt của người tỉnh
thức
Mục đích sống gì? Điều ý nghĩa nhất trong cuộc đời? Giá trị
của chính bản thân mình gì?
sở hình thành nên mỹ học triết học - khoa học tìm hiểu những quy luật
chung nhất của tự nhiên, hội duy. Triết học xác định: “thấy cái không thể
thấy mới gọi thấy”. Các Triết gia i những họ thấy trong sự suy ởng,
thường xuyên đặt câu hỏi đưa ra câu trả lời với những góc nhìn khác nhau. Mỹ
học tách ra từ Triết học, thừa hưởng tính nhân văn từ ngành khoa học này.
=> Dựa vào những yếu tố đó mà thể khẳng định Mỹ học khoa học nhân văn
chúng mối liên kết sâu sắc với nhau.
Tại sao Mỹ học lại đi nghiên cứu cái Đẹp Nghệ thuật?
Mỹ học một bước trung gian, mỹ học nghiên cứu về cái đẹp, ngh thuật
nơi tập trung cái đẹp. Cái đẹp nghệ thuật đều mang đến cảm xúc tích cực
cho người tiếp nhận. Đó cảm ng học, cái m học hướng đến.
Mỹ học không thể kết luận: không phải bế tắc không thể thống nhất.
Không thể thống nhất nói đến m học nói đến cái đẹp. Cái đẹp trở thành
một phạm trù trung tâm của mỹ học trong cuộc sống, mang tính nhân văn
hướng tới vẻ đẹp của con người nhưng dường như cái đẹp mang tính chủ
quan, thậm chí phần khác biệt, phần trái chiều, đối lập,... nên rất khó
phủ nhận. (VD: cuộc thi hoa hậu, sau khi đăng quang mỗi người sẽ cách
nhìn khác nhau v hoa hậu, người thấy thuyết phục, người thấy không, người
thấy đẹp, người thấy không,...). Thứ 2 nghệ thuật. Nghệ thuật nơi hội tụ
của cái đẹp, trong đó cảm hứng sáng tạo nghệ thuật điều cực kỳ quan trọng
nhưng mỗi nghệ lại cảm hứng sáng tạo khác nhau mang tính chủ
quan. Tuy nhiên mỹ học đang b đặt ra câu hỏi vì dường như chúng không có
quy luật. Mỹ học một khoa học.
Hai vấn đề truyền thống của cái đẹp:
VẤN ĐỀ I ĐẸP:
Nói tới mỹ học nói tới cái đẹp: dường như hoàn toàn mang tính
chủ quan trong nhận định mỗi nhận định thường khác biệt, trái
chiều khó ph nhận. Vậy đâu tính khách quan của cái đẹp?
Cái đẹp phạm trù cơ bản của Mỹ học. Gi đây đang bị nghi
ngờ về tính khách quan. Vậy M học thực sự khoa học?
VẤN ĐỀ NGH THUẬT:
cảm hứng sáng tạo nghệ thuật nhân tố quan trọng của nghệ
thuật. Nhưng: ngh không làm chủ được cảm hứng sáng tạo
(chợt đến, chợt đi); mỗi nghệ lại những trạng thái cảm hứng
sáng tạo hoàn toàn khác nhau. -> cảm hứng sáng tạo ngh thuật
không mang nh quy luật.
Nghệ thuật lĩnh vực quan trọng của Mỹ học. Giờ đây đang bị
nghi ngờ về tính quy luật. Vậy Mỹ học thực sự khoa học?
Mỹ học: chính xác hơn thẩm mỹ học (Aesthetics) bắt nguồn từ “aisthetikos”
trong tiếng Hi Lạp. Vào năm 1735, nhà triết học người Đức Alexander
Baumgarten đặt tên cho cuốn sách Aesthetika, [Anh “Aesthetics”] (Mỹ học) đã
phát triển ý nghĩa của aesthetic từ “aithesis (sense/cảm giác) thành cảm thụ cái
đẹp (sense of beauty) .
Nhân loại từ Đông sang Tây đã xác lập hệ tiêu chí: chân - thiện - mỹ
Chân - Sự đúng đắn, tính chân thực của cuộc sống.
Thiện - Tính nhân bản, nhân văn tốt đẹp.
Mỹ - Sự hoàn thiện, hoàn mỹ.
Một hành vi đẹp phải bao gồm giữa chân thiện.
Tính ứng dụng của Mỹ học?
Trau dồi kh năng cảm thụ cái đẹp nghệ thuật, khả năng bình phẩm về cái
đẹp. Sở hữu năng lực tạo lập cảm xúc tích cực trong chính cuộc sống của mình
thông quan việc việc nâng cao, phát triển khả năng trên.
Loại bỏ cảm xúc tiêu cực hướng đến sự tích cực. Bởi nghệ thuật khả ng
"thanh lọc" (Katharsis) tâm hồn con người, nếu thưởng thức một bộ phim hay,
một bản nhạc du dương hay một món ăn ngon có thể làm tâm trạng của chúng
ta tốt lên.
học tiếp nhận tiềm năng ứng dụng rất lớn trong việc nghiên cứu biên
soạn lịch sử văn học, nghiên cứu tác phẩm văn học nước ngoài, nghiên cứu
việc tiếp nhận nghệ thuật nói chung, nghiên cứu các lĩnh vực văn hóa đại chúng,
nghiên cứu việc dạy học văn trong nhà trường…..
Trong bối cảnh văn hóa nghiên cứu Văn học Việt Nam hiện nay, nghiên cứu
vận dụng học tiếp nhận một cách bài bản điều rất cần thiết.
Mỹ học đồng hành với nhân loại, đồng hành rất nhiều lĩnh vực, thế mỹ học
còn nền tảng cho các nh vực khác như kinh tế, chính trị, hội,.... giúp con
người chủ động, sáng tạo trong quá trình thực hiện nghiên cứu của mình.
Câu 2. Phân tích chứng minh lao động nguồn gốc hình thành quan hệ t
mỹ. Tính thẩm mỹ của sản phẩm lao động hình thành như thế nào?
Lao động hoạt động mục đích, ý thức của con người nhằm thay đổi các
vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu của con người. thể hiểu lao động
vận dụng sức mạnh tay chân hoặc trí óc thông qua công cụ lao động để cải tạo
thiên nhiên nhằm mục đích tinh thần phục vụ con người, tác động tự nhiên, làm
ra sản phẩm, nuôi sống con người.
Quá trình lao động biến đổi con người, giúp con người hoàn thiện các giác
quan đôi bàn tay.
Bàn tay năng lực sáng tạo thẩm mỹ, vừa ng cụ lao động, vừa khí
quan lao động.
dụ: 1980, Hội thảo y khoa về bàn tay: bàn tay hơn 60 chức năng khác
Năng lực sáng tạo, làm ra thứ này th khác bắt nguồn từ lao động, thể hiện kỹ
kỹ xảo.
Mắt tai hai giác quan quan trọng nhất trong quá trình cảm thụ thẩm mỹ của con
người. Con người tiếp nhận thông tin nhiều nhất qua con mắt, sau đó đến tai. Đôi
mắt để nhìn tiếp nhận vấn đề. Tai cảm th giai điệu nghệ thuật để thỏa mãn sự khao
khát khám phá thế giới nội tâm của con người. Cần phải rèn luyện các giác quan.
Từ đó lao động quá trình khởi nguồn quan hệ thẩm mỹ, dạng quan hệ chỉ xuất
hiện trong hội con người.
Tính thẩm mỹ của sản phẩm lao động được hình thành thông qua quá trình lao
động. Con người càng được tự do thì lao động ng không việc làm kh sai,
nặng nhọc. Họ tích cực tự giác, sáng tạo để mang thông điệp gửi trao cho người
tiếp nhận thông qua sản phẩm lao động, mong muốn người tiếp nhận cảm thụ
được nó.
VD: Đồ thủ công mỹ nghệ các tác phẩm nghệ thuật mang tính thẩm mỹ cao,
phẩm tạo ra bởi năng lực tinh thần, kỹ năng, kỹ xảo và thủ pháp ngh thuật. Thôn
qua các sản phẩm này, cảm xúc của người sáng tạo được truyền đạt đến người tiếp
nhận.
Câu 3: Phân tích chứng minh sự đồng hóa trên lĩnh vực tinh thần nội
của quan hệ thẩm mỹ. Ý nghĩa của vấn đề này trong đời sống thẩm mỹ?
Đồng hóa tinh thần năng lực chiếm lĩnh đối tượng của ch thể trong lĩnh
vực tinh thần, làm cho đối tượng đó năng lực, phẩm chất như chủ th mong
muốn. Đối tượng trở thành phương tiện để vật chất hóa tình cảm con người.
Đồng hóa đây tức từ những sự vật tri, giác hóa thành những thuộc
tính giống như con người. (Hiện tượng nhân hoá một hiện tượng của đồng
hoá tinh thần).
Vd: “đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”.
Giới tự nhiên phản ánh vào não người (tiếp nhận, u giữ tái tạo thông tin),
trong sự tái tạo con người gắn cảm xúc (sợ hãi, vui buồn, sung sướng) rồi
tưởng tượng (kết hợp giữa cái thật không thật để tạo nên hình ảnh
thăng hoa trong ý thức, cuối cùng đem lại hình ảnh vừa tính hiện thực vừa
cái không hiện thực. Đây chính quá trình diễn ra sự đồng hóa tinh
thần.
Vd: con cọp hiện lên trong con người rất hung dữ, tạo cảm giác sợ hãi, con rồn
tưởng tượng.
Ý thức thực thể hoá sự thăng hoa thành biểu trưng nghĩa toát ra từ đối tượng)
- symbol, con người lấy s kiện thực tế kết cấu lại thành một câu chuyện vừa
thực vừa không thực (huyền thoại: sự kiện thật nhưng được thăng hoa,
thần thoại: yếu tố tưởng tượng để gửi gắm khát vọng con người).
sản phẩm (tác phẩm) gợi lên cảm xúc đã được người tạo ra truyền dẫn.
Cảm xúc từ sản phẩm này đã được thăng hoa từ trong quá trình trải nghiệm
sống của con người, trong tiếp nhận văn hoá của con người.
Cho nên s sáng tạo không chỉ đến từ quá trình tạo ra sản phẩm mà còn đến từ
quá trình cảm thụ sản phẩm (đó thái độ con người đối với cổ vật/di vật). Tác
phẩm nghệ thuật không còn là sự sáng tạo ra từ con người dường như nằm
trong sự đánh giá cảm nhận của con người hoàn toàn không mang tính lợi
ích, vụ lợi. Không quá trình lao động tạo ra sản phẩm của con người, không
quá trình tạo ra giá trị sử dụng (công năng sử dụng) thì không tác phẩm
nghệ thuật. Tác phẩm nghệ thuật không còn hoạt động thủ công, trở
thành hoạt động sáng tạo tinh thần, bắt đầu hình thành nên các biểu trưng
nghĩa trong từng đối tượng). Ngôn ngữ không chỉ giới hạn trong tiếng nói
chữ viết ngôn ngữ còn biểu hiện trong c hình tượng, nghi lễ, thần thoại.
Người cảm nhận nghệ thuật không phụ thuộc vào chất liệu nghệ thuật dựa
vào ý nghĩa ngh thuật biểu hiện thông qua tác phẩm.
Ý nghĩa trong đời sống thẩm mỹ:
Đồng hóa tinh thần đóng vai trò quan trọng trong đời sống thẩm mỹ .Đời sống con
người 2 bộ phận: đời sống vật chất đời sống tinh thần. Cả hai bộ phận đều
tầm quan trọng của mình. Nếu thiếu đời sống vật chất thì con người chết ngay. Nhưng
thiếu đời sống tinh thần thì con người chưa chết ngay. Tuy vậy, nếu nhu cầu vật chất
được thỏa mãn, nhưng không nhu cầu tinh thần thì con người chỉ tồn tại như một
con người sinh vật chứ không như con người hội. Con người tạo ra một t nhiên
thứ hai thông qua hoạt động sáng tạo vật chất cũng như sáng tạo tinh thần: lao động
sản xuất, hoạt động khoa học, sinh hoạt đời sống. Đặc biệt, hoạt động sáng tạo
nghệ thuật nơi thể hiện tập trung nhất, đầy đủ nhất, nổi bật nhất đời sống thẩm mỹ
của con người.
Câu 4. Phân tích chứng minh giá trị thẩm m hệ quả của quan hệ thẩ
Ý nghĩa của giá trị thẩm m trong cuộc sống?
Giá trị thẩm mỹ sự thăng hoa bản chất con người từ các giá trị thực dụng, giá trị
đạo đức, giá trị nhận thức, giá trị tưởng; các giá trị thẩm mỹ cũng kết quả của sự
đánh giá hoặc đánh giá giá trị của mọi người, thẩm mỹ đạo đức về những họ cho
hoặc không đẹp. Giá trị thẩm thẩm mỹ đơn giản những giá trị đáp ứng được nhu
cầu thẩm mỹ, đáp ứng cho cái đẹp, nhu cầu có 1 cuộc sống đẹp.
Khái niệm quan hệ thẩm mỹ một trong những dạng thức quan hệ của con người với
tự nhiên, với người khác với chính bản thân trên phương diện thẩm mỹ.
- Trên những phương diện này, con người lấy những giá trị thẩm mỹ làm tiêu chí thẩm
định.
- Con người tách ra khỏi giới tự nhiên, tạo thành một chủ thể, chủ động c động vào
tự nhiên để thoả mãn những nhu cầu của mình, đồng thời dựa vào tự nhiên để tạo ra
nhu cầu tự nhiên không sẵn (nhân tạo)
Đối tượng: khách thể được tìm hiểu về nội dung, bản chất,…
Đối tượng bị chiếm lĩnh: bị đồng hoá bởi tinh thần của con người (đối tượng thẩm
mỹ).
Tại sao lại i giá trị thẩm m hệ quả của quan hệ thẩm mỹ.
Hệ quả kết quả xảy ra của một sự việc o đó diễn ra song song cùng c. đây chỉ
sự xuất hiện của giá trị thẩm m sẽ kéo theo sự ra đời của quan hệ thẩm mỹ. Trong mỹ
học, giá trị những đáp ứng được nhu cầu mang tính giá trị. Ch giá trị
trường tồn mãi mãi, gía trị được xây dựng trên nền tảng của cái đẹp từ sâu bên trong
giúp tồn tại lâu dài với thời gian.
Giá trị thẩm mỹ hệ quả của quan hệ thẩm mỹ.
Con người rất nhiều nhu cầu những thể đáp ứng được nhu cầu của con
người đều có giá trị nhất định. Vậy con người mang nh giá trị hay giá cả? Đồng ý
với việc tiền thể mua được nhiều thứ nhưng tiền chưa chắc đã hạnh phúc. Con
người sống đời hơn nhau về giá trị của bản thân, để được giá trị ấy phải đánh đổi
rất nhiều trong thời gian dài, chết đi vẫn để lại tiếng thơm cho đời. Một con
người sống coi bản thân mình giá cả người rẻ mạt, tiền tiêu nhiều có thể hết,
bản thân người đó ng vậy, chỉ giá trị con người đẹp thì sẽ sống mãi với thời gian.
Con người chì có giá trị, không bao giờ giá cả.
Giá trị thẩm mỹ những đáp ứng cho người về nhu cầu cái đẹp. cái đẹp nhu
cầu con người, làm đẹp bản năng nhưng nếu nhu cầu không còn nữa thì giá trị
không còn nữa. Như đã nói, giá trị phải được xây dựng lâu dài, vậy mang
tính lịch sử. mỗi thời kỳ sẽ có quan điểm thẩm mỹ khác nhau
dụ: phương Đông, tiêu chuẩn của Nho giáo về cái đẹp chân, thiện,mỹ.
phương Tây thì phương diện này được giải hệ thống hơn. Họ khái quát thà
bốn quan niệm bản về luận nghệ thuật để giải quyết các vấn đề của sáng
cảm thụ thẩm mỹ.
Ý nghĩa của giá trị thẩm m trong cuộc sống.
- Giá trị thẩm mỹ bảo đảm sự thống nhất, hài hoà sự liên hệ nội tại giữa những lĩnh
vực biểu hiện khác nhau của đời sống tinh thần con người của toàn bộ hội.
- chức ng như nhận diện phân biệt, đánh giá khách quan giữa người với
người.
Sự hoàn thiện thẩm mỹ quan niệm về mức độ cao nhất, trọn vẹn đầy đủ nhất (cả
về chất lượng) của sự hài hoà của khách thể trong một bối cảnh, điều kiện xác định
nào đó. mức độ này, trong những mối quan hệ cụ thể, các thuộc tính thẩm mỹ của
đối tượng coi như đạt tới sự hài hoà tối ưu, hoàn hảo.
- Một sự vật, hiện tượng tự nhiên, hội hay nghệ thuật… chỉ được thừa nhận đẹp
khi sự phù hợp với chuẩn mực mang giá trị thẩm mỹ nhất định. Cái đẹp đích
thực cái đẹp phải đạt tới tính đúng đắn, chân thực của cuộc sống, tính nhân bản,
nhân văn tốt đẹp tính chỉnh thể, toàn vẹn, biểu cảm, hoàn thiện thẩm mỹ sự
hài hòa Chân - Thiện - Mỹ.
Câu 5: Trình bày quan điểm v cái Đẹp trong lịch sử phương Tây. Ý nghĩa c
quan niệm này trong mỹ học hiện nay?
Cái đẹp biểu tượng của những giá trị, đáp ứng nhu cầu khát vọng cuộc sống của con
người. Đem lại cho con người những cảm xúc ch cực, thôi thúc con người ng tạo.
Thời cổ đại Hy lạp, theo Plato, cái đẹp ý niệm - giữ ý niệm bên trong không thể
bị phai nhạt. Ý niệm đẹp trong Plato thực chất chính tưởng về cái đẹp. Nó sự
đúc kết từ vàn hiện ợng đẹp trong thực thể cho ra 1 hình ảnh quay về 1 cái đẹp để
con người ớng về nó, để so nh đối chiếu về cái đẹp trong thực tế.
Theo Aristoteles, cái đẹp thực thể, từ thực thể toát lên ý niệm đẹp. Đó s cân
xứng, hài hòa giữa các tỉ lệ, u sắc âm thanh, không quá lớn không quá nhỏ. Các yếu
tố liên kết với nhau với một tỷ lệ n xứng nhau.
Vd: Ngũ quan đoan chính - ràng, sáng rõ, tỉ lệ vàng của khuôn mặt 0,614
Về mặt tâm thức luận:
Cái mang lại cho ta cảm xúc vui ớng, hân hoan thì đó cái đẹp (nhận biết cái
đẹp). Phải thông qua ngôn ngữ, không ch tiếng nói chữ viết còn màu sắc, âm
thanh, dáng điệu, hiệu, biểu trưng, nghi thức (hiểu cái đẹp), hiểu được ý tưởng sâu
xa, thấy được ý nghĩa thoát ra từ đối ợng
Ý nghĩa của quan niệm này trong mỹ học hiện nay:
- Cái đẹp biểu trưng cho những giá trị sống của con người, đem lại cho con người
những cảm xúc tích cực, thôi thúc con người sáng tạo. Cái đẹp 1 thực thể tồn
tại trong 1 hình hài vừa yếu tố vật chất, vừa có yếu tố tinh thần.
Biểu trưng ý nghĩa toát ra từ đối tượng của những giá trị. Biểu trưng ý nghĩa tinh
thần toát ra đời sống tinh thần con người
- Cái đẹp được cảm nhận luôn đáp ng nhu cầu, khát vọng sống của con người.
- Cái đẹp mang thuộc tính khách quan chủ quan tùy theo sự tiếp nhận của chủ thể.
Như cái đẹp trong lao động: “Thế o lao động đẹp?” -> lao động vui sướng,
sáng tạo. Hay cái đẹp trong giao tiếp sự tôn trọng, bảo toàn giá trị, đối tượng trong
giao tiếp. Còn cái đẹp trong ngh thuật sự sáng tạo - sự sáng tạo của người nghệ sĩ.
Vậy cái xấu trở thành cái đẹp được không? i xấu trở nên đẹp trong nghệ thuật
khi cái xấu đưa ra 1 thông điệp, làm cho người ta thấy bản chất cái xấu quyết
tâm chống trả lại cái xấu. Người ta không chấp nhận cái xấu. thức tỉnh con người.
Cái đẹp sẽ được nhận ra qua sự lên án cái xấu.
dụ: 1 diễn viên đóng vai phản diện không phải bản chất người đó xấu, ngư
đang thể hiện lại cái xấu nhằm phơi bày cái xấu ra ngoài hội, chức năng
cái xấu. Ngoài ra giúp con người nhận thức được cái xấu bày trừ cái xấu đó.
đến cùng, người diễn viên đó vẫn đang làm ngh thuật cái xấu đó chính c
trong nghệ thuật.
- Cái xấu biểu trưng, ngăn cản s tiến bộ
Câu 6: Trình bày quan niệm về cái Đẹp trong lịch sử phương Đông. Ý nghĩa c
quan niệm này trong mỹ học hiện nay
Quan niệm về cái Đẹp trong lịch sử phương Đông
TRUNG QUỐC (tiến trình lịch s tan hợp - hợp tan)
Bối cảnh lịch sử văn hóa - hội Trung Quốc cổ đại:
Kinh dịch - tiền đề trực tiếp của tưởng mỹ học Trung Quốc. Kinh dịch bao gồm các
tác phẩm Liên Sơn Quy Tàng (nhà Hạ, Thượng...), tác phẩm Chu dịch (thời nhà
Chu).
Kinh dịch không còn trực tiếp bàn luận về mỹ học.
Cái sinh mệnh: Những ởng bản từ Kinh Dịch:
Tiền đề bản: Trời - Người ơng thông (Thiên nhân hợp nhất - Thiên nhân giao
cảm).
sở luận thứ nhất: Kinh Dịch đặt sinh mệnh vạn vật, sinh mệnh con người trong
sự sinh trưởng, biến hóa của trời đất vạn vật.
Vận động biến đổi bản chất của cái sinh mệnh.
Thống nhất và hài hòa yêu cầu của cái sinh mệnh (hài hòa cái quan trọng)
không phải là lệ thuộc, i hòa cùng phát triển, cùng tôn trọng, thống nhất giữa
mình người khác.
Nghệ thuật trong tranh vẽ, văn chương của TQ thống nhất một quy luật chung: Dương
hiện Âm ẩn
Bảo hợp thái hòa (thiên thời - địa lợi - nhân a).
sở lý luận thứ hai: chi phối cho quá trình vận động; sinh trưởng phát triển
đạo. Đạo sự thống nhất âm dương “nhất âm nhất dương chỉ v đạo”.
Cái Đẹp trong nghệ thuật: Dương hiện - Âm ẩn
Cái đẹp tưởng cái “đại hòa” về cái đẹp.
Trong Kinh Dịch, i đẹp không chỉ cái đẹp của trời đất còn cái đẹp từ sự
sinh tồn phát triển của con người.
Cái đẹp một hình thức hợp quy luật, sự biến hóa đa dạng, gắn với cái thiện sự
tu dưỡng đạo đức nhân. 4 yếu tố: Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh.
Nguyên nghĩa bản nguyên, nguyên thủy của muôn vật được cho đứng đầu
cái Thiện (thiện chi trưởng).
Hanh Hanh thông nghĩa sự tốt đẹp quan hệ màu sắc, hình thức, cái đẹp
sự hưởng thụ cái đẹp con người (văn hóa ứng xử n hóa tinh thần).
Lợi lợi ích, gắn với quan h giữa cái đẹp sự tồn tại, phát triển của sự sống.
Lợi còn được hiểu sự tương quan giữa cảm thụ thẩm mỹ với dục vọng sinh như
một cảm quan tự nhiên của con người như sự phát triển lành mạnh bình thường của
sự sống tự nhiên, lợi mình lợi người.
Trinh nghĩa phù hợp chính đạo, giữ vững chính đạo có quan hệ giữa cái đẹp
quy luật tự nhiên, giữa i đẹp đạo đức phẩm cách con người, đảm bảo trạng thái
hài hòa.
ẤN ĐỘ (Núi cao, biển rộng, sông dài, lịch sử tưởng mỹ học Ấn Độ được
hiểu cái phi hiện tượng)
Tiền đề tưởng triết học mỹ học Ấn Độ
Con người Ta hiện ợng (ta giả) Hành động không dùng như ý định Nghiệp
Kiếp Khổ Tụ tập Giữ giới luật Thiền định Niết bàn Nirvana Ta
bản chất (Ta thật). (PHẦN NÀY GHI THEO THẦY Á, CŨNG KHÔNG HIỂU LẮM)
Thiền định: trạng thái tâm đạt được sự an bình tĩnh lặng để tập trung nhận thức
giải quyết đúng vấn đề, đi tìm ý nghĩa thiết thực nhất cho cuộc đời con người, xác
định điều cần giữ cho bản chất con người.
Niết Bàn: trạng thái tâm đạt được sự an bình tĩnh lặng để tập trung nhận thức
giải quyết đúng vấn đề
tưởng mỹ học Ấn Độ cổ đại quan niệm: cái đẹp được cảm nhận bằng trực quan
kinh nghiệm thực nhưng không phải i đẹp chân thực? Cái đẹp chân thực có
thật đằng sau cái đẹp thật.
Đằng sau tính đa dạng của cái đẹp thường nghiệm bản thể tuyệt đối của cái đẹp.
Một cái đẹp tuyệt đối, một cái đẹp tinh thần, tâm linh, tôn giáo.
Sự nhận biết đó đòi hỏi con người phải lánh xa mọi tội lỗi. Cái đẹp phải dựa trên cái
thiện. Đẹp mang tính thần thánh.
Tóm lại:
Cái đẹp trong lịch sử tưởng mỹ học Ấn Độ được hiểu như cái đẹp của Brahman
(linh hồn đại) được nhận thức trong trạng thái con người đã lánh xa mọi tội lỗi, đạt
đến sự thanh thoát, thư thái, không còn ham muốn dục vọng.
Thần lửa đem lại sự hồi sinh, i tạo sự sống, tái sinh. (Chết không phải hết, chết
hồi sinh sang kiếp khác - Ấn Độ).
Sự nhận thức: cái đẹp sự trở lại với bản tính thanh tịnh, với trạng thái cực lạc vốn
con người tự đánh mất.
Cái đẹp trong lịch sử ởng mỹ học n Độ được hiểu như cái phi hiện ợng,
không thể do kinh nghiệm bình thường nhận thức được thông qua cái tự ngã trong
thế giới hiện tượng. nhận thức kinh nghiệm bình thường bị hạn chế bởi thời gian,
không gian ch do 1 trong 6 ch sau đây được:
1. Cảm giác
2. Suy diễn
3. Chứng ngôn (những điều đã được xác nhận trong kinh điển)
4. So sánh
5. Suy định (t kết luận thực rút ra nhận thức)
6. Nhận thức về cái không tồn tại).
Ý nghĩa của quan niệm này trong mỹ học hiện nay
Ngày nay, quan niệm cái đẹp một thực thể đẹp, là biểu trưng của giá trị.
Đáp ứng nhu cầu khát vọng sống của con người.
Đem lại cho con người những cảm c tích cực, thôi thúc con người sáng tạo.
Cái đẹp thôi thúc con người sống thiện lương hơn.
thực thể hình hài, yếu tố vật chất lẫn tinh thần.
Quan niệm cái đẹp tính thống nhất khách quan tính chủ quan.
Nội dung hình thức đẹp biến động qua từng giai đoạn của lịch sử.
Cái đẹp mang tính lịch sử - dân tộc - thời đại.
Biểu hiện cái đẹp trong các lĩnh vực
hội:
Cái đẹp trong lao động.
Cái đẹp trong giao tiếp sự tôn trọng bảo tồn giá trị đối tượng giao tiếp.
Đẹp qua lăng kính khoa học.
dụ: Ông Nawat tiết lộ rằng Thùy Tiên không phải người giỏi nhất, cũng không
phải người cao nhất. Nhưng ấy thí sinh hài hòa mọi thứ Câu này rất q
trọng trong khoa học về sắc đẹp.
Nghệ thuật: Cái đẹp trong nghệ thuật cái đẹp của sự sáng tạo. Cái xấu trở nên đẹp
về mặt nghệ thuật khi truyền tải một thông điệp đó đến người nghe, người xem.
Câu 7: Phân tích cái Đẹp biểu trưng của những giá trị, đáp ứng những nhu
cầu khát vọng sống của con Người, đem lại cho con người những cảm xúc tích
cực, thôi thúc con người sáng tạo. Thế nào sống Đẹp?
Cái đẹp trong thiên nhiên: i đẹp tồn tại song song với tự nhiên. con người
hưởng thụ một cách bị động cái đẹp có sẵn của tự nhiên,
Thực sự thì, thiên nhiên với những phẩm chất thuộc tính của tồn tại một cách
khách quan. Mọi s vật hiện tượng trong thiên nhiên tồn tại trong sự ơng tựa với
nhau, liên kết lẫn nhau, quy định lẫn nhau. Khi một cảnh thiên nhiên được gọi
đẹp thì không phải đơn thuần do thiên nhiên đẹp, còn do con người cảm thấy đẹp.
Nguyễn Du từng nói:
Cảnh nào cảnh chẳng cũng đeo sầu
Người buồn cảnh cũng vui đâu bao giờ.
Do đó, khi xét cái đẹp trong thiên nhiên xét trong quan hệ với con người. Cảnh
đẹp trong thiên nhiên cảnh- nh.
Như vậy, cái đẹp của thiên nhiên cái năng lực biểu hiện; cái khả năng gợi cho
con người thấy được bản chất của chính mình nơi thiên nhiên, tạo vật; cái con
người thể tìm thấy sức mạnh sáng tạo làm chủ của mình. cái thể báo
hiệu về con người, gợi cho con người những rung động, những say những khát
vọng. Do đó, cái đẹp trong tự nhiên tuy tồn tại khách quan nhưng chỉ tồn tại như một
tiềm năng, một dự phóng. tác dụng gợi mở sự liên tưởng, sức sáng tạo của con
người.
Cái đẹp của những sản phẩm do con người làm ra: Cái đẹp của những sản phẩm d
con người làm ra những sản phẩm do con người làm ra ththeo những khuôn mẫu
tưởng:
Tính hợp một trong những yêu cầu quan trọng nhất được đặt ra cho các sản
phẩm lao động. phải sự tương quan đúng đắn giữa hình thức giải pháp kết
cấu.
Các sản phẩm lao động phải tạo thuận tiện tối đa cho người sử dụng, giảm bớt lao
động vất vả cho con người, làm vui mắt bằng vẻ đẹp của hình dáng bên ngoài sự
tính toán nghiêm nhặt của các yếu tố.
Cái đẹp của điều kiện lao động: Điều kiện lao động đẹp góp phần nâng cao hiệu quả
lao động bảo v sức khỏe người lao động. Điều kiện lao động đẹp, bao gồm:
Phương tiện lao động: máy móc, thiết bị, dụng cụ lao động thuận tiện, đẹp đẽ; tổ
lao động hợp lý. Nhân tố quyết định của mỹ học về điều kiện hoạt động nội
công nghiệp: ánh sáng hợp lý, u tường thích hợp, thông gió tốt, độ ẩm vừa phải
Màu sắc nội thất công nghiệp ảnh hưởng đến hiệu quả lao động. Với những kiện hàng
trọng lượng khối lượng như nhau chỉ khác nhau màu đen, hoặc màu trắng, thì
người công nhân khuân c những kiện hàng màu trắng cảm thấy nhẹ nhàng hơn
do đó bốc vác hiệu suất cao hơn làm việc với những kiện hàng màu đen.
dụ: xưởng sản xuất lớn thì dùng gam màu lạnh xanh, xanh cây. Nơi sản
những chi tiết nhỏ như lắp ráp đồng hồ thì cần ng màu bình lặng, sáng sủa.
phận chuyển động của thiết bị sơn màu sáng để dễ nhận, do đó giảm tai nạn la
động .v.v…
Cái đẹp của hành vi: Hành vi con người thể được đánh giá từ những phương diện
khác nhau: chính trị, đạo đức, pháp luật…
Nhưng cũng thể được đánh giá góc độ thẩm mỹ.
dụ: Một hành vi cao quý, can đảm cũng được gọi hành vi đẹp. Hoặc ngược lại.
Biêlinxki cho rằng tình cảm thẩm m sở của việc thiện, của đạo đức. Gorki cho
rằng: mỹ học luân của tương lai (càng ngày cái đẹp càng thâm nhập sâu trở
thành tiêu chuẩn bản của c phong ứng xử của con người).đẹp trong lao
Cái đẹp của con người:Con người sản phẩm của tự nhiên, cũng những vẻ
đẹp tính chất vật chất tự nhiên. Đó vẻ đẹp bên ngoài như khuôn mặt, hình th
trang phục. Ngoài ra con người còn vẻ đẹp tinh thần xã hội: hành vi, hoạt động của
toàn bộ thế giới tinh thần của con người lời nói, cách xử, hành động biểu hiện
của trình độ n hóa của con người.
Cái đẹp trong sinh hoạt: Cái đẹp trong sinh hoạt đời sống rất đa dạng. Sinh hoạt
khái niệm bao gồm: sắp xếp n ở, cái đẹp của quần áo, cách thức tổ chức nghỉ ngơi
lành mạnh, văn hóa. Tất cả những bao quanh con người trong đời sống từ việc trang
hoàng căn phòng, quần áo, vật dụng trang điểm,… đều phải đem đến cho con người
cảm xúc thẩm mỹ. đâu sinh hoạt của con người thì đó cần thị hiếu thẩm mỹ:
từ cái thìa, cái li, đến căn nhà, sân bóng .v.v…
Cái đẹp trong nghệ thuật: Nghệ thuật nơi biểu hiện tập trung của cái đẹp; đẹp
điều kiện đặc biệt của nghệ thuật. C.Mác nói, trong toàn bộ hoạt động sáng tạo của
con người, hoạt động o con người cũng đều sáng tạo theo quy luật của cái đẹp.
Nhưng không đâu quy luật ấy lại bộc lộ nét tập trung như ngh thuật. Miêu tả,
biểu hiện, sáng tạo cái đẹp mục tiêu chủ yếu, chức năng đặc trưng của nghệ thuật.
Cái đẹp trong ngh thuật các đặc điểm căn bản sau:
Tính hoàn chỉnh, hoàn thiện, gọt dũa, trau chuốt, điển hình của các yếu tố. Xét về sự
phong phú, tươi mới, nguồn gốc tính trước thì cái đẹp của tự nhiên cao hơn cái
đẹp của nghệ thuật. Nhưng ngh thuật nguyên tắc sáng tạo điển hình hóa. Các
hiện tượng đẹp của đời sống khi được đưa vào tác phẩm thì đã trải qua sự lựa chọn,
qua bàn tay sáng tạo, gọt đẽo…, do đó đã đẹp, lại càng đẹp hơn. Với ý nghĩa ấy
Hegel khẳng định: ngh thuật đẹp hơn cuộc sống; Hoàng Đức Lương viết: Đến
như thơ văn thì sắc đẹp ngoài cả sắc đẹp, vị ngon ngoài cả vị ngon, không thể dùn
mắt thường xem, vị giác thường nếm
Cái đẹp trong nghệ thuật mang sắc thái biểu cảm. Một cảnh tượng đẹp trong thiên
nhiên không chứa đựng trong mình tính tình cảm, cảm xúc. chỉ những thuộc
tính vật lý, hoặc do liên tưởng chủ quan của con người gán cho nó. Còn vẻ đẹp trong
nghệ thuật, sự kết tinh, chứa đựng tình cảm của người sáng tạo. Tình cảm quy
luật của ngh thuật. Bạch Cư Dị, nhà thơ n luận về thơ Trung Quốc đời Đường
từng khẳng định gốc của thơ nh cảm. Quý Đôn, nhà bác học Việt Nam, thế kỉ
XVIII, xem tình một trong 3 điều chính của thơ…
Cái đẹp trong nghệ thuật mang tính tưởng. Nghệ thuật phản ánh hiện thực, những
cái đẹp của hiện thực không chứa đựng khuynh hướng tưởng. Trong khi đó, cái đẹp
trong nghệ thuật luôn luôn có khuynh hướng tưởng. Cũng có thể nói, cái đẹp trong
nghệ thuật chính cái đẹp của tưởng. Khi phản ánh cái đẹp của cuộc sống vào tác
phẩm thì không đơn giản người nghệ sao chép lại, chụp ảnh lại. Mà trước hết,
nghệ xuất phát từ một lập trường tưởng nhất định để lựa chọn, miêu tả, đánh giá.
Thứ đến, người nghệ sáng tạo ra cái đẹp sao cho phù hợp với quan niệm thị hiếu,
tưởng thẩm mỹ của mình. Những tưởng lập trường xuất phát điểm để phản ánh;
những thị hiếu, ởng như đích ớng tới để sáng tạo, nếu tiên tiến, thể hiện lợi
ích của nhân n lao động sẽ m cho tưởng của ngh thuật đẹp.
Câu 8: Phân tích dẫn chứng những biểu hiện của cái Đẹp trong tự nhiên,
trong hội trong ngh thuật.
Trong tự nhiên, tự nhiên chỉ đẹp khi chỉ khi trong quan hệ thẩm m được sự
thừa nhận của con người liên quan đến nhu cầu khát vọng sống của con người.
dụ: tự nhiên nơi bắt đầu của mọi cái đẹp; vẻ đẹp của mây; gió; trăng; hoa;
núi sông nguồn cảm hứng đồng thời đối tượng miêu tả của nghệ thuật; cũn
như thể hiện tính đa dạng; phong phú; sinh động trong quan hệ thẩm mỹ của c
người.
Trong hội, đó cái đẹp trong lao động. Khi lao động thoát khỏi sự áp bức bóc lộ
tự giác thực hiện với niềm vui ớng của sự sáng tạo. Còn cái đẹp trong giao tiếp,
hành vi đẹp. Luôn tôn trọng một cách chân thành, thành thật với những phẩm chất hay
giá trị của đối tượng trong giao tiếp. Hành vi đẹp nhìn thấy cái hay của người ta
cái dở của mình.
dụ: chân thành khiêm tốn nhìn thấy i dở của mình để khắc phục, nghiêm
nhìn nhận bản thân mình hướng bản thân tạo ra giá trị cho hội.
Trong nghệ thuật, đó i đẹp của sự sáng tạo. i xấu trở nên đẹp về mặt nghệ
thuật khi truyền tải một thông điệp (của kịch, văn, thơ…). Sáng tạo thể hiện dấu ấn
nhân khi người nghệ không cho phép lặp lại bản thân mình. Nghệ thuật đi ra từ
tưởng tượng gợi m sự tưởng tượng, đó thăng hoa trong nghệ thuật. Nghệ thuật
phản ánh cái xấu để lên cái đẹp.
dụ: Tác phẩm Tát nước đồng chiêm của Trần Văn Cẩn. Tác giả đã diễn tả m
cảnh sinh hoạt quen thuộc vùng nông thôn Việt Nam nhưng bằng cách thể hiện đ
đáo của mình ông đã cho thấy một vùng nông thôn mới những người dân đượ
chủ ruộng đồng. Toàn bức tranh toát lên một không khí tươi vui rộn ràng, mạnh m
phơi phới trên từng khuôn mặt.
Câu 9: Trình bày phân tích nguồn gốc, bản chất, hệ quả các hình thức
hiện của cái Bi? Dẫn chứng một tình huống Bi trong đời sống hoặc trong nghệ
thuật. (5đ)
Người đầu tiên trong lịch sử tưởng mỹ học của phương y đề cập đến cái bi
Aristote.
Cái bi hiện tượng thẩm mỹ, diễn tả quy của một hành động hoàn chỉnh bao gồm
tình tiết như linh hồn (tinh thần), sở của bi kịch tính cách đi theo sau (tình
tiết), thường kết thúc bằng một cái chết. Bi buồn nhưng không phải cái buồn nào
cũng bi. Bi kịch cái bi trong nghệ thuật.
Cái bi cái đẹp hay cái cao cả bị thất bại trong cuộc đấu tranh với cái xấu để khẳng định giá
trị mình. Cái bi gây ra sự thương cảm, trong cộng đồng hội, gợi lên niềm luyến tiếc, thôi
thúc cộng đồng tiếp bước cuộc đấu tranh để đi đến sự toàn thắng mục tiêu chung cao cả. Bi
kịch cái đẹp bị hủy diệt bởi cái xấu
Hệ quả của cái bi:
Bi kịch tẩy rửa những cảm xúc qua cách gợi lên sự thương xót nhằm thanh khiết hóa
tình cảm con người.
1 giọt nước mắt nhỏ xuống để xót thương cho 1 cái đẹp hủy diệt thì cũng nghĩa quay
lưng lại cái xấu thậm chí quyết tâm hủy diệt cái xấu để phục sinh cái đẹp”
Nguyên nhân của cái bi: sự xung đột giữa cái đẹp (hay cái thiện) với cái xấu (c
ác), diễn ra:
Trong mỗi nhân, ý niệm thiện đấu tranh với ý niệm ác. Thiện Ác trong mỗi
người đan xen với nhau, đấu tranh với nhau. Mỗi con người không thể hoàn toàn tốt
nên phải đấu tranh trong ý niệm để giữ tính người.
Giữa nhân với hội, đạo đức nhân đấu tranh với luân hội. Luân thì lại
pháp luật - đạo đức công dân theo pháp luật nhà nước đạo đức cộng đồng theo
pháp luật thần thánh. Tuy nhiên con người chỉ được lựa chọn một trong hai bi kịch
nảy sinh.
Trong hội, lực lượng tiến bộ đấu tranh với lực lượng lạc hậu. Đại diện cho hội
nhân, đó lực lượng hội đấu tranh chiều ớng hội, đấu tranh với lực
lượng phản động, kìm hãm sự phát triển hội.
Theo luận của Engels: “Xung đột bi kịch giữa yêu sách tất yếu về mặt lịch sử
tình trạng không tài nào thực hiện được điều đó trong thực tiễn…” Bỏ qua yếu tố ấy
thì đã làm giảm sự bi kịch. Yêu sách tất yếu nhu cầu cần thiết cần có, cần thực hiện
cần diễn ra trong lịch sử.
dụ: Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, VN ớc thuộc địa nửa phong kiến, yêu sách
tất yếu của việt nam độc lập dân tộc nhưng không đủ lực ợng thời cơ, không
đường lối đúng đắn từ đó dẫn đến sự thất bại của các phong trào khởi nghĩa. Đó chính
bi kịch. Do đó, những nhà viết kịch muốn viết kịch lịch sử phải biết khai thác các
yếu tố này. C.Mác tóm tắt: chủ đề chân chính của bi kịch chính cách mạng.
Một cuộc cách mạng khi phản ánh vào trong nghệ thuật vừa mang tính hiện thực vừa
mang tính lãng mạn.
Biểu hiện của cái bi:
Bi của cái lựa lượng hội xác định vị thế lịch sử, năng lực thúc đẩy hội phát triển
nhưng do nào đó bị hủy diệt bởi cái bi
Bi của cái mới những con người hội, nhân đại diện cho 1 trào lưu tiến bộ mở
đường cho sự phát triển, tuy nhiên trong quá trình phát triển lại bị cái xấu chống đối tiêu diệt
dẫn đến thất bại- “cái chết trước bình minh”.
Bi của sự lầm lạc do sự hạn chế nhận thức của bản thân
dụ: An Dương Vương cái bi của sự lầm lạc.
Tóm lại, cái bi mang trong lòng sự xung đột hội giữa các lực lượng tiên tiến,
nhân văn của xã hội với các thế lực chuyên chế, phản động, cái bi mang một ý nghĩa
hội cao cả, cho nên những hành động cách mạng, sự thất bại của đã sự biểu
hiện của cái bi. Cái bi trong cuộc sống chính sự bất hạnh của cái đẹp, cái cao cả, cái
anh hùng. Cái bi hoàn toàn một hiện tượng hội, gắn hữu với cuộc sống của
con người, có ý nghĩa đối với sự phát triển của con người hội. Cái bi một
phạm trù mỹ học nói về sự thống khổ cái chết trong sự đồng cảm của cộng đồng
hội. Cái bi trong ngh thuật thường xây dựng từ số phận riêng của con người.
Câu 10: Trình bày phân tích nguồn gốc, bản chất, hệ quả c hình thứ
biểu hiện của cái Hài? Dẫn chứng một tình huống hài trong đời sống hoặc tr
nghệ thuật.
Cái hài hiện tượng thẩm mỹ trong đời sống hội để nói về nội dung xấu bị phát
hiện thông qua cái sự ngụy tạo bằng hình thức đẹp nhưng lại bị phát hiện, từ đó tạo ra
tiếng cười phê phán.
Cái hài được hình thành từ sự khập khiễng, từ sự mâu thuẫn: Khập khiễng sự mất
cân xứng(so le) về hình thức sự mâu thuẫn giữa (các mặt đối lập) hình thức nội
dung (giữa đạo đức phi đạo đức, giữa hèn kém cao thượng, giữa dốt nát ngu đần
trí tuệ hiền minh…).
Tiếng cười của cái hài là tiếng ời của trí tuệ. không d dàng phát hiện ra cái xấu
được ngụy tạo trong hình thức đẹp. Khi con người phát hiện những hiện tượng chứa
đựng sự khác biệt đã tạo ra số những nghịch lý, những u thuẫn của hiện tượng
được coi thống nhất thuần nhất theo thước đo mà con người được giáo dục, được
nhận biết (dựa o kinh nghiệm sống, kiến thức).
Tiếng cười của cái hài tiếng ời của người chiến thắng. Chiến thắng không phải
giành giật mà khi phát hiện ra sự ngụy tạo này. khi phát hiện ra cái xấu bộc lộ,
người ta thái độ khinh bỉ. Khi phát hiện, bằng tiếng cười, chủ thể thẩm mỹ đã đẩy
đối tượng (cái xấu) vào thế bị động khó lòng chống trả khí phê phán đây chỉ
tiếng cười.
Tiếng cười của cái hài còn tiếng cười của s khoan dung. Khi phát hiện cái xấu,
bằng tiếng cười, chủ thể đã th hiện sự bỏ qua, không quan tâm đến (s không quan
tâm cũng hình phạt nặng nề chứ không đơn giản như chúng ta nghĩ). Đồng thời
cũng thể hiện thái độ sẵn sàng tiễn biệt cái xấu (có thể không hẳn xấu nhưng không
còn phù hợp) một cách vui vẻ.
Tiếng cười của cái hài tiếng cười mang nh nhân văn. Không đến từ những khiếm
khuyết trên thể, từ sự bất bình thường như nỗi bất hạnh của người khác. Nếu cố
tạo nên tiếng cười từ sự khuyết tật bẩm sinh thì biểu hiện của sự kém hiểu biết về
mỹ học, không sự đồng cảm, sự nhạo báng đạo đức cười trên sự đau khổ
của người khác.
Cái hài được tiếp nhận bằng nhiều hình thức biểu hiện khác nhau:
- Sự khôi hài dành cho bản thân - đ nhìn nhận bản thân
- Sự mỉa mai, châm biếm - nghiêm khắc yêu cầu sửa chữa
- Sự đả kích - nhẹ nhàng nhưng sâu cay
- Cái cao cả - s thống nhất đỉnh cao của cái đẹp nỗi đau tận cùng của i bi
Dẫn chứng: Các mẹ Việt Nam anh hùng.
Câu 11: Trình bày cấu trúc của ý thức thẩm mỹ. Vai trò của tình cảm, thế
quan hệ tư tưởng trong đời sống thẩm mỹ?
Cấu trúc ý thức thẩm mỹ gồm: cảm xúc thẩm mỹ, thế giới quan hệ tưởng.
- Cảm xúc thẩm mỹ những ý niệm của trạng thái tâm thẩm mỹ. Con người đằng
sau kích thích của cảm xúc thẩm mỹ; không chỉ yếu tố sinh cả kinh
nghiệm của lịch sử loài người; tất cả những kinh nghiệm của những quan hệ hội;
bao gồm cả sự tự nhận thức nhân. Cảm c thẩm mỹ tính liên tưởng: trong cái
suy tưởng của mình, liên tưởng cái đã qua, đang phóng chiếu đến tương lai.
Cảm xúc song hành với đối tượng, thậm chí bị đối tượng chi phối, đẩy tình cảm của
mình vào sự vận động của đối tượng thẩm mỹ, đây tính nhập cảm.
dụ:Xem một bộ phim buồn, chúng ta khóc, đó nhập cảm.
- Cảm xúc biểu hiện của tâm lý, từ đó quy định nên thế giới quan: quan niệm đẹp
hay xấu (thế nào xấu thế nào đẹp). Sau đó, kết hợp với ngữ cảnh tâm hình
thành thị hiếu (yếu tố hội) tạo nên thế giới quan đẹp, quan niệm khác nhau thì thế
giới quan khác nhau. Thế giới quan vai trò kim chỉ nam định hướng cho cuộc
sống của con người, từ nhận thức đến nh động thực tiễn, giúp xác định hệ tưởng,
tưởng, lối sống của bản thân, hướng đến các giá trị chân thiện mỹ.
=> Từ đó hình thành hệ ởng: quan niệm, ởng về lợi ích của một giai cấp
được hệ thống hóa thành học thuyết: chi phối các hoạt động chính trị. Trong nghệ
thuật, hệ tưởng quan niệm riêng của người nghệ sĩ trước đời sống, thiếu
thì tác phẩm sẽ nhạt nhẽo không cái riêng, không bản sắc. Đó điểm nhìn
nghệ thuật, điểm tựa hình tượng, nguyên tắc cắt nghĩa về thế giới nội dung cũng
như hình thức. thế văn học nghệ thuật luôn gắn liền đến các hoạt động chính trị.
dụ:Văn học giai đoạn 1930 1945, các tác giả dùng ngòi bút thay cho lời
gọi nhân dân ng hướng về non sông đất nước như: Việt Bắc, Đất nước.
Câu 12: Trình y khái niệm, tính chất, vai trò của thị hiếu thẩm mỹ. Đặc tr
của giáo dục thị hiếu thẩm mỹ?
KHÁI NIỆM:
Thị hiếu những niềm yêu thích ta thấy được, cảm nhận được qua thực tiễn, bộc lộ
được ra ngoài. Thị hiếu thẩm mỹ sự biểu hiện của một sở thích thẩm mỹ, thể hiện
sự yêu thích bộc l ra ngoài.
Thị hiếu thẩm mỹ sự thể hiện một năng lực cảm nhận, đánh giá, tiếp nhận thẩm
vào trong chính bản thân đời sống của thẩm mĩ, “sở thích tương đối ổn định của cá
nhân hay cộng đồng về phương diện thẩm mỹ”.
TÍNH CHẤT:
Thị hiếu thẩm mỹ thuần túy sự cảm tính. Rộng nhất thị hiếu thẩm mỹ sáng tác.
Thị hiếu đời thường đã mang tính độc đáo, tính vậy n thị hiếu nghệ thuật bắt
buộc không sự lặp lại, ngay cả lặp lại bản thân tác giả.
Sở thích mang tính nhân (cá tính), không ai áp đặt sở thích lên ai, các nhân tự do
trên phương diện thẩm mỹ. tính không mang tính bẩm sinh, nghĩa không đơn
nhất, không ch biệt hoàn toàn khỏi hội.
Thị hiếu thẩm mỹ liên quan đến tri thức, quan niệm của cộng đồng, không thoát ly
khỏi tính cộng đồng, tính dân tộc tính thời đại của làm đa dạng phong phú thị
hiếu của cộng đồng.
Thị hiếu thẩm mỹ mang tính nhân sâu sắc, nhưng nhân phần tử của hội,
nhân sự phóng chiếu của hội. Sở thích riêng của mỗi người liên h sâu sắc với
cái chung của đời sống hội. Công cuộc đấu tranh cải tạo tự nhiên, xây dựng xã hội
điều kiện chung quy định nh chất chung, tính chất hội của thị hiếu thẩm mỹ.
Thị hiếu thẩm m ra đời trong từng thời đại nhất định biến đổi theo từng thời đại.
Những sở thích thẩm mỹ của thời đại trước sẽ không hợp khẩu vị của thời đại sau.
dụ: Cái răng, cái tóc góc con người. Chỉ khoảng nửa thế kỉ trước đây tóc
dài, răng đen (tóc dài, người đẹp, Răng răng đều như hạt na) đẹp, nhưng ngày
tóc dài, răng đen đã không hợp thời nữa.
Chính tính cộng đồng này đã làm cho thị hiếu thẩm mỹ mang tính dân tộc. Thị hiếu
thẩm mỹ của từng nhân bị chế ước bởi tính cộng đồng dân tộc, n bên cạnh tính
riêng thị hiếu thẩm mỹ tính chung. Nói cách khác, trên sở cộng đồng dân tộc thị
hiếu thẩm mỹ muôn màu muôn sắc nhân nảy nở.
VAI TRÒ:
Thị hiếu thẩm m đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá, định hình vẻ đẹp giá
trị nghệ thuật của một thể hoặc một tác phẩm. Đây khả năng phân biệt giữa cái
đẹp xấu, tạ o ra sự đánh giá lựa chọn nhân dựa trên sở thích tiêu chuẩn
nhân. Thị hiếu thẩm mỹ thể hiện sự sáng tạo cái nhìn độc đáo của mỗi nhân đối
với nghệ thuật. Đồng thời phát triển kh năng đánh giá sáng tạo của con người.
ĐẶC TRƯNG CỦA GIÁO DỤC THỊ HIẾU THẨM MỸ :
Giáo dục th hiếu thẩm mỹ tạo ra một cái khuôn chung của hội không đối
lập với hội, làm sao vừa cái riêng của nhân, vừa cái chung của hội. Cái
riêng đó sẽ hòa hợp với cái chung, không bị hòa tan hay đồng nhất. Giáo dục thẩm mỹ
không hề mang tính áp đặt, biểu diễn thời trang cũng một dạng giáo dục thẩm mỹ
khi giáo dục nhân phát triển sở thích thẩm m của riêng mình vẫn hòa hợp với
hội.
Câu 13. Phân tích, nhận định dẫn chứng từ luận đề: Nghệ thuật sự ph
ánh hiện thực cuộc sống con Người bằng tình u rộng lớn tình yêu đối vớ
Đẹp (5đ)
Nghệ thuật bắt nguồn từ lao động. Lao động tạo ra sản phẩm thuần túy đáp ứng cho
nhu cầu thầm mỹ thì lao động đó mới lao động nghệ thuật. Thẩm mỹ ban đầu được
cảm nhận trực quan khi nhìn thấy trong quá trình lao động, nổi bật sự khéo léo -
tinh tế.
Khi giá trị nghệ thuật thoát ra khỏi giá trị sử dụng, sản phẩm được tri nhận như một
tác phẩm nghệ thuật. Tác phẩm nghệ thuật được tạo thành, được đón nhận từ 2 chiều -
từ chủ thể sáng tạo từ chủ thể tiếp nhận (công chúng nghệ thuật). Nếu sản phẩm
không người đón nhận thì đó không phải sản phẩm nghệ thuật. Tính chất của lao
động tính chất của sản phẩm đem đến sự hân hoan vui sướng sáng tạo.
Nghệ thuật trước hết lĩnh vực phản ánh hiện thực cuộc sống con người, cuộc
sống con người được hiểu biết như đang tồn tại, ớng về hiện thực cuộc sống.
Hiện thực cuộc sống con người diễn ba mối quan hệ: con người với tự nhiên, con
người với con người, con người với chính bản thân mình. Nghệ thuật hiểu chứ
không tả, phải hiểu nội tâm con người, vậy nên đối tượng của nghệ thuật thế
giới nội tâm của con người. Nội dung của nghệ thuật rộng phản ánh hiện thực.
Nghệ thuật không quay ng lại với cuộc sống con người nhưng phải nói sao cho có
nghệ thuật (nói sao cho lay động lòng người).
Nghệ thuật nh vực của tình yêu, yêu phải hiểu, phải đồng cảm, chia sẻ, phải hiểu
rồi mới kể. Không yêu cuộc sống thì không tiếp cận được cuộc sống. Phải luôn hỏi
cuộc sống đặt ra vấn đề cần được phát triển như thế nào.
Nghệ thuật là lĩnh vực của sự ởng tượng sáng tạo. Nghệ thuật tái tạo cuộc sống
trong sự tưởng tượng thăng hoa. cuộc sống luôn trăn trở, băn khoăn, tái
tạo để làm cho cuộc sống tốt hơn. Nghệ thuật mang tính tưởng, ước và khát
vọng. Ngh thuật hành động bổ túc những khiếm khuyết trong cuộc sống con người.
Nghệ thuật không phải mảng tối tả mảng tối làm bật lên mảng sáng cần
có.
Nghệ thuật lĩnh vực của cái Đẹp. Đẹp những biểu trưng của giá trị đáp ứng các
nhu cầu của con người, cái Đẹp của chiều sâu cảm xúc tích cực lan tỏa. Ngh thuật thì
phải đẹp, không đẹp không nghệ thuật.
thế, nghệ thuật sự phản ánh hiện thực cuộc sống con người bằng một tình yêu
rộng lớn - tình yêu đối với cái đẹp.
Câu 14: Phân tích dẫn chứng từ nhận định: bản chất của nghệ thuật nhữ
giá trị của hội được đánh giá theo quy định của cái Đẹp.
Bản chất những thuộc tính quy định cho sự ra đời, sự tồn tại phát triển. Nghệ
thuật lĩnh vực tập trung cái đẹp đem lại cảm xúc cho con người. Bản chất của nghệ
thuật những yếu tố quy định sự ra đời tồn tại phát triển của nghệ thuật.
Mỹ học bổ sung cho Nhận thức luận, sau này phát hiện chỉ số EQ (chỉ số cảm xúc).
Mỹ học không chỉ học về cái Đẹp mà đằng sau Cảm năng học, cái M trong
Chân (triết học) - Thiện (đạo đức học) - Mỹ.
Bản chất ngh thuật trước hết phải giá trị xã hội - những đáp ứng cho nhu cầu
sống của con người thì cái đó giá tr hội. Đây chưa phải cái đẹp nếu chưa
được quy định theo cái Đẹp. phải tái tạo nên hình ợng truyền tải cảm xúc tới
con người, phải trở thành biểu trưng phản ánh nhu cầu khát vọng sống của con người.
Phải giá trị thẩm mỹ tác động đem lại cảm xúc tích cực cho con người như i bi,
cái hài, cái cao cả. Vì thế, bản chất của nghệ thuật thể hiện trong hình tượng nghệ
thuật (cái bi, cái hài,..) được đánh giá theo quy định cái đẹp.
Cái Đẹp là sự thống nhất giữa cái chủ quan cái khách quan. Khi người ta yêu nhau
đó giá trị tình yêu, nghệ thuật làm nó thăng hoa thì tạo nên giá trị thẩm mỹ.
Nghệ thuật giá trị thẩm mỹ trên sở của giá trị hội (là những đáp ứng cho
nhu cầu của hội: đạo đức, chân lý, cái đẹp…) được thiết lập nói về đạo đức, chân ,
khoa học, chính trị,.. theo góc nhìn của cái Đẹp. Giá trị thẩm mỹ sự thăng hoa.
Cũng như vậy, bản chất của trường học đó sự trao quyền tiếp nhận kiến thức, k
năng sống.
Câu 15: Phân tích dẫn chứng từ luận điểm: Bản chất của ngh thuật nh
giá trị của hội được đánh giá theo quy luật riêng của tình cảm.
Giá trị hội những cái đáp ứng cho nhu cầu sống của hội, tái tạo nên hình
tượng truyền tải cảm xúc tới con người. Giá trị thẩm mỹ tác động đem lại cảm xúc
tích cực cho con người trong cái Bi, cái Hài, cái Cao Cả.
Thẩm mỹ khác với tính, phân biệt qua ý thức thẩm mỹ ý thức khoa học. Đến với
nghệ thuật đến với sự cảm thông, sự chia sẻ, thấy được mình. Không được đánh giá
bằng trí. n góc độ nghệ thuật thích hay không thích, hướng đến công chúng
nghệ thuật với nhiều độ tuổi khác nhau. Do đó, các tác phẩm lại được cảm nhận
từng độ tuổi khác nhau.
Nhận thức thẩm mỹ khác với nhận thức khoa học vậy nghệ thuật không được đánh
giá theo chuẩn mực của khoa học đánh giá trên góc độ cảm c giá trị thẩm mỹ
được tạo ra trên sở của giá trị hội. vậy, nghệ thuật những giá tr hội
được đánh giá theo quy luật riêng của tình cảm.
Quy luật riêng của tình cảm mỗi đối ợng độ tuổi khác nhau sẽ những tính
chất, tình cảm khác nhác nhau.
Một đối tượng ng một độ tuổi nhưng khác nhau thì tình cảm kháchoàn cảnh sống
nhau. Tính chất riêng của tình cảm rất đa dạng.

Preview text:

Câu 1. Tại sao Mỹ học là khoa học nhân văn? Tại sao Mỹ học lại đi nghiên c
cái Đẹp và Nghệ thuật? Tính ứng dụng của Mỹ học?
Tại sao Mỹ học là khoa học nhân văn?
Nhân là con người, văn là đẹp, khoa học nhân văn là khoa học hướng vào con
người, nghiên cứu về năng lực và phẩm chất người, để kiến tạo, hoàn thiện một
phẩm chất người, để con người đẹp hơn, không phải đẹp về hình thức mà đẹp
về ý nghĩa giá trị xã hội của con người. Con người chỉ có giá trị, không bao giờ
có giá cả (khi quy về giá cả: nô lệ). Lịch sử xã hội loài người là lịch sử của quá
trình đấu tranh giành tự do, thoát ra khỏi sự nô lệ, áp bức và bóc lột để khẳng
định giá trị của mình.
Nghĩa thứ 2 là ngành khoa học, hiện tượng trong đó con người được thức tỉnh
để nhận ra được những giá trị bản thân cần có, tự thực hiện, tự xây dựng những
giá trị đó một cách độc lập mà không nhờ vào sự dẫn dắt của người khác, và
giá trị đó chính là tính tự chịu trách nhiệm trong công việc của bản thân, tình
thương yêu đối với con người, đó là sự tôn trọng người khác, đó là sự khoan
dung trong các mối quan hệ, tôn trọng các giá trị trong dân chủ, liêm chính
trong học thuật, trung thực trong khoa học,....
Sự vận động trong giới tự nhiên không phải là sự vận động của xã hội loài
người, vì vậy khoa học nhân văn thì có đối tượng riêng, lĩnh vực riêng và
phương pháp riêng để nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu của khoa học nhân
văn là con người, khác với đối tượng nghiên cứu của khoa học tự nhiên là tự
nhiên. Trong lịch sử đã có sự đồng nhất phương pháp nghiên cứu khoa học tự
nhiên cũng là phương pháp nghiên cứu khoa học nhân văn và chúng ta đã phải
trả giá, ví dụ: Hitler thực hiện cuộc diệt chủng để “thanh lọc” dân tộc Đức, bảo
vệ sự thuần chủng và cao quý của dân tộc Đức - Aryan. Khoa học nhân văn
mang lại sự phản tỉnh cho con người (phản tỉnh là nhìn lại, nhận thức và thẩm định giá trị mình).
Mỹ học là cảm năng học: Cảm năng học là khoa học giúp cho con người biết
được cách tạo lập cảm xúc tích cực và nâng cao khả năng cảm thụ cái đẹp và nghệ
thuật trong cuộc sống của mình. Điều này thể hiện ở các cấp độ (tháp nhu cầu cảm xúc):
Nhẹ nhàng chấp nhận: hãy để cảm xúc được là chính mình
Lòng trắc ẩn: bao dung với bản thân (kể cả tha nhân)
Thân thuộc: chấp nhận và buông bỏ là đôi đôi bản thân
Sự kết nối: kết nối với chính mình, xã hội và thiên nhiên
Can đảm: do hạnh phúc hay khổ đau chẳng ngại đối mặt
Thấu mình: không thấu được đời mình, sao hiểu được đời?
Tỉnh thức: Vẻ đẹp trong cuộc sống nằm trong đôi mắt của người tỉnh thức
Mục đích sống là gì? Điều gì ý nghĩa nhất trong cuộc đời? Giá trị
của chính bản thân mình là gì?
Cơ sở hình thành nên mỹ học là triết học - khoa học tìm hiểu những quy luật
chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Triết học xác định: “thấy cái không thể
thấy mới gọi là thấy”. Các Triết gia nói những gì họ thấy trong sự suy tưởng,
thường xuyên đặt câu hỏi và đưa ra câu trả lời với những góc nhìn khác nhau. Mỹ
học tách ra từ Triết học, thừa hưởng tính nhân văn từ ngành khoa học này.
=> Dựa vào những yếu tố đó mà có thể khẳng định Mỹ học là khoa học nhân văn và
chúng có mối liên kết sâu sắc với nhau.
Tại sao Mỹ học lại đi nghiên cứu cái Đẹp và Nghệ thuật?
Mỹ học là một bước trung gian, mỹ học nghiên cứu về cái đẹp, mà nghệ thuật
là nơi tập trung cái đẹp. Cái đẹp và nghệ thuật đều mang đến cảm xúc tích cực
cho người tiếp nhận. Đó là cảm năng học, cái mà mỹ học hướng đến.
Mỹ học không thể kết luận: không phải là bế tắc mà không thể thống nhất.
Không thể thống nhất vì nói đến mỹ học là nói đến cái đẹp. Cái đẹp trở thành
một phạm trù trung tâm của mỹ học và trong cuộc sống, nó mang tính nhân văn
và hướng tới vẻ đẹp của con người nhưng dường như cái đẹp mang tính chủ
quan, thậm chí là có phần khác biệt, có phần trái chiều, đối lập,... nên rất khó
phủ nhận. (VD: cuộc thi hoa hậu, sau khi đăng quang mỗi người sẽ có cách
nhìn khác nhau về hoa hậu, người thấy thuyết phục, người thấy không, người
thấy đẹp, người thấy không,...). Thứ 2 là nghệ thuật. Nghệ thuật là nơi hội tụ
của cái đẹp, trong đó cảm hứng sáng tạo nghệ thuật là điều cực kỳ quan trọng
nhưng mỗi nghệ sĩ lại có cảm hứng sáng tạo khác nhau và nó mang tính chủ
quan. Tuy nhiên mỹ học đang bị đặt ra câu hỏi vì dường như chúng không có
quy luật. Mỹ học là một khoa học.
Hai vấn đề truyền thống của cái đẹp: VẤN ĐỀ CÁI ĐẸP:
Nói tới mỹ học là nói tới cái đẹp: dường như hoàn toàn mang tính
chủ quan trong nhận định và mỗi nhận định thường khác biệt, trái
chiều và khó phủ nhận. Vậy đâu là tính khách quan của cái đẹp?
Cái đẹp là phạm trù cơ bản của Mỹ học. Giờ đây đang bị nghi
ngờ về tính khách quan. Vậy Mỹ học có thực sự là khoa học? VẤN ĐỀ NGHỆ THUẬT:
cảm hứng sáng tạo nghệ thuật là nhân tố quan trọng của nghệ
thuật. Nhưng: nghệ sĩ không làm chủ được cảm hứng sáng tạo
(chợt đến, chợt đi); mỗi nghệ sĩ lại có những trạng thái cảm hứng
sáng tạo hoàn toàn khác nhau. -> cảm hứng sáng tạo nghệ thuật không mang tính quy luật.
Nghệ thuật là lĩnh vực quan trọng của Mỹ học. Giờ đây đang bị
nghi ngờ về tính quy luật. Vậy Mỹ học có thực sự là khoa học?
Mỹ học: chính xác hơn là thẩm mỹ học (Aesthetics) bắt nguồn từ “aisthetikos”
trong tiếng Hi Lạp. Vào năm 1735, nhà triết học người Đức Alexander
Baumgarten đặt tên cho cuốn sách Aesthetika, [Anh “Aesthetics”] (Mỹ học) đã
phát triển ý nghĩa của aesthetic từ “aithesis” (sense/cảm giác) thành cảm thụ cái đẹp (sense of beauty) .
Nhân loại từ Đông sang Tây đã xác lập hệ tiêu chí: chân - thiện - mỹ
Chân - Sự đúng đắn, tính chân thực của cuộc sống.
Thiện - Tính nhân bản, nhân văn tốt đẹp.
Mỹ - Sự hoàn thiện, hoàn mỹ.
Một hành vi đẹp phải bao gồm giữa chân và thiện.
Tính ứng dụng của Mỹ học?
Trau dồi khả năng cảm thụ cái đẹp và nghệ thuật, khả năng bình phẩm về cái
đẹp. Sở hữu năng lực tạo lập cảm xúc tích cực trong chính cuộc sống của mình
thông quan việc việc nâng cao, phát triển khả năng trên.
Loại bỏ cảm xúc tiêu cực và hướng đến sự tích cực. Bởi nghệ thuật có khả năng
"thanh lọc" (Katharsis) tâm hồn con người, nếu thưởng thức một bộ phim hay,
một bản nhạc du dương hay một món ăn ngon có thể làm tâm trạng của chúng ta tốt lên.
Mĩ học tiếp nhận có tiềm năng ứng dụng rất lớn trong việc nghiên cứu và biên
soạn lịch sử văn học, nghiên cứu tác phẩm văn học nước ngoài, nghiên cứu
việc tiếp nhận nghệ thuật nói chung, nghiên cứu các lĩnh vực văn hóa đại chúng,
nghiên cứu việc dạy học văn trong nhà trường…..
Trong bối cảnh văn hóa và nghiên cứu Văn học Việt Nam hiện nay, nghiên cứu
và vận dụng Mĩ học tiếp nhận một cách bài bản là điều rất cần thiết.
Mỹ học đồng hành với nhân loại, đồng hành rất nhiều lĩnh vực, vì thế mỹ học
còn là nền tảng cho các lĩnh vực khác như kinh tế, chính trị, xã hội,.... giúp con
người chủ động, sáng tạo trong quá trình thực hiện nghiên cứu của mình.
Câu 2. Phân tích và chứng minh lao động là nguồn gốc hình thành quan hệ t
mỹ. Tính thẩm mỹ của sản phẩm lao động hình thành như thế nào?
Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi các
vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu của con người. Có thể hiểu lao động là
vận dụng sức mạnh tay chân hoặc trí óc thông qua công cụ lao động để cải tạo
thiên nhiên nhằm mục đích tinh thần phục vụ con người, tác động tự nhiên, làm
ra sản phẩm, nuôi sống con người.
Quá trình lao động biến đổi con người, giúp con người hoàn thiện các giác quan và đôi bàn tay.
Bàn tay có năng lực sáng tạo thẩm mỹ, nó vừa là công cụ lao động, vừa là khí quan lao động.
Ví dụ: 1980, Hội thảo y khoa về bàn tay: bàn tay có hơn 60 cơ chức năng khác
Năng lực sáng tạo, làm ra thứ này thứ khác bắt nguồn từ lao động, thể hiện kỹ kỹ xảo.
Mắt và tai là hai giác quan quan trọng nhất trong quá trình cảm thụ thẩm mỹ của con
người. Con người tiếp nhận thông tin nhiều nhất là qua con mắt, sau đó là đến tai. Đôi
mắt để nhìn và tiếp nhận vấn đề. Tai cảm thụ giai điệu nghệ thuật để thỏa mãn sự khao
khát khám phá thế giới nội tâm của con người. Cần phải rèn luyện các giác quan.
Từ đó lao động là quá trình khởi nguồn quan hệ thẩm mỹ, là dạng quan hệ chỉ xuất
hiện trong xã hội con người.
Tính thẩm mỹ của sản phẩm lao động được hình thành thông qua quá trình lao
động. Con người càng được tự do thì lao động càng không là việc làm khổ sai,
nặng nhọc. Họ tích cực tự giác, sáng tạo để mang thông điệp gửi trao cho người
tiếp nhận thông qua sản phẩm lao động, mong muốn người tiếp nhận cảm thụ được nó.
VD: Đồ thủ công mỹ nghệ là các tác phẩm nghệ thuật mang tính thẩm mỹ cao,
phẩm tạo ra bởi năng lực tinh thần, kỹ năng, kỹ xảo và thủ pháp nghệ thuật. Thôn
qua các sản phẩm này, cảm xúc của người sáng tạo đượ
c truyền đạt đến người tiếp nhận.
Câu 3: Phân tích và chứng minh sự đồng hóa trên lĩnh vực tinh thần là nội
của quan hệ thẩm mỹ. Ý nghĩa của vấn đề này trong đời sống thẩm mỹ?
Đồng hóa tinh thần là năng lực chiếm lĩnh đối tượng của chủ thể trong lĩnh
vực tinh thần, làm cho đối tượng đó có năng lực, phẩm chất như chủ thể mong
muốn. Đối tượng trở thành phương tiện để vật chất hóa tình cảm con người.
Đồng hóa ở đây tức là từ những sự vật vô tri, vô giác hóa thành những thuộc
tính giống như con người. (Hiện tượng nhân hoá là một hiện tượng của đồng hoá tinh thần).
Vd: “đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”.
Giới tự nhiên phản ánh vào não người (tiếp nhận, lưu giữ và tái tạo thông tin),
trong sự tái tạo con người gắn cảm xúc (sợ hãi, vui buồn, sung sướng) rồi
tưởng tượng (kết hợp giữa cái có thật và không có thật để tạo nên hình ảnh
thăng hoa trong ý thức, cuối cùng đem lại hình ảnh vừa có tính hiện thực vừa
có cái không hiện thực. Đây chính là quá trình diễn ra sự đồng hóa tinh thần.
Vd: con cọp hiện lên trong con người rất hung dữ, tạo cảm giác sợ hãi, con rồn tưởng tượng.
Ý thức thực thể hoá sự thăng hoa thành biểu trưng (ý nghĩa toát ra từ đối tượng)
- symbol, con người lấy sự kiện thực tế kết cấu lại thành một câu chuyện vừa
có thực vừa không có thực (huyền thoại: sự kiện có thật nhưng được thăng hoa,
thần thoại: yếu tố tưởng tượng để gửi gắm khát vọng con người).
Là sản phẩm (tác phẩm) gợi lên cảm xúc đã được người tạo ra nó truyền dẫn.
Cảm xúc từ sản phẩm này đã được thăng hoa từ trong quá trình trải nghiệm
sống của con người, trong tiếp nhận văn hoá của con người.
Cho nên sự sáng tạo không chỉ đến từ quá trình tạo ra sản phẩm mà còn đến từ
quá trình cảm thụ sản phẩm (đó là thái độ con người đối với cổ vật/di vật). Tác
phẩm nghệ thuật không còn là sự sáng tạo ra từ con người mà dường như nằm
trong sự đánh giá cảm nhận của con người và hoàn toàn không mang tính lợi
ích, vụ lợi. Không có quá trình lao động tạo ra sản phẩm của con người, không
có quá trình tạo ra giá trị sử dụng (công năng sử dụng) thì không có tác phẩm
nghệ thuật. Tác phẩm nghệ thuật không còn là hoạt động thủ công, mà trở
thành hoạt động sáng tạo tinh thần, bắt đầu hình thành nên các biểu trưng (ý
nghĩa có trong từng đối tượng). Ngôn ngữ không chỉ giới hạn trong tiếng nói và
chữ viết vì ngôn ngữ còn biểu hiện trong các hình tượng, nghi lễ, thần thoại.
Người cảm nhận nghệ thuật không phụ thuộc vào chất liệu nghệ thuật mà dựa
vào ý nghĩa nghệ thuật biểu hiện thông qua tác phẩm.
Ý nghĩa trong đời sống thẩm mỹ:
Đồng hóa tinh thần đóng vai trò quan trọng trong đời sống thẩm mỹ .Đời sống con
người có 2 bộ phận: đời sống vật chất và đời sống tinh thần. Cả hai bộ phận đều có
tầm quan trọng của mình. Nếu thiếu đời sống vật chất thì con người chết ngay. Nhưng
thiếu đời sống tinh thần thì con người chưa chết ngay. Tuy vậy, nếu nhu cầu vật chất
được thỏa mãn, nhưng không có nhu cầu tinh thần thì con người chỉ tồn tại như là một
con người sinh vật chứ không như là con người xã hội. Con người tạo ra một tự nhiên
thứ hai thông qua hoạt động sáng tạo vật chất cũng như sáng tạo tinh thần: lao động
sản xuất, hoạt động khoa học, sinh hoạt và đời sống. Đặc biệt, hoạt động sáng tạo
nghệ thuật là nơi thể hiện tập trung nhất, đầy đủ nhất, nổi bật nhất đời sống thẩm mỹ của con người.
Câu 4. Phân tích và chứng minh giá trị thẩm mỹ là hệ quả của quan hệ thẩ
Ý nghĩa của giá trị thẩm mỹ trong cuộc sống?
Giá trị thẩm mỹ là sự thăng hoa bản chất con người từ các giá trị thực dụng, giá trị
đạo đức, giá trị nhận thức, giá trị tư tưởng; các giá trị thẩm mỹ cũng là kết quả của sự
đánh giá hoặc đánh giá giá trị của mọi người, thẩm mỹ và đạo đức về những gì họ cho
là hoặc không đẹp. Giá trị thẩm thẩm mỹ đơn giản là những giá trị đáp ứng được nhu
cầu thẩm mỹ, đáp ứng cho cái đẹp, nhu cầu có 1 cuộc sống đẹp.
Khái niệm quan hệ thẩm mỹ Là một trong những dạng thức quan hệ của con người với
tự nhiên, với người khác và với chính bản thân trên phương diện thẩm mỹ.
- Trên những phương diện này, con người lấy những giá trị thẩm mỹ làm tiêu chí thẩm định.
- Con người tách ra khỏi giới tự nhiên, tạo thành một chủ thể, chủ động tác động vào
tự nhiên để thoả mãn những nhu cầu của mình, đồng thời dựa vào tự nhiên để tạo ra
nhu cầu mà tự nhiên không có sẵn (nhân tạo)
Đối tượng: là khách thể được tìm hiểu về nội dung, bản chất,…
• Đối tượng bị chiếm lĩnh: bị đồng hoá bởi tinh thần của con người (đối tượng thẩm mỹ).
Tại sao lại nói giá trị thẩm mỹ là hệ quả của quan hệ thẩm mỹ.
Hệ quả là kết quả xảy ra của một sự việc nào đó diễn ra song song cùng lúc. Ở đây chỉ
sự xuất hiện của giá trị thẩm mỹ sẽ kéo theo sự ra đời của quan hệ thẩm mỹ. Trong mỹ
học, giá trị là những gì đáp ứng được nhu cầu mang tính có giá trị. Chỉ có giá trị là
trường tồn mãi mãi, gía trị được xây dựng trên nền tảng của cái đẹp từ sâu bên trong
giúp nó tồn tại lâu dài với thời gian.
Giá trị thẩm mỹ là hệ quả của quan hệ thẩm mỹ.
Con người có rất nhiều nhu cầu và những gì có thể đáp ứng được nhu cầu của con
người đều có giá trị nhất định. Vậy con người mang tính giá trị hay giá cả? Đồng ý
với việc tiền có thể mua được nhiều thứ nhưng có tiền chưa chắc đã hạnh phúc. Con
người sống ở đời hơn nhau về giá trị của bản thân, để có được giá trị ấy phải đánh đổi
rất nhiều trong thời gian dài, dù có chết đi vẫn để lại tiếng thơm cho đời. Một con
người sống mà coi bản thân mình là giá cả là người rẻ mạt, tiền tiêu nhiều có thể hết,
bản thân người đó cũng vậy, chỉ có giá trị con người đẹp thì sẽ sống mãi với thời gian.
Con người chì có giá trị, không bao giờ có giá cả.
Giá trị thẩm mỹ là những gì đáp ứng cho người về nhu cầu cái đẹp. Vì cái đẹp là nhu
cầu con người, làm đẹp là bản năng nhưng nếu nhu cầu không còn nữa thì giá trị
không còn nữa. Như đã nói, giá trị phải được xây dựng lâu dài, vì vậy mà nó mang
tính lịch sử. Ở mỗi thời kỳ sẽ có quan điểm thẩm mỹ khác nhau
Ví dụ: ở phương Đông, tiêu chuẩn của Nho giáo về cái đẹp là chân, thiện,mỹ. Ở
phương Tây thì phương diện này đượ
c lý giải có hệ thống hơn. Họ khái quát thà
bốn quan niệm cơ bản về lý luận nghệ thuật để giải quyết các vấn đề của sáng cảm thụ thẩm mỹ.
Ý nghĩa của giá trị thẩm mỹ trong cuộc sống.
- Giá trị thẩm mỹ bảo đảm sự thống nhất, hài hoà và sự liên hệ nội tại giữa những lĩnh
vực biểu hiện khác nhau của đời sống tinh thần con người và của toàn bộ xã hội.
- Có chức năng như là nhận diện phân biệt, đánh giá khách quan giữa người với người.
Sự hoàn thiện thẩm mỹ là quan niệm về mức độ cao nhất, trọn vẹn và đầy đủ nhất (cả
về chất và lượng) của sự hài hoà của khách thể trong một bối cảnh, điều kiện xác định
nào đó. Ở mức độ này, trong những mối quan hệ cụ thể, các thuộc tính thẩm mỹ của
đối tượng coi như đạt tới sự hài hoà tối ưu, hoàn hảo.
- Một sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội hay nghệ thuật… chỉ được thừa nhận là đẹp
khi có sự phù hợp với chuẩn mực và mang giá trị thẩm mỹ nhất định. Cái đẹp đích
thực là cái đẹp phải đạt tới tính đúng đắn, chân thực của cuộc sống, tính nhân bản,
nhân văn tốt đẹp và tính chỉnh thể, toàn vẹn, biểu cảm, hoàn thiện thẩm mỹ và có sự
hài hòa Chân - Thiện - Mỹ.
Câu 5: Trình bày quan điểm về cái Đẹp trong lịch sử phương Tây. Ý nghĩa c
quan niệm này trong mỹ học hiện nay?
Cái đẹp là biểu tượng của những giá trị, đáp ứng nhu cầu khát vọng cuộc sống của con
người. Đem lại cho con người những cảm xúc tích cực, thôi thúc con người sáng tạo.
Thời cổ đại Hy lạp, theo Plato, cái đẹp là ý niệm - giữ ý niệm bên trong và không thể
bị phai nhạt. Ý niệm đẹp trong Plato thực chất chính là lí tưởng về cái đẹp. Nó là sự
đúc kết từ vô vàn hiện tượng đẹp trong thực thể cho ra 1 hình ảnh quay về 1 cái đẹp để
con người hướng về nó, để so sánh đối chiếu về cái đẹp trong thực tế.
Theo Aristoteles, cái đẹp là thực thể, từ thực thể toát lên ý niệm đẹp. Đó là sự cân
xứng, hài hòa giữa các tỉ lệ, màu sắc âm thanh, không quá lớn không quá nhỏ. Các yếu
tố liên kết với nhau với một tỷ lệ cân xứng nhau.
Vd: Ngũ quan đoan chính - rõ ràng, sáng rõ, tỉ lệ vàng của khuôn mặt là 0,614 Về mặt tâm thức luận:
Cái gì mang lại cho ta cảm xúc vui sướng, hân hoan thì đó là cái đẹp (nhận biết cái
đẹp). Phải thông qua ngôn ngữ, không chỉ tiếng nói và chữ viết và còn màu sắc, âm
thanh, dáng điệu, ký hiệu, biểu trưng, nghi thức (hiểu cái đẹp), hiểu được ý tưởng sâu
xa, thấy được ý nghĩa thoát ra từ đối tượng
Ý nghĩa của quan niệm này trong mỹ học hiện nay:
- Cái đẹp là biểu trưng cho những giá trị sống của con người, đem lại cho con người
những cảm xúc tích cực, thôi thúc con người sáng tạo. Cái đẹp là 1 thực thể vì nó tồn
tại trong 1 hình hài vừa có yếu tố vật chất, vừa có yếu tố tinh thần.
Biểu trưng là ý nghĩa toát ra từ đối tượng của những giá trị. Biểu trưng có ý nghĩa tinh
thần toát ra đời sống tinh thần con người
- Cái đẹp được cảm nhận và nó luôn đáp ứng nhu cầu, khát vọng sống của con người.
- Cái đẹp mang thuộc tính khách quan và chủ quan tùy theo sự tiếp nhận của chủ thể.
Như cái đẹp trong lao động: “Thế nào là lao động đẹp?” -> Là lao động vui sướng,
sáng tạo. Hay cái đẹp trong giao tiếp là sự tôn trọng, bảo toàn giá trị, đối tượng trong
giao tiếp. Còn cái đẹp trong nghệ thuật là sự sáng tạo - sự sáng tạo của người nghệ sĩ.
Vậy cái xấu có trở thành cái đẹp được không? Cái xấu trở nên đẹp trong nghệ thuật
khi cái xấu đưa ra 1 thông điệp, làm cho người ta thấy rõ bản chất cái xấu và quyết
tâm chống trả lại cái xấu. Người ta không chấp nhận cái xấu. Nó thức tỉnh con người.
Cái đẹp sẽ được nhận ra qua sự lên án cái xấu.
Ví dụ: 1 diễn viên đóng vai phản diện không phải bản chất là người đó xấu, ngư
đang thể hiện lại cái xấu nhằm phơi bày cái xấu ra ngoài xã hội, có chức năng
cái xấu. Ngoài ra giúp con người nhận thức đượ
c cái xấu và bày trừ cái xấu đó.
đến cùng, người diễn viên đó vẫn đang làm nghệ thuật và cái xấu đó chính là c trong nghệ thuật.
- Cái xấu là biểu trưng, ngăn cản sự tiến bộ
Câu 6: Trình bày quan niệm về cái Đẹp trong lịch sử phương Đông. Ý nghĩa c
quan niệm này trong mỹ học hiện nay
Quan niệm về cái Đẹp trong lịch sử phương Đông
TRUNG QUỐC (tiến trình
lịch sử tan hợp - hợp tan)
Bối cảnh lịch sử văn hóa - xã hội Trung Quốc cổ đại:
Kinh dịch - tiền đề trực tiếp của tư tưởng mỹ học Trung Quốc. Kinh dịch bao gồm các
tác phẩm Liên Sơn và Quy Tàng (nhà Hạ, Thượng...), tác phẩm Chu dịch (thời nhà Chu).
Kinh dịch không còn trực tiếp bàn luận về mỹ học.
Cái sinh mệnh: Những tư tưởng cơ bản từ Kinh Dịch:
Tiền đề cơ bản: Trời - Người tương thông (Thiên nhân hợp nhất - Thiên nhân giao cảm).
Cơ sở lý luận thứ nhất: Kinh Dịch đặt sinh mệnh vạn vật, sinh mệnh con người trong
sự sinh trưởng, biến hóa của trời đất vạn vật.
Vận động và biến đổi là bản chất của cái sinh mệnh.
Thống nhất và hài hòa là yêu cầu của cái sinh mệnh (hài hòa là cái quan trọng) →
không phải là lệ thuộc, mà là hài hòa cùng phát triển, cùng tôn trọng, thống nhất giữa mình và người khác.
Nghệ thuật trong tranh vẽ, văn chương của TQ thống nhất một quy luật chung: Dương hiện Âm ẩn
Bảo hợp thái hòa (thiên thời - địa lợi - nhân hòa).
Cơ sở lý luận thứ hai: chi phối cho quá trình vận động; sinh trưởng và phát triển là
đạo. Đạo là sự thống nhất âm và dương “nhất âm nhất dương chỉ vị đạo”.
Cái Đẹp trong nghệ thuật: Dương hiện - Âm ẩn
Cái đẹp lý tưởng là cái “đại hòa” về cái đẹp.
Trong Kinh Dịch, cái đẹp không chỉ là cái đẹp của trời đất mà còn là cái đẹp từ sự
sinh tồn và phát triển của con người.
Cái đẹp là một hình thức hợp quy luật, có sự biến hóa đa dạng, gắn với cái thiện và sự
tu dưỡng đạo đức cá nhân. 4 yếu tố: Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh.
Nguyên có nghĩa là bản nguyên, nguyên thủy của muôn vật và được cho là đứng đầu
cái Thiện (thiện chi trưởng).
Hanh là Hanh thông có nghĩa là sự tốt đẹp có quan hệ màu sắc, hình thức, cái đẹp và
sự hưởng thụ cái đẹp con người (văn hóa ứng xử và văn hóa tinh thần).
Lợi là lợi ích, gắn bó với quan hệ giữa cái đẹp và sự tồn tại, phát triển của sự sống.
Lợi còn được hiểu là sự tương quan giữa cảm thụ thẩm mỹ với dục vọng sinh lý như
một cảm quan tự nhiên của con người như là sự phát triển lành mạnh bình thường của
sự sống tự nhiên, lợi mình lợi người.
Trinh có nghĩa là phù hợp chính đạo, giữ vững chính đạo có quan hệ giữa cái đẹp và
quy luật tự nhiên, giữa cái đẹp và đạo đức phẩm cách con người, đảm bảo trạng thái hài hòa.
ẤN ĐỘ (Núi cao, biển rộng, sông dài, lịch
sử tư tưởng mỹ học Ấn Độ được
hiểu là cái phi hiện tượng)
Tiền đề tư tưởng triết học mỹ học Ấn Độ
Con người → Ta hiện tượng (ta giả) → Hành động không dùng như ý định → Nghiệp
→ Kiếp → Khổ → Tụ tập → Giữ giới luật → Thiền định → Niết bàn Nirvana → Ta
bản chất (Ta thật). (PHẦN NÀY GHI THEO THẦY Á, CŨNG KHÔNG HIỂU LẮM)
Thiền định: trạng thái tâm lý đạt được sự an bình và tĩnh lặng để tập trung nhận thức
và giải quyết đúng vấn đề, đi tìm ý nghĩa thiết thực nhất cho cuộc đời con người, xác
định điều gì cần giữ cho bản chất con người.
Niết Bàn: trạng thái tâm lí đạt được sự an bình và tĩnh lặng để tập trung nhận thức và
giải quyết đúng vấn đề
Tư tưởng mỹ học Ấn Độ cổ đại quan niệm: cái đẹp được cảm nhận bằng trực quan
kinh nghiệm là có thực nhưng không phải là cái đẹp chân thực? Cái đẹp chân thực có
thật đằng sau cái đẹp có thật.
Đằng sau tính đa dạng của cái đẹp thường nghiệm là bản thể tuyệt đối của cái đẹp.
Một cái đẹp tuyệt đối, một cái đẹp tinh thần, tâm linh, tôn giáo.
Sự nhận biết đó đòi hỏi con người phải lánh xa mọi tội lỗi. Cái đẹp phải dựa trên cái
thiện. Đẹp mang tính thần thánh. → Tóm lại:
Cái đẹp trong lịch sử tư tưởng mỹ học Ấn Độ được hiểu như là cái đẹp của Brahman
(linh hồn vĩ đại) được nhận thức trong trạng thái con người đã lánh xa mọi tội lỗi, đạt
đến sự thanh thoát, thư thái, không còn ham muốn dục vọng.
Thần lửa đem lại sự hồi sinh, tái tạo sự sống, tái sinh. (Chết không phải là hết, chết là
hồi sinh sang kiếp khác - Ấn Độ).
Sự nhận thức: cái đẹp là sự trở lại với bản tính thanh tịnh, với trạng thái cực lạc vốn
có mà con người tự đánh mất.
Cái đẹp trong lịch sử tư tưởng mỹ học Ấn Độ được hiểu như cái phi hiện tượng,
không thể do kinh nghiệm bình thường mà nhận thức được thông qua cái tự ngã trong
thế giới hiện tượng. Vì nhận thức kinh nghiệm bình thường bị hạn chế bởi thời gian,
không gian và chỉ do 1 trong 6 cách sau đây mà có được: 1. Cảm giác 2. Suy diễn
3. Chứng ngôn (những điều đã được xác nhận trong kinh điển) 4. So sánh
5. Suy định (từ kết luận có thực mà rút ra nhận thức)
6. Nhận thức về cái không tồn tại).
Ý nghĩa của quan niệm này trong mỹ học hiện nay
Ngày nay, quan niệm cái đẹp là một thực thể đẹp, là biểu trưng của giá trị.
Đáp ứng nhu cầu và khát vọng sống của con người.
Đem lại cho con người những cảm xúc tích cực, thôi thúc con người sáng tạo.
Cái đẹp thôi thúc con người sống thiện lương hơn.
Là thực thể có hình hài, có yếu tố vật chất lẫn tinh thần.
Quan niệm cái đẹp là tính thống nhất khách quan và tính chủ quan.
Nội dung và hình thức đẹp biến động qua từng giai đoạn của lịch sử.
Cái đẹp mang tính lịch sử - dân tộc - thời đại.
Biểu hiện cái đẹp trong các lĩnh vực Xã hội: Cái đẹp trong lao động.
Cái đẹp trong giao tiếp là sự tôn trọng và bảo tồn giá trị đối tượng giao tiếp.
Đẹp qua lăng kính khoa học.
Ví dụ: Ông Nawat tiết lộ rằng Thùy Tiên không phải là người giỏi nhất, cũng không
phải người cao nhất. Nhưng cô ấy là thí sinh hài hòa mọi thứ → Câu này rất q
trọng trong khoa học về sắc đẹp.
Nghệ thuật: Cái đẹp trong nghệ thuật là cái đẹp của sự sáng tạo. Cái xấu trở nên đẹp
về mặt nghệ thuật khi truyền tải một thông điệp gì đó đến người nghe, người xem.
Câu 7: Phân tích cái Đẹp là biểu trưng của những giá trị, đáp ứng những nhu
cầu và khát vọng sống của con Người, đem lại cho con người những cảm xúc tích
cực, thôi thúc con người sáng tạo. Thế nào là sống Đẹp?
Cái đẹp trong thiên nhiên: Cái đẹp tồn tại song song với tự nhiên. Và con người
hưởng thụ một cách bị động cái đẹp có sẵn của tự nhiên,
Thực sự thì, thiên nhiên với những phẩm chất và thuộc tính của nó tồn tại một cách
khách quan. Mọi sự vật hiện tượng trong thiên nhiên tồn tại trong sự nương tựa với
nhau, liên kết lẫn nhau, quy định lẫn nhau. Khi có một cảnh thiên nhiên được gọi là
đẹp thì không phải đơn thuần do thiên nhiên đẹp, mà còn do con người cảm thấy đẹp. Nguyễn Du từng nói:
Cảnh nào cảnh chẳng cũng đeo sầu
Người buồn cảnh cũng có vui đâu bao giờ.
Do đó, khi xét cái đẹp trong thiên nhiên là xét nó trong quan hệ với con người. Cảnh
đẹp trong thiên nhiên là cảnh- tình.
Như vậy, cái đẹp của thiên nhiên là cái có năng lực biểu hiện; cái có khả năng gợi cho
con người thấy được bản chất của chính mình nơi thiên nhiên, tạo vật; cái mà con
người có thể tìm thấy sức mạnh sáng tạo và làm chủ của mình. Nó là cái có thể báo
hiệu về con người, gợi cho con người những rung động, những say mê và những khát
vọng. Do đó, cái đẹp trong tự nhiên tuy tồn tại khách quan nhưng chỉ tồn tại như một
tiềm năng, một dự phóng. Nó có tác dụng gợi mở sự liên tưởng, sức sáng tạo của con người.
Cái đẹp của những sản phẩm do con người làm ra: Cái đẹp của những sản phẩm d
con người làm ra là những sản phẩm do con người làm ra ththeo những khuôn mẫu lý tưởng:
– Tính hợp lý là một trong những yêu cầu quan trọng nhất được đặt ra cho các sản
phẩm lao động. Nó phải có sự tương quan đúng đắn giữa hình thức và giải pháp kết cấu.
– Các sản phẩm lao động phải tạo thuận tiện tối đa cho người sử dụng, giảm bớt lao
động vất vả cho con người, làm vui mắt bằng vẻ đẹp của hình dáng bên ngoài và sự
tính toán nghiêm nhặt của các yếu tố.
Cái đẹp của điều kiện lao động: Điều kiện lao động đẹp góp phần nâng cao hiệu quả
lao động và bảo vệ sức khỏe người lao động. Điều kiện lao động đẹp, bao gồm:
Phương tiện lao động: máy móc, thiết bị, dụng cụ lao động thuận tiện, đẹp đẽ; tổ
lao động hợp lý. Nhân tố quyết định của mỹ học về điều kiện hoạt động là nội
công nghiệp: ánh sáng hợp lý, màu tường thích hợp, thông gió tốt, độ ẩm vừa phải
Màu sắc nội thất công nghiệp ảnh hưởng đến hiệu quả lao động. Với những kiện hàng
trọng lượng và khối lượng như nhau chỉ khác nhau màu đen, hoặc màu trắng, thì
người công nhân khuân vác những kiện hàng màu trắng cảm thấy nhẹ nhàng hơn và
do đó bốc vác có hiệu suất cao hơn là làm việc với những kiện hàng màu đen.
Ví dụ: ở xưởng sản xuất lớn thì dùng gam màu lạnh xanh, xanh lá cây. Nơi sản
những chi tiết nhỏ như lắp ráp đồng hồ thì cần dùng màu bình lặng, sáng sủa.
phận chuyển động của thiết bị sơn màu sáng để dễ nhận, do đó giảm tai nạn la động .v.v…
Cái đẹp của hành vi: Hành vi con người có thể được đánh giá từ những phương diện
khác nhau: chính trị, đạo đức, pháp luật…
Nhưng cũng có thể được đánh giá ở góc độ thẩm mỹ.
Ví dụ: Một hành vi cao quý, can đảm cũng được gọi là hành vi đẹp. Hoặc ngược lại.
Biêlinxki cho rằng tình cảm thẩm mỹ là cơ sở của việc thiện, của đạo đức. Gorki cho
rằng: mỹ học là luân lý của tương lai (càng ngày cái đẹp càng thâm nhập sâu và trở
thành tiêu chuẩn cơ bản của tác phong ứng xử của con người).đẹp trong lao
Cái đẹp của con người:Con người là sản phẩm của tự nhiên, nó cũng có những vẻ
đẹp có tính chất vật chất tự nhiên. Đó là vẻ đẹp bên ngoài như khuôn mặt, hình thể và
trang phục. Ngoài ra con người còn có vẻ đẹp tinh thần xã hội: hành vi, hoạt động của
toàn bộ thế giới tinh thần của con người lời nói, cách cư xử, hành động là biểu hiện
của trình độ văn hóa của con người.
Cái đẹp trong sinh hoạt: Cái đẹp trong sinh hoạt và đời sống rất đa dạng. Sinh hoạt
là khái niệm bao gồm: sắp xếp nhà ở, cái đẹp của quần áo, cách thức tổ chức nghỉ ngơi
lành mạnh, văn hóa. Tất cả những gì bao quanh con người trong đời sống từ việc trang
hoàng căn phòng, quần áo, vật dụng trang điểm,… đều phải đem đến cho con người
cảm xúc thẩm mỹ. Ở đâu có sinh hoạt của con người thì ở đó cần có thị hiếu thẩm mỹ:
từ cái thìa, cái li, đến căn nhà, sân bóng .v.v…
Cái đẹp trong nghệ thuật: Nghệ thuật là nơi biểu hiện tập trung của cái đẹp; đẹp là
điều kiện đặc biệt của nghệ thuật. C.Mác nói, trong toàn bộ hoạt động sáng tạo của
con người, hoạt động nào con người cũng đều sáng tạo theo quy luật của cái đẹp.
Nhưng không ở đâu quy luật ấy lại bộc lộ rõ nét tập trung như ở nghệ thuật. Miêu tả,
biểu hiện, sáng tạo cái đẹp là mục tiêu chủ yếu, là chức năng đặc trưng của nghệ thuật.
Cái đẹp trong nghệ thuật có các đặc điểm căn bản sau:
– Tính hoàn chỉnh, hoàn thiện, gọt dũa, trau chuốt, điển hình của các yếu tố. Xét về sự
phong phú, tươi mới, nguồn gốc và tính có trước thì cái đẹp của tự nhiên cao hơn cái
đẹp của nghệ thuật. Nhưng nghệ thuật có nguyên tắc sáng tạo là điển hình hóa. Các
hiện tượng đẹp của đời sống khi được đưa vào tác phẩm thì đã trải qua sự lựa chọn,
qua bàn tay sáng tạo, gọt đẽo…, do đó mà đã đẹp, nó lại càng đẹp hơn. Với ý nghĩa ấy
mà Hegel khẳng định: nghệ thuật đẹp hơn cuộc sống; Hoàng Đức Lương viết: Đến
như thơ văn thì là sắc đẹp ngoài cả sắc đẹp, vị ngon ngoài cả vị ngon, không thể dùn
mắt thường mà xem, vị giác thường mà nếm
– Cái đẹp trong nghệ thuật mang sắc thái biểu cảm. Một cảnh tượng đẹp trong thiên
nhiên không chứa đựng trong mình nó tính tình cảm, cảm xúc. Nó chỉ có những thuộc
tính vật lý, hoặc do liên tưởng chủ quan của con người gán cho nó. Còn vẻ đẹp trong
nghệ thuật, nó là sự kết tinh, chứa đựng tình cảm của người sáng tạo. Tình cảm là quy
luật của nghệ thuật. Bạch Cư Dị, nhà thơ và nhà lý luận về thơ Trung Quốc đời Đường
từng khẳng định gốc của thơ là tình cảm. Lê Quý Đôn, nhà bác học Việt Nam, thế kỉ
XVIII, xem tình là một trong 3 điều chính của thơ…
Cái đẹp trong nghệ thuật mang tính tư tưởng. Nghệ thuật phản ánh hiện thực, những
cái đẹp của hiện thực không chứa đựng khuynh hướng tư tưởng. Trong khi đó, cái đẹp
trong nghệ thuật luôn luôn có khuynh hướng tư tưởng. Cũng có thể nói, cái đẹp trong
nghệ thuật chính là cái đẹp của tư tưởng. Khi phản ánh cái đẹp của cuộc sống vào tác
phẩm thì không đơn giản là người nghệ sĩ sao chép lại, chụp ảnh lại. Mà trước hết,
nghệ sĩ xuất phát từ một lập trường tư tưởng nhất định để lựa chọn, miêu tả, đánh giá.
Thứ đến, người nghệ sĩ sáng tạo ra cái đẹp sao cho phù hợp với quan niệm thị hiếu, lí
tưởng thẩm mỹ của mình. Những tư tưởng lập trường là xuất phát điểm để phản ánh;
những thị hiếu, lí tưởng như là đích hướng tới để sáng tạo, nếu tiên tiến, thể hiện lợi
ích của nhân dân lao động sẽ làm cho tư tưởng của nghệ thuật đẹp.
Câu 8: Phân tích và dẫn chứng những biểu hiện của cái Đẹp trong tự nhiên,
trong xã hội và trong nghệ thuật.
Trong tự nhiên, tự nhiên chỉ đẹp khi và chỉ khi ở trong quan hệ thẩm mỹ và được sự
thừa nhận của con người vì liên quan đến nhu cầu khát vọng sống của con người.
Ví dụ: tự nhiên là nơi bắt đầu của mọi cái đẹp; vẻ đẹp của mây; gió; trăng; hoa;
núi sông là nguồn cảm hứng và đồng thời là đối tượng miêu tả của nghệ thuật; cũn
như nó thể hiện tính đa dạng; phong phú; sinh động trong quan hệ thẩm mỹ của c người.
Trong xã hội, đó là cái đẹp trong lao động. Khi lao động thoát khỏi sự áp bức bóc lộ
tự giác thực hiện với niềm vui sướng của sự sáng tạo. Còn là cái đẹp trong giao tiếp,
hành vi đẹp. Luôn tôn trọng một cách chân thành, thành thật với những phẩm chất hay
giá trị của đối tượng trong giao tiếp. Hành vi đẹp là nhìn thấy cái hay của người ta và cái dở của mình.
Ví dụ: chân thành và khiêm tốn nhìn thấy cái dở của mình để khắc phục, nghiêm
nhìn nhận bản thân mình và hướng bản thân tạo ra giá trị cho xã hội.
Trong nghệ thuật, đó là cái đẹp của sự sáng tạo. Cái xấu trở nên đẹp về mặt nghệ
thuật khi truyền tải một thông điệp (của kịch, văn, thơ…). Sáng tạo thể hiện ở dấu ấn
cá nhân khi người nghệ sĩ không cho phép lặp lại bản thân mình. Nghệ thuật đi ra từ
tưởng tượng và gợi mở sự tưởng tượng, đó là thăng hoa trong nghệ thuật. Nghệ thuật
phản ánh cái xấu để tô lên cái đẹp.
Ví dụ: Tác phẩm Tát nước đồng chiêm của Trần Văn Cẩn. Tác giả đã diễn tả m
cảnh sinh hoạt quen thuộc ở vùng nông thôn Việt Nam nhưng bằng cách thể hiện đ
đáo của mình ông đã cho thấy một vùng nông thôn mới và những người dân đượ
chủ ruộng đồng. Toàn bức tranh toát lên một không khí tươi vui rộn ràng, mạnh m
phơi phới trên từng khuôn mặt.
Câu 9: Trình bày và phân tích nguồn gốc, bản chất, hệ quả và các hình thức
hiện của cái Bi? Dẫn chứng một tình huống Bi trong đời sống hoặc trong nghệ thuật. (5đ)
Người đầu tiên trong lịch sử tư tưởng mỹ học của phương Tây đề cập đến cái bi là Aristote.
Cái bi là hiện tượng thẩm mỹ, diễn tả quy mô của một hành động hoàn chỉnh bao gồm
tình tiết như là linh hồn (tinh thần), cơ sở của bi kịch và tính cách đi theo sau (tình
tiết), thường kết thúc bằng một cái chết. Bi là buồn nhưng không phải cái buồn nào
cũng là bi. Bi kịch là cái bi trong nghệ thuật.
Cái bi là cái đẹp hay cái cao cả bị thất bại trong cuộc đấu tranh
với cái xấu để khẳng định giá trị
mình. Cái bi gây ra sự thương cảm, trong cộng đồng xã hội,
gợi lên niềm luyến tiếc, thôi
thúc cộng đồng tiếp bước cuộc đấu tranh để đi đế
n sự toàn thắng vì mục tiêu chung ca o cả. Bi kịch là cái đẹp bị hủy diệt bởi cái xấu Hệ quả của cái bi:
Bi kịch tẩy rửa những cảm xúc qua cách gợi lên sự thương xót nhằm thanh khiết hóa tình cảm con người. “ 1 giọt nước mắt nhỏ
xuống để xót thương cho 1 cái đẹp hủy diệt thì cũng có nghĩa là quay
lưng lại cái xấu thậm chí quyết tâm
hủy diệt cái xấu để phục sinh cái đẹp”
Nguyên nhân của cái bi: là sự xung đột giữa cái đẹp (hay cái thiện) với cái xấu (c ác), diễn ra:
Trong mỗi cá nhân, ý niệm thiện đấu tranh với ý niệm ác. Thiện và Ác trong mỗi
người đan xen với nhau, đấu tranh với nhau. Mỗi con người không thể hoàn toàn tốt
nên phải đấu tranh trong ý niệm để giữ tính người.
Giữa cá nhân với xã hội, đạo đức cá nhân đấu tranh với luân lý xã hội. Luân lý thì lại
có pháp luật - đạo đức công dân theo pháp luật nhà nước và đạo đức cộng đồng theo
pháp luật thần thánh. Tuy nhiên con người chỉ được lựa chọn một trong hai và bi kịch nảy sinh.
Trong xã hội, lực lượng tiến bộ đấu tranh với lực lượng lạc hậu. Đại diện cho xã hội là
cá nhân, đó là lực lượng xã hội đấu tranh vì chiều hướng xã hội, đấu tranh với lực
lượng phản động, kìm hãm sự phát triển xã hội.
Theo lý luận của Engels: “Xung đột bi kịch giữa yêu sách tất yếu về mặt lịch sử và
tình trạng không tài nào thực hiện được điều đó trong thực tiễn…” Bỏ qua yếu tố ấy
thì đã làm giảm sự bi kịch. Yêu sách tất yếu là nhu cầu cần thiết cần có, cần thực hiện
cần diễn ra trong lịch sử.
Ví dụ: Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, VN là nước thuộc địa nửa phong kiến, yêu sách
tất yếu của việt nam là độc lập dân tộc nhưng không đủ lực lượng và thời cơ, không có
đường lối đúng đắn từ đó dẫn đến sự thất bại của các phong trào khởi nghĩa. Đó chính
là bi kịch. Do đó, những nhà viết kịch muốn viết kịch lịch sử phải biết khai thác các
yếu tố này. C.Mác tóm tắt: chủ đề chân chính của bi kịch chính là cách mạng.
Một cuộc cách mạng khi phản ánh vào trong nghệ thuật vừa mang tính hiện thực vừa mang tính lãng mạn. Biểu hiện của cái bi:
Bi của cái cũ là lựa lượng xã hội xác định vị thế lịch sử, năng lực thúc đẩy xã hội phát triển nhưng vì lí do nào đó nó bị hủy diệt bởi cái bi
Bi của cái mới là những con người xã hội, cá nhân đại diện cho 1 trào lưu tiến bộ mở
đường cho sự phát triển, tuy nhiên trong quá trình phát triển lại bị cái xấu chống đối tiêu diệt
dẫn đến thất bại- “cái chết trước bình minh”.
Bi của sự lầm lạc là do sự hạn chế nhận thức của bản thân
Ví dụ: An Dương Vương là cái bi của sự lầm lạc.
Tóm lại, cái bi mang trong lòng nó sự xung đột xã hội giữa các lực lượng tiên tiến,
nhân văn của xã hội với các thế lực chuyên chế, phản động, cái bi mang một ý nghĩa
xã hội cao cả, cho nên những hành động cách mạng, sự thất bại của nó đã là sự biểu
hiện của cái bi. Cái bi trong cuộc sống chính là sự bất hạnh của cái đẹp, cái cao cả, cái
anh hùng. Cái bi hoàn toàn là một hiện tượng xã hội, gắn bó hữu cơ với cuộc sống của
con người, có ý nghĩa đối với sự phát triển của con người và xã hội. Cái bi là một
phạm trù mỹ học nói về sự thống khổ và cái chết trong sự đồng cảm của cộng đồng xã
hội. Cái bi trong nghệ thuật thường xây dựng từ số phận riêng tư của con người.
Câu 10: Trình bày và phân tích nguồn gốc, bản chất, hệ quả và các hình thứ
biểu hiện của cái Hài? Dẫn chứng một tình huống hài trong đời sống hoặc tr nghệ thuật.
Cái hài là hiện tượng thẩm mỹ trong đời sống xã hội để nói về nội dung xấu bị phát
hiện thông qua cái sự ngụy tạo bằng hình thức đẹp nhưng lại bị phát hiện, từ đó tạo ra tiếng cười phê phán.
Cái hài được hình thành từ sự khập khiễng, từ sự mâu thuẫn: Khập khiễng ở sự mất
cân xứng(so le) về hình thức và sự mâu thuẫn giữa (các mặt đối lập) hình thức và nội
dung (giữa đạo đức và phi đạo đức, giữa hèn kém và cao thượng, giữa dốt nát ngu đần
và trí tuệ hiền minh…).
Tiếng cười của cái hài là tiếng cười của trí tuệ. Vì không dễ dàng phát hiện ra cái xấu
được ngụy tạo trong hình thức đẹp. Khi con người phát hiện những hiện tượng chứa
đựng sự khác biệt đã tạo ra vô số những nghịch lý, những mâu thuẫn của hiện tượng
được coi là thống nhất và thuần nhất theo thước đo mà con người được giáo dục, được
nhận biết (dựa vào kinh nghiệm sống, kiến thức).
Tiếng cười của cái hài là tiếng cười của người chiến thắng. Chiến thắng là không phải
giành giật mà là khi phát hiện ra sự ngụy tạo này. Vì khi phát hiện ra cái xấu bộc lộ,
người ta có thái độ khinh bỉ. Khi phát hiện, bằng tiếng cười, chủ thể thẩm mỹ đã đẩy
đối tượng (cái xấu) vào thế bị động và khó lòng chống trả vì vũ khí phê phán ở đây chỉ là tiếng cười.
Tiếng cười của cái hài còn là tiếng cười của sự khoan dung. Khi phát hiện cái xấu,
bằng tiếng cười, chủ thể đã thể hiện sự bỏ qua, không quan tâm đến (sự không quan
tâm cũng là hình phạt nặng nề chứ không đơn giản như chúng ta nghĩ). Đồng thời
cũng thể hiện thái độ sẵn sàng tiễn biệt cái xấu (có thể không hẳn là xấu nhưng không
còn phù hợp) một cách vui vẻ.
Tiếng cười của cái hài là tiếng cười mang tính nhân văn. Không đến từ những khiếm
khuyết trên cơ thể, từ sự bất bình thường như là nỗi bất hạnh của người khác. Nếu cố
tạo nên tiếng cười từ sự khuyết tật bẩm sinh thì là biểu hiện của sự kém hiểu biết về
mỹ học, không có sự đồng cảm, là sự nhạo báng vô đạo đức vì là cười trên sự đau khổ của người khác.
Cái hài được tiếp nhận bằng nhiều hình thức biểu hiện khác nhau:
- Sự khôi hài dành cho bản thân - để nhìn nhận bản thân
- Sự mỉa mai, châm biếm - nghiêm khắc yêu cầu sửa chữa
- Sự đả kích - nhẹ nhàng nhưng sâu cay
- Cái cao cả - sự thống nhất đỉnh cao của cái đẹp và nỗi đau tận cùng của cái bi
Dẫn chứng: Các bà mẹ Việt Nam anh hùng.
Câu 11: Trình bày cấu trúc của ý thức thẩm mỹ. Vai trò của tình cảm, thế
quan và hệ tư tưởng trong đời sống thẩm mỹ?
Cấu trúc ý thức thẩm mỹ gồm: cảm xúc thẩm mỹ, thế giới quan và hệ tư tưởng.
- Cảm xúc thẩm mỹ là những ý niệm của trạng thái tâm lý thẩm mỹ. Con người đằng
sau kích thích của cảm xúc thẩm mỹ; không chỉ có yếu tố sinh lý mà có cả kinh
nghiệm của lịch sử loài người; là tất cả những kinh nghiệm của những quan hệ xã hội;
bao gồm cả sự tự nhận thức cá nhân. Cảm xúc thẩm mỹ có tính liên tưởng: ở trong cái
suy tưởng của mình, liên tưởng cái đã qua, đang có và phóng chiếu đến tương lai.
Cảm xúc song hành với đối tượng, thậm chí bị đối tượng chi phối, đẩy tình cảm của
mình vào sự vận động của đối tượng thẩm mỹ, đây là tính nhập cảm.
Ví dụ:Xem một bộ phim buồn, chúng ta khóc, đó là nhập cảm.
- Cảm xúc là biểu hiện của tâm lý, từ đó quy định nên thế giới quan: quan niệm đẹp
hay xấu (thế nào là xấu thế nào là đẹp). Sau đó, kết hợp với ngữ cảnh tâm lý hình
thành thị hiếu (yếu tố xã hội) tạo nên thế giới quan đẹp, quan niệm khác nhau thì thế
giới quan khác nhau. Thế giới quan có vai trò là kim chỉ nam định hướng cho cuộc
sống của con người, từ nhận thức đến hành động thực tiễn, giúp xác định hệ tư tưởng,
lý tưởng, lối sống của bản thân, hướng đến các giá trị chân thiện mỹ.
=> Từ đó hình thành hệ tư tưởng: quan niệm, tư tưởng về lợi ích của một giai cấp
được hệ thống hóa thành học thuyết: chi phối các hoạt động chính trị. Trong nghệ
thuật, hệ tư tưởng là quan niệm riêng của người nghệ sĩ trước đời sống, mà thiếu nó
thì tác phẩm sẽ nhạt nhẽo vì không có cái riêng, không có bản sắc. Đó là điểm nhìn
nghệ thuật, là điểm tựa hình tượng, là nguyên tắc cắt nghĩa về thế giới nội dung cũng
như hình thức. Vì thế văn học và nghệ thuật luôn gắn liền đến các hoạt động chính trị.
Ví dụ:Văn học ở giai đoạn 1930 – 1945, các tác giả dùng ngòi bút thay cho lời
gọi nhân dân cùng hướng về non sông đất nướ
c như: Việt Bắc, Đất nước.
Câu 12: Trình bày khái niệm, tính chất, vai trò của thị hiếu thẩm mỹ. Đặc tr
của giáo dục thị hiếu thẩm mỹ? KHÁI NIỆM:
Thị hiếu là những niềm yêu thích ta thấy được, cảm nhận được qua thực tiễn, bộc lộ
được ra ngoài. Thị hiếu thẩm mỹ là sự biểu hiện của một sở thích thẩm mỹ, thể hiện
sự yêu thích bộc lộ ra ngoài.
Thị hiếu thẩm mỹ là sự thể hiện một năng lực cảm nhận, đánh giá, tiếp nhận thẩm mĩ
vào trong chính bản thân đời sống của thẩm mĩ, là “sở thích tương đối ổn định của cá
nhân hay cộng đồng về phương diện thẩm mỹ”. TÍNH CHẤT:
Thị hiếu thẩm mỹ thuần túy có sự cảm tính. Rộng nhất là thị hiếu thẩm mỹ sáng tác.
Thị hiếu đời thường đã mang tính độc đáo, cá tính vậy nên thị hiếu nghệ thuật bắt
buộc không có sự lặp lại, ngay cả lặp lại bản thân tác giả.
Sở thích mang tính cá nhân (cá tính), không ai áp đặt sở thích lên ai, các cá nhân tự do
trên phương diện thẩm mỹ. Cá tính không mang tính bẩm sinh, nghĩa là không đơn
nhất, không tách biệt hoàn toàn khỏi xã hội.
Thị hiếu thẩm mỹ liên quan đến tri thức, và quan niệm của cộng đồng, không thoát ly
khỏi tính cộng đồng, tính dân tộc và tính thời đại của mà làm đa dạng phong phú thị hiếu của cộng đồng.
Thị hiếu thẩm mỹ mang tính cá nhân sâu sắc, nhưng cá nhân là phần tử của xã hội, cá
nhân là sự phóng chiếu của xã hội. Sở thích riêng của mỗi người liên hệ sâu sắc với
cái chung của đời sống xã hội. Công cuộc đấu tranh cải tạo tự nhiên, xây dựng xã hội
là điều kiện chung quy định tính chất chung, tính chất xã hội của thị hiếu thẩm mỹ.
Thị hiếu thẩm mỹ ra đời trong từng thời đại nhất định và biến đổi theo từng thời đại.
Những sở thích thẩm mỹ của thời đại trước sẽ không hợp khẩu vị của thời đại sau.
Ví dụ: Cái răng, cái tóc là góc con người. Chỉ khoảng nửa thế kỉ trước đây tóc
dài, răng đen (tóc dài, người đẹp, Răng răng đều như hạt na) là đẹp, nhưng ngày
tóc dài, răng đen đã không hợp thời nữa.
Chính tính cộng đồng này đã làm cho thị hiếu thẩm mỹ mang tính dân tộc. Thị hiếu
thẩm mỹ của từng cá nhân bị chế ước bởi tính cộng đồng dân tộc, nên bên cạnh tính
riêng thị hiếu thẩm mỹ có tính chung. Nói cách khác, trên cơ sở cộng đồng dân tộc thị
hiếu thẩm mỹ muôn màu muôn sắc cá nhân nảy nở. VAI TRÒ:
Thị hiếu thẩm mỹ đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá, định hình vẻ đẹp và giá
trị nghệ thuật của một cá thể hoặc một tác phẩm. Đây là khả năng phân biệt giữa cái
đẹp và xấu, tạ o ra sự đánh giá và lựa chọn cá nhân dựa trên sở thích và tiêu chuẩn cá
nhân. Thị hiếu thẩm mỹ thể hiện sự sáng tạo và cái nhìn độc đáo của mỗi cá nhân đối
với nghệ thuật. Đồng thời phát triển khả năng đánh giá và sáng tạo của con người.
ĐẶC TRƯNG CỦA GIÁO DỤC THỊ HIẾU THẨM MỸ :
Giáo dục thị hiếu thẩm mỹ là tạo ra một cái khuôn chung của xã hội và không đối
lập với xã hội, làm sao vừa có cái riêng của cá nhân, vừa có cái chung của xã hội. Cái
riêng đó sẽ hòa hợp với cái chung, không bị hòa tan hay đồng nhất. Giáo dục thẩm mỹ
không hề mang tính áp đặt, biểu diễn thời trang cũng là một dạng giáo dục thẩm mỹ
khi giáo dục cá nhân phát triển sở thích thẩm mỹ của riêng mình mà vẫn hòa hợp với xã hội.
Câu 13. Phân tích, nhận định và dẫn chứng từ luận đề: Nghệ thuật là sự ph
ánh hiện thực cuộc sống con Người bằng tình yêu rộng lớn – tình yêu đối vớ Đẹp (5đ)
Nghệ thuật bắt nguồn từ lao động. Lao động tạo ra sản phẩm thuần túy đáp ứng cho
nhu cầu thầm mỹ thì lao động đó mới là lao động nghệ thuật. Thẩm mỹ ban đầu được
cảm nhận trực quan khi nhìn thấy trong quá trình lao động, nổi bật là sự khéo léo - tinh tế.
Khi giá trị nghệ thuật thoát ra khỏi giá trị sử dụng, sản phẩm được tri nhận như một
tác phẩm nghệ thuật. Tác phẩm nghệ thuật được tạo thành, được đón nhận từ 2 chiều -
từ chủ thể sáng tạo và từ chủ thể tiếp nhận (công chúng nghệ thuật). Nếu sản phẩm
không có người đón nhận thì đó không phải là sản phẩm nghệ thuật. Tính chất của lao
động và tính chất của sản phẩm đem đến sự hân hoan vui sướng và sáng tạo.
Nghệ thuật trước hết là lĩnh vực phản ánh hiện thực cuộc sống con người, là cuộc
sống con người được hiểu biết như nó đang tồn tại, hướng về hiện thực cuộc sống.
Hiện thực cuộc sống con người diễn ba mối quan hệ: con người với tự nhiên, con
người với con người, con người với chính bản thân mình. Nghệ thuật là hiểu chứ
không mô tả, phải hiểu nội tâm con người, vậy nên đối tượng của nghệ thuật là thế
giới nội tâm của con người. Nội dung của nghệ thuật rộng vì phản ánh hiện thực.
Nghệ thuật không quay lưng lại với cuộc sống con người nhưng phải nói sao cho có
nghệ thuật (nói sao cho lay động lòng người).
Nghệ thuật là lĩnh vực của tình yêu, yêu phải hiểu, phải đồng cảm, chia sẻ, phải hiểu
rồi mới kể. Không yêu cuộc sống thì không tiếp cận được cuộc sống. Phải luôn hỏi
cuộc sống đặt ra vấn đề gì và cần được phát triển như thế nào.
Nghệ thuật là lĩnh vực của sự tưởng tượng và sáng tạo. Nghệ thuật tái tạo cuộc sống
trong sự tưởng tượng và thăng hoa. Vì cuộc sống luôn có trăn trở, có băn khoăn, tái
tạo nó để làm cho cuộc sống tốt hơn. Nghệ thuật mang tính lý tưởng, ước mơ và khát
vọng. Nghệ thuật là hành động bổ túc những khiếm khuyết trong cuộc sống con người.
Nghệ thuật không phải là mảng tối mà mà mô tả mảng tối làm bật lên mảng sáng cần có.
Nghệ thuật là lĩnh vực của cái Đẹp. Đẹp là những biểu trưng của giá trị đáp ứng các
nhu cầu của con người, cái Đẹp của chiều sâu cảm xúc tích cực lan tỏa. Nghệ thuật thì
phải đẹp, không đẹp không là nghệ thuật.
Vì thế, nghệ thuật là sự phản ánh hiện thực cuộc sống con người bằng một tình yêu
rộng lớn - tình yêu đối với cái đẹp.
Câu 14: Phân tích và dẫn chứng từ nhận định: bản chất của nghệ thuật là nhữ
giá trị của xã hội được đánh giá theo quy định của cái Đẹp.
Bản chất là những thuộc tính quy định cho sự ra đời, sự tồn tại và phát triển. Nghệ
thuật là lĩnh vực tập trung cái đẹp đem lại cảm xúc cho con người. Bản chất của nghệ
thuật là những yếu tố quy định sự ra đời tồn tại và phát triển của nghệ thuật.
Mỹ học bổ sung cho Nhận thức luận, sau này phát hiện chỉ số EQ (chỉ số cảm xúc).
Mỹ học không chỉ học về cái Đẹp mà đằng sau nó là Cảm năng học, là cái Mỹ trong
Chân (triết học) - Thiện (đạo đức học) - Mỹ.
Bản chất nghệ thuật trước hết phải có giá trị xã hội - những gì đáp ứng cho nhu cầu
sống của con người thì cái đó có giá trị xã hội. Đây chưa phải là cái đẹp nếu chưa
được quy định theo cái Đẹp. Nó phải tái tạo nên hình tượng và truyền tải cảm xúc tới
con người, phải trở thành biểu trưng phản ánh nhu cầu khát vọng sống của con người.
Phải có giá trị thẩm mỹ tác động đem lại cảm xúc tích cực cho con người như cái bi,
cái hài, cái cao cả. Vì thế, bản chất của nghệ thuật thể hiện trong hình tượng nghệ
thuật (cái bi, cái hài,..) được đánh giá theo quy định cái đẹp.
Cái Đẹp là sự thống nhất giữa cái chủ quan và cái khách quan. Khi người ta yêu nhau
đó là giá trị tình yêu, nghệ thuật làm nó thăng hoa thì tạo nên giá trị thẩm mỹ.
Nghệ thuật là giá trị thẩm mỹ trên cơ sở của giá trị xã hội (là những gì đáp ứng cho
nhu cầu của xã hội: đạo đức, chân lý, cái đẹp…) được thiết lập nói về đạo đức, chân lý,
khoa học, chính trị,.. theo góc nhìn của cái Đẹp. Giá trị thẩm mỹ có sự thăng hoa.
Cũng như vậy, bản chất của trường học đó là sự trao quyền tiếp nhận kiến thức, kỹ năng sống.
Câu 15: Phân tích và dẫn chứng từ luận điểm: Bản chất của nghệ thuật là nh
giá trị của xã hội được đánh giá theo quy luật riêng của tình cảm.
Giá trị xã hội là những cái đáp ứng cho nhu cầu sống của xã hội, tái tạo nên hình
tượng và truyền tải cảm xúc tới con người. Giá trị thẩm mỹ tác động đem lại cảm xúc
tích cực cho con người trong cái Bi, cái Hài, cái Cao Cả.
Thẩm mỹ khác với lý tính, phân biệt qua ý thức thẩm mỹ và ý thức khoa học. Đến với
nghệ thuật là đến với sự cảm thông, sự chia sẻ, thấy được mình. Không được đánh giá
bằng lí trí. Còn ở góc độ nghệ thuật là thích hay không thích, hướng đến công chúng
nghệ thuật với nhiều độ tuổi khác nhau. Do đó, các tác phẩm lại được cảm nhận ở
từng độ tuổi khác nhau.
Nhận thức thẩm mỹ khác với nhận thức khoa học vì vậy nghệ thuật không được đánh
giá theo chuẩn mực của khoa học mà đánh giá trên góc độ cảm xúc và giá trị thẩm mỹ
được tạo ra trên cơ sở của giá trị xã hội. Vì vậy, nghệ thuật là những giá trị xã hội
được đánh giá theo quy luật riêng của tình cảm.
Quy luật riêng của tình cảm vì mỗi đối tượng ở độ tuổi khác nhau sẽ có những tính
chất, tình cảm khác nhác nhau.
Một đối tượng cùng một độ tuổi nhưng hoàn cảnh sống khác nhau thì tình cảm khác
nhau. Tính chất riêng của tình cảm rất đa dạng.