Câu hỏi mĩ học
Câu 1: Tại sao mĩ học là khoa học nhân văn ? Tại sao mĩ học nghiên cứu cái đẹp và nghệ
thuật ? Tính ứng dụng của mĩ học ?
Câu 2: Phân tích và chứng minh lao động là nguồn gốc hình thành quan hệ thẩm mĩ. Tính
thẩm mĩ của sản phẩm lao động hình thành như thế nào ?
Câu 3: Phân tích và chứng minh sự đồng hóa trên lĩnh vực tinh thần là nội dung của
quan hệ thẩm mĩ. Ý nghĩa của vấn đề này trong đời sống thẩm mĩ ?
Câu 4: Phân tích và chứng minh giá trị thẩm mĩ là hệ quả của quan hệ thẩm mĩ. Ý nghĩa
của giá trị thẩm mĩ trong cuộc sống ?
Câu 5: Trình bày quan niệm về cái đẹp trong lịch sử phương Tây. Ý nghĩa của quan niệm
này trong mĩ học hiện nay ?
Câu 6: Trình bày quan niệm về cái đẹp trong lịch sử phương Đông. Ý nghĩa của quan
niệm này trong mĩ học hiện nay ?
Câu 7: Phân tích cái đẹp là biểu trưng của những giá trị, đáp ứng những nhu cầu và khát
vọng sống của con người, đem lại cho con người những cảm xúc tích cực, thôi thúc con
người sáng tạo. Thế nào là sống đẹp ?
Câu 8: Phân tích và dẫn chứng những biểu hiện của cái đẹp trong tự nhiên, trong xã hội
và trong nghệ thuật.
Câu 9: Trình bày và phân tích nguồn gốc, bản chất, hệ quả và các hình thức biểu hiện của
cái bi ? Dẫn chứng một tình huống bi trong đời sống hoặc trong nghệ thuật ?
Câu 10: Trình bày và phân tích nguồn gốc, bản chất, hệ quả và các hình thức biểu hiện
của cái hài ? Dẫn chứng một tình huống hài trong đời sống hoặc trong nghệ thuật ?
Câu 11: Trình bày cấu trúc của ý thức thẩm mĩ. Vai trò của tình cảm, thế giới quan và hệ
tư tưởng trong đời sống thẩm mĩ ?
Câu 12: Trình bày khái niệm, tính chất, vai trò của thị hiếu thẩm mĩ. Đặc trưng của giáo
dục thị hiếu thẩm mĩ ?
Câu 13: Phân tích, nhận định và dẫn chứng từ luận đề: nghệ thuật là sự phản ánh hiện
thực cuộc sống con người bằng tình yêu rộng lớn - tình yêu đối với cái đẹp.
Câu 14: Phân tích và dẫn chứng từ nhận định: bản chất của nghệ thuật là những giá trị
của xã hội được đánh giá theo qui định của cái đẹp.
Câu 15: Phân tích và dẫn chứng từ luận điểm: bản chất của nghệ thuật là những giá trị
của xã hội được đánh giá theo qui luật riêng của tình cảm.
Câu 16: Trình bày định nghĩa, đặc trưng và vai trò của hình tượng nghệ thuật.
N.Đ.H VH K49 1
Câu 1: Tại sao mĩ học là khoa học nhân văn ? Tại sao mĩ học nghiên cứu cái đẹp và
nghệ thuật ? Tính ứng dụng của mĩ học ?
*Mĩ học là khoa học nhân văn
Mĩ học, tên gọi đầy đủ là thẩm mĩ học (aesthetics), do Alexander Baumgarten đặt
ra năm 1735. Ông đã phát triển ý nghĩa của từ “aithesiss” (cảm giác) thành “aesthetics”
(cảm thụ cái đẹp - thẩm mĩ). Khoa học nhân văn là khối ngành khoa học xuất hiện gần
đây, là khoa học nghiên cứu về những giá trị làm nên Con Người (con người xã hội),
những năng lực phẩm chất Người hay nghiên cứu con người ở phương diện văn hóa-xã
hội nơi yếu tố tự nhiên và sinh lí ít tác động tới. Nó có sự khác biệt cơ bản với khoa học
tự nhiên và khoa học xã hội về đối tượng và phương pháp nghiên cứu. Ý nghĩa của khoa
học nhân văn là đáp ứng nhu cầu đa dạng của con người về vật chất và tinh thần, đặc
biệt là tinh thần - đem đến sự hài hòa về chân - thiện - mĩ cho đời sống tinh thần con
người.
Mĩ học là khoa học nhân văn vì nó nghiên cứu giá trị làm nên Con Người là cái
đẹp, nghiên cứu người ở phương diện xã hội là phương diện thẩm mĩ. Mĩ học nghiên
cứu quan hệ thẩm mĩ của con người với hiện thực, các giá trị thẩm mĩ được con người
tiếp nhận, thưởng thức và sáng tạo. Hai vấn đề trung tâm và quan trọng nhất của mĩ học
là cái đẹp và nghệ thuật. Mĩ học còn là cảm năng học, là khoa học nghiên cứu cảm xúc
người mà trước tiên là tri giác. Chúng đều là những phương diện quan trọng của cuộc
sống con người. Ý nghĩa của mĩ học - cảm năng học là giúp con người tạo ra cảm xúc tích
cực và hạnh phúc, nâng cao năng lực thẩm mĩ của con người, giúp con người sống đẹp
hơn, và đem cái đẹp đến cho đời sống. Đó là ý nghĩa quan trọng góp phần tạo ra sự hài
hòa về chân - thiện - mĩ cho con người. Như vậy, từ đối tượng nghiên cứu và ý nghĩa, ta
xác định mĩ học là khoa học nhân văn.
*Mĩ học nghiên cứu cái đẹp và nghệ thuật
Cái đẹp và nghệ thuật là hai vấn đề bất hủ luôn được đặt ra của mĩ học. Cái đẹp là
phạm trù khách thể thẩm mĩ quan trọng nhất của đời sống thẩm mĩ và là vấn đề trung
tâm của mĩ học. Nhưng những nhận định về nó gần như hoàn toàn mang tính chủ quan,
trái chiều và khó phủ định. Như Plato và sau này là phái duy tâm khách quan quan niệm
cái đẹp bắt nguồn từ thế giới ý niệm huyền bí và mọi thứ đẹp trong cuộc sống là sự sao
phỏng của nó. Còn Aristole và sau này là phái duy vật sơ khai cho rằng cái đẹp được khái
quát từ các sự vật hiện tượng trong thực tế. Vì thế, vấn đề được đặt ra là tính khách
quan của cái đẹp.
Nghệ thuật là hình thái biểu hiện cao nhất, tập trung nhất quan hệ thẩm mĩ của
con người với hiện thực và tạo ra nhiều giá trị thẩm mĩ nhất cho đời sống. Nhưng cảm
hứng sáng tạo nghệ thuật của nghệ sĩ rất khó nắm bắt (chợt có chợt mất) và mỗi nghệ sĩ
lại có trạng thái cảm hứng sáng tạo riêng. Như trong cùng một thời kì, Huy Cận thường
tìm cảm hứng ở không gian vũ trụ mênh mông, đượm buồn, Xuân Diệu thường tìm cảm
N.Đ.H VH K49 2
hứng ở không gian rạo rực xuân sắc, xuân tình còn Nguyễn Bính thường có cảm hứng ở
cảnh làng quê bình dị. Vì thế, cảm hứng sáng tạo gần như không có qui luật và vấn đề
được đặt ra là tính qui luật của nghệ thuật.
Như vậy, cái đẹp và nghệ thuật là hai phương diện quan trọng của đời sống tinh
thần - thẩm mĩ con người nhưng chúng lại phải đối diện với hai vấn đề lớn về tính khách
quan và tính qui luật. Vì thế mĩ học với tư cách là khoa học nhân văn nghiên cứu phương
diện thẩm mĩ của đời sống sẽ tập trung nghiên cứu cái đẹp và nghệ thuật. Nó sẽ giải
quyết những vấn đề bất hủ này và đem đến những lợi ích cho đời sống con người.
*Tính ứng dụng của mĩ học
Ý nghĩa quan trọng nhất của mĩ học là đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ - cái đẹp, đem
cái đẹp đến cho đời sống và giúp con người sống đẹp hơn. Để thực hiện vai trò này, mĩ
học có ứng dụng ở nhiều lĩnh vực.
Mĩ học là khoa học cơ bản, tạo ra cơ sở lí thuyết chung cho mọi khoa học nghiên
cứu về nghệ thuật như nghệ thuật học, điện ảnh học, âm nhạc học, lí luận văn học,... Lí
thuyết mĩ học còn được ứng dụng rộng rãi vào cuộc sống thực tế. Như mĩ học hoa viên
nghiên cứu cái đẹp của những khu vườn, cây hoa, mảng xanh, được ứng dụng trong xây
dựng và chỉnh trang đô thị. Mĩ dung học nghiên cứu cái đẹp của khuôn mặt con người
như tỉ lệ vàng, được ứng dụng phổ biến trong ngành giải trí và phẫu thuật thẩm mĩ. Mĩ
học trang trí nghiên cứu cái đẹp trong thiết kế và trang trí sản phẩm, giúp hỗ trợ sản
xuất công nghiệp và kinh doanh sản phẩm. Mĩ học còn có ứng dụng trong thể thao, ẩm
thực,... Dù có ứng dụng gì, ý nghĩa lớn nhất của mĩ học là giúp con người sống đẹp hơn.
N.Đ.H VH K49 3
Câu 2: Phân tích và chứng minh lao động là nguồn gốc hình thành quan hệ thẩm mĩ.
Tính thẩm mĩ của sản phẩm lao động hình thành như thế nào ?
*Lao động là nguồn gốc hình thành quan hệ thẩm mĩ
Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra sản
phẩm phục vụ cho nhu cầu đời sống. Quan hệ thẩm mĩ là quan hệ giữa chủ thể thẩm mĩ
- con người xã hội có nhu cầu và khả năng đánh giá, thưởng thức, sáng tạo giá trị thẩm
mĩ với khách thể thẩm mĩ - những phương diện, thuộc tính thẩm mĩ của các sự vật hiện
tượng trong thiên nhiên, xã hội và con người. Lao động là nguồn gốc hình thành quan hệ
thẩm mĩ vì lao động khiến con người trở thành chủ thể thẩm mĩ và hình thành khách thể
thẩm mĩ.
Lao động trước hết đáp ứng nhu cầu vật chất bản năng của con người như ăn,
mặc, ở, đi lại,... bởi con người là sản phẩm của giới tự nhiên. Nhưng không dừng lại ở
đó, lao động và quá trình tiến hóa đã khiến con người có những nhu cầu tinh thần, là
nhu cầu thoát khỏi ham muốn bản năng để phát huy năng lực - phẩm chất Người (con
người xã hội).
Trước hết, đó là nhu cầu hiểu biết thế giới xung quanh và tác động, biến đổi nó
để phục vụ cho cuộc sống. Chính quá trình lao động đồng thời đáp ứng nhu cầu này, mở
ra hiểu biết về thế giới bằng việc tác động vào tự nhiên, khiến nó bộc lộ ra những thuộc
tính để rồi con người nhận thức chúng. Như người nguyên thủy tác động vào cây, đá từ
đó biết cách chế tác và sử dụng công cụ đá. Lao động còn đem đến khả năng biến đổi,
cải tạo thế giới, khiến con người tồn tại và đối diện một cách độc lập, không phụ thuộc
thụ động vào tự nhiên. Như người nguyên thủy với công cụ đá biết mở rộng hang động,
chiến đấu với thú dữ và khắc tranh lên vách hang.
Nhờ vậy, con người thoát ra khỏi tình trạng sống hoàn toàn bằng nhu cầu bản
năng - trạng thái con người tự nhiên mà trở thành con người xã hội. Con người sống chủ
động và hành động lí tính, có ý thức, nhận thức được các nhu cầu, mục đích của mình và
cách thức thực hiện chúng. Khi đó, con người trở thành chủ thể. Chủ thể quan tâm thế
giới tự nhiên, muốn hiểu biết và chiếm lĩnh, cải tạo nó để phục vụ cho đời sống. Khi đó,
phạm vi/vùng quan tâm của chủ thể chính là khách thể.
Lao động còn khiến con người chiếm lĩnh thế giới theo nhiều cách khác nhau
trong đó có đồng hóa tinh thần. Nó là sự phóng chiếu thể hiện cảm xúc con người ở sự
vật, hiện tượng trong tự nhiên, khiến tự nhiên mang những đặc điểm như tính chất của
con người. Con người khi tiến hành đồng hóa tinh thần bằng cảm xúc thẩm mĩ thì trở
thành chủ thể thẩm mĩ, khách thể được đồng hóa tinh thần trở thành khách thể (đối
tượng) thẩm mĩ. Chính sự đồng hóa tinh thần lại được thực hiện bởi những giác quan đã
được hoàn thiện, “thẩm mĩ hóa” từ trong quá trình lao động sản xuất.
N.Đ.H VH K49 4
Như vậy lao động khiến con người có nhu cầu tinh thần và thoát khỏi tình trạng
sống bản năng, khiến con người sống ý thức, trở thành chủ thể và có vùng quan tâm là
khách thể. Tiếp đó, lao động khiến con người có khả năng đồng hóa tinh thần, trở thành
chủ thể thẩm mĩ và có khách thể thẩm mĩ. Vì thế, lao động chính là nguồn gốc hình
thành quan hệ thẩm mĩ của con người với hiện thực cuộc sống.
*Tính thẩm mĩ của sản phẩm lao động
Tính thẩm mĩ là cảm xúc thẩm mĩ vốn không có sẵn nhưng được chủ thể thẩm mĩ
truyền vào sản phẩm thông qua sự đồng hóa tinh thần và cảm xúc này có thể được tiếp
nhận bởi người khác.
Tính thẩm mĩ của sản phẩm lao động hình thành từ trong quá trình lao động. Quá
trình lao động hoàn thiện, thẩm mĩ hóa các giác quan của con người. Trước hết lao động
hoàn thiện mắt và tai, là cơ quan tiếp nhận và truyền dẫn cảm giác đến cảm xúc con
người, đem đến năng lực cảm thụ và thẩm định thẩm mĩ. Đặc biệt nhất, lao động hoàn
thiện đôi bàn tay với kĩ thuật, kĩ xảo, sự điêu luyện trong chế tác công cụ và sản phẩm,
khiến con người có thể truyền cảm xúc vào sản phẩm và qua nó cảm xúc có thể được
tiếp nhận, tức đem đến năng lực sáng tạo thẩm mĩ.
Từ đôi bàn tay được hoàn thiện, con người có thể tạo ra sản phẩm vừa có công
năng sử dụng (tính có ích) vừa có công năng thẩm mĩ (tính thẩm mĩ). Khi tính thẩm mĩ
lấn át tính có ích của sản phẩm thì sản phẩm ấy trở thành tác phẩm nghệ thuật giàu cảm
xúc. Như trống đồng Đông Sơn là thành tựu nghệ thuật tiêu biểu thể hiện cả trình độ
chế tác kim khí cao và trình độ nghệ thuật điêu khắc điêu luyện của cư dân Âu Lạc cổ
đại. Hay các tác phẩm âm nhạc của Mozart, Beethoven, Bach,..., tác phẩm hội họa của
Da Vinci, Picasso, Van Gogh,... đều thể hiện trình độ kĩ thuật điêu luyện của đôi bàn tay.
Như vậy, tính thẩm mĩ của sản phẩm lao động đến từ đôi bàn tay điêu luyện mà
sự điêu luyện ấy lại được phát triển và hoàn thiện trong quá trình lao động sản xuất của
con người. Đây chính là quá trình hình thành tính thẩm mĩ trong sản phẩm lao động.
N.Đ.H VH K49 5
Câu 3: Phân tích và chứng minh sự đồng hóa trên lĩnh vực tinh thần là nội dung của
quan hệ thẩm mĩ. Ý nghĩa của vấn đề này trong đời sống thẩm mĩ ?
*Sự đồng hóa trên lĩnh vực tinh thần là nội dung của quan hệ thẩm mĩ
Quan hệ thẩm mĩ là quan hệ giữa chủ thể thẩm mĩ - con người xã hội có nhu cầu
và khả năng thưởng thức, đánh giá, sáng tạo giá trị thẩm mĩ với khách thể thẩm mĩ -
những phương diện thẩm mĩ của các sự vật hiện tượng trong đời sống. Quan hệ thẩm
mĩ là một trong nhiều mối quan hệ đa dạng của con người với hiện thực, chúng hình
thành dựa trên những nhu cầu và khả năng chiếm lĩnh hiện thực bằng nhiều cách thức
khác nhau được nảy sinh từ lao động sản xuất. Quan hệ thẩm mĩ hình thành dựa trên
nhu cầu và khả năng chiếm lĩnh hiện thực bằng cảm xúc thẩm mĩ. Đồng hóa tinh thần là
nội dung của quan hệ thẩm mĩ vì nó thực hiện khả năng, nhu cầu này; đồng thời chỉ khi
đồng hóa tinh thần, chủ thể mới trở thành chủ thể thẩm mĩ và có khách thể thẩm mĩ.
Đồng hóa nghĩa là làm cho giống, đồng hóa tinh thần là chiếm lĩnh và truyền vào
đối tượng những cảm xúc, suy nghĩ, là sự cụ thể hóa tình cảm đối với các sự vật hiện
tượng trong tự nhiên, giúp con người có thể biểu đạt rõ ràng tình cảm và người khác có
thể tiếp nhận chúng. Nói cách khác, nó là sự phóng chiếu thể hiện cảm xúc vào đối
tượng, khiến đối tượng mang những đặc điểm tương tự như tính chất của con người.
Quá trình đồng hóa tinh thần bắt đầu khi giới tự nhiên được phản ánh vào não
người, được tiếp nhận, lưu giữ và tái tạo thông tin gắn với cảm xúc. Sự tái tạo này gắn
liền với sự liên tưởng và tưởng tượng, là sự kết nối giữa cái có thực với cái không có
thực, với cái chưa có và cần có trong đời sống. Mà cụ thể, đó là sự liên tưởng giữa sự
vật hiện tượng thực tế với tính chất của con người. Tưởng tượng khiến hình ảnh trong
hiện thực được thăng hoa trong ý thức, là sự biến đổi nâng lên toát ra ý nghĩa nào đó
gắn với các tính chất con người. Ý thức thực thể hóa sự thăng hoa này thành biểu trưng;
biểu trưng là ý nghĩa toát ra từ đối tượng, có thể là ý nghĩa toát ra từ ngôn ngữ, màu
sắc, tác phẩm nghệ thuật. Như những dòng thơ trong “Tràng giang” của Huy Cận:
“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng”
Con sông dài với sóng gợn, chiếc thuyền xuôi mái và một cành củi khô trôi đều là những
sự vật hiện tượng khách quan nhưng nhà thơ đã cảm nhận, tưởng tượng và phóng
chiếu vào chúng một nỗi buồn sầu cô độc xót xa - một trạng thái, tính chất của con
người. Và Huy Cận đã thực thể hóa cảm xúc của mình thành những biểu trưng ngôn từ
trong câu thơ để qua nó độc giả có thể thấu hiểu. Trong đời thường, ta vui sướng say
mê trước vườn hoa rực rỡ, xem nó như biểu trưng của sự sinh sôi phát triển mạnh mẽ
phong phú - tính chất của cả tự nhiên và con người. Đó chính là đồng hóa tinh thần.
N.Đ.H VH K49 6
Như vậy, đồng hóa tinh thần giúp con người chiếm lĩnh hiện thực bằng cảm xúc,
khiến đối tượng có ý nghĩa mới gắn với tính chất của con người và thực thể hóa ý nghĩa
đó thành biểu trưng. Khi cảm xúc ấy là cảm xúc thẩm mĩ thì đối tượng và biểu trưng có ý
nghĩa thẩm mĩ. Chỉ khi đồng hóa tinh thần bằng cảm xúc thẩm mĩ, chủ thể mới trở thành
chủ thể thẩm mĩ và có khách thể (đối tượng) thẩm mĩ. Từ đó mà quan hệ thẩm mĩ hình
thành. Như vậy, đồng hóa tinh thần (bằng cảm xúc thẩm mĩ) là nội dung của quan hệ
thẩm mĩ.
*Ý nghĩa của vấn đề này trong đời sống thẩm mĩ
Đồng hóa tinh thần (bằng cảm xúc thẩm mĩ) là nội dung của quan hệ thẩm mĩ, là
cơ sở hình thành chủ thể - khách thể - quan hệ thẩm mĩ và đời sống thẩm mĩ. Nếu không
có đồng hóa tinh thần thì con người không có quan hệ thẩm mĩ hay đời sống thẩm mĩ.
Đồng hóa tinh thần đáp ứng nhu cầu và khả năng chiếm lĩnh hiện thực bằng cảm
xúc của con người. Nó khiến con người có khả năng phóng chiếu thể hiện tình cảm vào
sự vật hiện tượng tự nhiên, bộc lộ và tiếp nhận những cảm xúc, suy nghĩ đầy tinh tế,
phong phú và đặc biệt cao đẹp. Chính nhờ đồng hóa tinh thần, mà một ý đồ đơn giản
như “Em đã có người thương chưa ?” trở thành “Gặp đây mận mới hỏi đào/Vườn hồng
đã có ai vào hay chưa ?” với một tình cảm trong sáng và tế nhị hay “Hãy nhớ ơn người
từng giúp đỡ ta” thành “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây/Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng”
với một lòng biết ơn tha thiết. Qua đó, nó đem đến cho con người những tình cảm trong
sáng, cụ thể và đầy nhân văn, tạo ra giá trị tinh thần cao quý của riêng quan hệ thẩm mĩ,
chỉ tồn tại trong đời sống thẩm mĩ, đó chính là giá trị thẩm mĩ.
Giá trị thẩm mĩ đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người ở một tầng bậc rất cao,
tạo ra cảm xúc hạnh phúc, tích cực, thanh lọc và làm phong phú tâm hồn người. Giá trị
thẩm mĩ giúp cân bằng những giá trị tinh thần cao quý khác, đặc biệt là chân và thiện,
tạo ra một hệ giá trị lớn lao: chân - thiện - mĩ. Đó là những giá trị có ảnh hưởng sâu rộng
đến đời sống con người, đồng thời là tiêu chuẩn mà toàn thể nhân loại từ cổ chí kim, từ
đông sang tây bao đời nay luôn hướng đến.
Bên cạnh đó, do giá trị thẩm mĩ rất cao quý và là giá trị mà mọi người ở mọi nơi
mọi lúc luôn muốn đạt đến, nên sự đồng hóa tinh thần không lúc nào là không được
diễn ra. Chính nhờ sự đồng hóa tinh thần bất tận này mà trong cuộc sống, con người
luôn đối diện với vô số biểu trưng thẩm mĩ và ý nghĩa thẩm mĩ (được thực thể hóa). Do
vậy, đời sống thẩm mĩ trở nên vô cùng phong phú. Ở đó, các biểu trưng và ý nghĩa thẩm
mĩ được mọi người truyền đạt và tiếp nhận một cách rộng rãi. Chính nhờ cảm nhận các
biểu trưng này mà nhân loại có được một thành tựu vĩ đại - văn hóa.
N.Đ.H VH K49 7
Câu 4: Phân tích và chứng minh giá trị thẩm mĩ là hệ quả của quan hệ thẩm mĩ. Ý nghĩa
của giá trị thẩm mĩ trong cuộc sống ?
*Giá trị thẩm mĩ là hệ quả của quan hệ thẩm mĩ
Giá trị là điều tích cực đáp ứng nhu cầu đa dạng của con người về vật chất và tinh
thần. Giá trị thẩm mĩ là giá trị đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ mà cụ thể là nhu cầu về cái đẹp.
Nhu cầu cái đẹp là nhu cầu về thứ có hình thức cân đối hài hòa, tức có sự cân bằng giữa
các yếu tố khi kết hợp với nhau, và có nội dung tích cực, tạo cho con người cảm xúc vui
sướng, hạnh phúc. Đây là nhu cầu về tinh thần, do đó giá trị thẩm mĩ là giá trị tinh thần.
Quan hệ thẩm mĩ là quan hệ giữa chủ thể thẩm mĩ - con người xã hội với nhu cầu
và khả năng tiếp nhận, thưởng thức, sáng tạo thẩm mĩ với khách thể thẩm mĩ - các
phương diện, thuộc tính thẩm mĩ của các sự vật hiện tượng trong đời sống. Giá trị thẩm
mĩ là hệ quả của quan hệ thẩm mĩ. Bởi quan hệ thẩm mĩ đáp ứng nhu cầu của con người
về cái đẹp, tạo ra cho con người những cảm xúc hạnh phúc, tích cực trong đời sống
Quan hệ thẩm mĩ với nội dung là sự đồng hóa tinh thần trước tiên đem đến khả
năng và đáp ứng nhu cầu chiếm lĩnh hiện thực bằng cảm xúc thẩm mĩ của con người.
Quá trình lao động đã khiến con người có những khả năng và nhu cầu đa dạng trong
việc chiếm lĩnh hiện thực, hình thành nhiều mối quan hệ với đời sống mà quan hệ thẩm
mĩ là một trong số đó. Đồng hóa tinh thần là nội dung của quan hệ thẩm mĩ, là sự chiếm
lĩnh và truyền vào đối tượng những cảm xúc, suy nghĩ, cụ thể hóa tình cảm con người
đối với các sự vật hiện tượng trong tự nhiên.
Đồng hóa tinh thần bằng cảm xúc thẩm mĩ giúp con người có khả năng biểu đạt
rõ ràng, tinh tế tình cảm thẩm mĩ của mình, đồng thời người khác có thể tiếp nhận
chúng. Sự bộc lộ và tiếp nhận những tình cảm thẩm mĩ tốt đẹp, tinh tế, và cụ thể này sẽ
tạo ra cho con người những cảm xúc tích cực, trong sáng, thanh lọc và làm phong phú
tâm hồn người. Đồng thời, nó sẽ đem lại cho con người những kinh nghiệm thẩm mĩ quý
báu, giúp phát triển và hoàn thiện năng lực tiếp nhận, thưởng thức và sáng tạo thẩm mĩ.
Như vậy, quan hệ thẩm mĩ tạo ra giá trị thẩm mĩ trước tiên qua sự đáp ứng nhu cầu
chiếm lĩnh hiện thực bằng cảm xúc thẩm mĩ.
Như ở những dòng thơ “Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang/Tóc buồn buông xuống
lệ ngàn hàng” (Đây mùa thu tới - Xuân Diệu), nhà thơ đã chiếm lĩnh và truyền vào “rặng
liễu” một nỗi buồn tiếc và đau đớn vô biên trước sự tàn phai của cái đẹp thiên nhiên khi
mùa thu tới. Bởi sự đồng hóa tinh thần, mà một ý đồ đơn giản “Em đã có người thương
chưa ?” trở thành “Gặp đây mận mới hỏi đào/Vườn hồng đã có ai vào hay chưa ?” với
một tình cảm trong sáng và tế nhị. Nhờ vậy, người viết/nói đã được đáp ứng nhu cầu
bộc lộ rõ ràng, tinh tế tình cảm thẩm mĩ của mình, và người nghe cũng được đáp ứng
nhu cầu tiếp nhận những tình cảm tốt đẹp, vô tư ấy. Qua đó, con người sẽ có những
cảm xúc tích cực, được thanh lọc và mở rộng tâm hồn mình. Đây chính là giá trị thẩm mĩ
được tạo ra bởi sự đồng hóa tinh thần - nội dung của quan hệ thẩm mĩ.
N.Đ.H VH K49 8
Bên cạnh đó, quan hệ thẩm mĩ còn đáp ứng nhu cầu nhận thức thế giới của con
người, đem đến tri thức và hiểu biết về đời sống. Để thực hiện các hoạt động thực tiễn
cải biến hiện thực, con người có nhu cầu nhận thức thế giới và quan hệ thẩm mĩ là một
trong những hình thức đáp ứng nhu cầu này. Đồng thời, quan hệ thẩm mĩ, thông qua cái
đẹp và những tình cảm thẩm mĩ cũng góp phần đáp ứng nhu cầu của con người về sự
cân bằng hài hòa đời sống tinh thần của mình. Nó, như đã nói, sẽ góp phần tạo nên đời
sống tinh thần với những cảm xúc hạnh phúc, tích cực và lành mạnh. Đó đều là những
giá trị thẩm mĩ cần thiết và lớn lao mà quan hệ thẩm mĩ tạo ra cho con người.
*Ý nghĩa của giá trị thẩm mĩ trong cuộc sống
Như vậy, giá trị thẩm mĩ là hệ quả được tạo ra từ quan hệ thẩm mĩ, là sự đáp ứng
nhu cầu thẩm mĩ của con người mà cụ thể là nhu cầu về cái đẹp. Nó là loại giá trị có ý
nghĩa to lớn và vai trò không thể thay thế trong cuộc sống. Bởi cái đẹp là một giá trị tinh
thần cao quý luôn được con người hướng đến tiếp nhận, thưởng thức và sáng tạo. Giá
trị thẩm mĩ cùng cái đẹp giúp cân bằng các giá trị tinh thần cao quý khác như cái chân và
cái thiện, tạo ra một hệ giá trị lớn lao: chân - thiện - mĩ. Đó là hệ giá trị có ảnh hưởng sâu
rộng đến đời sống con người, đồng thời là tiêu chuẩn mà toàn thể nhân loại từ cổ chí
kim, từ đông sang tây bao đời nay luôn hướng đến. Giá trị thẩm mĩ đáp ứng nhu cầu về
cái đẹp, chính là đáp ứng một nhu cầu ở tầng bậc rất cao của con người.
Bên cạnh đó, giá trị thẩm mĩ còn có ý nghĩa trong việc giúp con người có những
tri thức và hiểu biết về cuộc sống, về tự nhiên, xã hội, con người và chính đời sống thẩm
mĩ. Những tri thức này sẽ góp phần phục vụ hoạt động thực tiễn cải biến hiện thực, cải
tạo xã hội ngày một tốt đẹp, văn minh và hạnh phúc hơn của con người.
Tuy nhiên, giá trị thẩm mĩ không bao giờ bất biến mà luôn có sự biến đổi đa dạng
tùy thuộc vào không gian - thời gian - chủ thể. Ở mỗi không gian, khu vực, quốc gia,
vùng miền khác nhau, ở mỗi thời kì, giai đoạn, hoàn cảnh khác nhau và ở mỗi cộng
đồng, cá nhân sẽ có các giá trị thẩm mĩ khác nhau. Các giá trị này có thể thống nhất
nhưng không bao giờ đồng nhất. Chính điều này khiến đời sống thẩm mĩ trở nên phong
phú và khiến quan hệ thẩm mĩ có thể đáp ứng những nhu cầu đa dạng khác nhau của
con người.
Sau cùng, ý nghĩa lớn nhất của quan hệ thẩm mĩ cũng như giá trị thẩm mĩ đối với
cuộc sống là tạo ra những cảm xúc hạnh phúc và tích cực, nâng cao năng lực thẩm mĩ,
thanh lọc và làm phong phú thêm cho tâm hồn con người.
N.Đ.H VH K49 9
Câu 5: Trình bày quan niệm về cái đẹp trong lịch sử phương Tây, Ý nghĩa của quan
niệm này trong mĩ học hiện nay
* Quan niệm về cái đẹp trong lịch sử phương Tây
Lịch sử tư tưởng mĩ học phương Tây chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu ba vấn đề
chính hay ba câu hỏi lớn, đó là: “Cái đẹp là gì ?”, “Làm thế nào ta biết được cái đẹp ?”,
“Làm thế nào ta hiểu được cái đẹp ?”
Vấn đề thứ nhất “Cái đẹp là gì ?” được đặt ra từ thời Hi Lạp cổ đại, với hai quan
niệm nổi bật cùng song hành giải quyết nó của Plato và Aristole, đây là hai quan điểm
phổ biến ảnh hưởng đến toàn bộ lịch sử mĩ-triết học phương Tây về sau.
Theo Plato, cái đẹp là ý niệm đẹp, tồn tại trong thế giới ý niệm nằm bên ngoài thế
giới hiện thực ta đang sống. Ý niệm đẹp phóng chiếu vào tự nhiên, tạo ra các hình thức
đẹp, như ý niệm về bông hoa và thân hình đẹp tạo nên các kiểu hoa và kiểu người đẹp.
Do đó, những thứ ta nghĩ là cái đẹp trong đời sống đều chỉ là hình thức của ý niệm đẹp
và đều là ảo ảnh lừa dối. Cái đẹp chỉ tồn tại trong thế giới ý niệm. Đây là quan niệm đặt
cơ sở hình thành nên trường phái duy tâm khách quan.
Theo Aristole, cái đẹp là thực thể đẹp, tồn tại trong thế giới hiện thực, là hình hài
có sự kết hợp thống nhất giữa hình thức vật chất và nội dung ý niệm. Ý niệm đẹp được
toát lên từ thực thể đẹp trong quá trình cảm nhận của con người như cảm nhận đẹp
toát lên từ bông hoa, thân hình đẹp. Quan niệm này đã thừa nhận cái đẹp có cơ sở tồn
tại khách quan, đó là cấu trúc hài hòa cân xứng, là sự cân bằng giữa các yếu tố khi kết
hợp với nhau. Từ đây, con người biết cái đẹp có những tiêu chuẩn khách quan và tiến
hành khám phá chúng. Đây là quan niệm đặt cơ sở hình thành nên phái duy vật sơ khai.
Tuy nhiên về sau, người ta phát hiện ở cùng một sự vật hiện tượng nhưng đánh giá
thẩm mĩ về nó rất khác nhau, có lúc ta cảm nhận nó đẹp nhưng có lúc lại không. Vì thế
vấn đề thứ hai được đặt ra: “Làm thế nào ta biết được cái đẹp ?”
Vấn đề thứ hai được nhiều triết gia nghiên cứu và tranh luận, trong đó tư tưởng
của Kant là nổi bật và có ảnh hưởng to lớn nhất. Theo Kant, cái đẹp là cái làm cho ta vui
sướng hân hoan mà không cần một lí do nào hết, tức cái đẹp phụ thuộc vào cảm xúc chủ
quan của chủ thể. Cùng một bông hoa, lúc này nó khiến ta rung động, vui sướng thì là
đẹp, lúc khác nó không còn khiến ta rung động thì là không đẹp. Quan niệm này đã
khẳng định vai trò của ý thức chủ quan đặc biệt là cảm xúc trong việc cảm nhận cái đẹp.
Tuy nhiên, nó có hạn chế vì đôi khi phụ thuộc và đề cao thái quá vào cảm xúc chủ quan
của con người mà hạ thấp vai trò của cơ sở khách quan. Các triết gia về sau đã kế thừa
tư tưởng và khắc phục những hạn chế của Kant. Tiếp đó, vấn đề thứ ba được đặt ra:
“Làm thế nào ta hiểu được cái đẹp ?”
Theo quan niệm hiện đại, cái đẹp phải được hiểu thông qua ngôn ngữ, chất liệu
như hiểu cái đẹp của văn học qua ngôn từ, âm nhạc qua âm thanh và giai điệu, hội họa
N.Đ.H VH K49 10
qua đường nét và màu sắc,... Để hiểu cái đẹp, con người phải học hỏi, nghiên cứu và trải
nghiệm về mĩ học, nghệ thuật và cuộc sống. Như để hiểu tương đối về cái đẹp trong văn
học đòi hỏi con người phải có cảm xúc tinh tế và thấu cảm, trải nghiệm phong phú, hiểu
biết nhất định về lịch sử, lí luận và phê bình văn học,...
*Ý nghĩa của quan niệm này trong mĩ học hiện nay
Những quan niệm về cái đẹp được hình thành từ ba vấn đề lớn trong lịch sử tư
tưởng mĩ học phương Tây nêu trên đã có ý nghĩa lớn lao và ảnh hưởng sâu rộng đối với
tư tưởng mĩ học hiện nay.
Quan niệm của Aristole đã khẳng định cái đẹp là thực thể có sự thống nhất giữa
cái khách quan và chủ quan, thừa nhận cơ sở khách quan của cái đẹp. Quan niệm của
Plato và Kant đã khẳng định vai trò quan trọng, quyết định của ý thức chủ quan, đặc biệt
là cảm xúc trong tiếp nhận cái đẹp. Còn các quan điểm được hình thành từ vấn đề thứ
ba “Làm thế nào ta hiểu được cái đẹp” đã khẳng định vai trò của việc cảm nhận ngôn
ngữ, chất liệu, vai trò của tri thức trong tiếp nhận thẩm mĩ.
Theo quan niệm hiện đại, cái đẹp là thực thể đẹp vừa có tính chất khách quan
vừa có tính chất chủ quan, trong đó ý thức chủ quan có vai trò quan trọng trong tiếp
nhận cái đẹp. Đồng thời, cái đẹp phải được tiếp nhận và sáng tạo thông qua biểu trưng
được thực thể hóa bằng chất liệu, ngôn ngữ. Như vậy, những quan niệm về cái đẹp
trong lịch sử tư tưởng mĩ học phương Tây nêu trên đã đặt cơ sở quan trọng cho sự hình
thành và phát triển của lí luận mĩ học ngày nay.
N.Đ.H VH K49 11
Câu 6: Trình bày quan niệm về cái đẹp trong lịch sử phương Đông. Ý nghĩa của quan
niệm này trong mĩ học hiện nay
Quan niệm về cái đẹp trong lịch sử tư tưởng mĩ học phương Đông được thể hiện
sâu sắc nhất ở mĩ học Trung Hoa và Ấn Độ, hai nền văn hóa lớn tiêu biểu nhất ở phương
Đông với nền tảng lí luận phong phú.
Đầu tiên là Trung Hoa. Kinh Dịch là tác phẩm quan trọng tạo ra tiền đề và cơ sở lí
luận cho mĩ học Trung Hoa, dù nó không trực tiếp bàn về mĩ học. Tiền đề thứ nhất của
Kinh Dịch là “cái sinh mệnh” (sự sống). Bản chất của cái sinh mệnh là vận động và biến
đổi theo qui luật trời-đất tự nhiên. Yêu cầu của nó là sự thống nhất hài hòa các phương
diện cuộc sống mà quan trọng nhất là bảo hợp thái hòa “thiên thời - địa lợi - nhân hòa”.
Tiền đề thứ hai là “đạo”. Đạo chi phối quá trình vận động và phát triển của thế giới, là sự
thống nhất giữa âm và dương “nhất âm nhất dương chi vị đạo”.
Từ hai tiền đề này, mĩ học Trung Hoa quan niệm cái đẹp là cái thiện, là cái bảo
toàn sự sống (cái sinh mệnh) và ngược lại cái xấu là cái ác, là cái tiêu diệt sự sống. Đồng
thời, cái đẹp có sự thống nhất hài hòa giữa âm và dương. Vì thế trong nghệ thuật Trung
Quốc, hội họa có thủ pháp âm ẩn-dương hiện, tức vẽ khung cảnh này để gợi tả khung
cảnh không có trong tranh; thơ ca có ý tại ngôn ngoại, tức nói lời này để khơi gợi ý nghĩa
sâu xa.
Cái đẹp theo mĩ học Trung Hoa gồm bốn yếu tố: nguyên - hanh - lợi - trinh.
“Nguyên” là bản nguyên, bản tính tự nhiên, là sự hòa hợp với qui luật tự nhiên. Nguyên
gồm các yếu tố khởi đầu cho cái đẹp trong đó thiện đứng đầu “thiện chi trưởng”, như
trẻ con vô tư là thiện, chim tự do trên trời và cá tự do dưới nước là thiện. “Hanh” là sự
tốt đẹp có quan hệ với màu sắc, hình thức của cái đẹp và với sự hưởng thụ cái đẹp của
con người. Hanh gồm các điều kiện thuận lợi cho sự phát triển trong đó có sự hài hòa
giữa thể chất với sắc hình và với tinh thần. Như con người đẹp cần nhan sắc, sức khỏe
thể chất và sức khỏe tinh thần. “Lợi” là lợi ích, gắn bó cùng quan hệ giữa cái đẹp với sự
tồn tại và phát triển của đời sống. Lợi gồm lợi ích cho mình và cho người, cho xã hội,
đem đến cái nghĩa cho cuộc sống. “Trinh” là sự giữ vững chính đạo, không thiên lệch về
một phía và gắn bó với qui luật tự nhiên cùng đạo đức con người. Như đàn ông đẹp
“dương cương” thì mạnh mẽ và nhân hậu (chứ không áp bức), phụ nữ đẹp “âm nhu” thì
dịu dàng và cương quyết (chứ không nhu nhược).
Như vậy, theo quan niệm mĩ học Trung Hoa, cái đẹp là một hình thức hợp qui
luật tự nhiên, có sự vận động biến đổi đa dạng và sự thống nhất hài hòa, gắn bó với cái
thiện và việc tu dưỡng đạo đức. Lí tưởng thẩm mĩ vì thế là lí tưởng nhân sinh với cái đẹp
là thứ kết hợp các yếu tố Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh. Nhìn chung, cái đẹp theo mĩ học
Trung Hoa là cái đẹp nội dung con người, nội dung ấy là đạo đức hay cái thiện.
Đối với Ấn Độ, Veda Upanishad là tác phẩm quan trọng nhất chi phối toàn bộ tư
tưởng triết-mĩ học Ấn Độ. Triết học Ấn Độ cho rằng con người có hai cái ta: ta bản chất
N.Đ.H VH K49 12
(ta thật) và ta hiện tượng (ta giả). Cái ta thật có khi con người sinh ra, là sự thật thà hồn
nhiên vô tư, hành động theo ý muốn thật của mình. Cái ta giả có khi con người trưởng
thành và thích nghi với xã hội, phải hành động trái ý muốn thật. Điều này khiến con
người day dứt, muộn phiền, tạo ra cái nghiệp. Nghiệp vận hành trong kiếp, chúng tạo ra
cái khổ. Để thoát khổ con người phải tu tập, giữ giới luật và thiền định, tập trung suy
tưởng. Khi tập trung đến lắng đọng, con người đạt đến niết bàn, là trạng thái vắng lặng
tạp niệm và thanh thản để giải quyết các vấn đề về ý nghĩa cuộc đời. Khi giải quyết được
chúng, con người tìm lại cái ta thật và sống thật với mình. Như vậy, cuộc đời là quá trình
con người đi tìm lại chính mình, nhưng không phải tìm cái ban đầu cũ kĩ mà là cái
nguyên sơ, hồn nhiên vô tư để đối diện với cuộc đời một cách thẳng thắn và có trách
nhiệm, để sống thật, thanh thản không muộn phiền. Vì thế, triết-mĩ học Ấn Độ là triết-
mĩ học nội tâm con người, cái đẹp là cái đẹp tâm linh và hướng về nội tâm, giải phóng
con người bằng suy tư dù thể xác đầy đau khổ
Theo mĩ học Ấn Độ, về nhận thức cái đẹp, có cái đẹp đời thường, nó có thể được
cảm nhận bằng trực quan nhưng là không thật vì sẽ tàn phai. Cái đẹp chân thật ẩn sau
cái đẹp đời thường. Do đó, nhận thức cái đẹp là nhận thức cái đẹp đa dạng đời thường
(trực quan) rồi vượt lên nó để nhận thức cái đẹp tuyệt đối, tức qua nhận thức cái đa
dạng mà nhận thức cái duy nhất. Việc nhận thức này yêu cầu con người phải lánh xa tội
lỗi, tức cái đẹp cũng gắn với cái thiện
Nhìn chung, cái đẹp trong lịch sử tư tưởng mĩ học Ấn Độ được hiểu như là cái
đẹp của Brahman (linh hồn vĩ đại, tinh thần tối cao), được nhận thức trong trạng thái
con người đã lánh xa tội lỗi, đạt đến sự thanh thoát, thư thái và không còn ham muốn
dục vọng. Đó là cái đẹp tuyệt đối vượt lên cái đẹp trực quan, là cái đẹp an bình đem đến
sự thanh thản cho tâm hồn và giúp ta tìm được cái ta thật, sống thật với mình.
Tóm lại, trong lịch sử tư tưởng mĩ học phương Đông, cái đẹp ở Trung Hoa là cái
hợp qui luật tự nhiên (cái hài hòa), cái đẹp nội dung con người (cái thiện). Cái đẹp ở Ấn
Độ là cái đẹp chân chính ẩn sau cái đẹp đời thường, giúp con người sống thật (cái chân),
cái đẹp tránh xa tội lỗi (cái thiện). Mối quan hệ gắn bó chặt chẽ đến đồng nhất giữa cái
đẹp và cái thiện là nội dung cơ bản của mĩ học phương Đông.
*Ý nghĩa của quan niệm trong mĩ học hiện nay
Có thể thấy, mĩ học Trung Hoa đã đề cao tính chất hài hòa của cái đẹp, còn mĩ
học Ấn Độ khẳng định cái đẹp gắn bó chặt chẽ với cái chân. Đặc biệt, tư tưởng mĩ học
phương Đông đã khẳng định quan hệ chặt chẽ không tách rời giữa cái đẹp và cái thiện,
tuy còn hạn chế ở sự đồng nhất. Theo quan niệm hiện đại, hài hòa là cơ sở quan trọng
của cái đẹp. Đồng thời, cái đẹp dù không đồng nhất nhưng luôn thống nhất với cái chân
và cái thiện, tạo thành hệ giá trị lớn lao mà con người luôn hướng đến. Như vậy, tư
tưởng mĩ học phương Đông đã để lại nhiều quan niệm đúng đắn, khả thủ, đóng góp vào
sự phát triển phong phú và đa dạng của mĩ học hiện nay.
N.Đ.H VH K49 13
Câu 7: Phân tích cái đẹp là biểu trưng của những giá trị, đáp ứng những nhu cầu và
khát vọng sống của con người, đem lại cho con người những cảm xúc tích cực, thôi
thúc con người sáng tạo. Thế nào là sống đẹp ?
*Cái đẹp là biểu trưng của những giá trị
Cái đẹp là phạm trù khách thể thẩm mĩ quan trọng nhất của mĩ học. Theo lí luận
mĩ học hiện nay, cái đẹp là thực thể đẹp, là hình hài có sự kết hợp thống nhất giữa yếu
tố vật chất (hình thức) và tinh thần (nội dung). Về hình thức, cái đẹp có cấu trúc hài hòa
cân xứng, là sự cân bằng giữa các yếu tố khi kết hợp với nhau. Về nội dung, nó là những
gì tạo ra cho con người cảm xúc tích cực, hạnh phúc, có sự gắn bó và thống nhất chặt
chẽ với cái chân, cái thiện.
Cái đẹp là biểu trưng của những giá trị. Biểu trưng là ý nghĩa toát ra từ đối tượng.
Ý nghĩa này được hình thành thông qua sự đồng hóa tinh thần của chủ thể, là thứ vốn
không sẵn có mà được tạo ra ở đối tượng, rồi được ý thức thực thể hóa thành biểu
trưng. Cái đẹp là ý nghĩa đẹp toát ra từ đối tượng thẩm mĩ thông qua sự đồng hóa tinh
thần của chủ thể thẩm mĩ. Những đối tượng thẩm mĩ này phải mang giá trị phù hợp với
hình thức và nội dung của cái đẹp. Chúng rất phong phú, tồn tại trong tự nhiên, xã hội,
con người và nghệ thuật; vì thế cái đẹp có những biểu hiện vô cùng đa dạng.
Như cái đẹp trong tự nhiên là ý nghĩa ta cảm nhận được từ núi, sông, hoa,
biển,..., trong xã hội là từ văn hóa, con người, hành động,..., trong nghệ thuật chủ yếu là
từ hình tượng nghệ thuật. Cái đẹp trong những câu thơ “Mắt trừng gửi mộng qua biên
giới/Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” (Tây Tiến - Quang Dũng) chính là ý nghĩa toát ra
từ hình tượng người lính Tây Tiến. Mà cụ thể, đó là ý chí tinh thần vừa hào hùng, kiên
quyết chống quân thù - “Mắt trừng”, vừa hào hoa, thương nhớ quê hương và con người
- “mơ Hà Nội dáng kiều thơm”.
*Cái đẹp đáp ứng những nhu cầu và khát vọng sống của con người, đem lại cho
con người những cảm xúc tích cực, thôi thúc con người sáng tạo
Cái đẹp đáp ứng các nhu cầu tinh thần của con người như nhu cầu nhận thức
(chân), bởi cái đẹp là một phạm trù khách thể thẩm mĩ hình thành từ đời sống, phản
ánh và nhận thức cuộc sống. Như ở hai câu thơ của Quang Dũng, cái đẹp của tinh thần
hào hùng và hào hoa khiến ta hiểu thêm về tâm hồn người lính trong một thời kì lịch sử
của đất nước. Nó cũng đáp ứng nhu cầu hoàn thiện (thiện) bởi nội dung luôn có sự gắn
bó và thống nhất chặt chẽ với đạo đức. Và chính cái đẹp tạo ra sự cân bằng hài hòa giữa
nó với cái chân và cái thiện trong đời sống người, hình thành nên hệ giá trị cao quý chân
- thiện - mĩ là những chuẩn mực mà con người luôn luôn hướng đến.
Cái đẹp còn đem đến cảm xúc tích cực cho con người, thôi thúc con người sáng
tạo. Bởi như đã trình bày, nội dung của cái đẹp là những gì tạo ra cho con người cảm xúc
tích cực. Cái đẹp khiến con người có thêm tình yêu, những cảm xúc nhạy cảm và tinh tế.
Nó đem đến sự lạc quan, yêu đời khiến tâm hồn người trở nên thanh thản, bình yên và
N.Đ.H VH K49 14
trong sáng. Cái đẹp đồng thời đem đến những kinh nghiệm thẩm mĩ quý báu. Nó giúp
phát triển và hoàn thiện năng lực thẩm mĩ của con người trong việc tiếp nhận, thưởng
thức và đặc biệt là sáng tạo thẩm mĩ. Bằng những khả năng đa dạng trong việc đáp ứng
nhu cầu của đời sống và những kinh nghiệm quý báu đem đến cho con người, cái đẹp
từng bước khiến con người ý thức về nó và rồi xem nó như một giá trị cao quý không
thể thiếu trong đời sống. Qua đó, cái đẹp kích thích con người không ngừng tiếp nhận,
khám phá và sáng tạo ra nó, tạo ra những giá trị thẩm mĩ mới và áp dụng chúng vào đời
sống, không ngừng “mĩ hóa” đời sống và sống đẹp hơn.
*Thế nào là sống đẹp
Sống đẹp luôn là khát khao mà con người muốn đạt đến. Sống đẹp có thể hiểu là
sống gắn bó với cái đẹp, không ngừng tiếp nhận, thưởng thức cái đẹp và sáng tạo cái
đẹp trong mọi lĩnh vực đời sống. Nhưng điều này không đơn giản, bởi một lối sống đẹp
không chỉ cần cái đẹp, mà đòi hỏi sự kết hợp của nhiều yếu tố khác nhau. Mà cụ thể đó
là: sống khỏe (sức khỏe), sống thật (cái chân), sống tốt (cái thiện) và cái đẹp
Trước tiên, để sống đẹp, con người cần sống khỏe, tức có một sức khỏe khỏe
mạnh. Đó là sự khỏe mạnh ở cả ba phương diện: thể chất, tinh thần và quan hệ xã hội.
Một cơ thể khỏe mạnh sẽ giúp các bộ phận cơ thể, đặc biệt là các cơ quan thẩm mĩ như
mắt và tai hoạt động hiệu quả nhất. Tinh thần khỏe mạnh cùng quan hệ xã hội lành
mạnh giúp tâm hồn con người thư thái, bình yên, trong sáng và vô tư. Chúng đều là
những tiền đề quan trọng cho việc tiếp nhận, thưởng thức và sáng tạo thẩm mĩ.
Để sống đẹp, con người cần sống thật, tức sống với những tình cảm, suy nghĩ thật
lòng và có thái độ tôn trọng sự thật - chân lí. Bởi cái đẹp luôn hình thành dựa trên cảm
xúc chân thành, thật tâm và có sự gắn bó chặt chẽ với chân lí. Nó không bao giờ là sự
ngụy tạo, giả dối hay chỉ có hình thức đẹp đẽ bề ngoài.
Sống đẹp cũng chính là sống tốt, tức sống phù hợp với đạo đức, pháp luật và các
chuẩn mực xã hội khác. Bởi cái đẹp luôn tạo ra những cảm xúc tích cực, lành mạnh,
thanh lọc và làm phong phú tâm hồn người. Nó không bao giờ chấp nhận hay dung chứa
những điều phi đạo đức, phản chuẩn mực, những thứ tội lỗi và xấu xa. Một nội dung
tiêu cực, xấu xa, giả dối, trái ngược với cái chân và cái thiện không bao giờ có thể tạo ra
cho con người những cảm xúc tích cực, bình yên và hạnh phúc. Nó đương nhiên không
phải và không bao giờ là nội dung của cái đẹp.
Hiển nhiên, một lối sống đẹp luôn cần cái đẹp, tức cần sự tiếp nhận, thưởng thức
và sáng tạo cái đẹp cùng các giá trị thẩm mĩ khác. Ý nghĩa quan trọng nhất của cái đẹp
chính là giúp con người có được cảm xúc hạnh phúc và tích cực, nâng cao năng lực thẩm
mĩ của con người, kích thích sự sáng tạo và giúp con người sống đẹp hơn.
Sau cùng, một lối sống đẹp là lối sống kết hợp hài hòa những yếu tố trên (sống
khỏe, sống thật, sống tốt và cái đẹp). Nó là lối sống tạo ra những giá trị và ý nghĩa to lớn
cho cuộc đời con người, và cũng là lối sống mà mọi cá nhân luôn mong muốn đạt tới.
N.Đ.H VH K49 15
Câu 8: Phân tích và dẫn chứng những biểu hiện của cái đẹp trong tự nhiên, trong xã
hội và trong nghệ thuật.
Cái đẹp là phạm trù khách thể thẩm mĩ quan trọng nhất của mĩ học. Theo lí luận
mĩ học hiện nay, cái đẹp là thực thể đẹp, là hình hài có sự kết hợp thống nhất giữa yếu
tố vật chất (hình thức) và tinh thần (nội dung). Về hình thức, cái đẹp có cấu trúc hài hòa
cân xứng, là sự cân bằng giữa các yếu tố khi kết hợp với nhau. Về nội dung, nó là những
gì tạo ra cho con người cảm xúc tích cực, hạnh phúc, có sự gắn bó và thống nhất chặt
chẽ với cái chân, cái thiện.
Cái đẹp là biểu trưng của những giá trị, biểu trưng là ý nghĩa toát ra từ đối tượng.
Cái đẹp là ý nghĩa toát ra từ đối tượng thẩm mĩ qua sự đồng hóa tinh thần của chủ thể
thẩm mĩ. Những đối tượng này một mặt phải phù hợp với tiêu chuẩn về nội dung và
hình thức của cái đẹp, mặt khác chúng rất phong phú, tồn tại trong tự nhiên, xã hội, con
người và nghệ thuât. Vì thế, biểu hiện của cái đẹp trong các lĩnh vực đời sống là muôn
hình vạn trạng, rất phong phú và đa dạng.
*Cái đẹp trong tự nhiên
Nhiều người có quan điểm sai lầm cho rằng cái đẹp trong tự nhiên là hoàn toàn
khách quan. Nhưng cái đẹp bao giờ cũng là sự thống nhất giữa yếu tố khách quan và chủ
quan. Các đối tượng có cấu trúc hài hòa, cân xứng, tức phù hợp với tiêu chuẩn hình thức
của cái đẹp chỉ có thể trở thành cái đẹp khi được đặt trong quan hệ thẩm mĩ, trong sự
cảm nhận chủ quan của chủ thể, khi nó tạo ra cho con người những cảm xúc tích cực.
Một bông hoa đẹp có cơ sở khách quan là hình dạng cân xứng, màu sắc rực rỡ,
hương thơm ngào ngạt, và các yếu tố này kết hợp với nhau thành một chỉnh thể hài
hòa. Đến với con người, nó kích thích các giác quan, nâng cao năng lực tri giác của
chúng, đồng thời khiến ta có cảm xúc thư thái, say mê, tích cực để vượt qua những lo
âu, muộn phiền hay nhu cầu bản năng đời thường, tạo ra tiền đề cho những tình cảm và
suy nghĩ lớn lao hơn của con người. Như vậy, cái đẹp đã hình thành khi con người tiếp
nhận bông hoa cùng cơ sở khách quan của nó. Đó là cách cái đẹp toát ra từ bông hoa,
cũng như từ các sự vật hiện tượng khác trong tự nhiên nói chung khi chúng trở thành
đối tượng thẩm mĩ và chịu sự tiếp nhận của con người.
*Cái đẹp trong xã hội
Cái đẹp trong xã hội là hệ quả của các hoạt động thực tiễn cải biến thế giới của
con người, vì thế nó có những biểu hiện vô cùng phong phú ở gần như mọi phương diện
của đời sống xã hội. Nhưng những biểu hiện này phải luôn phù hợp với tiêu chuẩn về
hình thức và nội dung của cái đẹp. Đặc biệt, chúng có sự gắn bó và thống nhất chặt chẽ
với cái chân, cái thiện và những chuẩn mực xã hội. Ở đây, ta sẽ điểm qua một số biểu
hiện nổi bật nhất của cái đẹp trong xã hội.
N.Đ.H VH K49 16
Cái đẹp trong lao động - lao động đẹp hình thành khi con người lao động một
cách tự nguyện, tự giác với thái độ vui sướng và thích thú của một tinh thần tích cực
sáng tạo. Lao động đẹp phải tạo ra giá trị thật (chân), có sự hài hòa giữa nhu cầu vật
chất và nhu cầu tinh thần, giữa lợi ích của cá nhân và lợi ích đóng góp cho xã hội (thiện).
Như học tập là một dạng lao động đặc thù - lao động dự trữ. Học đẹp là khi người học
tự nguyện, tự giác tìm hiểu, nghiên cứu, làm chủ, ứng dụng và sáng tạo tri thức để tạo
ra lợi ích cho chính mình và xã hội ở hiện tại và tương lai.
Cái đẹp trong ứng xử - hành vi đẹp hình thành khi con người ứng xử với người
khác bằng thái độ tôn trọng, chân thành, phù hợp với chuẩn mực xã hội. Hành vi đẹp
phải cân bằng hài hòa lợi ích đồng thời tạo ra những cảm xúc tích cực cho mọi người.
Như giao tiếp đẹp là giao tiếp một cách chân thành bằng lời lẽ, thái độ tôn trọng và phù
hợp, dung hòa những cá tính, tạo ra sự thấu hiểu và sự chia sẻ giúp đỡ lẫn nhau.
*Cái đẹp trong nghệ thuật
Nghệ thuật là hình thái biểu hiện tập trung nhất, cao nhất quan hệ thẩm mĩ và cái
đẹp trong đời sống, là sự phản ánh cuộc sống bằng tình yêu rộng lớn - tình yêu đối với
cái đẹp. Cái đẹp trong nghệ thuật là cái đẹp của sự sáng tạo. Nó vừa có cơ sở nguồn gốc
khách quan từ đời sống, vừa gắn với ý thức thẩm mĩ chủ quan và sự sáng tạo riêng của
nghệ sĩ. Nghệ thuật phản ánh, khám phá và điển hình hóa cái đẹp sẵn có trong đời sống,
đồng thời sáng tạo cái đẹp mới có thể có và nên có trong đời thông qua những hình
tượng nghệ thuật. Vì thế, cái đẹp ở nghệ thuật có biểu hiện rất phong phú và đa dạng.
Giống cái đẹp ở các lĩnh vực khác, cái đẹp trong nghệ thuật có cấu trúc hài hòa,
tạo ra cho con người những cảm xúc tích cực và có sự gắn bó, thống nhất mật thiết với
cái chân và cái thiện. Nhưng không vì thế mà nghệ thuật tránh xa việc phản ánh những
thứ tiêu cực, giả dối và xấu xa. Trái lại, nghệ thuật có phản ánh chúng, nhưng là để nhận
thức, vạch trần và hướng con người tránh xa khỏi chúng, để rồi gián tiếp đến gần hơn
với chân - thiện - mĩ.
Trong bài thơ “Bánh trôi nước” của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, cái đẹp được thể hiện
qua hình tượng bao trùm là “thân em”. Hình tượng này có sự hài hòa về vẻ đẹp con
người giữa vẻ đẹp thể xác bên ngoài “vừa trắng lại vừa tròn” và vẻ đẹp tâm hồn bên
trong “tấm lòng son”, có sự vượt lên và tự khẳng định giá trị của mình trước hoàn cảnh
xấu xa “Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn”. Đồng thời, nó có sự thống nhất với cái chân bởi đã
thể hiện vẻ đẹp con người ở cả thể xác lẫn tâm hồn và phản ánh hiện thực thân phận bị
áp bức; với cái thiện ở tình cảm chung thủy, son sắt phù hợp với đạo lí. Đặt trong sự tiếp
nhận của người đọc, hình tượng này có thể khơi gợi những cảm xúc tích cực như sự
ngưỡng mộ, yêu thích, thương xót cái đẹp con người hay sự phẫn nộ và ghét bỏ cái xấu,
mong muốn bảo vệ cho cái đẹp. Như vậy, cái đẹp trong bài thơ đã được tạo ra thông
qua hình tượng “thân em”. Cái đẹp ấy vừa là sản phẩm từ quá trình sáng tạo của nghệ
sĩ, cũng vừa là giá trị được tạo ra từ sự tiếp nhận của con người.
N.Đ.H VH K49 17
Câu 9: Trình bày và phân tích nguồn gốc, bản chất, hệ quả và các hình thức biểu hiện
của cái bi ? Dẫn chứng một tình huống bi trong đời sống hoặc trong nghệ thuật ?
*Bản chất, nguồn gốc,hệ quả và các hình thức biểu hiện của cái bi
Về bản chất, cái bi là cái đẹp thất bại trong sự đấu tranh với cái xấu để khẳng
định giá trị của mình. Nó là cái buồn vì sự mất mát, hủy diệt của cái đẹp. Cái đẹp là thực
thể đẹp có sự thống nhất giữa yếu tố vật chất (hình thức) và tinh thần (nội dung). Nó có
hình thức hài hòa, là sự cân bằng giữa các yếu tố khi kết hợp với nhau và có nội dung là
những gì khiến con người có cảm xúc tích cực cùng sự gắn bó và thống nhất chặt chẽ với
cái chân, cái thiện. Cái xấu thì hoàn toàn trái ngược với cái đẹp, nó có hình thức khập
khiễng, mất cân xứng và có nội dung là những gì khiến con người có cảm xúc tiêu cực
cùng sự trái ngược với cái chân, cái thiện và chuẩn mực xã hội.
Về nguồn gốc, nguyên nhân của cái bi là từ sự mâu thuẫn, xung đột giữa cái đẹp
(thiện) với cái xấu (ác) diễn ra trong mỗi cá nhân (ý nghĩ thiện luôn đồng thời tồn tại và
đấu tranh với ý nghĩ ác), trong quan hệ của cá nhân với xã hội (đạo đức cá nhân với luân
lí xã hội), trong xã hội (lực lượng cách mạng với lực lượng phản động). Mà ở đó, cái đẹp
(thiện) bị cái xấu (ác) đánh bại hay áp chế hoàn toàn, và điều này khiến con người đau
buồn và thương xót cho cái đẹp, chán ghét và phẫn nộ trước cái ác từ đó tránh xa nó để
đến gần hơn với cái đẹp.
Theo như Engels, đó là xung đột giữa yêu sách tất yếu về mặt lịch sử và tình trạng
không tài nào thực hiện được điều đó trong thực tiễn; và cái bi là chủ đề chân chính của
phong trào cách mạng. Như cái bi của sự chia cắt đất nước vào thời kì Trịnh - Nguyễn
phân tranh, khi yêu cầu tất yếu của lịch sử dân tộc là sự thống nhất không thể được
thực hiện trong suốt hơn một trăm năm.
Về hệ quả, cái bi tạo ra cho con người trạng thái cảm xúc đặc biệt “katharcis” - sự
thanh lọc/thanh khiết hóa tâm hồn. Nó có nghĩa là giọt nước mắt nhỏ xuống xót thương
cho cái đẹp thất bại, từ đó khiến con người dám đứng lên đấu tranh với cái xấu và bảo
vệ cái đẹp. Nói cách khác, cái bi đem đến cho con người cảm xúc buồn đau, xót thương
cho cái đẹp thất bại hay lo âu, sợ hãi, phẫn nộ trước cái ác. Chúng đều là những cảm xúc
tích cực, vì tạo ra động lực đấu tranh loại bỏ cái xấu và bảo vệ, phát triển cái đẹp. Qua
đó, cái bi khiến con người nhận thức và tránh xa cái xấu, cái ác, được thanh lọc về tâm
hồn và rồi gián tiếp đến gần hơn với cái đẹp, cái thiện.
Về hình thức biểu hiện, cái bi có ba hình thức chính là: bi của cái cũ, bi của cái
mới, bi của sự lầm lạc. Bi của cái cũ hình thành khi một lực lượng xã hội đã xác lập vị thế,
vai trò lịch sử của mình, vẫn còn có khả năng thúc đẩy sự phát triển của đời sống xã hội
nhưng vì lí do nào đó mà thất bại và bị xóa sổ. Như sự thất bại của vương triều Tây Sơn
và nhà Nguyễn, hay sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết. Bi của cái mới hình thành khi một
lực lượng xã hội đang lãnh đạo, dẫn dắt đời sống xã hội theo chiều hướng phát triển
mới tiến bộ cũng vì lí do nào đó mà thất bại. Như sự thất bại của nhà Hồ, hay công xã
N.Đ.H VH K49 18
Paris. Bi của sự lầm lạc hình thành khi lực lượng xã hội có nhận thức và tư tưởng tiến bộ
nhưng có hạn chế về năng lực và hành động thất bại. Có thể thấy bi của sự lầm lạc qua
thất bại của phong trào Đông Du - Phan Bội Châu hay Duy Tân - Phan Châu Trinh.
*Tình huống bi trong nghệ thuật - bi kịch của Chí Phèo trong truyện ngắn “Chí
Phèo” của nhà văn Nam Cao
Cái bi trong nghệ thuật - bi kịch là một hiện tượng thẩm mĩ, diễn ta quy mô của
một hành động hoàn chỉnh (bao gồm tình tiết như là “linh hồn” - tinh thần hay cơ sở
quan trọng hình thành bi kịch, với tính cách nhân vật vừa là hệ quả theo sau vừa chủ
động tác động đến tình tiết) và thường kết thúc bằng một cái chết.
Trong truyện ngắn “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao, việc tự sát của Chí Phèo là
một bi kịch. Tình tiết Chí Phèo tỉnh giấc sau đêm tình với Thị Nở, thức tỉnh nhận thức về
cuộc đời và chính mình, có khao khát hoàn lương và gây dựng một gia đình hạnh phúc
nhưng rồi bị cự tuyệt và ruồng bỏ là linh hồn - cơ sở của bi kịch. Bi kịch này có mâu
thuẫn giữa khát khao vươn trở về cái thiện, đạt đến hạnh phúc với sự chối từ của Thị
Nở, với sự ruồng bỏ, khinh miệt của người đời, với sự áp bức và thao túng của Bá Kiến,..
Đó là mâu thuẫn giữa khát vọng, lí tưởng với tình trạng không thể nào thực hiện được
chúng trong thực tế, là lí tưởng đúng đắn nhưng có rất nhiều hạn chế về năng lực và rồi
để thất bại. Có thể coi bi kịch của Chí Phèo là biểu hiện thuộc về cái bi của sự lầm lạc.
Đặt trong sự tiếp nhận, bi kịch của Chí Phèo khiến người đọc có cảm xúc đau xót,
tiếc thương cho một thân phận tội nghiệp với khát khao hoàn lương và dạt đến hạnh
phúc bất thành. Đồng thời, nó cũng khiến độc giả phẫn nộ trước hiện thực bất công, tàn
nhẫn và tên địa chủ Bá Kiến xảo quyệt, độc ác đã khiến Chí Phèo rơi vào tình cảnh bế tắc
để rồi phải tự sát. Qua đó, bi kịch này giúp người đọc có cái nhìn nhân văn, cảm thông
và thấu hiểu hơn với những con người “lầm đường lạc lối” từng có những tội lỗi trong
quá khứ nhưng nay đã hoàn lương, có sự tôn trọng mong muốn đạt đến hạnh phúc của
con người, đồng thời biết ghê tởm và tránh xa những mưu mẹo độc ác, phi nhân tính.
N.Đ.H VH K49 19
Câu 10: Trình bày và phân tích nguồn gốc, bản chất, hệ quả và các hình thức biểu hiện
của cái hài ? Dẫn chứng một tình huống hài trong đời sống hoặc trong nghệ thuật ?
*Bản chất, nguồn gốc, hệ quả và hình thức biểu hiện của cái hài
Về bản chất, cái hài là sự ngụy tạo một nội dụng xấu bằng hình thức đẹp nhưng bị
phát hiện và tạo ra tiếng cười phê phán. Nó là cái cười trước cái xấu, cái ác giả làm cái
đẹp nhưng bị vạch trần hay đánh bại. Nội dung xấu là nội dung tạo ra cho con người
những cảm xúc tiêu cực, chán ghét, trái ngược với cái chân, cái thiện và các chuẩn mực
xã hội. Hình thức đẹp là cấu trúc hài hòa, cân xứng, là sự cân bằng giữa các yếu tố khi
kết hợp với nhau.
Về nguồn gốc, cái hài hình thành từ sự khập khiễng, mất cân xứng, sự mâu thuẫn
giũa nội dung xấu và hình thức đẹp. Khi hình thức đẹp chứa đựng nội dung xấu, ngụy
tạo thành cái đẹp để đánh lừa con người và sự ngụy tạo ấy bị vạch trần hay phê phán
với tiếng cười thì cái hài hình thành. Sự mâu thuẫn này có thể là giữa vẻ ngoài đẹp đẽ,
những hành động và lời nói cao cả với nội dung thật sự là nhân cách xấu xa, tình cảm và
tư tưởng lừa dối, phi đạo đức, trái ngược với chuẩn mực xã hội.
Về hệ quả, cái hài tạo nên cái cười nhưng là một tiếng cười đặc biệt. Nó trước
tiên là tiếng cười của trí tuệ khi con người phát hiện, vạch trần và phê phán cái xấu, cái
ác. Từ đó, nó khiến con người nhận thức và tránh xa những điều xấu xa, tội lỗi, khẳng
định, đề cao cái đẹp và giúp con người gián tiếp đến gần hơn với cái đẹp, cái thiện chân
chính. Cái hài là tiếng cười của sự chiến thắng khi con người vui sướng và sảng khoái vì
đã vạch trần hay đánh bại cái xấu, đưa nó vào thế bị động hoàn toàn, khiến nó không
còn khả năng chống trả hay phát triển. Cái hài cũng là tiếng cười của sự khoan dung với
thái độ sẵn sàng tha thứ, bỏ qua cho cái xấu miễn là nó phải thay đổi, loại bỏ nội dung
xấu và thay thế bằng nội dung đẹp để trở thành cái đẹp thật sự.
Sau cùng, tiếng cười của cái hài mang tính nhân văn, không bao giờ xuất hiện khi
sự ngụy tạo cái xấu, cái khiếm khuyết là vô tình, vô chủ ý hay do hoàn cảnh khách quan
bất khả kháng gây ra, như nhận thức hoàn toàn mù quáng hay sự khuyết tật về trí tuệ.
TIếng cười chỉ xuất hiện khi phát hiện cái xấu chủ động ngụy tạo thành cái đẹp. Như vậy,
cái hài tạo ra tiếng cười phê phán đầy trí tuệ, sảng khoái, khoan dung và nhân văn cho
con người khi ta phát hiện, vạch trần hay đánh bại cái xấu một cách vui vẻ. Cái hài do đó
đem đến cho con người những cảm xúc tích cực và sự nhận thức đúng đắn, biết tránh
xa cái xấu để rồi gián tiếp đến gần hơn với cái đẹp.
Về hình thức biểu hiện, cái hài có các hình thức chính là: cái khôi hài (hài hước),
cái hài mỉa mai châm biếm, cái hài đả kích. Chúng lần lượt có sự tăng dần về mức độ gây
hại của cái xấu và mức độ đấu tranh với nó. Cái khôi hài là sự vạch trần và phê phán cái
xấu đơn giản, ít gây hại một cách nhẹ nhàng và tinh tế, chủ yếu là với cái xấu của bản
thân và mọi người xung quanh mình. Như cái hài ở tính khoe khoang trong truyện “Lợn
cưới áo mới”, tính lười biếng trong truyện “Há miệng chờ sung” hay “Ôm cây đợi thỏ”.
N.Đ.H VH K49 20

Preview text:

Câu hỏi mĩ học
Câu 1: Tại sao mĩ học là khoa học nhân văn ? Tại sao mĩ học nghiên cứu cái đẹp và nghệ
thuật ? Tính ứng dụng của mĩ học ?
Câu 2: Phân tích và chứng minh lao động là nguồn gốc hình thành quan hệ thẩm mĩ. Tính
thẩm mĩ của sản phẩm lao động hình thành như thế nào ?
Câu 3: Phân tích và chứng minh sự đồng hóa trên lĩnh vực tinh thần là nội dung của
quan hệ thẩm mĩ. Ý nghĩa của vấn đề này trong đời sống thẩm mĩ ?
Câu 4: Phân tích và chứng minh giá trị thẩm mĩ là hệ quả của quan hệ thẩm mĩ. Ý nghĩa
của giá trị thẩm mĩ trong cuộc sống ?
Câu 5: Trình bày quan niệm về cái đẹp trong lịch sử phương Tây. Ý nghĩa của quan niệm
này trong mĩ học hiện nay ?
Câu 6: Trình bày quan niệm về cái đẹp trong lịch sử phương Đông. Ý nghĩa của quan
niệm này trong mĩ học hiện nay ?
Câu 7: Phân tích cái đẹp là biểu trưng của những giá trị, đáp ứng những nhu cầu và khát
vọng sống của con người, đem lại cho con người những cảm xúc tích cực, thôi thúc con
người sáng tạo. Thế nào là sống đẹp ?
Câu 8: Phân tích và dẫn chứng những biểu hiện của cái đẹp trong tự nhiên, trong xã hội và trong nghệ thuật.
Câu 9: Trình bày và phân tích nguồn gốc, bản chất, hệ quả và các hình thức biểu hiện của
cái bi ? Dẫn chứng một tình huống bi trong đời sống hoặc trong nghệ thuật ?
Câu 10: Trình bày và phân tích nguồn gốc, bản chất, hệ quả và các hình thức biểu hiện
của cái hài ? Dẫn chứng một tình huống hài trong đời sống hoặc trong nghệ thuật ?
Câu 11: Trình bày cấu trúc của ý thức thẩm mĩ. Vai trò của tình cảm, thế giới quan và hệ
tư tưởng trong đời sống thẩm mĩ ?
Câu 12: Trình bày khái niệm, tính chất, vai trò của thị hiếu thẩm mĩ. Đặc trưng của giáo
dục thị hiếu thẩm mĩ ?
Câu 13: Phân tích, nhận định và dẫn chứng từ luận đề: nghệ thuật là sự phản ánh hiện
thực cuộc sống con người bằng tình yêu rộng lớn - tình yêu đối với cái đẹp.
Câu 14: Phân tích và dẫn chứng từ nhận định: bản chất của nghệ thuật là những giá trị
của xã hội được đánh giá theo qui định của cái đẹp.
Câu 15: Phân tích và dẫn chứng từ luận điểm: bản chất của nghệ thuật là những giá trị
của xã hội được đánh giá theo qui luật riêng của tình cảm.
Câu 16: Trình bày định nghĩa, đặc trưng và vai trò của hình tượng nghệ thuật. N.Đ.H VH K49 1
Câu 1: Tại sao mĩ học là khoa học nhân văn ? Tại sao mĩ học nghiên cứu cái đẹp và
nghệ thuật ? Tính ứng dụng của mĩ học ?

*Mĩ học là khoa học nhân văn
Mĩ học, tên gọi đầy đủ là thẩm mĩ học (aesthetics), do Alexander Baumgarten đặt
ra năm 1735. Ông đã phát triển ý nghĩa của từ “aithesiss” (cảm giác) thành “aesthetics”
(cảm thụ cái đẹp - thẩm mĩ). Khoa học nhân văn là khối ngành khoa học xuất hiện gần
đây, là khoa học nghiên cứu về những giá trị làm nên Con Người (con người xã hội),
những năng lực phẩm chất Người hay nghiên cứu con người ở phương diện văn hóa-xã
hội nơi yếu tố tự nhiên và sinh lí ít tác động tới. Nó có sự khác biệt cơ bản với khoa học
tự nhiên và khoa học xã hội về đối tượng và phương pháp nghiên cứu. Ý nghĩa của khoa
học nhân văn là đáp ứng nhu cầu đa dạng của con người về vật chất và tinh thần, đặc
biệt là tinh thần - đem đến sự hài hòa về chân - thiện - mĩ cho đời sống tinh thần con người.
Mĩ học là khoa học nhân văn vì nó nghiên cứu giá trị làm nên Con Người là cái
đẹp, nghiên cứu người ở phương diện xã hội là phương diện thẩm mĩ. Mĩ học nghiên
cứu quan hệ thẩm mĩ của con người với hiện thực, các giá trị thẩm mĩ được con người
tiếp nhận, thưởng thức và sáng tạo. Hai vấn đề trung tâm và quan trọng nhất của mĩ học
là cái đẹp và nghệ thuật. Mĩ học còn là cảm năng học, là khoa học nghiên cứu cảm xúc
người mà trước tiên là tri giác. Chúng đều là những phương diện quan trọng của cuộc
sống con người. Ý nghĩa của mĩ học - cảm năng học là giúp con người tạo ra cảm xúc tích
cực và hạnh phúc, nâng cao năng lực thẩm mĩ của con người, giúp con người sống đẹp
hơn, và đem cái đẹp đến cho đời sống. Đó là ý nghĩa quan trọng góp phần tạo ra sự hài
hòa về chân - thiện - mĩ cho con người. Như vậy, từ đối tượng nghiên cứu và ý nghĩa, ta
xác định mĩ học là khoa học nhân văn.
*Mĩ học nghiên cứu cái đẹp và nghệ thuật
Cái đẹp và nghệ thuật là hai vấn đề bất hủ luôn được đặt ra của mĩ học. Cái đẹp là
phạm trù khách thể thẩm mĩ quan trọng nhất của đời sống thẩm mĩ và là vấn đề trung
tâm của mĩ học. Nhưng những nhận định về nó gần như hoàn toàn mang tính chủ quan,
trái chiều và khó phủ định. Như Plato và sau này là phái duy tâm khách quan quan niệm
cái đẹp bắt nguồn từ thế giới ý niệm huyền bí và mọi thứ đẹp trong cuộc sống là sự sao
phỏng của nó. Còn Aristole và sau này là phái duy vật sơ khai cho rằng cái đẹp được khái
quát từ các sự vật hiện tượng trong thực tế. Vì thế, vấn đề được đặt ra là tính khách quan của cái đẹp.
Nghệ thuật là hình thái biểu hiện cao nhất, tập trung nhất quan hệ thẩm mĩ của
con người với hiện thực và tạo ra nhiều giá trị thẩm mĩ nhất cho đời sống. Nhưng cảm
hứng sáng tạo nghệ thuật của nghệ sĩ rất khó nắm bắt (chợt có chợt mất) và mỗi nghệ sĩ
lại có trạng thái cảm hứng sáng tạo riêng. Như trong cùng một thời kì, Huy Cận thường
tìm cảm hứng ở không gian vũ trụ mênh mông, đượm buồn, Xuân Diệu thường tìm cảm N.Đ.H VH K49 2
hứng ở không gian rạo rực xuân sắc, xuân tình còn Nguyễn Bính thường có cảm hứng ở
cảnh làng quê bình dị. Vì thế, cảm hứng sáng tạo gần như không có qui luật và vấn đề
được đặt ra là tính qui luật của nghệ thuật.
Như vậy, cái đẹp và nghệ thuật là hai phương diện quan trọng của đời sống tinh
thần - thẩm mĩ con người nhưng chúng lại phải đối diện với hai vấn đề lớn về tính khách
quan và tính qui luật. Vì thế mĩ học với tư cách là khoa học nhân văn nghiên cứu phương
diện thẩm mĩ của đời sống sẽ tập trung nghiên cứu cái đẹp và nghệ thuật. Nó sẽ giải
quyết những vấn đề bất hủ này và đem đến những lợi ích cho đời sống con người.
*Tính ứng dụng của mĩ học
Ý nghĩa quan trọng nhất của mĩ học là đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ - cái đẹp, đem
cái đẹp đến cho đời sống và giúp con người sống đẹp hơn. Để thực hiện vai trò này, mĩ
học có ứng dụng ở nhiều lĩnh vực.
Mĩ học là khoa học cơ bản, tạo ra cơ sở lí thuyết chung cho mọi khoa học nghiên
cứu về nghệ thuật như nghệ thuật học, điện ảnh học, âm nhạc học, lí luận văn học,... Lí
thuyết mĩ học còn được ứng dụng rộng rãi vào cuộc sống thực tế. Như mĩ học hoa viên
nghiên cứu cái đẹp của những khu vườn, cây hoa, mảng xanh, được ứng dụng trong xây
dựng và chỉnh trang đô thị. Mĩ dung học nghiên cứu cái đẹp của khuôn mặt con người
như tỉ lệ vàng, được ứng dụng phổ biến trong ngành giải trí và phẫu thuật thẩm mĩ. Mĩ
học trang trí nghiên cứu cái đẹp trong thiết kế và trang trí sản phẩm, giúp hỗ trợ sản
xuất công nghiệp và kinh doanh sản phẩm. Mĩ học còn có ứng dụng trong thể thao, ẩm
thực,... Dù có ứng dụng gì, ý nghĩa lớn nhất của mĩ học là giúp con người sống đẹp hơn. N.Đ.H VH K49 3
Câu 2: Phân tích và chứng minh lao động là nguồn gốc hình thành quan hệ thẩm mĩ.
Tính thẩm mĩ của sản phẩm lao động hình thành như thế nào ?

*Lao động là nguồn gốc hình thành quan hệ thẩm mĩ
Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra sản
phẩm phục vụ cho nhu cầu đời sống. Quan hệ thẩm mĩ là quan hệ giữa chủ thể thẩm mĩ
- con người xã hội có nhu cầu và khả năng đánh giá, thưởng thức, sáng tạo giá trị thẩm
mĩ với khách thể thẩm mĩ - những phương diện, thuộc tính thẩm mĩ của các sự vật hiện
tượng trong thiên nhiên, xã hội và con người. Lao động là nguồn gốc hình thành quan hệ
thẩm mĩ vì lao động khiến con người trở thành chủ thể thẩm mĩ và hình thành khách thể thẩm mĩ.
Lao động trước hết đáp ứng nhu cầu vật chất bản năng của con người như ăn,
mặc, ở, đi lại,... bởi con người là sản phẩm của giới tự nhiên. Nhưng không dừng lại ở
đó, lao động và quá trình tiến hóa đã khiến con người có những nhu cầu tinh thần, là
nhu cầu thoát khỏi ham muốn bản năng để phát huy năng lực - phẩm chất Người (con người xã hội).
Trước hết, đó là nhu cầu hiểu biết thế giới xung quanh và tác động, biến đổi nó
để phục vụ cho cuộc sống. Chính quá trình lao động đồng thời đáp ứng nhu cầu này, mở
ra hiểu biết về thế giới bằng việc tác động vào tự nhiên, khiến nó bộc lộ ra những thuộc
tính để rồi con người nhận thức chúng. Như người nguyên thủy tác động vào cây, đá từ
đó biết cách chế tác và sử dụng công cụ đá. Lao động còn đem đến khả năng biến đổi,
cải tạo thế giới, khiến con người tồn tại và đối diện một cách độc lập, không phụ thuộc
thụ động vào tự nhiên. Như người nguyên thủy với công cụ đá biết mở rộng hang động,
chiến đấu với thú dữ và khắc tranh lên vách hang.
Nhờ vậy, con người thoát ra khỏi tình trạng sống hoàn toàn bằng nhu cầu bản
năng - trạng thái con người tự nhiên mà trở thành con người xã hội. Con người sống chủ
động và hành động lí tính, có ý thức, nhận thức được các nhu cầu, mục đích của mình và
cách thức thực hiện chúng. Khi đó, con người trở thành chủ thể. Chủ thể quan tâm thế
giới tự nhiên, muốn hiểu biết và chiếm lĩnh, cải tạo nó để phục vụ cho đời sống. Khi đó,
phạm vi/vùng quan tâm của chủ thể chính là khách thể.
Lao động còn khiến con người chiếm lĩnh thế giới theo nhiều cách khác nhau
trong đó có đồng hóa tinh thần. Nó là sự phóng chiếu thể hiện cảm xúc con người ở sự
vật, hiện tượng trong tự nhiên, khiến tự nhiên mang những đặc điểm như tính chất của
con người. Con người khi tiến hành đồng hóa tinh thần bằng cảm xúc thẩm mĩ thì trở
thành chủ thể thẩm mĩ, khách thể được đồng hóa tinh thần trở thành khách thể (đối
tượng) thẩm mĩ. Chính sự đồng hóa tinh thần lại được thực hiện bởi những giác quan đã
được hoàn thiện, “thẩm mĩ hóa” từ trong quá trình lao động sản xuất. N.Đ.H VH K49 4
Như vậy lao động khiến con người có nhu cầu tinh thần và thoát khỏi tình trạng
sống bản năng, khiến con người sống ý thức, trở thành chủ thể và có vùng quan tâm là
khách thể. Tiếp đó, lao động khiến con người có khả năng đồng hóa tinh thần, trở thành
chủ thể thẩm mĩ và có khách thể thẩm mĩ. Vì thế, lao động chính là nguồn gốc hình
thành quan hệ thẩm mĩ của con người với hiện thực cuộc sống.
*Tính thẩm mĩ của sản phẩm lao động
Tính thẩm mĩ là cảm xúc thẩm mĩ vốn không có sẵn nhưng được chủ thể thẩm mĩ
truyền vào sản phẩm thông qua sự đồng hóa tinh thần và cảm xúc này có thể được tiếp nhận bởi người khác.
Tính thẩm mĩ của sản phẩm lao động hình thành từ trong quá trình lao động. Quá
trình lao động hoàn thiện, thẩm mĩ hóa các giác quan của con người. Trước hết lao động
hoàn thiện mắt và tai, là cơ quan tiếp nhận và truyền dẫn cảm giác đến cảm xúc con
người, đem đến năng lực cảm thụ và thẩm định thẩm mĩ. Đặc biệt nhất, lao động hoàn
thiện đôi bàn tay với kĩ thuật, kĩ xảo, sự điêu luyện trong chế tác công cụ và sản phẩm,
khiến con người có thể truyền cảm xúc vào sản phẩm và qua nó cảm xúc có thể được
tiếp nhận, tức đem đến năng lực sáng tạo thẩm mĩ.
Từ đôi bàn tay được hoàn thiện, con người có thể tạo ra sản phẩm vừa có công
năng sử dụng (tính có ích) vừa có công năng thẩm mĩ (tính thẩm mĩ). Khi tính thẩm mĩ
lấn át tính có ích của sản phẩm thì sản phẩm ấy trở thành tác phẩm nghệ thuật giàu cảm
xúc. Như trống đồng Đông Sơn là thành tựu nghệ thuật tiêu biểu thể hiện cả trình độ
chế tác kim khí cao và trình độ nghệ thuật điêu khắc điêu luyện của cư dân Âu Lạc cổ
đại. Hay các tác phẩm âm nhạc của Mozart, Beethoven, Bach,..., tác phẩm hội họa của
Da Vinci, Picasso, Van Gogh,... đều thể hiện trình độ kĩ thuật điêu luyện của đôi bàn tay.
Như vậy, tính thẩm mĩ của sản phẩm lao động đến từ đôi bàn tay điêu luyện mà
sự điêu luyện ấy lại được phát triển và hoàn thiện trong quá trình lao động sản xuất của
con người. Đây chính là quá trình hình thành tính thẩm mĩ trong sản phẩm lao động. N.Đ.H VH K49 5
Câu 3: Phân tích và chứng minh sự đồng hóa trên lĩnh vực tinh thần là nội dung của
quan hệ thẩm mĩ. Ý nghĩa của vấn đề này trong đời sống thẩm mĩ ?

*Sự đồng hóa trên lĩnh vực tinh thần là nội dung của quan hệ thẩm mĩ
Quan hệ thẩm mĩ là quan hệ giữa chủ thể thẩm mĩ - con người xã hội có nhu cầu
và khả năng thưởng thức, đánh giá, sáng tạo giá trị thẩm mĩ với khách thể thẩm mĩ -
những phương diện thẩm mĩ của các sự vật hiện tượng trong đời sống. Quan hệ thẩm
mĩ là một trong nhiều mối quan hệ đa dạng của con người với hiện thực, chúng hình
thành dựa trên những nhu cầu và khả năng chiếm lĩnh hiện thực bằng nhiều cách thức
khác nhau được nảy sinh từ lao động sản xuất. Quan hệ thẩm mĩ hình thành dựa trên
nhu cầu và khả năng chiếm lĩnh hiện thực bằng cảm xúc thẩm mĩ. Đồng hóa tinh thần là
nội dung của quan hệ thẩm mĩ vì nó thực hiện khả năng, nhu cầu này; đồng thời chỉ khi
đồng hóa tinh thần, chủ thể mới trở thành chủ thể thẩm mĩ và có khách thể thẩm mĩ.
Đồng hóa nghĩa là làm cho giống, đồng hóa tinh thần là chiếm lĩnh và truyền vào
đối tượng những cảm xúc, suy nghĩ, là sự cụ thể hóa tình cảm đối với các sự vật hiện
tượng trong tự nhiên, giúp con người có thể biểu đạt rõ ràng tình cảm và người khác có
thể tiếp nhận chúng. Nói cách khác, nó là sự phóng chiếu thể hiện cảm xúc vào đối
tượng, khiến đối tượng mang những đặc điểm tương tự như tính chất của con người.
Quá trình đồng hóa tinh thần bắt đầu khi giới tự nhiên được phản ánh vào não
người, được tiếp nhận, lưu giữ và tái tạo thông tin gắn với cảm xúc. Sự tái tạo này gắn
liền với sự liên tưởng và tưởng tượng, là sự kết nối giữa cái có thực với cái không có
thực, với cái chưa có và cần có trong đời sống. Mà cụ thể, đó là sự liên tưởng giữa sự
vật hiện tượng thực tế với tính chất của con người. Tưởng tượng khiến hình ảnh trong
hiện thực được thăng hoa trong ý thức, là sự biến đổi nâng lên toát ra ý nghĩa nào đó
gắn với các tính chất con người. Ý thức thực thể hóa sự thăng hoa này thành biểu trưng;
biểu trưng là ý nghĩa toát ra từ đối tượng, có thể là ý nghĩa toát ra từ ngôn ngữ, màu
sắc, tác phẩm nghệ thuật. Như những dòng thơ trong “Tràng giang” của Huy Cận:
“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng”
Con sông dài với sóng gợn, chiếc thuyền xuôi mái và một cành củi khô trôi đều là những
sự vật hiện tượng khách quan nhưng nhà thơ đã cảm nhận, tưởng tượng và phóng
chiếu vào chúng một nỗi buồn sầu cô độc xót xa - một trạng thái, tính chất của con
người. Và Huy Cận đã thực thể hóa cảm xúc của mình thành những biểu trưng ngôn từ
trong câu thơ để qua nó độc giả có thể thấu hiểu. Trong đời thường, ta vui sướng say
mê trước vườn hoa rực rỡ, xem nó như biểu trưng của sự sinh sôi phát triển mạnh mẽ
phong phú - tính chất của cả tự nhiên và con người. Đó chính là đồng hóa tinh thần. N.Đ.H VH K49 6
Như vậy, đồng hóa tinh thần giúp con người chiếm lĩnh hiện thực bằng cảm xúc,
khiến đối tượng có ý nghĩa mới gắn với tính chất của con người và thực thể hóa ý nghĩa
đó thành biểu trưng. Khi cảm xúc ấy là cảm xúc thẩm mĩ thì đối tượng và biểu trưng có ý
nghĩa thẩm mĩ. Chỉ khi đồng hóa tinh thần bằng cảm xúc thẩm mĩ, chủ thể mới trở thành
chủ thể thẩm mĩ và có khách thể (đối tượng) thẩm mĩ. Từ đó mà quan hệ thẩm mĩ hình
thành. Như vậy, đồng hóa tinh thần (bằng cảm xúc thẩm mĩ) là nội dung của quan hệ thẩm mĩ.
*Ý nghĩa của vấn đề này trong đời sống thẩm mĩ
Đồng hóa tinh thần (bằng cảm xúc thẩm mĩ) là nội dung của quan hệ thẩm mĩ, là
cơ sở hình thành chủ thể - khách thể - quan hệ thẩm mĩ và đời sống thẩm mĩ. Nếu không
có đồng hóa tinh thần thì con người không có quan hệ thẩm mĩ hay đời sống thẩm mĩ.
Đồng hóa tinh thần đáp ứng nhu cầu và khả năng chiếm lĩnh hiện thực bằng cảm
xúc của con người. Nó khiến con người có khả năng phóng chiếu thể hiện tình cảm vào
sự vật hiện tượng tự nhiên, bộc lộ và tiếp nhận những cảm xúc, suy nghĩ đầy tinh tế,
phong phú và đặc biệt cao đẹp. Chính nhờ đồng hóa tinh thần, mà một ý đồ đơn giản
như “Em đã có người thương chưa ?” trở thành “Gặp đây mận mới hỏi đào/Vườn hồng
đã có ai vào hay chưa ?” với một tình cảm trong sáng và tế nhị hay “Hãy nhớ ơn người
từng giúp đỡ ta” thành “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây/Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng”
với một lòng biết ơn tha thiết. Qua đó, nó đem đến cho con người những tình cảm trong
sáng, cụ thể và đầy nhân văn, tạo ra giá trị tinh thần cao quý của riêng quan hệ thẩm mĩ,
chỉ tồn tại trong đời sống thẩm mĩ, đó chính là giá trị thẩm mĩ.
Giá trị thẩm mĩ đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người ở một tầng bậc rất cao,
tạo ra cảm xúc hạnh phúc, tích cực, thanh lọc và làm phong phú tâm hồn người. Giá trị
thẩm mĩ giúp cân bằng những giá trị tinh thần cao quý khác, đặc biệt là chân và thiện,
tạo ra một hệ giá trị lớn lao: chân - thiện - mĩ. Đó là những giá trị có ảnh hưởng sâu rộng
đến đời sống con người, đồng thời là tiêu chuẩn mà toàn thể nhân loại từ cổ chí kim, từ
đông sang tây bao đời nay luôn hướng đến.
Bên cạnh đó, do giá trị thẩm mĩ rất cao quý và là giá trị mà mọi người ở mọi nơi
mọi lúc luôn muốn đạt đến, nên sự đồng hóa tinh thần không lúc nào là không được
diễn ra. Chính nhờ sự đồng hóa tinh thần bất tận này mà trong cuộc sống, con người
luôn đối diện với vô số biểu trưng thẩm mĩ và ý nghĩa thẩm mĩ (được thực thể hóa). Do
vậy, đời sống thẩm mĩ trở nên vô cùng phong phú. Ở đó, các biểu trưng và ý nghĩa thẩm
mĩ được mọi người truyền đạt và tiếp nhận một cách rộng rãi. Chính nhờ cảm nhận các
biểu trưng này mà nhân loại có được một thành tựu vĩ đại - văn hóa. N.Đ.H VH K49 7
Câu 4: Phân tích và chứng minh giá trị thẩm mĩ là hệ quả của quan hệ thẩm mĩ. Ý nghĩa
của giá trị thẩm mĩ trong cuộc sống ?

*Giá trị thẩm mĩ là hệ quả của quan hệ thẩm mĩ
Giá trị là điều tích cực đáp ứng nhu cầu đa dạng của con người về vật chất và tinh
thần. Giá trị thẩm mĩ là giá trị đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ mà cụ thể là nhu cầu về cái đẹp.
Nhu cầu cái đẹp là nhu cầu về thứ có hình thức cân đối hài hòa, tức có sự cân bằng giữa
các yếu tố khi kết hợp với nhau, và có nội dung tích cực, tạo cho con người cảm xúc vui
sướng, hạnh phúc. Đây là nhu cầu về tinh thần, do đó giá trị thẩm mĩ là giá trị tinh thần.
Quan hệ thẩm mĩ là quan hệ giữa chủ thể thẩm mĩ - con người xã hội với nhu cầu
và khả năng tiếp nhận, thưởng thức, sáng tạo thẩm mĩ với khách thể thẩm mĩ - các
phương diện, thuộc tính thẩm mĩ của các sự vật hiện tượng trong đời sống. Giá trị thẩm
mĩ là hệ quả của quan hệ thẩm mĩ. Bởi quan hệ thẩm mĩ đáp ứng nhu cầu của con người
về cái đẹp, tạo ra cho con người những cảm xúc hạnh phúc, tích cực trong đời sống
Quan hệ thẩm mĩ với nội dung là sự đồng hóa tinh thần trước tiên đem đến khả
năng và đáp ứng nhu cầu chiếm lĩnh hiện thực bằng cảm xúc thẩm mĩ của con người.
Quá trình lao động đã khiến con người có những khả năng và nhu cầu đa dạng trong
việc chiếm lĩnh hiện thực, hình thành nhiều mối quan hệ với đời sống mà quan hệ thẩm
mĩ là một trong số đó. Đồng hóa tinh thần là nội dung của quan hệ thẩm mĩ, là sự chiếm
lĩnh và truyền vào đối tượng những cảm xúc, suy nghĩ, cụ thể hóa tình cảm con người
đối với các sự vật hiện tượng trong tự nhiên.
Đồng hóa tinh thần bằng cảm xúc thẩm mĩ giúp con người có khả năng biểu đạt
rõ ràng, tinh tế tình cảm thẩm mĩ của mình, đồng thời người khác có thể tiếp nhận
chúng. Sự bộc lộ và tiếp nhận những tình cảm thẩm mĩ tốt đẹp, tinh tế, và cụ thể này sẽ
tạo ra cho con người những cảm xúc tích cực, trong sáng, thanh lọc và làm phong phú
tâm hồn người. Đồng thời, nó sẽ đem lại cho con người những kinh nghiệm thẩm mĩ quý
báu, giúp phát triển và hoàn thiện năng lực tiếp nhận, thưởng thức và sáng tạo thẩm mĩ.
Như vậy, quan hệ thẩm mĩ tạo ra giá trị thẩm mĩ trước tiên qua sự đáp ứng nhu cầu
chiếm lĩnh hiện thực bằng cảm xúc thẩm mĩ.
Như ở những dòng thơ “Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang/Tóc buồn buông xuống
lệ ngàn hàng” (Đây mùa thu tới - Xuân Diệu), nhà thơ đã chiếm lĩnh và truyền vào “rặng
liễu” một nỗi buồn tiếc và đau đớn vô biên trước sự tàn phai của cái đẹp thiên nhiên khi
mùa thu tới. Bởi sự đồng hóa tinh thần, mà một ý đồ đơn giản “Em đã có người thương
chưa ?” trở thành “Gặp đây mận mới hỏi đào/Vườn hồng đã có ai vào hay chưa ?” với
một tình cảm trong sáng và tế nhị. Nhờ vậy, người viết/nói đã được đáp ứng nhu cầu
bộc lộ rõ ràng, tinh tế tình cảm thẩm mĩ của mình, và người nghe cũng được đáp ứng
nhu cầu tiếp nhận những tình cảm tốt đẹp, vô tư ấy. Qua đó, con người sẽ có những
cảm xúc tích cực, được thanh lọc và mở rộng tâm hồn mình. Đây chính là giá trị thẩm mĩ
được tạo ra bởi sự đồng hóa tinh thần - nội dung của quan hệ thẩm mĩ. N.Đ.H VH K49 8
Bên cạnh đó, quan hệ thẩm mĩ còn đáp ứng nhu cầu nhận thức thế giới của con
người, đem đến tri thức và hiểu biết về đời sống. Để thực hiện các hoạt động thực tiễn
cải biến hiện thực, con người có nhu cầu nhận thức thế giới và quan hệ thẩm mĩ là một
trong những hình thức đáp ứng nhu cầu này. Đồng thời, quan hệ thẩm mĩ, thông qua cái
đẹp và những tình cảm thẩm mĩ cũng góp phần đáp ứng nhu cầu của con người về sự
cân bằng hài hòa đời sống tinh thần của mình. Nó, như đã nói, sẽ góp phần tạo nên đời
sống tinh thần với những cảm xúc hạnh phúc, tích cực và lành mạnh. Đó đều là những
giá trị thẩm mĩ cần thiết và lớn lao mà quan hệ thẩm mĩ tạo ra cho con người.
*Ý nghĩa của giá trị thẩm mĩ trong cuộc sống
Như vậy, giá trị thẩm mĩ là hệ quả được tạo ra từ quan hệ thẩm mĩ, là sự đáp ứng
nhu cầu thẩm mĩ của con người mà cụ thể là nhu cầu về cái đẹp. Nó là loại giá trị có ý
nghĩa to lớn và vai trò không thể thay thế trong cuộc sống. Bởi cái đẹp là một giá trị tinh
thần cao quý luôn được con người hướng đến tiếp nhận, thưởng thức và sáng tạo. Giá
trị thẩm mĩ cùng cái đẹp giúp cân bằng các giá trị tinh thần cao quý khác như cái chân và
cái thiện, tạo ra một hệ giá trị lớn lao: chân - thiện - mĩ. Đó là hệ giá trị có ảnh hưởng sâu
rộng đến đời sống con người, đồng thời là tiêu chuẩn mà toàn thể nhân loại từ cổ chí
kim, từ đông sang tây bao đời nay luôn hướng đến. Giá trị thẩm mĩ đáp ứng nhu cầu về
cái đẹp, chính là đáp ứng một nhu cầu ở tầng bậc rất cao của con người.
Bên cạnh đó, giá trị thẩm mĩ còn có ý nghĩa trong việc giúp con người có những
tri thức và hiểu biết về cuộc sống, về tự nhiên, xã hội, con người và chính đời sống thẩm
mĩ. Những tri thức này sẽ góp phần phục vụ hoạt động thực tiễn cải biến hiện thực, cải
tạo xã hội ngày một tốt đẹp, văn minh và hạnh phúc hơn của con người.
Tuy nhiên, giá trị thẩm mĩ không bao giờ bất biến mà luôn có sự biến đổi đa dạng
tùy thuộc vào không gian - thời gian - chủ thể. Ở mỗi không gian, khu vực, quốc gia,
vùng miền khác nhau, ở mỗi thời kì, giai đoạn, hoàn cảnh khác nhau và ở mỗi cộng
đồng, cá nhân sẽ có các giá trị thẩm mĩ khác nhau. Các giá trị này có thể thống nhất
nhưng không bao giờ đồng nhất. Chính điều này khiến đời sống thẩm mĩ trở nên phong
phú và khiến quan hệ thẩm mĩ có thể đáp ứng những nhu cầu đa dạng khác nhau của con người.
Sau cùng, ý nghĩa lớn nhất của quan hệ thẩm mĩ cũng như giá trị thẩm mĩ đối với
cuộc sống là tạo ra những cảm xúc hạnh phúc và tích cực, nâng cao năng lực thẩm mĩ,
thanh lọc và làm phong phú thêm cho tâm hồn con người. N.Đ.H VH K49 9
Câu 5: Trình bày quan niệm về cái đẹp trong lịch sử phương Tây, Ý nghĩa của quan
niệm này trong mĩ học hiện nay

* Quan niệm về cái đẹp trong lịch sử phương Tây
Lịch sử tư tưởng mĩ học phương Tây chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu ba vấn đề
chính hay ba câu hỏi lớn, đó là: “Cái đẹp là gì ?”, “Làm thế nào ta biết được cái đẹp ?”,
“Làm thế nào ta hiểu được cái đẹp ?”
Vấn đề thứ nhất “Cái đẹp là gì ?” được đặt ra từ thời Hi Lạp cổ đại, với hai quan
niệm nổi bật cùng song hành giải quyết nó của Plato và Aristole, đây là hai quan điểm
phổ biến ảnh hưởng đến toàn bộ lịch sử mĩ-triết học phương Tây về sau.
Theo Plato, cái đẹp là ý niệm đẹp, tồn tại trong thế giới ý niệm nằm bên ngoài thế
giới hiện thực ta đang sống. Ý niệm đẹp phóng chiếu vào tự nhiên, tạo ra các hình thức
đẹp, như ý niệm về bông hoa và thân hình đẹp tạo nên các kiểu hoa và kiểu người đẹp.
Do đó, những thứ ta nghĩ là cái đẹp trong đời sống đều chỉ là hình thức của ý niệm đẹp
và đều là ảo ảnh lừa dối. Cái đẹp chỉ tồn tại trong thế giới ý niệm. Đây là quan niệm đặt
cơ sở hình thành nên trường phái duy tâm khách quan.
Theo Aristole, cái đẹp là thực thể đẹp, tồn tại trong thế giới hiện thực, là hình hài
có sự kết hợp thống nhất giữa hình thức vật chất và nội dung ý niệm. Ý niệm đẹp được
toát lên từ thực thể đẹp trong quá trình cảm nhận của con người như cảm nhận đẹp
toát lên từ bông hoa, thân hình đẹp. Quan niệm này đã thừa nhận cái đẹp có cơ sở tồn
tại khách quan, đó là cấu trúc hài hòa cân xứng, là sự cân bằng giữa các yếu tố khi kết
hợp với nhau. Từ đây, con người biết cái đẹp có những tiêu chuẩn khách quan và tiến
hành khám phá chúng. Đây là quan niệm đặt cơ sở hình thành nên phái duy vật sơ khai.
Tuy nhiên về sau, người ta phát hiện ở cùng một sự vật hiện tượng nhưng đánh giá
thẩm mĩ về nó rất khác nhau, có lúc ta cảm nhận nó đẹp nhưng có lúc lại không. Vì thế
vấn đề thứ hai được đặt ra: “Làm thế nào ta biết được cái đẹp ?”
Vấn đề thứ hai được nhiều triết gia nghiên cứu và tranh luận, trong đó tư tưởng
của Kant là nổi bật và có ảnh hưởng to lớn nhất. Theo Kant, cái đẹp là cái làm cho ta vui
sướng hân hoan mà không cần một lí do nào hết, tức cái đẹp phụ thuộc vào cảm xúc chủ
quan của chủ thể. Cùng một bông hoa, lúc này nó khiến ta rung động, vui sướng thì là
đẹp, lúc khác nó không còn khiến ta rung động thì là không đẹp. Quan niệm này đã
khẳng định vai trò của ý thức chủ quan đặc biệt là cảm xúc trong việc cảm nhận cái đẹp.
Tuy nhiên, nó có hạn chế vì đôi khi phụ thuộc và đề cao thái quá vào cảm xúc chủ quan
của con người mà hạ thấp vai trò của cơ sở khách quan. Các triết gia về sau đã kế thừa
tư tưởng và khắc phục những hạn chế của Kant. Tiếp đó, vấn đề thứ ba được đặt ra:
“Làm thế nào ta hiểu được cái đẹp ?”
Theo quan niệm hiện đại, cái đẹp phải được hiểu thông qua ngôn ngữ, chất liệu
như hiểu cái đẹp của văn học qua ngôn từ, âm nhạc qua âm thanh và giai điệu, hội họa N.Đ.H VH K49 10
qua đường nét và màu sắc,... Để hiểu cái đẹp, con người phải học hỏi, nghiên cứu và trải
nghiệm về mĩ học, nghệ thuật và cuộc sống. Như để hiểu tương đối về cái đẹp trong văn
học đòi hỏi con người phải có cảm xúc tinh tế và thấu cảm, trải nghiệm phong phú, hiểu
biết nhất định về lịch sử, lí luận và phê bình văn học,...
*Ý nghĩa của quan niệm này trong mĩ học hiện nay
Những quan niệm về cái đẹp được hình thành từ ba vấn đề lớn trong lịch sử tư
tưởng mĩ học phương Tây nêu trên đã có ý nghĩa lớn lao và ảnh hưởng sâu rộng đối với
tư tưởng mĩ học hiện nay.
Quan niệm của Aristole đã khẳng định cái đẹp là thực thể có sự thống nhất giữa
cái khách quan và chủ quan, thừa nhận cơ sở khách quan của cái đẹp. Quan niệm của
Plato và Kant đã khẳng định vai trò quan trọng, quyết định của ý thức chủ quan, đặc biệt
là cảm xúc trong tiếp nhận cái đẹp. Còn các quan điểm được hình thành từ vấn đề thứ
ba “Làm thế nào ta hiểu được cái đẹp” đã khẳng định vai trò của việc cảm nhận ngôn
ngữ, chất liệu, vai trò của tri thức trong tiếp nhận thẩm mĩ.
Theo quan niệm hiện đại, cái đẹp là thực thể đẹp vừa có tính chất khách quan
vừa có tính chất chủ quan, trong đó ý thức chủ quan có vai trò quan trọng trong tiếp
nhận cái đẹp. Đồng thời, cái đẹp phải được tiếp nhận và sáng tạo thông qua biểu trưng
được thực thể hóa bằng chất liệu, ngôn ngữ. Như vậy, những quan niệm về cái đẹp
trong lịch sử tư tưởng mĩ học phương Tây nêu trên đã đặt cơ sở quan trọng cho sự hình
thành và phát triển của lí luận mĩ học ngày nay. N.Đ.H VH K49 11
Câu 6: Trình bày quan niệm về cái đẹp trong lịch sử phương Đông. Ý nghĩa của quan
niệm này trong mĩ học hiện nay

Quan niệm về cái đẹp trong lịch sử tư tưởng mĩ học phương Đông được thể hiện
sâu sắc nhất ở mĩ học Trung Hoa và Ấn Độ, hai nền văn hóa lớn tiêu biểu nhất ở phương
Đông với nền tảng lí luận phong phú.
Đầu tiên là Trung Hoa. Kinh Dịch là tác phẩm quan trọng tạo ra tiền đề và cơ sở lí
luận cho mĩ học Trung Hoa, dù nó không trực tiếp bàn về mĩ học. Tiền đề thứ nhất của
Kinh Dịch là “cái sinh mệnh” (sự sống). Bản chất của cái sinh mệnh là vận động và biến
đổi theo qui luật trời-đất tự nhiên. Yêu cầu của nó là sự thống nhất hài hòa các phương
diện cuộc sống mà quan trọng nhất là bảo hợp thái hòa “thiên thời - địa lợi - nhân hòa”.
Tiền đề thứ hai là “đạo”. Đạo chi phối quá trình vận động và phát triển của thế giới, là sự
thống nhất giữa âm và dương “nhất âm nhất dương chi vị đạo”.
Từ hai tiền đề này, mĩ học Trung Hoa quan niệm cái đẹp là cái thiện, là cái bảo
toàn sự sống (cái sinh mệnh) và ngược lại cái xấu là cái ác, là cái tiêu diệt sự sống. Đồng
thời, cái đẹp có sự thống nhất hài hòa giữa âm và dương. Vì thế trong nghệ thuật Trung
Quốc, hội họa có thủ pháp âm ẩn-dương hiện, tức vẽ khung cảnh này để gợi tả khung
cảnh không có trong tranh; thơ ca có ý tại ngôn ngoại, tức nói lời này để khơi gợi ý nghĩa sâu xa.
Cái đẹp theo mĩ học Trung Hoa gồm bốn yếu tố: nguyên - hanh - lợi - trinh.
“Nguyên” là bản nguyên, bản tính tự nhiên, là sự hòa hợp với qui luật tự nhiên. Nguyên
gồm các yếu tố khởi đầu cho cái đẹp trong đó thiện đứng đầu “thiện chi trưởng”, như
trẻ con vô tư là thiện, chim tự do trên trời và cá tự do dưới nước là thiện. “Hanh” là sự
tốt đẹp có quan hệ với màu sắc, hình thức của cái đẹp và với sự hưởng thụ cái đẹp của
con người. Hanh gồm các điều kiện thuận lợi cho sự phát triển trong đó có sự hài hòa
giữa thể chất với sắc hình và với tinh thần. Như con người đẹp cần nhan sắc, sức khỏe
thể chất và sức khỏe tinh thần. “Lợi” là lợi ích, gắn bó cùng quan hệ giữa cái đẹp với sự
tồn tại và phát triển của đời sống. Lợi gồm lợi ích cho mình và cho người, cho xã hội,
đem đến cái nghĩa cho cuộc sống. “Trinh” là sự giữ vững chính đạo, không thiên lệch về
một phía và gắn bó với qui luật tự nhiên cùng đạo đức con người. Như đàn ông đẹp
“dương cương” thì mạnh mẽ và nhân hậu (chứ không áp bức), phụ nữ đẹp “âm nhu” thì
dịu dàng và cương quyết (chứ không nhu nhược).
Như vậy, theo quan niệm mĩ học Trung Hoa, cái đẹp là một hình thức hợp qui
luật tự nhiên, có sự vận động biến đổi đa dạng và sự thống nhất hài hòa, gắn bó với cái
thiện và việc tu dưỡng đạo đức. Lí tưởng thẩm mĩ vì thế là lí tưởng nhân sinh với cái đẹp
là thứ kết hợp các yếu tố Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh. Nhìn chung, cái đẹp theo mĩ học
Trung Hoa là cái đẹp nội dung con người, nội dung ấy là đạo đức hay cái thiện.
Đối với Ấn Độ, Veda Upanishad là tác phẩm quan trọng nhất chi phối toàn bộ tư
tưởng triết-mĩ học Ấn Độ. Triết học Ấn Độ cho rằng con người có hai cái ta: ta bản chất N.Đ.H VH K49 12
(ta thật) và ta hiện tượng (ta giả). Cái ta thật có khi con người sinh ra, là sự thật thà hồn
nhiên vô tư, hành động theo ý muốn thật của mình. Cái ta giả có khi con người trưởng
thành và thích nghi với xã hội, phải hành động trái ý muốn thật. Điều này khiến con
người day dứt, muộn phiền, tạo ra cái nghiệp. Nghiệp vận hành trong kiếp, chúng tạo ra
cái khổ. Để thoát khổ con người phải tu tập, giữ giới luật và thiền định, tập trung suy
tưởng. Khi tập trung đến lắng đọng, con người đạt đến niết bàn, là trạng thái vắng lặng
tạp niệm và thanh thản để giải quyết các vấn đề về ý nghĩa cuộc đời. Khi giải quyết được
chúng, con người tìm lại cái ta thật và sống thật với mình. Như vậy, cuộc đời là quá trình
con người đi tìm lại chính mình, nhưng không phải tìm cái ban đầu cũ kĩ mà là cái
nguyên sơ, hồn nhiên vô tư để đối diện với cuộc đời một cách thẳng thắn và có trách
nhiệm, để sống thật, thanh thản không muộn phiền. Vì thế, triết-mĩ học Ấn Độ là triết-
mĩ học nội tâm con người, cái đẹp là cái đẹp tâm linh và hướng về nội tâm, giải phóng
con người bằng suy tư dù thể xác đầy đau khổ
Theo mĩ học Ấn Độ, về nhận thức cái đẹp, có cái đẹp đời thường, nó có thể được
cảm nhận bằng trực quan nhưng là không thật vì sẽ tàn phai. Cái đẹp chân thật ẩn sau
cái đẹp đời thường. Do đó, nhận thức cái đẹp là nhận thức cái đẹp đa dạng đời thường
(trực quan) rồi vượt lên nó để nhận thức cái đẹp tuyệt đối, tức qua nhận thức cái đa
dạng mà nhận thức cái duy nhất. Việc nhận thức này yêu cầu con người phải lánh xa tội
lỗi, tức cái đẹp cũng gắn với cái thiện
Nhìn chung, cái đẹp trong lịch sử tư tưởng mĩ học Ấn Độ được hiểu như là cái
đẹp của Brahman (linh hồn vĩ đại, tinh thần tối cao), được nhận thức trong trạng thái
con người đã lánh xa tội lỗi, đạt đến sự thanh thoát, thư thái và không còn ham muốn
dục vọng. Đó là cái đẹp tuyệt đối vượt lên cái đẹp trực quan, là cái đẹp an bình đem đến
sự thanh thản cho tâm hồn và giúp ta tìm được cái ta thật, sống thật với mình.
Tóm lại, trong lịch sử tư tưởng mĩ học phương Đông, cái đẹp ở Trung Hoa là cái
hợp qui luật tự nhiên (cái hài hòa), cái đẹp nội dung con người (cái thiện). Cái đẹp ở Ấn
Độ là cái đẹp chân chính ẩn sau cái đẹp đời thường, giúp con người sống thật (cái chân),
cái đẹp tránh xa tội lỗi (cái thiện). Mối quan hệ gắn bó chặt chẽ đến đồng nhất giữa cái
đẹp và cái thiện là nội dung cơ bản của mĩ học phương Đông.
*Ý nghĩa của quan niệm trong mĩ học hiện nay
Có thể thấy, mĩ học Trung Hoa đã đề cao tính chất hài hòa của cái đẹp, còn mĩ
học Ấn Độ khẳng định cái đẹp gắn bó chặt chẽ với cái chân. Đặc biệt, tư tưởng mĩ học
phương Đông đã khẳng định quan hệ chặt chẽ không tách rời giữa cái đẹp và cái thiện,
tuy còn hạn chế ở sự đồng nhất. Theo quan niệm hiện đại, hài hòa là cơ sở quan trọng
của cái đẹp. Đồng thời, cái đẹp dù không đồng nhất nhưng luôn thống nhất với cái chân
và cái thiện, tạo thành hệ giá trị lớn lao mà con người luôn hướng đến. Như vậy, tư
tưởng mĩ học phương Đông đã để lại nhiều quan niệm đúng đắn, khả thủ, đóng góp vào
sự phát triển phong phú và đa dạng của mĩ học hiện nay. N.Đ.H VH K49 13
Câu 7: Phân tích cái đẹp là biểu trưng của những giá trị, đáp ứng những nhu cầu và
khát vọng sống của con người, đem lại cho con người những cảm xúc tích cực, thôi
thúc con người sáng tạo. Thế nào là sống đẹp ?

*Cái đẹp là biểu trưng của những giá trị
Cái đẹp là phạm trù khách thể thẩm mĩ quan trọng nhất của mĩ học. Theo lí luận
mĩ học hiện nay, cái đẹp là thực thể đẹp, là hình hài có sự kết hợp thống nhất giữa yếu
tố vật chất (hình thức) và tinh thần (nội dung). Về hình thức, cái đẹp có cấu trúc hài hòa
cân xứng, là sự cân bằng giữa các yếu tố khi kết hợp với nhau. Về nội dung, nó là những
gì tạo ra cho con người cảm xúc tích cực, hạnh phúc, có sự gắn bó và thống nhất chặt
chẽ với cái chân, cái thiện.
Cái đẹp là biểu trưng của những giá trị. Biểu trưng là ý nghĩa toát ra từ đối tượng.
Ý nghĩa này được hình thành thông qua sự đồng hóa tinh thần của chủ thể, là thứ vốn
không sẵn có mà được tạo ra ở đối tượng, rồi được ý thức thực thể hóa thành biểu
trưng. Cái đẹp là ý nghĩa đẹp toát ra từ đối tượng thẩm mĩ thông qua sự đồng hóa tinh
thần của chủ thể thẩm mĩ. Những đối tượng thẩm mĩ này phải mang giá trị phù hợp với
hình thức và nội dung của cái đẹp. Chúng rất phong phú, tồn tại trong tự nhiên, xã hội,
con người và nghệ thuật; vì thế cái đẹp có những biểu hiện vô cùng đa dạng.
Như cái đẹp trong tự nhiên là ý nghĩa ta cảm nhận được từ núi, sông, hoa,
biển,..., trong xã hội là từ văn hóa, con người, hành động,..., trong nghệ thuật chủ yếu là
từ hình tượng nghệ thuật. Cái đẹp trong những câu thơ “Mắt trừng gửi mộng qua biên
giới/Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” (Tây Tiến - Quang Dũng) chính là ý nghĩa toát ra
từ hình tượng người lính Tây Tiến. Mà cụ thể, đó là ý chí tinh thần vừa hào hùng, kiên
quyết chống quân thù - “Mắt trừng”, vừa hào hoa, thương nhớ quê hương và con người
- “mơ Hà Nội dáng kiều thơm”.
*Cái đẹp đáp ứng những nhu cầu và khát vọng sống của con người, đem lại cho
con người những cảm xúc tích cực, thôi thúc con người sáng tạo
Cái đẹp đáp ứng các nhu cầu tinh thần của con người như nhu cầu nhận thức
(chân), bởi cái đẹp là một phạm trù khách thể thẩm mĩ hình thành từ đời sống, phản
ánh và nhận thức cuộc sống. Như ở hai câu thơ của Quang Dũng, cái đẹp của tinh thần
hào hùng và hào hoa khiến ta hiểu thêm về tâm hồn người lính trong một thời kì lịch sử
của đất nước. Nó cũng đáp ứng nhu cầu hoàn thiện (thiện) bởi nội dung luôn có sự gắn
bó và thống nhất chặt chẽ với đạo đức. Và chính cái đẹp tạo ra sự cân bằng hài hòa giữa
nó với cái chân và cái thiện trong đời sống người, hình thành nên hệ giá trị cao quý chân
- thiện - mĩ là những chuẩn mực mà con người luôn luôn hướng đến.
Cái đẹp còn đem đến cảm xúc tích cực cho con người, thôi thúc con người sáng
tạo. Bởi như đã trình bày, nội dung của cái đẹp là những gì tạo ra cho con người cảm xúc
tích cực. Cái đẹp khiến con người có thêm tình yêu, những cảm xúc nhạy cảm và tinh tế.
Nó đem đến sự lạc quan, yêu đời khiến tâm hồn người trở nên thanh thản, bình yên và N.Đ.H VH K49 14
trong sáng. Cái đẹp đồng thời đem đến những kinh nghiệm thẩm mĩ quý báu. Nó giúp
phát triển và hoàn thiện năng lực thẩm mĩ của con người trong việc tiếp nhận, thưởng
thức và đặc biệt là sáng tạo thẩm mĩ. Bằng những khả năng đa dạng trong việc đáp ứng
nhu cầu của đời sống và những kinh nghiệm quý báu đem đến cho con người, cái đẹp
từng bước khiến con người ý thức về nó và rồi xem nó như một giá trị cao quý không
thể thiếu trong đời sống. Qua đó, cái đẹp kích thích con người không ngừng tiếp nhận,
khám phá và sáng tạo ra nó, tạo ra những giá trị thẩm mĩ mới và áp dụng chúng vào đời
sống, không ngừng “mĩ hóa” đời sống và sống đẹp hơn. *Thế nào là sống đẹp
Sống đẹp luôn là khát khao mà con người muốn đạt đến. Sống đẹp có thể hiểu là
sống gắn bó với cái đẹp, không ngừng tiếp nhận, thưởng thức cái đẹp và sáng tạo cái
đẹp trong mọi lĩnh vực đời sống. Nhưng điều này không đơn giản, bởi một lối sống đẹp
không chỉ cần cái đẹp, mà đòi hỏi sự kết hợp của nhiều yếu tố khác nhau. Mà cụ thể đó
là: sống khỏe (sức khỏe), sống thật (cái chân), sống tốt (cái thiện) và cái đẹp
Trước tiên, để sống đẹp, con người cần sống khỏe, tức có một sức khỏe khỏe
mạnh. Đó là sự khỏe mạnh ở cả ba phương diện: thể chất, tinh thần và quan hệ xã hội.
Một cơ thể khỏe mạnh sẽ giúp các bộ phận cơ thể, đặc biệt là các cơ quan thẩm mĩ như
mắt và tai hoạt động hiệu quả nhất. Tinh thần khỏe mạnh cùng quan hệ xã hội lành
mạnh giúp tâm hồn con người thư thái, bình yên, trong sáng và vô tư. Chúng đều là
những tiền đề quan trọng cho việc tiếp nhận, thưởng thức và sáng tạo thẩm mĩ.
Để sống đẹp, con người cần sống thật, tức sống với những tình cảm, suy nghĩ thật
lòng và có thái độ tôn trọng sự thật - chân lí. Bởi cái đẹp luôn hình thành dựa trên cảm
xúc chân thành, thật tâm và có sự gắn bó chặt chẽ với chân lí. Nó không bao giờ là sự
ngụy tạo, giả dối hay chỉ có hình thức đẹp đẽ bề ngoài.
Sống đẹp cũng chính là sống tốt, tức sống phù hợp với đạo đức, pháp luật và các
chuẩn mực xã hội khác. Bởi cái đẹp luôn tạo ra những cảm xúc tích cực, lành mạnh,
thanh lọc và làm phong phú tâm hồn người. Nó không bao giờ chấp nhận hay dung chứa
những điều phi đạo đức, phản chuẩn mực, những thứ tội lỗi và xấu xa. Một nội dung
tiêu cực, xấu xa, giả dối, trái ngược với cái chân và cái thiện không bao giờ có thể tạo ra
cho con người những cảm xúc tích cực, bình yên và hạnh phúc. Nó đương nhiên không
phải và không bao giờ là nội dung của cái đẹp.
Hiển nhiên, một lối sống đẹp luôn cần cái đẹp, tức cần sự tiếp nhận, thưởng thức
và sáng tạo cái đẹp cùng các giá trị thẩm mĩ khác. Ý nghĩa quan trọng nhất của cái đẹp
chính là giúp con người có được cảm xúc hạnh phúc và tích cực, nâng cao năng lực thẩm
mĩ của con người, kích thích sự sáng tạo và giúp con người sống đẹp hơn.
Sau cùng, một lối sống đẹp là lối sống kết hợp hài hòa những yếu tố trên (sống
khỏe, sống thật, sống tốt và cái đẹp). Nó là lối sống tạo ra những giá trị và ý nghĩa to lớn
cho cuộc đời con người, và cũng là lối sống mà mọi cá nhân luôn mong muốn đạt tới. N.Đ.H VH K49 15
Câu 8: Phân tích và dẫn chứng những biểu hiện của cái đẹp trong tự nhiên, trong xã
hội và trong nghệ thuật.

Cái đẹp là phạm trù khách thể thẩm mĩ quan trọng nhất của mĩ học. Theo lí luận
mĩ học hiện nay, cái đẹp là thực thể đẹp, là hình hài có sự kết hợp thống nhất giữa yếu
tố vật chất (hình thức) và tinh thần (nội dung). Về hình thức, cái đẹp có cấu trúc hài hòa
cân xứng, là sự cân bằng giữa các yếu tố khi kết hợp với nhau. Về nội dung, nó là những
gì tạo ra cho con người cảm xúc tích cực, hạnh phúc, có sự gắn bó và thống nhất chặt
chẽ với cái chân, cái thiện.
Cái đẹp là biểu trưng của những giá trị, biểu trưng là ý nghĩa toát ra từ đối tượng.
Cái đẹp là ý nghĩa toát ra từ đối tượng thẩm mĩ qua sự đồng hóa tinh thần của chủ thể
thẩm mĩ. Những đối tượng này một mặt phải phù hợp với tiêu chuẩn về nội dung và
hình thức của cái đẹp, mặt khác chúng rất phong phú, tồn tại trong tự nhiên, xã hội, con
người và nghệ thuât. Vì thế, biểu hiện của cái đẹp trong các lĩnh vực đời sống là muôn
hình vạn trạng, rất phong phú và đa dạng. *Cái đẹp trong tự nhiên
Nhiều người có quan điểm sai lầm cho rằng cái đẹp trong tự nhiên là hoàn toàn
khách quan. Nhưng cái đẹp bao giờ cũng là sự thống nhất giữa yếu tố khách quan và chủ
quan. Các đối tượng có cấu trúc hài hòa, cân xứng, tức phù hợp với tiêu chuẩn hình thức
của cái đẹp chỉ có thể trở thành cái đẹp khi được đặt trong quan hệ thẩm mĩ, trong sự
cảm nhận chủ quan của chủ thể, khi nó tạo ra cho con người những cảm xúc tích cực.
Một bông hoa đẹp có cơ sở khách quan là hình dạng cân xứng, màu sắc rực rỡ,
hương thơm ngào ngạt, và các yếu tố này kết hợp với nhau thành một chỉnh thể hài
hòa. Đến với con người, nó kích thích các giác quan, nâng cao năng lực tri giác của
chúng, đồng thời khiến ta có cảm xúc thư thái, say mê, tích cực để vượt qua những lo
âu, muộn phiền hay nhu cầu bản năng đời thường, tạo ra tiền đề cho những tình cảm và
suy nghĩ lớn lao hơn của con người. Như vậy, cái đẹp đã hình thành khi con người tiếp
nhận bông hoa cùng cơ sở khách quan của nó. Đó là cách cái đẹp toát ra từ bông hoa,
cũng như từ các sự vật hiện tượng khác trong tự nhiên nói chung khi chúng trở thành
đối tượng thẩm mĩ và chịu sự tiếp nhận của con người. *Cái đẹp trong xã hội
Cái đẹp trong xã hội là hệ quả của các hoạt động thực tiễn cải biến thế giới của
con người, vì thế nó có những biểu hiện vô cùng phong phú ở gần như mọi phương diện
của đời sống xã hội. Nhưng những biểu hiện này phải luôn phù hợp với tiêu chuẩn về
hình thức và nội dung của cái đẹp. Đặc biệt, chúng có sự gắn bó và thống nhất chặt chẽ
với cái chân, cái thiện và những chuẩn mực xã hội. Ở đây, ta sẽ điểm qua một số biểu
hiện nổi bật nhất của cái đẹp trong xã hội. N.Đ.H VH K49 16
Cái đẹp trong lao động - lao động đẹp hình thành khi con người lao động một
cách tự nguyện, tự giác với thái độ vui sướng và thích thú của một tinh thần tích cực
sáng tạo. Lao động đẹp phải tạo ra giá trị thật (chân), có sự hài hòa giữa nhu cầu vật
chất và nhu cầu tinh thần, giữa lợi ích của cá nhân và lợi ích đóng góp cho xã hội (thiện).
Như học tập là một dạng lao động đặc thù - lao động dự trữ. Học đẹp là khi người học
tự nguyện, tự giác tìm hiểu, nghiên cứu, làm chủ, ứng dụng và sáng tạo tri thức để tạo
ra lợi ích cho chính mình và xã hội ở hiện tại và tương lai.
Cái đẹp trong ứng xử - hành vi đẹp hình thành khi con người ứng xử với người
khác bằng thái độ tôn trọng, chân thành, phù hợp với chuẩn mực xã hội. Hành vi đẹp
phải cân bằng hài hòa lợi ích đồng thời tạo ra những cảm xúc tích cực cho mọi người.
Như giao tiếp đẹp là giao tiếp một cách chân thành bằng lời lẽ, thái độ tôn trọng và phù
hợp, dung hòa những cá tính, tạo ra sự thấu hiểu và sự chia sẻ giúp đỡ lẫn nhau.
*Cái đẹp trong nghệ thuật
Nghệ thuật là hình thái biểu hiện tập trung nhất, cao nhất quan hệ thẩm mĩ và cái
đẹp trong đời sống, là sự phản ánh cuộc sống bằng tình yêu rộng lớn - tình yêu đối với
cái đẹp. Cái đẹp trong nghệ thuật là cái đẹp của sự sáng tạo. Nó vừa có cơ sở nguồn gốc
khách quan từ đời sống, vừa gắn với ý thức thẩm mĩ chủ quan và sự sáng tạo riêng của
nghệ sĩ. Nghệ thuật phản ánh, khám phá và điển hình hóa cái đẹp sẵn có trong đời sống,
đồng thời sáng tạo cái đẹp mới có thể có và nên có trong đời thông qua những hình
tượng nghệ thuật. Vì thế, cái đẹp ở nghệ thuật có biểu hiện rất phong phú và đa dạng.
Giống cái đẹp ở các lĩnh vực khác, cái đẹp trong nghệ thuật có cấu trúc hài hòa,
tạo ra cho con người những cảm xúc tích cực và có sự gắn bó, thống nhất mật thiết với
cái chân và cái thiện. Nhưng không vì thế mà nghệ thuật tránh xa việc phản ánh những
thứ tiêu cực, giả dối và xấu xa. Trái lại, nghệ thuật có phản ánh chúng, nhưng là để nhận
thức, vạch trần và hướng con người tránh xa khỏi chúng, để rồi gián tiếp đến gần hơn với chân - thiện - mĩ.
Trong bài thơ “Bánh trôi nước” của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, cái đẹp được thể hiện
qua hình tượng bao trùm là “thân em”. Hình tượng này có sự hài hòa về vẻ đẹp con
người giữa vẻ đẹp thể xác bên ngoài “vừa trắng lại vừa tròn” và vẻ đẹp tâm hồn bên
trong “tấm lòng son”, có sự vượt lên và tự khẳng định giá trị của mình trước hoàn cảnh
xấu xa “Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn”. Đồng thời, nó có sự thống nhất với cái chân bởi đã
thể hiện vẻ đẹp con người ở cả thể xác lẫn tâm hồn và phản ánh hiện thực thân phận bị
áp bức; với cái thiện ở tình cảm chung thủy, son sắt phù hợp với đạo lí. Đặt trong sự tiếp
nhận của người đọc, hình tượng này có thể khơi gợi những cảm xúc tích cực như sự
ngưỡng mộ, yêu thích, thương xót cái đẹp con người hay sự phẫn nộ và ghét bỏ cái xấu,
mong muốn bảo vệ cho cái đẹp. Như vậy, cái đẹp trong bài thơ đã được tạo ra thông
qua hình tượng “thân em”. Cái đẹp ấy vừa là sản phẩm từ quá trình sáng tạo của nghệ
sĩ, cũng vừa là giá trị được tạo ra từ sự tiếp nhận của con người. N.Đ.H VH K49 17
Câu 9: Trình bày và phân tích nguồn gốc, bản chất, hệ quả và các hình thức biểu hiện
của cái bi ? Dẫn chứng một tình huống bi trong đời sống hoặc trong nghệ thuật ?

*Bản chất, nguồn gốc,hệ quả và các hình thức biểu hiện của cái bi
Về bản chất, cái bi là cái đẹp thất bại trong sự đấu tranh với cái xấu để khẳng
định giá trị của mình. Nó là cái buồn vì sự mất mát, hủy diệt của cái đẹp. Cái đẹp là thực
thể đẹp có sự thống nhất giữa yếu tố vật chất (hình thức) và tinh thần (nội dung). Nó có
hình thức hài hòa, là sự cân bằng giữa các yếu tố khi kết hợp với nhau và có nội dung là
những gì khiến con người có cảm xúc tích cực cùng sự gắn bó và thống nhất chặt chẽ với
cái chân, cái thiện. Cái xấu thì hoàn toàn trái ngược với cái đẹp, nó có hình thức khập
khiễng, mất cân xứng và có nội dung là những gì khiến con người có cảm xúc tiêu cực
cùng sự trái ngược với cái chân, cái thiện và chuẩn mực xã hội.
Về nguồn gốc, nguyên nhân của cái bi là từ sự mâu thuẫn, xung đột giữa cái đẹp
(thiện) với cái xấu (ác) diễn ra trong mỗi cá nhân (ý nghĩ thiện luôn đồng thời tồn tại và
đấu tranh với ý nghĩ ác), trong quan hệ của cá nhân với xã hội (đạo đức cá nhân với luân
lí xã hội), trong xã hội (lực lượng cách mạng với lực lượng phản động). Mà ở đó, cái đẹp
(thiện) bị cái xấu (ác) đánh bại hay áp chế hoàn toàn, và điều này khiến con người đau
buồn và thương xót cho cái đẹp, chán ghét và phẫn nộ trước cái ác từ đó tránh xa nó để
đến gần hơn với cái đẹp.
Theo như Engels, đó là xung đột giữa yêu sách tất yếu về mặt lịch sử và tình trạng
không tài nào thực hiện được điều đó trong thực tiễn; và cái bi là chủ đề chân chính của
phong trào cách mạng. Như cái bi của sự chia cắt đất nước vào thời kì Trịnh - Nguyễn
phân tranh, khi yêu cầu tất yếu của lịch sử dân tộc là sự thống nhất không thể được
thực hiện trong suốt hơn một trăm năm.
Về hệ quả, cái bi tạo ra cho con người trạng thái cảm xúc đặc biệt “katharcis” - sự
thanh lọc/thanh khiết hóa tâm hồn. Nó có nghĩa là giọt nước mắt nhỏ xuống xót thương
cho cái đẹp thất bại, từ đó khiến con người dám đứng lên đấu tranh với cái xấu và bảo
vệ cái đẹp. Nói cách khác, cái bi đem đến cho con người cảm xúc buồn đau, xót thương
cho cái đẹp thất bại hay lo âu, sợ hãi, phẫn nộ trước cái ác. Chúng đều là những cảm xúc
tích cực, vì tạo ra động lực đấu tranh loại bỏ cái xấu và bảo vệ, phát triển cái đẹp. Qua
đó, cái bi khiến con người nhận thức và tránh xa cái xấu, cái ác, được thanh lọc về tâm
hồn và rồi gián tiếp đến gần hơn với cái đẹp, cái thiện.
Về hình thức biểu hiện, cái bi có ba hình thức chính là: bi của cái cũ, bi của cái
mới, bi của sự lầm lạc. Bi của cái cũ hình thành khi một lực lượng xã hội đã xác lập vị thế,
vai trò lịch sử của mình, vẫn còn có khả năng thúc đẩy sự phát triển của đời sống xã hội
nhưng vì lí do nào đó mà thất bại và bị xóa sổ. Như sự thất bại của vương triều Tây Sơn
và nhà Nguyễn, hay sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết. Bi của cái mới hình thành khi một
lực lượng xã hội đang lãnh đạo, dẫn dắt đời sống xã hội theo chiều hướng phát triển
mới tiến bộ cũng vì lí do nào đó mà thất bại. Như sự thất bại của nhà Hồ, hay công xã N.Đ.H VH K49 18
Paris. Bi của sự lầm lạc hình thành khi lực lượng xã hội có nhận thức và tư tưởng tiến bộ
nhưng có hạn chế về năng lực và hành động thất bại. Có thể thấy bi của sự lầm lạc qua
thất bại của phong trào Đông Du - Phan Bội Châu hay Duy Tân - Phan Châu Trinh.
*Tình huống bi trong nghệ thuật - bi kịch của Chí Phèo trong truyện ngắn “Chí
Phèo” của nhà văn Nam Cao
Cái bi trong nghệ thuật - bi kịch là một hiện tượng thẩm mĩ, diễn ta quy mô của
một hành động hoàn chỉnh (bao gồm tình tiết như là “linh hồn” - tinh thần hay cơ sở
quan trọng hình thành bi kịch, với tính cách nhân vật vừa là hệ quả theo sau vừa chủ
động tác động đến tình tiết) và thường kết thúc bằng một cái chết.
Trong truyện ngắn “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao, việc tự sát của Chí Phèo là
một bi kịch. Tình tiết Chí Phèo tỉnh giấc sau đêm tình với Thị Nở, thức tỉnh nhận thức về
cuộc đời và chính mình, có khao khát hoàn lương và gây dựng một gia đình hạnh phúc
nhưng rồi bị cự tuyệt và ruồng bỏ là linh hồn - cơ sở của bi kịch. Bi kịch này có mâu
thuẫn giữa khát khao vươn trở về cái thiện, đạt đến hạnh phúc với sự chối từ của Thị
Nở, với sự ruồng bỏ, khinh miệt của người đời, với sự áp bức và thao túng của Bá Kiến,..
Đó là mâu thuẫn giữa khát vọng, lí tưởng với tình trạng không thể nào thực hiện được
chúng trong thực tế, là lí tưởng đúng đắn nhưng có rất nhiều hạn chế về năng lực và rồi
để thất bại. Có thể coi bi kịch của Chí Phèo là biểu hiện thuộc về cái bi của sự lầm lạc.
Đặt trong sự tiếp nhận, bi kịch của Chí Phèo khiến người đọc có cảm xúc đau xót,
tiếc thương cho một thân phận tội nghiệp với khát khao hoàn lương và dạt đến hạnh
phúc bất thành. Đồng thời, nó cũng khiến độc giả phẫn nộ trước hiện thực bất công, tàn
nhẫn và tên địa chủ Bá Kiến xảo quyệt, độc ác đã khiến Chí Phèo rơi vào tình cảnh bế tắc
để rồi phải tự sát. Qua đó, bi kịch này giúp người đọc có cái nhìn nhân văn, cảm thông
và thấu hiểu hơn với những con người “lầm đường lạc lối” từng có những tội lỗi trong
quá khứ nhưng nay đã hoàn lương, có sự tôn trọng mong muốn đạt đến hạnh phúc của
con người, đồng thời biết ghê tởm và tránh xa những mưu mẹo độc ác, phi nhân tính. N.Đ.H VH K49 19
Câu 10: Trình bày và phân tích nguồn gốc, bản chất, hệ quả và các hình thức biểu hiện
của cái hài ? Dẫn chứng một tình huống hài trong đời sống hoặc trong nghệ thuật ?

*Bản chất, nguồn gốc, hệ quả và hình thức biểu hiện của cái hài
Về bản chất, cái hài là sự ngụy tạo một nội dụng xấu bằng hình thức đẹp nhưng bị
phát hiện và tạo ra tiếng cười phê phán. Nó là cái cười trước cái xấu, cái ác giả làm cái
đẹp nhưng bị vạch trần hay đánh bại. Nội dung xấu là nội dung tạo ra cho con người
những cảm xúc tiêu cực, chán ghét, trái ngược với cái chân, cái thiện và các chuẩn mực
xã hội. Hình thức đẹp là cấu trúc hài hòa, cân xứng, là sự cân bằng giữa các yếu tố khi kết hợp với nhau.
Về nguồn gốc, cái hài hình thành từ sự khập khiễng, mất cân xứng, sự mâu thuẫn
giũa nội dung xấu và hình thức đẹp. Khi hình thức đẹp chứa đựng nội dung xấu, ngụy
tạo thành cái đẹp để đánh lừa con người và sự ngụy tạo ấy bị vạch trần hay phê phán
với tiếng cười thì cái hài hình thành. Sự mâu thuẫn này có thể là giữa vẻ ngoài đẹp đẽ,
những hành động và lời nói cao cả với nội dung thật sự là nhân cách xấu xa, tình cảm và
tư tưởng lừa dối, phi đạo đức, trái ngược với chuẩn mực xã hội.
Về hệ quả, cái hài tạo nên cái cười nhưng là một tiếng cười đặc biệt. Nó trước
tiên là tiếng cười của trí tuệ khi con người phát hiện, vạch trần và phê phán cái xấu, cái
ác. Từ đó, nó khiến con người nhận thức và tránh xa những điều xấu xa, tội lỗi, khẳng
định, đề cao cái đẹp và giúp con người gián tiếp đến gần hơn với cái đẹp, cái thiện chân
chính. Cái hài là tiếng cười của sự chiến thắng khi con người vui sướng và sảng khoái vì
đã vạch trần hay đánh bại cái xấu, đưa nó vào thế bị động hoàn toàn, khiến nó không
còn khả năng chống trả hay phát triển. Cái hài cũng là tiếng cười của sự khoan dung với
thái độ sẵn sàng tha thứ, bỏ qua cho cái xấu miễn là nó phải thay đổi, loại bỏ nội dung
xấu và thay thế bằng nội dung đẹp để trở thành cái đẹp thật sự.
Sau cùng, tiếng cười của cái hài mang tính nhân văn, không bao giờ xuất hiện khi
sự ngụy tạo cái xấu, cái khiếm khuyết là vô tình, vô chủ ý hay do hoàn cảnh khách quan
bất khả kháng gây ra, như nhận thức hoàn toàn mù quáng hay sự khuyết tật về trí tuệ.
TIếng cười chỉ xuất hiện khi phát hiện cái xấu chủ động ngụy tạo thành cái đẹp. Như vậy,
cái hài tạo ra tiếng cười phê phán đầy trí tuệ, sảng khoái, khoan dung và nhân văn cho
con người khi ta phát hiện, vạch trần hay đánh bại cái xấu một cách vui vẻ. Cái hài do đó
đem đến cho con người những cảm xúc tích cực và sự nhận thức đúng đắn, biết tránh
xa cái xấu để rồi gián tiếp đến gần hơn với cái đẹp.
Về hình thức biểu hiện, cái hài có các hình thức chính là: cái khôi hài (hài hước),
cái hài mỉa mai châm biếm, cái hài đả kích. Chúng lần lượt có sự tăng dần về mức độ gây
hại của cái xấu và mức độ đấu tranh với nó. Cái khôi hài là sự vạch trần và phê phán cái
xấu đơn giản, ít gây hại một cách nhẹ nhàng và tinh tế, chủ yếu là với cái xấu của bản
thân và mọi người xung quanh mình. Như cái hài ở tính khoe khoang trong truyện “Lợn
cưới áo mới”, tính lười biếng trong truyện “Há miệng chờ sung” hay “Ôm cây đợi thỏ”. N.Đ.H VH K49 20