











Preview text:
Câu 1. Tại sao mỹ học là khoa học nhân văn? Tại sao mỹ học nghiên
cứu cái đẹp và nghệ thuật? Tính ứng dụng của mỹ học?
a/ Mỹ học là khoa học nhân văn
“Nhân” là con người, hiểu rộng ra chính là đặc trưng, bản chất của con
người; “Văn” là vẻ đẹp, là Cái Đẹp. Từ đó ta có được “Nhân Văn” là nét
đẹp bên trong lớp lang con người. Khoa học nhân văn hướng đến con
người, nghiên cứu năng lực, phẩm chất con người. Khoa học nhân văn
và khoa học tự nhiên có sự đối lập về đối tượng, vấn đề và phương
pháp nghiên cứu. Nếu khoa học nhân văn tập trung khai thác các giá trị
ẩn tàng sâu trong con người, để rồi kiện toàn và phát huy những tinh
túy đó, kiến tạo điều thiện và ngăn ngừa cái ác; khoa học tự nhiên lại
tập trung nghiên cứu hướng đến các vấn đề thuộc phạm trù tự nhiên.
Chính vì có sự khác biệt giữa đối tượng và vấn đề nên ta không thể
đồng nhất phương pháp nghiên cứu giữa cả hai ngành khoa học này với
nhau. Trong lịch sử phát triển của xã hội, con người đã từng phải trả giá
đắt khi vận dụng nghiên cứu hai ngành khoa học này với cùng một
phương cách. Chúng đã gây nên một trong những thảm họa lớn nhất
trong toàn lịch sử tồn tại của loài người, đó chính là nạn diệt chủng.
Xét từ đối tượng, vấn đề và phương pháp nghiên cứu, ta có thể kết
luận: Mỹ học là khoa học nhân văn:
Mỹ học hướng đến việc nghiên cứu các mối quan hệ thẩm mỹ (bao gồm
cả Cái Đẹp), mà Cái đẹp là phạm trù mang tính nhân văn, bao hàm cả
khai thác vẻ đẹp con người. Với tiền đề được hình thành trên cơ sở của
Triết học – khoa học nghiên cứu quy luật chung của thế giới, Mỹ học
cũng được kế thừa những giá trị nhân văn của bộ môn này. Bên cạnh
đó, Mỹ học đồng thời cũng mang năng lực “thanh lọc” tinh thần, giúp
con người “gạn đục khơi trong” tâm hồn mình (theo Aristotle). Đó chính
là khái niệm Cảm năng học, cái mà Mỹ học hướng đến. Mỹ học chính là
khoa học nhân văn khi thôi thúc trong ta những xúc cảm tích cực, xua đi
những tiêu cực chất đậy. Những giá trị mà Mỹ học mang lại đồng nhất
với một ngành khoa học nhân văn tiêu biểu.
b/ Nguyên nhân Mỹ học nghiên cứu Cái Đẹp và nghệ thuật.
Khi ta đọc hoặc chứng kiến một thứ ẩn tàng Cái Đẹp, trong ta sẽ xuất
hiện một cảm giác khoan khoái, dễ chịu, giảm bớt được căng thẳng. Đó
là quy luật tự nhiên của con người..
Và ta có thể nhận ra được, Mỹ học là bước trung gian, mỹ học nghiên
cứu về Cái Đẹp, nghệ thuật lại chính là dạng vật chất của Cái Đẹp, là nơi
tập trung Cái Đẹp. Nghệ thuật và cái đẹp mang đến cảm xúc tích cực
cho người tiếp nhận. Đó chính là cảm năng học mà Mỹ học luôn hướng đến. c/ Tính ứng dụng:
Rèn giũa khả năng thưởng thức và cảm thụ thẩm mỹ, biết cách bình
phẩm về Cái Đẹp và nghệ thuật.
Có khả năng rũ bỏ được các cảm xúc tiêu cực, kiến tạo nên tinh thần
tích cực. Từ đó cuộc sống ngày càng tốt đẹp lên, không còn bị chiếm giữ bởi nỗi u uất.
Hình thành được một tư duy tinh nhạy, biết suy xét logic và nâng cao được bản thân mình.
Câu 2. Phân tích và chứng minh lao động là hình thức hình thành quan
hệ thẩm mỹ. Tính thẩm mỹ của sản phẩm lao động hình thành như thế nào?
Lao động là hoạt động nền tảng tạo nên vật chất của con người. Chính
từ việc vận dụng sức mạnh của lao động để cải tạo thiên nhiên mà con
người đã từ sinh thể tự nhiên phát triển thành sinh thể xã hội. Con
người bắt đầu trở thành một chủ thể, chứ không còn là một thực thể
không có ý thức và có thể tự nhận thức được hành vi, suy nghĩ của bản
thân. Điều này khác với một số động vật bậc thấp khác, và đó cũng là
nguyên do chủ thể Mỹ học chính là con người chứ không phải bất kỳ thứ gì khác.
Qúa trình lao động biến đổi con người, giúp con người hoàn thiện giác
quan và đôi bàn tay. Mắt và tai chính là hai giác quan quan trọng nhất
trong việc cảm thụ thẩm mỹ; đôi bàn tay lại có chức năng sáng tạo thẩm mỹ.
- Giác quan ban cho con người năng lực cảm thụ được các giá trị
thẩm mỹ. Mắt là giác quan tiếp nhận nhiều thông tin nhất, chsung
nhìn và đánh giá sự vật hiện tượng, từ đó trong ý thức ta sẽ nhận
thức được giá trị của chúng. Chính vì thế mới có nhận định “Đôi
mắt là nhà lý luận”, chúng biểu lộ thế giới nội tâm, ý niệm sâu bên
trong con người. Tai cũng là một giác quan quan trọng chẳng hề
kém cạnh khi lắng nghe và từ đó cảm thụ những âm thanh thẩm
mỹ. Chính vì mang chức năng quan trọng là cảm thụ thẩm mỹ, ta
nhất thiết cần phải rèn luyện các giác quan, đó cũng là cách ta tôi
rèn khả năng cảm thụ của bản thân.
- Đôi bàn tay sở hữu năng lực sáng tạo thẩm mỹ, vừa là công cụ lao
động vừa là khí quan lao động. Chỉ cần có đôi bàn tay con người
có thể tạo ra vô số các vật phẩm phục vụ cho sự sống. Đôi bàn tay
thể hiện kỹ năng, kỹ xảo ở một người.
Quan hệ thẩm mỹ là mối quan hệ giữa chủ thể thẩm mỹ - tức là chủ thể
người xã hội có nhu cầu và khả năng đánh giá, thưởng thức, sáng tạo
các giá trị thẩm mỹ, với khách thể thẩm mỹ - tức là những thuộc tính,
khía cạnh, phẩm chất thẩm mỹ ở các sự vật và hiện tượng trong thiên
nhiên, trong xã hội và con người. Qua đó ta thấy được lao động chính là
quá trình khởi nguồn cho quan hệ thẩm mỹ của con người.
Tính thẩm mỹ của con người lao động được hình thành qua quá trình
lao động. Con người tự giác sáng tạo để gửi gắm thông điệp trao đến
người tiếp nhận thông qua sản phẩm lao động, mong muốn người tiếp
nhận sẽ cảm thụ được chúng. Ta có đồ thủ công mỹ nghệ được tạo tác
từ năng lực tinh thần, kỹ năng, kỹ xảo và thủ pháp nghệ thuật, đây
chính là những tác phẩm nghệ thuật mang tính thẩm mỹ cao. Con người
có thể tiếp nhận thông qua đây.
Câu 3. Phân tích và chứng minh sự đồng hóa trên lĩnh vực tinh thần là
nội dung của quan hệ thẩm mỹ. Ý nghĩa của vấn đề này trong đời sống?
*Sự đồng hóa trên lĩnh vực tinh thần là nội dung của quan hệ thẩm mỹ.
Đồng hóa là quá trình thay đổi, chiếm lĩnh, làm cho sự vật, hiện tượng
trong tự nhiên mang những đặc tính vốn chỉ có ở con người. Hành động
này có thể trở thành một phương cách để con người dùng để biểu đạt
tâm tư tình cảm của mình một cách ý nhị. Hiện tượng “nhân hóa” (sự
vật vô tri vô giác mang sắc thái con người) là một minh chứng điển hình
cho ví dụ con người vận dụng đồng hóa tinh thần vào đời sống. Qua thủ
pháp nhân hóa, con người ta đã biến “mặt trời” từ một vật thể vô tri vô
giác trở nên “dịu dàng soi chiếu thế gian”. Lời ví von đó cũng biểu lộ sắc
thái cảm xúc vô cùng hạnh phúc của con người khi ngắm nghía một buổi
sớm đầy quang đãng, ánh nắng tản mạn khắp mọi nơi. Ta có thể thấy
được, nhân hóa nói riêng và đồng hóa tinh thần nói chung xuất hiện
quanh cuộc sống hàng ngày của con người.
Từ đó, ta có thể kết luận được quá trình diễn ra của hiện tượng đồng
hóa tinh thần. Đó là khi con người tiếp nhận thông tin phản tư từ giới
tự nhiên, và tái tạo lại các trạng thái nhận thức đó, trong cái thăng hoa ý
thức con người đã tưởng tượng ra các hình ảnh không có thật, cuối
cùng lồng ghép hình ảnh hiện thực của giới tự nhiên và hình ảnh trừu
tượng của bản thân. Ý thức thực thể hóa sự thăng hoa thành biểu trưng
(symbol) – ý nghĩa toát ra từ đối tượng. Các chuyện kể mang tính thần
thoại cũng xuất phát từ việc con người gửi gắm khát vọng thông qua các
yếu tố tưởng tượng. Nàng Tiên, Ông Bụt trong những câu chuyện cổ là
đại diện cho niềm vọng ước được cứu rỗi trước nghịch cảnh khốn cùng
của những người lao động và niềm tin “Ở hiền gặp lành”, sống thiện ắt gặp điều may mắn.
Quan hệ thẩm mỹ là mối quan hệ giữa chủ thể thẩm mỹ - tức là chủ thể
người xã hội có nhu cầu và khả năng đánh giá, thưởng thức, sáng tạo
các giá trị thẩm mỹ, với khách thể thẩm mỹ - tức là những thuộc tính,
khía cạnh, phẩm chất thẩm mỹ ở các sự vật và hiện tượng trong thiên
nhiên, trong xã hội và con người. Dựa nên các lập luận chứng minh, ta
có thể khẳng định rằng “đồng hóa trên lĩnh vực tinh thần là nội dung
của quan hệ thẩm mỹ”.
*Ý nghĩa của vấn đề này trong đời sống thẩm mỹ:
Tác phẩm nghệ thuật chính là một sản phẩm của đồng hóa trên lĩnh vực
tinh thần. Chúng được gợi lên từ cảm xúc người truyền dẫn, được
thăng hoa từ những cảm xúc, những khao khát có thật của con người.
Những trải nghiệm được chắt chiu trong quá trình sống, quá trình nhận
thức và tiếp nhận thông tin từ vũ trụ của con người được kết hợp cùng
các liên tưởng đã càng nâng bậc xúc cảm hơn nữa. Một tác phẩm nghệ
thuật là thành quả được kiến tạo hết sức tinh vi bởi con người dựa trên tiền đề cuộc sống.
Với nhà văn Thạch Lam, từ sự chứng kiến thực tế những mảnh đời hẩm
hiu của người phụ nữ Việt Nam đương thời, ông đã sáng tạo nên tác
phẩm Hai lần chết – thành phẩm từ tấm lòng xót thương và căm hờn
trước nỗi bất công của tác giả. Niềm bi thống đã hóa thành “hai lần
chết” của nhân vật Dung, đó chính là mong muốn chống trả, cố kiếm
tìm một lối thoát ra cái xã hội nửa phong kiến nhiễu nhương đương
thời được Thạch Lam gửi trao thông qua nhân vật thẩm mỹ.
Với những cảm xúc xuất phát từ cuộc sống, tác phẩm nghệ thuật không
phải là một vật phẩm không linh hồn do con người sáng tạo mà đã trở
thành hoạt động sáng tạo tinh thần và được thăng hoa thành biểu
trưng – ý nghĩa có trong từng đối tượng
Câu 4. Phân tích và chứng minh giá trị thẩm mỹ là hệ quả của quan hệ
thẩm mỹ. Ý nghĩa của giá trị thẩm mỹ trong cuộc sống?
Như đã biết, giá trị là những gì đáp ứng nhu cầu của con người. Con
người chỉ gắn với giá trị, không bao giờ đi đôi với giá cả, bởi khi mà con
người được định gía thì ta sẽ trở thành nô lệ và đánh mất đi nhân
quyền. Cũng từ đó ta có thể suy ra được khái niệm của giá trị thẩm mỹ,
đó là những gì đáp ứng cho nhu cầu thẩm mỹ của con người, hay nói
cách khác là những điều thỏa mãn các giá trị tinh thần trong đời sống
hằng ngày của con người. Khi quan hệ thẩm mỹ diễn ra, giá trị thẩm mỹ
cũng sẽ xuất hiện cùng lúc, giá trị thẩm mỹ chính là hệ quả của quan hệ thẩm mỹ.
Quan hệ thẩm mỹ là mối quan hệ giữa chủ thể thẩm mỹ - tức là chủ thể
người xã hội có nhu cầu và khả năng đánh giá, thưởng thức, sáng tạo
các giá trị thẩm mỹ, với khách thể thẩm mỹ - tức là những thuộc tính,
khía cạnh, phẩm chất thẩm mỹ ở các sự vật và hiện tượng trong thiên
nhiên, trong xã hội và con người. Một mối quan hệ thẩm mỹ xuất hiện
sẽ dẫn đến các giá trị thẩm mỹ xuất hiện theo sau. Gía trị thẩm mỹ
mang tính khách quan với cá nhân và chủ quan với cộng đồng chung,
không thể tồn tại các giá trị thẩm mỹ hoàn toàn giống nhau của những
mối quan hệ thẩm mỹ khác nhau. Gỉa dụ một tác phẩm nghệ thuật
được sáng tạo ra dưới bàn tay tác giả sẽ chứa đựng những giá trị thẩm
mỹ hay cụ thể hơn là tính lịch sử, tính thời đại,vv của tác phẩm đó
*Ý nghĩa của giá trị thẩm mỹ
Gía trị thẩm mỹ có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong cuộc sống con
người khi phản ánh mức độ đáp ứng được những khát vọng, nhu cầu
tinh thần của con người. Nhu cầu con người và giá trị thẩm mỹ có mối
liên kết mật thiết với nhau, một khi nhu cầu thay đổi hoặc mất đi thì
cũng sẽ kéo theo sự biến đổi của giá trị. Bởi giá trị thẩm mỹ là những gì
đáp ứng những nhu cầu con người, nếu thiếu đi nó thì cảm xúc đè nén
bên trong ta sẽ không được giải tỏa, và dẫn đến con người sẽ bức bối
trong các lớp lang cảm xúc của bản thân mình. Giá trị thẩm mỹ mang
tính lịch sử, giá trị của Cái Đẹp sẽ biến thiên dựa theo nhu cầu của xã hội.
Các tác phẩm nghệ thuật mang giá trị thẩm mỹ sâu sắc, con người
thưởng thức và cảm thụ chúng để rồi được “thanh lọc hóa tâm hồn”.
Tác phẩm nghệ thuật bắt nguồn từ bức nền “hiện thực” đời sống, nó
gắn liền với nhu cầu xã hội của con người. Con người tiếp nhận thông
tin, sau đó tái hiện thông tin và cảm xúc qua trí tưởng tượng, để rồi
phóng chiếu thông tin vào tác phẩm nghệ thuật. Nhằm thỏa mãn các lý
tưởng, các khao khát ẩn tiềm trong tâm thức con người cộng đồng, tác
phẩm nghệ thuật đã được ra đời, và chính lẽ đó chúng là một trong
những biểu trưng tiêu biểu nhất cho ý nghĩa của giá trị thẩm mỹ.
Bên cạnh, tác phẩm nghệ thuật thì giáo dục cũng mang giá trị thẩm mỹ
cao, khi nó là nghệ thuật phát huy năng lực, phẩm chất của con người.
Giáo dục là nơi quy tụ những tri thức tốt đẹp cộng đồng đã tích lũy qua
thời đại, con người dựa trên nền tảng giáo dục mà kiến tạo nên các giá
trị tinh thần lẫn vật chất đóng góp tích cực vào xã hội loài người.
Từ hai minh chứng là tác phẩm nghệ thuật và giáo dục, ta có thể thấy
được tầm quan trọng của giá trị thẩm mỹ đối với đời sống xã hội.
Câu 5. Trình bày quan điểm về Cái Đẹp trong lịch sử Phương Tây. Ý
nghĩa của quan niệm này trong mỹ học hiện nay.
Cái Đẹp là biểu tượng của những giá trị, đáp ứng nhu cầu khát vọng
cuộc sống của con người. Chúng đem lại cho con người những xúc cảm
tích cực, thôi thúc con người sáng tạo.
Thời Hy Lạp cổ đại, nhà triết học Plato đã cho rằng cái Đẹp là ý niệm, ta
phóng chiếu ra những hình thức đẹp, và gán vào con người khác nhau
những vẻ đẹp khác nhau. Cái Đẹp là hình ảnh lý tưởng hướng con người
về nó, để đạt được nó, đạt được lý tưởng. Ý niệm của cái Đẹp hiện hữu
sẵn có trong tự nhiên nhưng nó nhập vào mỗi người để cho con người
ta nhận thức được nó. Cái Đẹp chính là ý niệm, ý niệm luôn tồn tại bên
trong và chẳng bao giờ phai theo dòng chảy thời gian.
Với Aristotle, Cái Đẹp lại là thực thể, từ thực thể mà toát lên ý niệm
đẹp. Cái Đẹp thực thể là một hình hài có sự kết hợp giữa hai thành tố:
tinh thần và vật chất, là sự cân xứng, hài hòa giữa các tỷ lệ, màu sắc, âm
thanh. Tựu trung lại Cái Đẹp chính là sự quân bình, hòa hợp giữa các
yếu tố cấu thành. Cái Đẹp thực thể có thể nhìn thấy bằng mắt thường
và chúng sẽ thay đổi theo thời gian. Giả dụ tỷ lệ vàng của gương mặt
thường được nhắc đến: 0.614 chính là Cái Đẹp theo Aristotle.
Theo Kant, Cái Đẹp chính là thứ gây nên trong ta xúc cảm vui sướng và
hân hoan. Cái Đẹp được hình thành dựa trên yếu tố chủ quan, đánh giá
của bản thân quyết định chính yếu chứ không phải dựa trên một khuôn
mẫu nào quy định. Đó có thể được xét trên nhiều phương diện khác
nhau như mặt sinh học hay phẩm chất, tính cách. Cái Đẹp đã vượt qua
hình thức để chạm vào sâu thẳm bên trong, chúng không dựa trên lợi
ích mà hoàn toàn phụ thuộc vào tâm ý mỗi người. Đây cũng là cách để
ta nhận biết được Cái Đẹp.
Để hiểu được Cái Đẹp phải thông qua ngôn ngữ, không dừng lại ở tiếng
nói hay chữ viết mà còn cả âm thanh, dáng điệu, ký hiệu, biểu trưng,
nghi thức. Hiểu về Cái Đẹp là hiểu về nghệ thuật, đồng nghĩa phải hiểu
về ngôn ngữ nghệ thuật, tạo hình và biểu hiện của nghệ thuật. Mà để
cảm nhận được nghệ thuật phải thông qua nhiều chiều kích, phương
diện khác nhau. Bởi lẽ đó, ta phải vận dụng nhiều góc nhìn để hiểu
được Cái Đẹp thật sự.
*Ý nghĩa của quan niệm này trong đời sống hiện nay.
Quan niệm mỹ học của Phương Tây cổ đại tạo một tiền đề quan trọng
đối với nền mỹ học hiện đại. Cái Đẹp trong thời đại hiện nay giống với
quan niệm của Aristotle là một thực thế đẹp được cấu thành bởi yếu tố
tinh thần và vật chất, và là biểu trưng cho những giá trị, chúng đáp ứng
nhu cầu, khát vọng sống của con người. Thông qua Cái Đẹp trong ta sẽ
sinh ra những cảm xúc tích cực, thôi thúc ta sáng tạo. Cái Đẹp đương
đại được biểu hiện qua ngôn từ thẩm mỹ, không phải qua ngôn từ đạo đức.
Quan điểm thẩm mỹ hiện nay vẫn đề cao sự chủ quan, tôn chỉ sự đánh
giá chủ quan chính là chính yếu. Đồng thời tôn trọng vẻ đẹp khác biệt
giữa mỗi người, không ai mang nét đẹp giống với ai. Tuy là quan niệm
thời hiện đại có nhiều đổi khác với thời kỳ cổ đại, song mục đích vẫn
muốn hướng đến những giá trị chung nhất cho con người, theo dòng
chảy thời gian sẽ càng có nhiều tư tưởng thẩm mỹ khác nhau và chúng
sẽ lại càng góp phần kiến tạo nên một nền mỹ học vững bền.
Câu 6. Trình bày quan niệm về Cái Đẹp trong lịch sử phương Đông. Ý
nghĩa của quan niệm này với đời sống hiện nay.
*Quan niệm Cái Đẹp trong lịch sử phương Đông.
Tiền đề quan trọng nhất kiến tạo nên nền mỹ học của Trung Quốc chính
là Kinh Dịch. Trong đó, cái sinh mệnh chính là tư tưởng cơ bản, được
bắt nguồn từ sự vận động, biến đổi trời đất của trời đất.
Câu 7. Phân tích cái Đẹp là biểu trưng của những giá trị, đáp ứng
những nhu cầu và khát vọng sống của con người, đem lại cho con
người nhữung cảm xúc tích cực, thôi thúc con người sáng tạo. Thế nào là sống đẹp?
*Cái đẹp là biểu trưng của những giá trị, đáp ứng những nhu cầu và
khát vọng sống của con người, đem lại cho con người những cảm xúc
tích cực, thôi thúc con người sáng tạo.
Như đã biết, giá trị chính là những gì đáp ứng nhu cầu của con người.
Từ những xúc cảm, những thông tin từ hiện thực, con người tái tạo lại
chúng trong trạng thái nhận thức, để rồi thăng hoa ý thức và hình thành
những hình ảnh trừu tượng không có thật. Khi đó ta lồng ghép chúng
với những thông tin từ hiện thực với nhau. Biểu trưng (symbol) chính là
việc ý thức thực thể hóa sự thăng hoa, là ý nghĩa toát ra từ đối tượng.
Thông qua quá trình đồng hóa tinh thần, con người đã gửi gắm những
nhu cầu và khát vọng sống. Các câu chuyện truyền thuyết, thần thoại
được tạo ra nhằm thỏa mãn khao khát chống lại các hiện tượng tự
nhiên, khao khát được cứu rỗi của người lao động. Từ đó ta có thể thấy
được Cái Đẹp chính là biểu trưung của những giá trị, đáp ứng những
nhu cầu và khát vọng sống của con người.
Cái Đẹp và nghệ thuật mang chức năng “thanh lọc hóa tâm hồn”, chúng
chắt lọc trong ta những xúc cảm tích cực, “gạn đục khơi trong” giúp ta
rũ bỏ những suy nghĩ tiêu cực. Con người ai cũng chính là người nghệ sĩ
ẩn tàng, thông qua cái đẹp, những liên tưởng bắt rễ từ đời sống con
người mà ta được thôi thúc mở rộng tư duy, gửi gắm tư tưởng khát
khao bản thân vào tác phẩm nghệ thuật. Các tác phẩm văn học chính là
minh chứng sâu sắc cho ý nghĩa của Cái đẹp;. Sống đẹp
Có lý tưởng, trân trọng giá trị bản thân, không ngừng nỗ lực và cố gắng,
Biết điều chỉnh hành vi bản thân, ứng xử phù hợp với mọi người xung
quanh, tôn trọng bản sắc riêng của mỗi người,
Đóng góp vào cộng đồng xã hội, không bị lay chuyển bởi những tác động lệch lạc.