Câu 1: Áp dụng pháp luật gì? Theo pháp luật Việt Nam, trường hợp nào cần phải áp
dụng pháp luật?
1. Khái niệm
Áp dụng pháp luật hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua các quan
nhà nước hoặc nhà chức trách thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện
những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật để tạo ra
các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ
thể.
dụ: Cảnh sát giao thông xử phạt người vi phạm quy định khi tham gia giao thông (vượt
đèn đỏ, chở ba, không đội bảo hiểm…); Tòa án xét xử tranh chấp về thừa kế, đất đai theo
các quy định của Bộ luật Dân sự các văn bản pháp luật liên quan; Tòa án giải quyết các vụ
đất…
2. Các trường hợp cần áp dụng pháp luật.
Hoạt động áp dụng pháp luật hết sức đa dạng, phong phú, do các chủ thể thẩm quyền tiến
hành hàng ngày trong đời sống. thể phân chia thành các nhóm sau đây:
- Khi quyền nghĩa vụ pháp của chủ thể không mặc nhiên phát sinh, thay đổi, chấm
dứt
Đây trường hợp đã quy định của pháp luật về quyền nghĩa vụ của các chủ thể, nhưng
các nhân, tổ chức không tự mình làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền, nghĩa vụ đó.
Trong trường hợp này, bằng sự can thiệp của chủ thể thẩm quyền, quyền, nghĩa vụ của các
nhân, tổ chức sẽ được phát sinh, thay đổi hay chấm dứt trên thực tế.
dụ: quan thẩm quyền quyết định công nhận quan hệ vợ, chồng đối với anh A chị
B; quan thẩm quyền quyết định khen thưởng công dân c...
- Khỉ xảy ra tranh chấp về quyền nghĩa vụ pháp giữa các bên tham gia quan hệ pháp
luật họ không tự giải quyết được
Đây trường hợp quan hệ pháp luật đã phát sinh, các bên những quyền nghĩa vụ theo
tranh chấp về tài sản được thừa kế, tranh chấp về quyền nghĩa vụ trong sử dụng đất đai...
Hoạt động áp dụng pháp luật trong trường hợp này nhằm xác định quyền, nghĩa vụ, trách
nhiệm cụ thể giữa các bên.
- Khi cần phải áp dụng các chế tài pháp luật đối với chủ thể vi phạm pháp luật
Vi phạm pháp luật hiện tượng khá phổ biến trong đời sống.
Để đảm bảo trật tự, an toàn hội; xử người vi phạm; răn đe, phòng ngừa đối với người
khác, các chủ thể thẩm quyền phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước được quy
định trong phần chế tài của quy phạm pháp luật đối với người vi phạm.
dụ: toà án tuyên phạt đối với người phạm tội, cảnh sát giao thông xử phạt tiền đối với
người vi phạm pháp luật giao thông...
- Khi cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước trong các trường hợp khác
Trường hợp này không vi phạm pháp luật, tuy nhiên lợi ích chung của cộng đồng, nhà
nước thể phải can thiệp, tiến hành các biện pháp cưỡng chế, buộc những chủ thể liên
quan phải thực hiện hoặc không thực hiện những hành vi nhất định.
dụ: cưỡng chế cách ly người mắc bệnh truyền nhiễm; cưỡng chế trưng thu tài sản; cưỡng
chế giải phóng mặt bằng...
- Khi cần kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền nghĩa vụ của các chủ thể trong một số
quan hệ pháp luật nhất định
Trong một số trường hợp, pháp luật quy định, chủ thể thẩm quyền phải tham gia vào quan
hệ pháp luật để kiểm tra, giám sát hoạt động của các bên nhằm xác định tính đúng đắn trong
hoạt động của các chủ thể hoặc phát hiện những sai sót, vi phạm để kịp thời ra quyết định phù
hợp đảm bảo sự đúng đắn trong hoạt động của các chủ thể này.
- Khi cần phải xác định sự tồn tại hay không tồn tại của một số sự kiện thực tế nào đỏ theo
quy định của pháp luật
Hoạt động áp dụng pháp luật trong trường hợp này được tiến hành khi trong thực tế xảy ra
những sự kiện nào đó, tuy nhiên theo quy định của pháp luật, cần phải sự xác nhận của
chủ thể thẩm quyền để biến thành sự kiện pháp lý.
dụ: quan thẩm quyền công nhận một người nào đó đã chết hoặc mất tích.
Câu 2: Chỉ ra hậu quả của tham nhũng Việt Nam hiện nay.
Khái niệm: Theo khoản 1 Điều 3 Luật phòng chống tham nhũng năm 2018: Tham nhũng
hành vi của người chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vụ lợi.”
Trong đó, theo khoản 7, Điều 3, Luật Phòng chống tham nhũng quy định, vụ lợi: "là việc
người chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhằm đạt được lợi ích vật chất
hoặc lợi ích phi vật chất không chính đáng".
Tham nhũng bắt nguồn từ những nhu cầu của nhân chính; khi yếu tố về lợi ích kết hợp sự
lạm dụng quyền lực của những người chức vụ, quyền hạn thì khả năng xảy ra tham
nhũng rất lớn rất lớn dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng về tất cả các lĩnh vực của
cuộc sống.
Về mặt chính trị
Hiện nay, tham nhũng nước ta đã mức cùng nghiêm trọng dẫn đến nhiều hậu quả
nghiêm trọng. Tham nhũng không chỉ xảy ra cấp Trung ương, những chương trình, dự án
lớn còn xuất hiện cả những cấp chính quyền sở- những quan tiếp xúc với nhân
dân hàng ngày.
Tệ nạn tham nhũng, hối lộ, ăn chơi phung phí gây tác hại rất lớn, làm tổn hại thanh dành của
Đảng gây bất bình đối giảm lòng tin của nhân dân đối với chính phủ, nhà nước; tiếp tay
cho những thế lực thù địch để chống phá đất nước ta.
Về mặt kinh tế
Tham nhũng gây tác hại như thế nào đến sự phát triển kinh tế hội của đất nước? Tham
nhũng gây ra những thiệt hại rất lớn về tài sản của Nhà nước, của tập thể của công dân.
Trong những năm vừa qua, tham nhũng diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống hội
gây ra nhiều hậu quả không mong muốn. Đặc biệt, tác của tham nhũng trong vấn đề kinh tế
đặc biệt nghiêm trọng, hành vi này gây thiệt hại lớn đến tài sản của Nhà nước, tiền bạc, công
sức thời gian của nhân dân. Theo thống kê, giá trị tài sản bị thiệt hại liên quan đến hành vi
tham nhũng của mỗi vụ lên đến hàng chục, hàng trăm, thậm chí hàng tỷ đồng.
Tác hại tham nhũng mang lại trong lĩnh vực kinh tế không chỉ việc tài sản, lợi ích của Nhà
nước, của tập thể nhân bị biến thành tài sản riêng của một người nguy hiểm hơn,
hành vi này còn gây thiệt hại, thất thoát, lãng phí . Tác hại của lãng phí mang lại một lượng
lớn tài sản của Nhà nước, của tập thể của mỗi công dân.
Về mặt hội
sao hành vi tham nhũng hành vi trái đạo đức? Đối với khía cạnh hội, hậu quả tham
nhũng chính làm thay đổi, đảo lộn những chuẩn mực đạo đức hội, làm tha hóa đội ngũ
cán bộ, công chức nhà nước.
Trước những lợi ích bất chính được khi thực hiện hành vi tham nhũng; nhiều người
chức vụ, quyền lợi đã không giữ được phẩm chất đạo đức của mình. Chức vụ, quyền lực
được giao không còn được sử dụng để phục vụ nhân dân đang hướng tới các lợi ích bất
chính, bất chấp việc vi phạm luật pháp, làm trái công vụ, trái đạo đức.
Hành vi tham nhũng không chỉ diễn ra trong các lĩnh vực như kinh tế, tài chính, ngân
hàng,…. đang dần xu hướng lan sang các lĩnh vực khác- những lĩnh vực ít khả năng
xảy ra tham nhũng như: văn hóa, y tế, giáo dục,… thậm chí lan sang cả những lĩnh vực được
đánh giá không thể hành vi tham nhũng dưới góc nhìn pháp luật đạo đức như phúc
lợi hội hay bảo việc pháp luật. Càng như vậy, hậu quả của tham nhũng Việt Nam càng
trở nên nghiêm trọng nguy hại hơn.
Đáng báo động hơn nữa dường như tham nhũng đang trở thành một điều bình thường trong
quan niệm của một bộ phận cán bộ nhà nước. Điều này chính biểu hiện của sự suy thoái,
xuống cấp về đạo đức; xâm hại đến những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc.
Câu 3: Chỉ ra mối quan hệ giữa pháp luật với kinh tế, pháp luật với chính trị liên hệ
vào điều kiện Việt Nam hiện nay.
Pháp luật hệ thống quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận bảo đảm
thực hiện để điều chỉnh các quan hệ hội theo mục đích, định hướng của nhà nước.
Kinh tế tổng hòa các mối quan hệ tương tác lẫn nhau của con người hội - liên qua
trực tiếp đến việc sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng các loại sản phẩm hàng hóa dịch
vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người. Kinh tế dùng để chỉ phương pháp
sản xuất bao gồm cả lực lượng sản xuất quan hệ sản xuất, chỉ tổng hợp quan hệ vật chất
trong hội phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Kinh tế tạo ra doanh thu
lợi nhuận, đáp ứng nhu cầu của con người.
Chính trị toàn bộ những hoạt động liên quan đến các mối quan hệ giữa các giai cấp, giữa
các dân tộc, các tầng lớp hội cốt lõi của vấn đề giành chính quyền, duy trì sử
dụng quyền lực nhà nước, sự tham gia vào công việc của Nhà nước; sự xác định hình thức tổ
chức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của Nhà nước.
Mối quan hệ giữa pháp luật, kinh tế chính trị một khía cạnh quan trọng trong quá
trình xây dựng duy trì một hội công bằng phát triển. Việt Nam, mối liên kết giữa
các lĩnh vực này đang ngày càng trở nên tương tác đóng vai trò quyết định trong hình
thành bức tranh toàn diện của đất nước.
hoạt động kinh tế. Các quy định về doanh nghiệp, thuế, thương mại không chỉ tạo ra một
môi trường kinh doanh ổn định còn đảm bảo rằng quyền lợi của các nhân tổ chức
đều được bảo vệ. Điều này đặt nền tảng cho sự phát triển của doanh nghiệp thuận lợi hóa
quá trình đầu trong ngoài nước.
Ngoài ra, pháp luật còn đóng vai trò quan trọng trong việc quản quyền lực xây dựng
một hệ thống chính trị ổn định. Các hiến pháp luật lệ về bầu cử không chỉ định cấu
chức năng của chính phủ còn đảm bảo sự công bằng trong quá trình thực hiện quyền
lực. Điều này giúp duy trì sự ổn định chính trị tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát
triển bền vững.
Trong bối cảnh kinh tế thế giới đang thay đổi nhanh chóng, Việt Nam đã thực hiện nhiều cải
cách pháp luật để đáp ứng với thách thức hội mới. Chính sách mở cửa cửa khẩu thu
hút đầu nước ngoài đã tạo ra một động lực mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế. Các quy
định mới quy trình đơn giản hóa trong lĩnh vực doanh nghiệp đã giúp tăng cường sự cạnh
tranh thuận tiện cho các nhà đầu tư.
Ngoài ra, pháp luật không chỉ công cụ quản quyền lực còn nguồn động viên cho
sự tham gia chính trị của công dân. Việc thiết lập các quy định về quyền trách nhiệm của
công dân giúp tạo ra một hội dân chủ, nơi mọi người đều địa vị quyền lợi được
tôn trọng.
Trong ngữ cảnh hiện nay của Việt Nam, mối quan hệ này đang tiếp tục phát triển điều
chỉnh để đáp ứng với yêu cầu ngày càng cao từ cả kinh tế chính trị. Sự ổn định chính trị,
kết hợp với các biện pháp khích lệ đầu sự linh hoạt trong pháp luật, đang giúp đất nước
này thu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế đồng thời tạo ra một môi trường phát triển bền
vững trong tương lai.
Câu 4: Hợp đồng dân sự gì? Làm hình thức thời điểm hiệu lực của hợp đồng
dân sự.
1. Khái niệm: Căn cứ Điều 385 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về khái niệm hợp đồng như
sau:
Hợp đồng sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa
vụ dân sự.
2. Hình thức hợp đồng dân sự
Những điều khoản các bên đã cam kết thỏa thuận phải được thể hiện ra bên ngoài bằng
một hình thức nhất định. Hay nói cách khác, hình thức của hợp đồng phương tiện để ghi
nhận nội dung các chủ thể đã xác định. Tùy thuộc vào nội dung, tính chất của từng hợp
đồng cũng như tùy thuộc vào độ tin tưởng lẫn nhau các bên thể lựa chọn một hình thức
nhất định trong việc giao kết hợp đồng cho phù hợp với từng trường hợp cụ thể. Tại Điều 119
Bộ luật dân sự năm 2015 thì hình thức của hợp đồng (cũng hình thức của giao dịch dân sự
bao gồm:
- Hình thức miệng (bằng lời nói):
Thông qua hình thức này, các bên giao kết hợp đồng chỉ cần thỏa thuận miệng với nhau về
nội dung bản của hợp đồng hoặc mặc nhiên thực hiện những hành vi nhất định đối với
nhau. Hình thức này thường được áp dụng trong những trường hợp các bên đã độ tin
tưởng lẫn nhau (bạn cho nhau vay tiền) hoặc đối với những hợp đồng ngay sau khi
giao kết sẽ được thực hiện chấm dứt.
- Hình thức viết (bằng văn bản):
Nhằm nâng cao độ xác thực về những nội dung đã cam kết, các bên thể ghi nhận nội dung
giao kết hợp đồng bằng một văn bản. Trong văn bản đó, các bên phải ghi đầy đủ những nội
dung bản của hợp đồng cùng tên xác nhận vào văn bản. Khi tranh chấp, hợp đồng
được giao kết bằng hình thức văn bản tạo ra chứng cứ pháp chắc chắn hơn so với hình thức
miệng. Căn cứ vào văn bản của hợp đồng, các bên dễ dàng thực hiện quyền yêu cầu của mình
đối với bên kia. vậy, đối với những hợp đồng việc thực hiện không cùng lúc với việc
giao kết thì các bên thường chọn hình thức này. Thông thường, hợp đồng được lập thành
nhiều bản mỗi bên giữ một bản, coi như đã trong tay một bằng chứng, chứng minh
quyền dân sự của mình.
- Hình thức công chứng, chứng thực, đăng ký:
Đối với những hợp đồng tính chất phức tạp, dễ xảy ra tranh chấp đối tượng của
những tài sản Nhà nước cần phải quản lý, kiểm soát khi chúng được dịch chuyển từ chủ
thể này sang chủ thể khác thì các bên phải lập thành văn bản công chứng, chứng thực. Hợp
đồng được lập ra theo hình thức này giá trị chứng cứ cao nhất. vậy, đối với những hợp
đồng pháp luật không yêu cầu phải lập theo hình thức này nhưng để quyền lợi của mình
được bảo đảm, các bên vẫn thể chọn hình thức này để giao kết hợp đồng.
3. Thời điểm
Khi hợp đồng đã hiệu lực, các bên phải thực hiện các nghĩa vụ dân sự đã được xác định từ
hợp đồng đó. Trên sở của hình thức đã giao kết hiệu lực của hợp đồng được xác định
theo từng thời điểm khác nhau, về nguyên tắc, hợp đồng hiệu lực từ thời điểm giao kết.
Tuy nhiên, thời điểm hiệu lực của hợp đồng dân sự còn được xác định theo sự thoả thuận
của các bên hoặc theo quy định của pháp luật. vậy, hợp đồng dân sự được coi hiệu
lực vào một trong các thời điểm sau đây:
- Hợp đồng miệng hiệu lực tại thời điểm các bên đã trực tiếp thoả thuận với nhau về những
nội dung chủ yếu của hợp đồng;
- Hợp đồng bằng văn bản thường, hiệu lực tại thời điểm bên sau cùng vào văn bản hợp
đồng;
- Hợp đồng bằng văn bản công chứng, chứng thực, đăng hiệu lực tại thời điểm văn
bản hợp đồng được công chứng, chứng thực, đăng ký.
Câu 5: Mối quan hệ giữa PL với NN, PL với đạo đức. Liên hệ với Việt Nam.
Khái niệm Pháp luật: hệ thống các quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành, thừa
nhận bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế thể hiện ý chí của giai cấp
thống trị trong hội, nhằm điều chỉnh các quan hệ hội bản, chứa đựng những
chuẩn mực chung được số đông hội ủng hộ.
Nhà nước một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, bộ máy chuyên làm
nhiệm vụ cưỡng chế thực hiện các chức năng quản nhằm duy trì, bảo vệ trật tự
hội, bảo vệ địa vị của giai cấp thống trị trong hội giai cấp.
Khái niệm đạo đức: một hình thái ý thức hội, quan điểm, quan niệm, của con
người ( một cộng đồng, một giai cấp) về các phạm trù thuộc đời sống tinh thần của
hội ( cái thiện, cái ác, ..) nhờ đó con người tự nhận thức, tự giác điều chỉnh hành vi
của mình cho phù hợp với lợi ích đặt ra.
Mối quan hệ giữa pháp luật với nhà nước: chặt chẽ, bổ sung.
- điểm tương đồng: Hai yếu tố của kiến trúc thượng tầng, cùng nguồn gốc ra đời
phát triển.
- nhà nước một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, nhưng quyền lực đó chỉ
thể thực hiện hiệu lực trên sở pháp luật.
-> Nhà nước không thể phát huy quyền lực khi thiếu pháp luật - thiếu quy tắc xử sự
chung, Toàn ảnh ý chí của người cầm quyền.
- Pháp luật công cụ phương tiện hữu hiệu nhất để nhà nước thực hiện quyền lực công đặc
biệt
- pháp luật do nhà nước ban hành bảo đảm thực hiện dựa trên sự cưỡng chế NN.
- pháp luật chỉ thể phát sinh, tồn tại được bảo đảm thực thi trên sức mạnh quyền lực
của NN.
Nhà nước ban hành pháp luật nhưng Khi pháp luật đã được hình thành thì tính bắt
buộc đối với mọi nhân tổ chức trong hội bao gồm cả nhà nước -> Mọi quan cán bộ
nhà nước đều phải triệt để tuân thủ thi hành pháp luật, họ gánh chịu các Hình thức trách
nhiệm pháp luật khác nhau nếu vi phạm pháp luật
Mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức
- Điểm tương đồng: đều xử sự chung của con người trong đời sống hội.
- khác: phạm vi tác động, nguồn gốc hình thành, chế đảm bảo thực thi các mqh
tương tác, qua lại.
- rất nhiều quy phạm đạo đức tồn tại trong hội thể hiện quan niệm quan điểm
riêng của lực lượng hội, cộng đồng người -> Hành vi, cách xử sự của con người
trong hội khác nhau, đa dạng, thể hiện ý chí, nguyện vọng của các gc, tầng lớp
khác nhau nhưng chỉ một hệ thống pháp luật chung cho toàn XH
- Tác động của đạo đức đến pháp luật
+ Đạo đức sở, môi trường thuận lợi cho con người tiếp thu, cảm nhận thúc đẩy
thực hiện PL. Người ý thức đạo đức cao sẽ nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật,
Không lợi dụng hở hạn chế lách luật.
+ Đạo đức góp phần hình thành nên hệ thống pháp luật các quan điểm quan điểm phù
hợp với ý chí của nhân dân được thể chế trong pháp luật
+ Để PL thích hợp với toàn bộ hội, pháp luật cần phản ánh đạo đức của các lực lượng
khác nhau trong hội đó (đảm bảo sự thống nhất trong PL)
- tác động của pháp luật để Đạo Đức
+ Pháp luật khẳng định bảo vệ giữ gìn phát huy những giá trị nguyên tắc chuẩn mực
đạo đức của XH
+ pháp luật ngăn chặn sự thoái hóa xuống cấp độ đạo đức
+ Pháp giúp loại bỏ các Chuẩn mực đạo đức lỗi thời, cải tạo đạo đức - > tạo nên
chuẩn mực đạo đức phù hợp với tiến bộ XH.
Liên hệ thực tiễn Việt Nam
- Pháp luật với NN:
+ NNCHXHCNVN NN Pháp quyền hội chủ nghĩa của nhân dân do nhân dân
nhân dân. tức PL của NN VN do NN CHXHCN VN ban hành, thể hiện chí ý của
gc công nhân đại đa số nhân dân, thượng tôn PL, dưới sự lãnh đạo của Đảng cs
được NN bảo đảm thực hiện.
+ Quyền lực NN thống nhất, sự phân công, phối hợp kiểm soát giữa các
quan trong việc thực hiện quyền lập, hành, pháp
+ NN đã ban hành , thay đổi, hủy bỏ, bổ sung hoàn thiện PL cho phù hợp với đời
sống để quyền chức năng quản của NN được phát huy, thực thi triệt để.
- PL với đạo đức
+ Tích cực:
PL được NN xây dựng dựa trên các quan niệm đạo đức của ND, thể hiện được đạo đức
truyền thống dân tộc, cũng như ý chí, nguyện vọng hướng tới lợi ích của ND
HPVN: Đoàn kết dân tộc, giúp đỡ các dân tộc thiểu số phát triển về mọi mặt để cùng nhau
phát triển -> đạo đức tương thân, tương ái -> lợi ích nguyện vọng của dân tộc thiểu số.
PL được xây dựng trên sở tôn trọng bảo vệ phẩm giá con người: tôn trọng quyền tự do
ngôn luận, xử vi phạm hành vi bôi nhọ danh dự…
PLVN phản ánh nét tưởng nhân đạo: nhiều chính sách ưu đãi, quan rậm đặc biệt thới
thương binh, liệt sĩ, người công với đất nước.
Bộ luật hình sự: quy định tình tiết giảm nhẹ, mãn hạn tù.
PLVN gìn giữ, phát huy các quan niệm đạo đức tốt đẹp: Hiếu thảo - Luật hôn nhân gia
đình: cha mẹ nghĩa vụ nuôi dạy con cái, con cái nghĩa vụ hiếu thảo, kính trọng
PLVH nghiêm cấm các hành vi trái đạo đức hội: Cấm truyền tưởng VN phản động,
đồi trụy, bài trừ tín dị đoan,..
PLVN loại bỏ tưởng đạo đức cổ hủ
+ Hạn chế: Nhiều quan niệm, tưởng, đạo đức cổ hủ vẫn chưa được PL ngăn chặn
đúng mức cần thiết: Gia trưởng, trọng nam khinh nữ,..
Chưa phát hiện kịp thời, Qtam soát các lực lượng phản động trên internet, còn
chậm tính răn đe chưa đủ.
Câu 6: Hệ thống PLVN gồm bao nhiêu bộ phận cấu thành? Trình bày các bộ phận cấu
thành đó.
Khái niệm Pháp luật: hệ thống các quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành, thừa
nhận bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế thể hiện ý chí của giai cấp
thống trị trong hội, nhằm điều chỉnh các quan hệ hội bản, chứa đựng những
chuẩn mực chung được số đông hội ủng hộ
KN PL CN XHCN VN: hệ thống quy tắc xử sự chung do NN CHXHCN VN ban
hành, thể hiện ý chí của gccn đại đa số ND, dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN, bảo
đảm thực hiện bằng Nhà nước, trên sở giáo dục, tuyên truyền, thuyết phục, cưỡng
chế mọi người tôn trọng thực thi
KN hệ thống PL: tổng thể các Quy phạm PL mối liên hệ nội tại thống nhất với
nhau, được phân định thành các bộ phận cấu thành khác nhau, phù hợp với đặc điểm,
tính chất của các QHXH điều chỉnh.
Hệ thống PLVN gồm 3 bộ phận cấu thành:
- Ngành luật
+ Bao gồm tổng hợp những quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ hội cùng
loại thuộc một lĩnh vực nhất định của đời sống hội, bằng những PP riêng của mình
+ Để xác định 1 ngành luật, ngta thường dựa vào đối tượng điều chỉnh pp điều chỉnh
+ Đtdc: những qhxh chung tính chất, phát sinh trong 1 lĩnh vực của đsxh. thể
thay đổi vào từng giai đoạn lịch sử, phụ thuộc vào ý chí của NN, điều kiện CTXH
+ PP ĐC: cách thức, bp NN sử dụng trong PL để tác động lên cách xử sự của chủ
thể tham gia các qhxh phụ thuộc vào ND, tính chất của đt đc ý muốn chủ quan của
người ban hành PL
+ VN 12 ngành luật bản: NN, hành chính, tài chính, đất đai, dân sự ,lao động, hôn
nhân - gia đình, hình sự, tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, kinh tế, quốc tế…
+ dụ: Đối tượng điều chỉnh của luật dân sự quan hệ nhân thân tài sản của
nhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên sở bình đẳng, tự do ý chí,
độc lập về tài sản tự chịu trách nhiệm
Phương pháp điều chỉnh của luật dân sự phương pháp bình đẳng, thỏa thuận (trên
sở tôn trọng sự tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận của các bên, đảm bảo cho các
bên vị trí bình đẳng).
- Chế định PL:
+ gồm 1 nhóm các quy phạm pháp luật điều chỉnh một nhóm qh xh liên quan mật thiết
với nhau chung tính chất.
+ Mang tính chất nhóm, mỗi chế đinh đặc điểm riêng nhưng đều mối liên hệ nội
tại thống nhất.
+ dụ: Ngành luật dân sự các chế định như chế định quyền sở hữu, chế định hợp
đồng, chế định thừa kế..
Ngành luật hình sự các chế định như các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội
xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người; các tội xâm
phạm quyền tự do, dân chủ của công dân…
- Quy phạm PL:
+ thành tố nhỏ nhất, “tế bào” trong hệ thống cấu trúc PL.
+ Thể hiện đầy đủ đặc điểm PL - đó tính khuôn mẫu, tính chặt chẽ, về mặt
hình thức, tính cưỡng chế nhà nước.
+ Mỗi quy phạm PL thực hiện vai trò điều chỉnh đối với một qh xh nhất định.
Câu 7: Hình thức nhà nước được hình thành từ những yếu tố nào? Làm các yếu tố
đó.
Nhà nước một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, bộ máy chuyên làm
nhiệm vụ cưỡng chế thực hiện các chức năng quản nhằm duy trì, bảo vệ trật tự
hội, bảo vệ địa vị của giai cấp thống trị trong hội giai cấp.
Hình thức nhà nước phụ thuộc vào từng điều kiện, hoàn cảnh, truyền thống văn hóa,
lịch sử đất nước.
3 yếu tố hình thành hình thức nhà nước:
- Hình thức chính thể:
+ Khái niệm:
Cách tổ chức, cấu, trình tự thành lập các quan nhà nước cao nhất mối liên hệ của
chúng với nhau, cũng như mức độ tham gia của nhân dân vào việc thiết lập các quan này
+ 2 dạng bản:
Chính thể quân chủ: quyền lực tối cao của nhà nước tập trung toàn bộ (hay 1 phần)
trong tay người đứng đầu nhà nước (vua, hoàng đế…) theo nguyên tắc thừa kế.
Chính thể quân chủ lại được chia ra thành:
Chính thể quân chủ tuyệt đối, người đứng đầu nhà nước (vua,..) quyền lực hạn
Chính thể quân chủ hạn chế: người đứng đầu chỉ nắm 1 phần quyền lực tối cao + 1 quan
quyền lực khác để hạn chế quyền lực người đứng đầu
Chính thể cộng hòa: quyền lực tối cao của nhà nước thuộc vào một quan được bầu
ra trong thời gian nhất định
Cũng 2 hình thức: Cộng hòa dân chủ cộng hòa quý tộc
Cộng hòa dân chủ: pháp luật quy định quyền của công dân tham gia để bầu cử thành lập các
quan đại diện (quyền lực) của nhà nước
Cộng hòa quý tộc (dưới chế độ lệ), quyền tham gia bầu cử để thành lập các quan đại
diện cho nhà nước chỉ dành riêng cho giới quý tộc
Ngoài ra 2 biến dạng chính cộng hòa tổng thống cộng hòa đại nghị:
Chính thể cộng hòa tổng thống: vai trò của nguyên thủ quốc gia rất quan trọng. Tổng thống
được cử tri bầu ra, vừa nguyên thủ quốc gia, vừa đứng đầu Chính phủ. Các thành viên
chính phủ do tổng thống bổ nhiệm chịu trách nhiệm trước tổng thống. (Mỹ, một số nước
Mỹ la tinh)
Cộng hòa đại nghị: nghị viện thành lập ra chính phủ, kiểm tra hoạt động chính phủ. Tổng
thống do nghị viện bầu ra, vai trò không lớn ( Đức, Áo, Ý, Phần Lan,..)
- Hình thức cấu trúc nhà nước:
+ Khái niệm: tổ chức NN theo các đơn vị hành chính lãnh thổ mối liên hệ giữa
quan nhà nước TW với các quan nhà nước địa phương
+ 2 hình thức chủ yếu
Hình thức nhà nước đơn nhất:
nhà nước chủ quyền chung, nhà nước thống nhất
1 hiến pháp, 1 hệ thống duy nhất các quản thể hiện quyền lực nhà nước: Lập Pháp, Hiến
Pháp, pháp
1 hệ thống pháp luật, 1 quy chế công dân, 1 chế độ quốc tịch
Hình thức nhà nước liên bang
từ 2 hoặc nhiều nước thành viên hợp lại
NN thành viên cũng chủ quyền riêng
2 hệ thống quan quyền lực quản lý: một hệ thống chung cho toàn liên bang một hệ
thống trong mỗi nước thành viên.
2 hệ thống pháp luật (Của bang của Liên Bang) , 2 quốc tịch
Như Mỹ, Đức, Ấn…
- Chế độ chính trị
+ tổng thể các phương pháp, cách thức các quan nhà nước sử dụng để thực
hiện quyền lực nhà nước.
+ 2 PP chính: PP dân chủ PP phản dân chủ
PP dân chủ: - nhà nước dân chủ: mọi công dân quyền ngang nhau
PP phản dân chủ: tính chất độc tài, khi pp cai trị quản hội này phát triển đến
mức độ cao sẽ trở thành những PP tàn bạo, quân phiệt, phát xít
Câu 8: Hợp đồng dân sự gì? ND của Hợp đồng dân sự cho dụ?
Hợp đồng dân sự sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt các
quyền nghĩa vụ dân sự. giao dịch dân sự trong đó các bên bày tỏ ý chí với nhau
để đi đến xác lập các quyền nghĩa vụ.
ND của HĐNS:
sự tổng hợp các điều khoản các chủ thể kết hợp đồng thỏa thuận với nhau không
trái với quy định của PL, các điều khoản đó xác định quyền nghĩa vụ dân sự của các bên
hợp đồng
1 số Nd bản thể có:
- Đối tượng của hợp đồng
- Số lượng, chất lượng
- Giá cả, phương thức thanh toán
- Thời gian, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng
- Quyền nghĩa vụ của các bên
- Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
- Phương thức giải quyết tranh chấp.
( Các bên tự thương lượng; nhờ bên T3 (kphai tòa án) hòa giải, đưa ra ưu, nhược điểm của
các phương án, không quyền phán quyết; Khởi kiện -> sự can thiệp của tòa án, đưa ra
phán quyết)
dụ: Hợp đồng mua bán xe máy của anh A chị B
+ Đối tượng: Xe máy
+ slg: 1 chiếc
+ Chất lượng: cũ, đã dán xe, bọc khung xe
+ Dòng xe: SH - Honda 2018
+ Giá cả: 50 tr
+ Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hd mua - bán
Anh A - bên mua sẽ thanh toán trước 30 triệu (tiền mặt) hoặc ck tại thời điểm chị B giao xe
tại nhà chị B
+ Anh A bên mua
Quyền: Nhận xe dùng các giấy tờ về quyền sở hữu do chị B giao
Nghĩa vụ: trả tiền cho chị B như đã thỏa thuận, đăng quyền sở hữu xe máy tại quan
thẩm quyền theo Quy định pháp luật (công chứng/ chứng thực) , sang tên (chịu phí)
+ Chị B - bên bán:
Quyền: nhận đủ tiền từ anh A
Nghĩa vụ: giao xe theo đúng tình trạng, đặc điểm, thời hạn, địa điểm cùng với các giấy tờ về
quyền sở hữu chiếc xe máy đó. Thực hiện thủ tục sang tên cho anh A
+ Phương thức giải quyết tranh chấp: các bên cùng nhau thương lượng trên nguyên tắc
tôn trọng quyền lợi của nhau
Câu 9: Kiểu nhà nước gì? Đặc trưng của kiểu nhà nước sự thay thế các kiểu nhà
nước trong lịch sử
Khái niệm: Kiểu nhà nước tổng thể các dấu hiệu (đặc điểm) bản của nhà nước,
thể hiện bản chất của nhà nước những điều kiện tồn tại phát triển của nhà nước
trong một hình thái kinh tế - hội nhất định
Mỗi kiểu nhà nước phù hợp với một chế độ kinh tế nhất định của một hội giai
cấp.
4 kiểu nhà nước:
- NN chủ
- NN phong kiến
- NN sản
-> 3 kiểu trên chung bản chất, xây dựng trên sở hữu về TLSX, những công cụ bạo
lực, bộ máy chuyên chính của các giai cấp bóc lột chống lại nhân dân lao động.
- NN XHCN: Tiến bộ nhất cuối cùng trong lịch sử nhân loại.
Được xây dựng trên sở công hữu về TLSX qh thân thiện giữa những người lao
động. do nhân dân thiết lập hoạt động nhân dân,
Sự thay thế các kiểu NN:
- quy luật tất yếu. Quy luật về sự thay thế các kiểu nhà nước phù hợp với quy luật về
sự phát triển thay thế của các hình thái kinh tế - hội.
- Con đường đưa đến sự thay thế: cách mạng/ biến động XH lật đổ chính quyền thống
trị cũ, thiết lập chính quyền thống trị mới
- Mâu thuẫn giữa các giai cấp ngày càng mờ nhạt, tính hội biểu hiệu hơn, hữu
giảm
- Quá trình từ 1 -> 4 , tuy nhiên quá trình thay thế kiểu nhà nước trong các hội khác
nhau diễn ra không giống nhau thực thế không phải hội nào cũng trải qua 4 kiểu
NN (như Việt Nam)
10. Luật Hành chính điều chỉnh những nhóm quan hệ hội nào? Chỉ đặc điểm của
các nhóm quan hệ hội đó.
Các nhóm quan hệ hội Luật Hành chính thể điều chỉnh thể chia thành 3 nhóm:
- Nhóm 1: Các quan hệ quản phát sinh trong quá trình các quan hành chính
nhà nước thực hiện hoạt động chấp hành điều hành trên các lĩnh vực khác nhau
của đời sống hội
- dụ: Chính phủ làm việc với Bộ văn hóa, thể thao du lịch về kế hoạch công tác
năm 2020
Đặc điểm: Nhóm QH bản, quan trọng chủ đạo trong đối tượng điều chỉnh của Luật
HC. được thực hiện trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống XH qua đó các
quan hành chính nhà nước thực hiện chức năng bản của mình.
- Nhóm 2: Các quan hệ quản hình thành trong quá trình các quan nhà nước
xây dựng củng cố chế độ công tác nội bộ (kiểm tra, nâng cấp trình độ nghiệp vụ,
khen thưởng, kỷ luật, sắp xếp nhân sự, tổ chức…) của quan nhằm ổn định về tổ
chức để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của mình.
- dụ: Chánh án tòa án nhân dân tối cao ra quyết định bổ nhiệm Thẩm phán tòa án
nhân dân TP HN
Đặc điểm: Mỗi loại quan nhà nước chức năng bản riêng để hoàn thành chức năng
bản của mình các quan nhà nước phải tiến hành những hoạt động quản hành chính
nhất định.
Những người lãnh đạo một bộ phận công chức của các quan trong bộ máy nhà nước
được trao quyền tiến hành hoạt động tổ chức trong giới hạn quan. Hoạt động này còn được
gọi hoạt động tổ chức nội bộ, khác với hoạt động hướng ra bên ngoài. Để quan nhà
nước thể hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của mình, hoạt động quản nội bộ cần được tổ
chức tốt.
Hoạt động tổ chức nội bộ giữ vai trò đặc biệt quan trọng, tạo điều kiện cần thiết cho các
quan nhà nước thực hiện tốt chức năng bản của mình. Tuy nhiên, cần lưu ý nếu công tác tổ
chức nội bộ vượt quá giới hạn bình thường, nếu bộ máy nhà nước dành quá nhiều thời gian
sức lực cho công tác tổ chức nội bộ, nếu quá nhiều quan trung gian thì hiệu quả của
quản sẽ giảm sút.
- Nhóm 3: Các quan hệ quản hình thành trong quá trình các nhân tổ chức
được nhà nước trao quyền thực hiện các hoạt động quản hành chính của nhà
nước trong một số trường hợp cụ thể do pháp luật quy định.
- dụ: Tòa án quan xét xử, tòa được quyền xử các vi phạm hành chính. Mặc
không phải quan quản nhà nước nhưng vẫn được thực hiện họ đc trao
quyền thực hiện.
Đặc điểm:
Trong thực tiễn quản hành chính nhà nước, trong nhiều trường hợp, pháp luật thể trao
quyền thực hiện hoạt động chấp hành điều hành cho các quan nhà nước khác (không
phải quan hành chính nhà nước), các tổ chức hoặc nhân. Hoạt động trao quyền được
tiến hành trên sở những do khác nhau: chính trị, tổ chức, đảm bảo hiệu quả v.v.. vậy,
hoạt động quản hành chính nhà nước không chỉ do các quan hành chính nhà nước tiến
hành.
Hoạt động của quan nhà nước, tổ chức hoặc nhân được trao quyền tất cả những hậu
quả pháp như hoạt động của quan hành chính nhà nước nhưng chỉ trong khi thực hiện
hoạt động chấp hành điều hành cụ thể được pháp luật quy định. Hoạt động này cần được
phân biệt với hoạt động bản của quan nhà nước được trao quyền (chính cái đó quy
định tính chất của quan của các mối quan hệ). Xem xét vấn đề từ hướng khác cho thấy
quan hành chính nhà nước không chỉ thực hiện hoạt động chấp hành điều hành còn
được uỷ quyền lập pháp tiến hành hoạt động tài phán trong những trường hợp nhất định.
11. Nêu các yếu tố cấu thành quan hệ pháp luật. Lấy dụ minh họa?
Các yếu tố cấu thành quan hệ pháp luật gồm có: Chủ thể của quan hệ pháp luật; Khách thể
của quan hệ pháp luật Nội dung của quan hệ pháp luật.
1/ Chủ thể quan hệ pháp luật
Chủ thể trong quan hệ pháp luật thể nhân, tổ chức phải năng pháp luật, năng lực
hành vi phù hợp phù hợp để tham gia vào các quan hệ đó thực hiện các quyền, lợi ích hợp
pháp cũng như nghĩa vụ pháp theo quy định.
Trong đó chủ thể nhân tổ chức khác nhau, cụ thể:
+ Chủ thể quan hệ pháp luật nhân: Năng lực pháp luật của nhân khả năng để
nhân đó quyền nghĩa vụ dân sự. Còn năng lực hành vi dân sự của nhân khả năng
nhân đó bằng hành vi của mình để xác lập, thực hiện quyền nghĩa vụ dân sự.
+ Chủ thể quan hệ pháp luật tổ chức: Đối với chủ thể này, năng lực pháp luật dân sự
năng lực hành vi sẽ xuất hiện đồng thời khi tổ chức đó thành lập theo quy định của pháp luật
chấm dứt cách pháp khi bị phá sản, giải thể.
2/ Khách thể quan thể quan hệ pháp luật
Khách thể của quan hệ pháp luật những lợi ích các chủ thể mong muốn đạt được đó
lợi ích về vật chất hoặc tinh thần, khi tham gia vào quan hệ pháp luật.
Khách thể trong quan hệ pháp các bên hướng đến thể tài sản vật chất, lợi ích phi
vật chất hay hành vi xử sự của con người.
dụ:
+ Vàng, trang sức, đá quý, tiền. xe, nhà, đất,… (tài sản vật chất)
+ Khám chữa bệnh, vận chuyển hàng hóa, chăm sóc sắc đẹp, tham gia bầu cử,…(hành vi xử
sự)
+ Quyền nhân thân, danh dự, nhân phẩm, học hàm học vị,…(Lợi ích phi vật chất)
3/ Nội dung quan hệ pháp luật
Nội dung của quan hệ pháp luật tổng thể quyền nghĩa vụ pháp của các chủ thể tham
gia trong quan hệ đó. Trong đó:
+ Quyền của chủ thể tham gia: Chủ thể thực hiện quyền của mình thông qua việc thực hiện
các hành vi trong khuôn khổ pháp luật, yêu cầu chủ thể khác thực hiện hoặc kiềm chế thực
hiện hành vi nhất định.
+ Nghĩa vụ của chủ thể tham gia: Chủ thể tham gia phải xử sự theo quy định của pháp luật
chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Quan hệ pháp luật nhiều loại như quan hệ pháp luật dân sự, quan hệ pháp luật lao động,
quan hệ pháp luật hành chính, quan hệ pháp luật hình sự,….
dụ:
Tháng 01/2020 A giao kết hợp đồng vay tiền B, trong thời hạn 5 tháng với số tiền 100 triệu
đồng hợp đồng này công chứng.
1/ Chủ thể quan hệ pháp luật dân sự: A B
2/ Nội dung quan hệ pháp luật dân sự:
+ A quyền nhận được số tiền vay 100 triệu từ B để sử dụng A nghĩa vụ thanh toán
đúng hạn, trả lãi suất (nếu có).
+ B quyền nhận đủ số tiền cho vay theo đúng thời hạn nghĩa vụ giao số tiền vay cho
A.
3/ Khách thể quan hệ pháp luật dân sự: 100 triệu tiền vay lãi (nếu có).
12. Nhà nước gì? Trình bày bản chất đặc trưng của nhà nước.
Khái niệm:
- Nhà nước một lực lượng nảy sinh từ hội, một lực lượng tựa hồ như đứng trên
hội, nhiệm vụ làm dịu bớt sự xung đột giữ cho sự xung đột đó nằm trong vòng
trật tự.
- Nhà nước một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, thực hiện mục đích bảo vệ
địa vị, lợi ích của giai cấp thống trị trong hội quản lí, duy trì trật tự hội, sự
tồn tại phát triển của cả hội.
Bản chất giai cấp của nhà nước
Bản chất giai cấp của nhà nước được thể hiện qua các điểm sau:
- Thứ nhất, Nhà nước không tồn tại độc lập khỏi sự phân chia xung đột giai cấp
trong hội. Bản chất giai cấp của nhà nước phản ánh sự tương tác quan hệ giữa
các tầng lớp hội, bao gồm giai cấp thống trị giai cấp bị áp bức. Nhà nước
thường được sử dụng làm công cụ để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị duy trì
trật tự hội hiện tại. Nhà nước thường được sử dụng làm công cụ để bảo vệ lợi ích
của giai cấp thống trị duy trì trật tự hội.
- Thứ hai, bản chất giai cấp của nhà nước thể hiện qua việc áp dụng các chính sách
quyết định ưu tiên lợi ích của giai cấp thống trị. Nhà nước thường vai trò bảo
vệ duy trì lợi ích của giai cấp thống trị thông qua việc xác định các chính sách kinh
tế, chính trị hội. Đồng thời, nhà nước cũng thể hiện vai trò kiểm soát kiềm
chế các lực lượng giai cấp khác trong hội.
- Thứ ba, bản chất giai cấp của nhà nước phản ánh mâu thuẫn xung đột giữa các
lực lượng giai cấp trong hội. Giai cấp thống trị sử dụng nhà nước để duy trì sự áp
bức khống chế giai cấp bị áp bức. Tuy nhiên, sự phản kháng đấu tranh của giai
cấp bị áp bức cũng tạo ra áp lực thách thức đối với nhà nước.
- Thứ tư, bản chất giai cấp của nhà nước không tĩnh lặng thường chịu sự thay
đổi phát triển. hội tiến bộ các cuộc cách mạng thể thay đổi cấu trúc giai
cấp làm ảnh hưởng đến vai trò quyền lực của nhà nước. Sự phân chia xung đột
giai cấp một động lực quan trọng trong sự phát triển hội cũng như sự thay đổi
của nhà nước.
- Thứ năm, bản chất giai cấp của nhà nước phản ánh quyền lực dân chủ tham
gia của người dân trong việc xác định chính sách quyết định của nhà nước. Nhà
nước hội chủ nghĩa thường đặt quyền lợi của người dân lên hàng đầu thúc đẩy
tham gia dân chủ trong quá trình quản hoạt động nhà nước.
- Bản chất hội của nhà nước
Bản chất hội của nhà nước được thể hiện qua các quan điểm sau:
- Thứ nhất, nhà nước không thể tồn tại hoạt động độc lập với hội. Bản chất
hội của nhà nước được thể hiện trong sự tương tác giữa nhà nước các thành phần
hội khác, bao gồm các tầng lớp, giai cấp, nhóm người nhân. Qua sự tương tác
này, nhà nước tác động lên hội ngược lại, đồng thời hội cũng ảnh hưởng đến
nhà nước.
- Thứ hai, bản chất hội của nhà nước được thể hiện qua việc quản thực thi
quyền lực. Nhà nước quyền lực khả năng tạo ra quyết định, áp dụng chính
sách ảnh hưởng đến lợi ích của các tầng lớp, giai cấp cũng như nhân trong
hội. Bản chất hội của nhà nước đồng thời cũng phản ánh sự phân chia cạnh
tranh về quyền lực lợi ích trong hội.
- Thứ ba, Nhà nước không chỉ đóng vai trò quản điều hành hội, còn
mục tiêu chức năng hội cụ thể. Bản chất hội của nhà nước thể hiện qua việc
đảm bảo trật tự, bình đẳng, công bằng phát triển hội. Nhà nước trách nhiệm
xây dựng duy trì các sở hạ tầng, cung cấp các dịch vụ bản, đáp ứng nhu cầu
quyền lợi của cộng đồng.
- Thứ tư, bản chất hội của nhà nước cũng phản ánh mâu thuẫn xung đột giữa
các thành phần hội. Nhà nước thể hiện vai trò bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị
kiểm soát các lực lượng hội khác. Tuy nhiên, sự phản kháng tranh đấu của
các tầng lớp giai cấp bị áp bức cũng tạo ra áp lực thách thức đối với nhà nước.
- Thứ năm, bản chất hội của nhà nước phản ánh quyền lực dân chủ tham gia
của người dân trong việc xác định chính sách quyết định của nhà nước. Nhà
nước hội chủ nghĩa thường đặt quyền lợi của người dân lên hàng đầu thúc đẩy
tham gia dân chủ trong quá trình quản hoạt động nhà nước.
Các đặc trưng bản của nhà nước
1. Nhà nước thiết lập quyền lực công cộng đặc biệt
Nhà nước thiết lập quyền lực công cộng đặc biệt quyền lực này không còn hòa nhập với dân
như trong chế độ thị tộc nữa. Để thực hiện quyền lực này, nhà nước xây dựng một hệ
thống quan hành chính, thiết lập toà án, quân đội, cảnh sát, những phương tiện quản lý,
những phương tiện cưỡng chế ... nhằm áp bức bằng bạo lực buộc các giai cấp khác phải
tuân thủ, phục tùng theo ý chí của giai cấp thống trị, đảm bảo phục vụ cho lợi ích giai cấp
thống trị trong hội.
2. Nhà nước phân chia dân theo các đơn vị hành chính lãnh thổ
Nhà nước phân chia dân theo các đơn vị hành chính lãnh thổ không phụ thuộc vào huyết
thống, nghề nghiệp hoặc giới tính. Việc phân chia này dẫn đến việc hình thành các quan
quản trong bộ máy nhà nước. Lãnh thổ dấu hiệu đặc trưng của nhà nước, bởi lẽ không
một quốc gia nào không lãnh thổ. Nhà nước thực thi quyền lực chính trị của mình trên
toàn vẹn lãnh thổ. Một nhà nước lãnh thổ riêng trên lãnh thổ ấy phân chia thành các
đơn vị hành chính như tỉnh, huyện, xã...và do dấu hiệu lãnh thổ xuất hiện chế định
quốc tịch– chế định quy định sự lệ thuộc của công dân vào 1 nhà nước 1 lãnh thổ nhất
định, thông quá đó nhà nước thiết lập quan hệ với công dân của mình.
3. Nhà nước chủ quyền quốc gia
Nhà nước một tổ chức quyền lực chủ quyền, thể hiện trong đối nội đối ngoại.
Trong đối nội, Nhà nước quyền lực tối cao đối với mọi con người, mọi tổ chức trong lãnh
thổ quốc gia, không chịu ảnh hưởng không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ một quốc gia nào
khác.
Trong đối ngoại, Nhà nước sự độc lập hoàn toàn trong chính sách các hoạt động kinh
tế, chính trị, văn hoá ....với nước ngoài. Nhà nước quyền tự do độc lập quyết định các
công việc của mình, tôn trọng chủ quyền của các nhà nước khác, tôn trọng các quy phạm của
luật quốc tế. . Chủ quyền thuộc tính vốn của nhà nước. Trong hội giai cấp, không
một tổ chức hoặc nhân nào chủ quyền như nhà nước.
4. Nhà nước ban hành pháp luật thực hiện sự quản bắt buộc đối với mọi công dân
Để giữ gìn trật tự đảm bảo lợi ích của giai cấp thống trị, nhà nước phải trực tiếp xây dựng
các quy phạm để điều chỉnh các quan hệ hội quan trọng, buộc các chủ thể khi tham gia
quan hệ đó phải xử sự đúng ý chí của nhà nước. Nhà nước đảm bảo thực hiện các quy phạm
pháp luật đó bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước. Pháp luật trở thành một công cụ sắc
bén không thể thiếu được trong tay nhà nước để quản hội..
Nhà nước pháp luật mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau: không thể nhà nước thiệu
pháp luật ngược lại. Chỉ Nhà nước mới quyền ban hành pháp luật cũng chính nhà
nước bảo đảm cho pháp luật được thực thi trong cuộc sống.
5. Nhà nước quyền quy định thực hiện việc thu các loại thuế
Để nuôi dưỡng bộ máy nhà nước, đảm bảo cho phát triển kinh tế, văn hóa, hội, giải quyết
công việc chung của hội, mọi nhà nước phải quy định thực hiện việc thu các loại thuế
dưới các hình thức bắt buộc, với số lượng thời hạn ấn định trước. Thuế khoản đóng góp
bắt buộc của các công dân các tổ chức kinh tế trên lãnh thổ quốc gia vào ngân sách nhà
nước, đây nguồn thu nhập chủ yếu của nhà nước.
13. Phân biệt nhà nước với các tổ chức khác nhà nước.
Phân biệt nhà nước với tổ chức hội khác
1. Khái niệm:
- Nhà nước: tổ chức quyền lực đặc biệt của hội, bao gồm một lớp người được tách ra từ
hội để chuyên thực thi quyền lực, nhằm tổ chức quản hội, phục vụ cho lợi ích
chung của toàn hội cũng như lợi ích của lực lượng cầm quyền trong hội.
- Các tổ chức hội khác: tập hợp một nhóm người tự nguyện liên kết với nhau tương đối
chặt chẽ, bền vững theo một tiêu chí nào đó ( cùng mục đích,chính kiến, tưởng, nghề
nghiệp, độ tuổi, giới tính,…) nhằm đại diện bảo vệ lợi ích cho các hội viên của chúng.
2. Phạm vi quyền lực:
- Nhà nước: Nhà nước tổ chức quyền lực đặc biệt của hội. tác động bao trùm lên
toàn hội, tới mọi tổ chức, nhân, mọi khu vực lãnh thổ quốc gia các lĩnh vực bản
của đời sống: kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục,..Mọi nhân tổ chức đang sống hoạt
động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đều phải phục tùng quyền lực ý chí của nhà nước.
Do đó, nhà nước tổ chức sở hội phạm vi tác động rộng lớn trong quốc gia.
+ Nhà nước một lớp người tách ra khỏi lao động sản xuất để chuyên thực thi quyền lực
nhà nước, họ tham gia vào bộ máy nhà nước để làm hình thành nên một hệ thống các quan
nhà nước từ trung ương đến địa phương, trong đó các quan bạo lực, cảnh sát, tòa án,…
+ Nhờ quyền lực bộ máy chuyên thực thi quyền lực đó nhà nước thể điều hành
quản hội, thiết lập giữ gìn trật tự hội, phục vụ bảo vệ lợi ích chung của toàn
hội cũng như lợi ích của lực lượng cầm quyền.
- Các tổ chức hội khác: cũng quyền lực chung song quyền lực đó chỉ tác động tới các
hội viên trong tổ chức đó không một tổ chức nào bộ máy riêng để chuyên thực thi
quyền lực như nhà nước. sở phạm vi tác động của các tổ chức hội khác đều hẹp hơn
nhà nước, chỉ tới một bộ phận dân.
3. Cách thức tổ chức quản lý:
- Nhà nước thực hiện việc quản dân theo lãnh thổ:
+ Nhà nước luôn lấy việc quản dân theo lãnh thổ làm điểm xuất phát. Người dân không
phân biệt huyết thống, dân tộc, giới tính,… cứ sống trên một khu vực lãnh thổ nhất định thì
chịu sự quản của một nhà nước nhất định. Do vậy, họ thực hiện quyền nghĩa vụ đối với
nhà nước nơi họ trú. Nhà nước thực hiện việc quản dân trong phạm vi lãnh thổ
quốc gia của mình cũng theo địa bàn trú của họ hay theo các đơn vị hành chính lãnh thổ.
Nhà nước phân chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính quản dân theo các đơn vị
đó.
- Các tổ chức hội khác: thường tập hợp quản dân theo mục đích,chính kiến,
tưởng, nghề nghiệp, độ tuổi hoặc giới tính,…
4. Phạm vi đại diện:
- Nhà nước nắm giữ thực thi chủ quyền quốc gia:
+ Chủ quyền quốc gia khái niệm dùng để chỉ quyền quyết định tối cao của quốc gia trong
quan hệ đối nội quyền độc lập tự quyết trong quan hệ đối ngoại. Nhà nước đại diện
chính thức cho toàn quốc gia, dân tộc trong các quan hệ đối nội đối ngoại. Trong quan hệ
đối nội thì quy định của nhà nước giá trị bắt buộc phải tôn trọng hoặc thực hiện đối với các
tổ chức nhân liên quan; nhà nước thể cho phép các tổ chức hội khác được
thành lập hoạt động hoặc nhà nước công nhận sự tồn tại hoạt động hợp pháp của các tổ
chức hội khác. Trong quan hệ đối ngoại, nhà nước toàn quyền xác định thực hiện
các đường lối,chính sách đối ngoại của mình.
- Các tổ chức hội khác chỉ được thành lập, tồn tại hoạt động một cách hợp pháp khi
được nhà nước cho phép hoặc công nhận, đồng thời chỉ thể nhân danh chính tổ chức đó
khi tham gia vào các quan hệ đối nội, đối ngoại chỉ được tham gia vào quan hệ đối ngoại
nào nhà nước cho phép.
5. Ban hành pháp luật:
- Nhà nước ban hành pháp luật dùng pháp luật làm công cụ quản hội:
+ Pháp luật hệ thống các quy tắc xử sự chung giá trị bắt buộc phải tôn trọng hoặc thực
hiện đối với các tổ chức nhân liên quan trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Nhà nước
bảo đảm cho pháp luật được thực hiện bằng nhiều biện pháp:tuyên truyền, phổ biến, giáo dục,
thuyết phục, động viên, khen thưởng, áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước. Nhà nước
dùng pháp luật để quản hội theo mục đích của nhà nước pháp luật một trong
những phương tiện quản hiệu quả nhất của nhà nước.
- Các tổ chức hội khác: chỉ quyền ban hành các quy định dưới dạng điều lệ, chỉ thị,
nghị quyết giá trị bắt buộc phải tôn trọng thực hiện với các hội viên trong tổ chức; đồng
thời bảo đảm cho các quy định đó được thực hiện bằng sự tự giác của các hội viên bằng
các hình thức kỷ luật của tổ chức.
6. sở kinh tế:
- Nhà nước quy định thực hiện việc thu thuế: Thuế khoản tiền hay hiện vật người
dân buộc phải nộp cho nhà nước theo quy định của pháp luật. Nhà nước một bộ máy được
tách ra khỏi lao động sản xuất trực tiếp để chuyên thực hiện chức năng quản hội nên
phải được nuôi dưỡng từ nguồn của cải do dân đóng góp, không thuế bộ máy nhà nước
không thể tồn tại được thuế luôn quốc sách của mọi nhà nước. Thuế còn nguồn của
cải quan trọng phục vụ cho việc phát triển các mặt của đời sống. Ngoài thuế, nhà nước còn
quyền phát hành tiền, công trái, thế nhà nước lực lượng vật chất to lớn, không chỉ để
thể trang trải cho các hoạt động của nó,những hoạt động bản của hội, còn thể hỗ
trợ một phần kinh phí hoạt động cho một sống tổ chức khác.
- Các tổ chức hội khác: hoạt động trên sở nguồn kinh phí do các hội viên đóng góp
hoặc từ nguồn tài trợ của nhà nước, các tổ chức quốc tế.
7. Mục tiêu:
- Nhà nước: quản hội, bảo vệ lợi ích chung của hội lực lượng cầm quyền
- Các tổ chức hội khác: tạo thành một cộng đồng nhằm bảo vệ quyền lợi cho một nhóm
người nào đó ( cựu chiến binh, phụ nữ,…)
14. Phân biệt tội phạm với những hành vi vi phạm pháp luật khác. Lấy dụ minh họa?
Tiêu chí
Tội phạm
Các vi phạm pháp luật khác
Căn cứ pháp
Quy định trong Bộ luật hình sự, cụ thể
tại Khoản 1 Điều 8 Bộ Luật Hình sự
năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Một hành vi tội phạm khi đủ các dấu
hiệu: hành vi nguy hiểm cho hội
được pháp luật hình sự bảo vệ, hành
vi lỗi (tính lỗi), hành vi trái
pháp luật hình sự (tính trái pháp luật
hình sự), hành vi phải chịu phạt (tính
phải chịu phạt).
Vi phạm pháp luật những hành
vi xử sự (bằng hành động hoặc
không hành động) trái với quy
định của pháp luật, lỗi, xâm
phạm đến những quan hệ hội
được pháp luật bảo vệ, gây nên
những thiệt hại cho những quan
hệ hội được pháp luật bảo vệ
trong chừng mực nhất định
phải chịu trách nhiệm pháp
theo quy định của pháp luật.
Tính chất
Tội phạm những hành vi tính nguy
hiểm đáng kể cho hội .
Vi phạm pháp luật khác những
hành vi tính nguy hiểm chưa
đáng kể cho hội. Những hành
vi tuy dấu hiệu của tội phạm
nhưng tính chất nguy hiểm cho
hội không đáng kể thì không phải
tội phạm được xử bằng
các biện pháp khác (Khoản 2
Điều 8 Bộ luật Hình sự)
Hình thức pháp
Quy định trong BLHS
Quy định trong các văn bản của
các ngành luật khác
Hậu quả pháp
Bị xử bằng các chế tài hình sự (các
hình phạt, kể cả chung thân hoặc tử
hình) những biện pháp cưỡng chế nhà
nước nghiêm khắc nhất được quy định
tại BLHS để lại án tích
Bị xử bằng các biện pháp
cưỡng chế nhà nước ít nghiêm
khắc hơn không để lại án tích.

Preview text:

Câu 1: Áp dụng pháp luật là gì? Theo pháp luật Việt Nam, trường hợp nào cần phải áp dụng pháp luật? 1. Khái niệm
Áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua các cơ quan
nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện
những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật để tạo ra
các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể.
Ví dụ: Cảnh sát giao thông xử phạt người vi phạm quy định khi tham gia giao thông (vượt
đèn đỏ, chở ba, không đội mũ bảo hiểm…); Tòa án xét xử tranh chấp về thừa kế, đất đai theo
các quy định của Bộ luật Dân sự và các văn bản pháp luật liên quan; Tòa án giải quyết các vụ
án ly hôn đơn phương, ly hôn thuận tình; UBND tỉnh/UBND huyện ra quyết định thu hồi đất…
2. Các trường hợp cần áp dụng pháp luật.
Hoạt động áp dụng pháp luật hết sức đa dạng, phong phú, do các chủ thể có thẩm quyền tiến
hành hàng ngày trong đời sống. Có thể phân chia thành các nhóm sau đây:
- Khi quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể không mặc nhiên phát sinh, thay đổi, chấm dứt
Đây là trường hợp đã có quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, nhưng
các cá nhân, tổ chức không tự mình làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền, nghĩa vụ đó.
Trong trường hợp này, bằng sự can thiệp của chủ thể có thẩm quyền, quyền, nghĩa vụ của các
cá nhân, tổ chức sẽ được phát sinh, thay đổi hay chấm dứt trên thực tế.
Ví dụ: cơ quan có thẩm quyền quyết định công nhận quan hệ vợ, chồng đối với anh A và chị
B; cơ quan có thẩm quyền quyết định khen thưởng công dân c...
- Khỉ xảy ra tranh chấp về quyền và nghĩa vụ pháp lí giữa các bên tham gia quan hệ pháp
luật mà họ không tự giải quyết được
Đây là trường hợp quan hệ pháp luật đã phát sinh, các bên có những quyền và nghĩa vụ theo
quy định của pháp luật, nhưng có sự tranh chấp mà các bên không tự giải quyết được.Ví dụ:
tranh chấp về tài sản được thừa kế, tranh chấp về quyền và nghĩa vụ trong sử dụng đất đai...
Hoạt động áp dụng pháp luật trong trường hợp này nhằm xác định rõ quyền, nghĩa vụ, trách
nhiệm cụ thể giữa các bên.
- Khi cần phải áp dụng các chế tài pháp luật đối với chủ thể vi phạm pháp luật
Vi phạm pháp luật là hiện tượng khá phổ biến trong đời sống.
Để đảm bảo trật tự, an toàn xã hội; xử lý người vi phạm; răn đe, phòng ngừa đối với người
khác, các chủ thể có thẩm quyền phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước được quy
định trong phần chế tài của quy phạm pháp luật đối với người vi phạm.
Ví dụ: toà án tuyên phạt tù đối với người phạm tội, cảnh sát giao thông xử phạt tiền đối với
người vi phạm pháp luật giao thông...
- Khi cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước trong các trường hợp khác
Trường hợp này không có vi phạm pháp luật, tuy nhiên vì lợi ích chung của cộng đồng, nhà
nước có thể phải can thiệp, tiến hành các biện pháp cưỡng chế, buộc những chủ thể có liên
quan phải thực hiện hoặc không thực hiện những hành vi nhất định.
Ví dụ: cưỡng chế cách ly người mắc bệnh truyền nhiễm; cưỡng chế trưng thu tài sản; cưỡng
chế giải phóng mặt bằng...
- Khi cần kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong một số
quan hệ pháp luật nhất định
Trong một số trường hợp, pháp luật quy định, chủ thể có thẩm quyền phải tham gia vào quan
hệ pháp luật để kiểm tra, giám sát hoạt động của các bên nhằm xác định tính đúng đắn trong
hoạt động của các chủ thể hoặc phát hiện những sai sót, vi phạm để kịp thời ra quyết định phù
hợp đảm bảo sự đúng đắn trong hoạt động của các chủ thể này.
- Khi cần phải xác định sự tồn tại hay không tồn tại của một số sự kiện thực tế nào đỏ theo quy định của pháp luật
Hoạt động áp dụng pháp luật trong trường hợp này được tiến hành khi trong thực tế xảy ra
những sự kiện nào đó, tuy nhiên theo quy định của pháp luật, cần phải có sự xác nhận của
chủ thể có thẩm quyền để biến nó thành sự kiện pháp lý.
Ví dụ: cơ quan có thẩm quyền công nhận một người nào đó đã chết hoặc mất tích.
Câu 2: Chỉ ra hậu quả của tham nhũng ở Việt Nam hiện nay.
Khái niệm: Theo khoản 1 Điều 3 Luật phòng chống tham nhũng năm 2018: “Tham nhũng là
hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi.”
Trong đó, theo khoản 7, Điều 3, Luật Phòng chống tham nhũng quy định, vụ lợi: "là việc
người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhằm đạt được lợi ích vật chất
hoặc lợi ích phi vật chất không chính đáng".
Tham nhũng bắt nguồn từ những nhu cầu của cá nhân chính; khi yếu tố về lợi ích kết hợp sự
lạm dụng quyền lực của những người có chức vụ, có quyền hạn thì khả năng xảy ra tham
nhũng là rất lớn rất lớn và dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng về tất cả các lĩnh vực của cuộc sống. Về mặt chính trị
Hiện nay, tham nhũng ở nước ta đã ở mức vô cùng nghiêm trọng dẫn đến nhiều hậu quả
nghiêm trọng. Tham nhũng không chỉ xảy ra ở cấp Trung ương, ở những chương trình, dự án
lớn mà còn xuất hiện ở cả những cấp chính quyền cơ sở- những cơ quan tiếp xúc với nhân dân hàng ngày.
Tệ nạn tham nhũng, hối lộ, ăn chơi phung phí gây tác hại rất lớn, làm tổn hại thanh dành của
Đảng gây bất bình đối và giảm lòng tin của nhân dân đối với chính phủ, nhà nước; tiếp tay
cho những thế lực thù địch để chống phá đất nước ta. Về mặt kinh tế
Tham nhũng gây tác hại như thế nào đến sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước? Tham
nhũng gây ra những thiệt hại rất lớn về tài sản của Nhà nước, của tập thể và của công dân.
Trong những năm vừa qua, tham nhũng diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và
gây ra nhiều hậu quả không mong muốn. Đặc biệt, tác của tham nhũng trong vấn đề kinh tế là
đặc biệt nghiêm trọng, hành vi này gây thiệt hại lớn đến tài sản của Nhà nước, tiền bạc, công
sức và thời gian của nhân dân. Theo thống kê, giá trị tài sản bị thiệt hại liên quan đến hành vi
tham nhũng của mỗi vụ lên đến hàng chục, hàng trăm, thậm chí hàng tỷ đồng.
Tác hại tham nhũng mang lại trong lĩnh vực kinh tế không chỉ là việc tài sản, lợi ích của Nhà
nước, của tập thể và cá nhân bị biến thành tài sản riêng của một người mà nguy hiểm hơn,
hành vi này còn gây thiệt hại, thất thoát, lãng phí . Tác hại của lãng phí mang lại là một lượng
lớn tài sản của Nhà nước, của tập thể và của mỗi công dân. Về mặt xã hội
Vì sao hành vi tham nhũng là hành vi trái đạo đức? Đối với khía cạnh xã hội, hậu quả tham
nhũng chính là làm thay đổi, đảo lộn những chuẩn mực đạo đức xã hội, làm tha hóa đội ngũ
cán bộ, công chức nhà nước.
Trước những lợi ích bất chính có được khi thực hiện hành vi tham nhũng; nhiều người có
chức vụ, quyền lợi đã không giữ được phẩm chất đạo đức của mình. Chức vụ, quyền lực
được giao không còn được sử dụng để phục vụ nhân dân mà đang hướng tới các lợi ích bất
chính, bất chấp việc vi phạm luật pháp, làm trái công vụ, trái đạo đức.
Hành vi tham nhũng không chỉ diễn ra trong các lĩnh vực như kinh tế, tài chính, ngân
hàng,…. Mà đang dần có xu hướng lan sang các lĩnh vực khác- những lĩnh vực ít có khả năng
xảy ra tham nhũng như: văn hóa, y tế, giáo dục,… thậm chí lan sang cả những lĩnh vực được
đánh giá là không thể có hành vi tham nhũng dưới góc nhìn pháp luật và đạo đức như phúc
lợi xã hội hay bảo việc pháp luật. Càng như vậy, hậu quả của tham nhũng ở Việt Nam càng
trở nên nghiêm trọng và nguy hại hơn.
Đáng báo động hơn nữa là dường như tham nhũng đang trở thành một điều bình thường trong
quan niệm của một bộ phận cán bộ nhà nước. Điều này chính là biểu hiện của sự suy thoái,
xuống cấp về đạo đức; xâm hại đến những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc.
Câu 3: Chỉ ra mối quan hệ giữa pháp luật với kinh tế, pháp luật với chính trị và liên hệ
vào điều kiện Việt Nam hiện nay.
Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm
thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích, định hướng của nhà nước.
Kinh tế là tổng hòa các mối quan hệ tương tác lẫn nhau của con người và xã hội - liên qua
trực tiếp đến việc sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng các loại sản phẩm hàng hóa và dịch
vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người. Kinh tế dùng để chỉ phương pháp
sản xuất bao gồm cả lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, chỉ tổng hợp quan hệ vật chất
trong xã hội phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Kinh tế tạo ra doanh thu
và lợi nhuận, đáp ứng nhu cầu của con người.
Chính trị là toàn bộ những hoạt động liên quan đến các mối quan hệ giữa các giai cấp, giữa
các dân tộc, các tầng lớp xã hội mà cốt lõi của nó là vấn đề giành chính quyền, duy trì và sử
dụng quyền lực nhà nước, sự tham gia vào công việc của Nhà nước; sự xác định hình thức tổ
chức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của Nhà nước.
Mối quan hệ giữa pháp luật, kinh tế và chính trị là một khía cạnh quan trọng trong quá
trình xây dựng và duy trì một xã hội công bằng và phát triển. Ở Việt Nam, mối liên kết giữa
các lĩnh vực này đang ngày càng trở nên tương tác và đóng vai trò quyết định trong hình
thành bức tranh toàn diện của đất nước.
Trước hết, pháp luật được coi là bộ khung quyết định, định hình và bảo vệ cơ sở hạ tầng cho
hoạt động kinh tế. Các quy định về doanh nghiệp, thuế, và thương mại không chỉ tạo ra một
môi trường kinh doanh ổn định mà còn đảm bảo rằng quyền lợi của các cá nhân và tổ chức
đều được bảo vệ. Điều này đặt nền tảng cho sự phát triển của doanh nghiệp và thuận lợi hóa
quá trình đầu tư trong và ngoài nước.
Ngoài ra, pháp luật còn đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý quyền lực và xây dựng
một hệ thống chính trị ổn định. Các hiến pháp và luật lệ về bầu cử không chỉ định rõ cơ cấu
và chức năng của chính phủ mà còn đảm bảo sự công bằng trong quá trình thực hiện quyền
lực. Điều này giúp duy trì sự ổn định chính trị và tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển bền vững.
Trong bối cảnh kinh tế thế giới đang thay đổi nhanh chóng, Việt Nam đã thực hiện nhiều cải
cách pháp luật để đáp ứng với thách thức và cơ hội mới. Chính sách mở cửa cửa khẩu và thu
hút đầu tư nước ngoài đã tạo ra một động lực mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế. Các quy
định mới và quy trình đơn giản hóa trong lĩnh vực doanh nghiệp đã giúp tăng cường sự cạnh
tranh và thuận tiện cho các nhà đầu tư.
Ngoài ra, pháp luật không chỉ là công cụ quản lý quyền lực mà còn là nguồn động viên cho
sự tham gia chính trị của công dân. Việc thiết lập các quy định về quyền và trách nhiệm của
công dân giúp tạo ra một xã hội dân chủ, nơi mà mọi người đều có địa vị và quyền lợi được tôn trọng.
Trong ngữ cảnh hiện nay của Việt Nam, mối quan hệ này đang tiếp tục phát triển và điều
chỉnh để đáp ứng với yêu cầu ngày càng cao từ cả kinh tế và chính trị. Sự ổn định chính trị,
kết hợp với các biện pháp khích lệ đầu tư và sự linh hoạt trong pháp luật, đang giúp đất nước
này thu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế và đồng thời tạo ra một môi trường phát triển bền vững trong tương lai.
Câu 4: Hợp đồng dân sự là gì? Làm rõ hình thức và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự.
1. Khái niệm: Căn cứ Điều 385 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về khái niệm hợp đồng như sau:
Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
2. Hình thức hợp đồng dân sự
Những điều khoản mà các bên đã cam kết thỏa thuận phải được thể hiện ra bên ngoài bằng
một hình thức nhất định. Hay nói cách khác, hình thức của hợp đồng là phương tiện để ghi
nhận nội dung mà các chủ thể đã xác định. Tùy thuộc vào nội dung, tính chất của từng hợp
đồng cũng như tùy thuộc vào độ tin tưởng lẫn nhau mà các bên có thể lựa chọn một hình thức
nhất định trong việc giao kết hợp đồng cho phù hợp với từng trường hợp cụ thể. Tại Điều 119
Bộ luật dân sự năm 2015 thì hình thức của hợp đồng (cũng là hình thức của giao dịch dân sự bao gồm:
- Hình thức miệng (bằng lời nói):
Thông qua hình thức này, các bên giao kết hợp đồng chỉ cần thỏa thuận miệng với nhau về
nội dung cơ bản của hợp đồng hoặc mặc nhiên thực hiện những hành vi nhất định đối với
nhau. Hình thức này thường được áp dụng trong những trường hợp các bên đã có độ tin
tưởng lẫn nhau (bạn bè cho nhau vay tiền) hoặc đối với những hợp đồng mà ngay sau khi
giao kết sẽ được thực hiện và chấm dứt.
- Hình thức viết (bằng văn bản):
Nhằm nâng cao độ xác thực về những nội dung đã cam kết, các bên có thể ghi nhận nội dung
giao kết hợp đồng bằng một văn bản. Trong văn bản đó, các bên phải ghi đầy đủ những nội
dung cơ bản của hợp đồng và cùng ký tên xác nhận vào văn bản. Khi có tranh chấp, hợp đồng
được giao kết bằng hình thức văn bản tạo ra chứng cứ pháp lý chắc chắn hơn so với hình thức
miệng. Căn cứ vào văn bản của hợp đồng, các bên dễ dàng thực hiện quyền yêu cầu của mình
đối với bên kia. Vì vậy, đối với những hợp đồng mà việc thực hiện không cùng lúc với việc
giao kết thì các bên thường chọn hình thức này. Thông thường, hợp đồng được lập thành
nhiều bản và mỗi bên giữ một bản, coi như đã có trong tay một bằng chứng, chứng minh quyền dân sự của mình.
- Hình thức có công chứng, chứng thực, đăng ký:
Đối với những hợp đồng có tính chất phức tạp, dễ xảy ra tranh chấp và đối tượng của nó là
những tài sản mà Nhà nước cần phải quản lý, kiểm soát khi chúng được dịch chuyển từ chủ
thể này sang chủ thể khác thì các bên phải lập thành văn bản có công chứng, chứng thực. Hợp
đồng được lập ra theo hình thức này có giá trị chứng cứ cao nhất. Vì vậy, đối với những hợp
đồng mà pháp luật không yêu cầu phải lập theo hình thức này nhưng để quyền lợi của mình
được bảo đảm, các bên vẫn có thể chọn hình thức này để giao kết hợp đồng. 3. Thời điểm
Khi hợp đồng đã có hiệu lực, các bên phải thực hiện các nghĩa vụ dân sự đã được xác định từ
hợp đồng đó. Trên cơ sở của hình thức đã giao kết mà hiệu lực của hợp đồng được xác định
theo từng thời điểm khác nhau, về nguyên tắc, hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm giao kết.
Tuy nhiên, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự còn được xác định theo sự thoả thuận
của các bên hoặc theo quy định của pháp luật. Vì vậy, hợp đồng dân sự được coi là có hiệu
lực vào một trong các thời điểm sau đây:
- Hợp đồng miệng có hiệu lực tại thời điểm các bên đã trực tiếp thoả thuận với nhau về những
nội dung chủ yếu của hợp đồng;
- Hợp đồng bằng văn bản thường, có hiệu lực tại thời điểm bên sau cùng kí vào văn bản hợp đồng;
- Hợp đồng bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký có hiệu lực tại thời điểm văn
bản hợp đồng được công chứng, chứng thực, đăng ký.
Câu 5: Mối quan hệ giữa PL với NN, PL với đạo đức. Liên hệ với Việt Nam.
● Khái niệm Pháp luật: là hệ thống các quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành, thừa
nhận và bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế thể hiện ý chí của giai cấp
thống trị trong xã hội, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản, chứa đựng những
chuẩn mực chung được số đông xã hội ủng hộ.
● Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, có bộ máy chuyên làm
nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý nhằm duy trì, bảo vệ trật tự
xã hội, bảo vệ địa vị của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp.
● Khái niệm đạo đức: là một hình thái ý thức xã hội, là quan điểm, quan niệm, của con
người ( một cộng đồng, một giai cấp) về các phạm trù thuộc đời sống tinh thần của xã
hội ( cái thiện, cái ác, ..) nhờ đó con người tự nhận thức, tự giác điều chỉnh hành vi
của mình cho phù hợp với lợi ích đặt ra. ●
Mối quan hệ giữa pháp luật với nhà nước: chặt chẽ, bổ sung. -
điểm tương đồng: Hai yếu tố của kiến trúc thượng tầng, có cùng nguồn gốc ra đời và phát triển. -
nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, nhưng quyền lực đó chỉ có
thể thực hiện và có hiệu lực trên cơ sở pháp luật.
-> Nhà nước không thể phát huy quyền lực khi thiếu pháp luật - thiếu quy tắc xử sự
chung, Toàn ảnh ý chí của người cầm quyền.
- Pháp luật là công cụ phương tiện hữu hiệu nhất để nhà nước thực hiện quyền lực công đặc biệt
- pháp luật do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện dựa trên sự cưỡng chế NN.
- pháp luật chỉ có thể phát sinh, tồn tại và được bảo đảm thực thi trên sức mạnh quyền lực của NN.
→ Nhà nước ban hành pháp luật nhưng Khi pháp luật đã được hình thành thì có tính bắt
buộc đối với mọi cá nhân tổ chức trong xã hội bao gồm cả nhà nước -> Mọi cơ quan cán bộ
nhà nước đều phải triệt để tuân thủ thi hành pháp luật, họ gánh chịu các Hình thức trách
nhiệm pháp luật khác nhau nếu vi phạm pháp luật
● Mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức -
Điểm tương đồng: đều xử sự chung của con người trong đời sống xã hội. -
khác: phạm vi tác động, nguồn gốc hình thành, cơ chế đảm bảo thực thi các mqh tương tác, qua lại. -
có rất nhiều quy phạm đạo đức tồn tại trong xã hội thể hiện quan niệm quan điểm
riêng của lực lượng xã hội, cộng đồng người -> Hành vi, cách xử sự của con người
trong xã hội khác nhau, đa dạng, thể hiện ý chí, nguyện vọng của các gc, tầng lớp
khác nhau nhưng chỉ có một hệ thống pháp luật chung cho toàn XH -
Tác động của đạo đức đến pháp luật
+ Đạo đức là cơ sở, môi trường thuận lợi cho con người tiếp thu, cảm nhận và thúc đẩy
thực hiện PL. Người có ý thức đạo đức cao sẽ nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật,
Không lợi dụng sơ hở hạn chế và lách luật.
+ Đạo đức góp phần hình thành nên hệ thống pháp luật các quan điểm quan điểm phù
hợp với ý chí của nhân dân được thể chế trong pháp luật
+ Để PL thích hợp với toàn bộ xã hội, pháp luật cần phản ánh đạo đức của các lực lượng
khác nhau trong xã hội đó (đảm bảo sự thống nhất trong PL) -
tác động của pháp luật để Đạo Đức
+ Pháp luật khẳng định bảo vệ giữ gìn và phát huy những giá trị nguyên tắc chuẩn mực đạo đức của XH +
pháp luật ngăn chặn sự thoái hóa xuống cấp độ đạo đức +
Pháp giúp loại bỏ các Chuẩn mực đạo đức lỗi thời, cải tạo đạo đức - > tạo nên
chuẩn mực đạo đức phù hợp với tiến bộ XH.
● Liên hệ thực tiễn Việt Nam - Pháp luật với NN:
+ NNCHXHCNVN là NN Pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân do nhân dân và vì
nhân dân. tức là PL của NN VN do NN CHXHCN VN ban hành, thể hiện chí ý của
gc công nhân và đại đa số nhân dân, là thượng tôn PL, dưới sự lãnh đạo của Đảng cs
và được NN bảo đảm thực hiện.
+ Quyền lực NN là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ
quan trong việc thực hiện quyền lập, hành, tư pháp
+ NN đã ban hành , thay đổi, hủy bỏ, bổ sung và hoàn thiện PL cho phù hợp với đời
sống để quyền chức năng quản lý của NN được phát huy, thực thi triệt để. - PL với đạo đức + Tích cực:
PL được NN xây dựng dựa trên các quan niệm đạo đức của ND, thể hiện được đạo đức
truyền thống dân tộc, cũng như ý chí, nguyện vọng và hướng tới lợi ích của ND LĐ
HPVN: Đoàn kết dân tộc, giúp đỡ các dân tộc thiểu số phát triển về mọi mặt để cùng nhau
phát triển -> đạo đức tương thân, tương ái -> lợi ích và nguyện vọng của dân tộc thiểu số.
PL được xây dựng trên cơ sở tôn trọng và bảo vệ phẩm giá con người: tôn trọng quyền tự do
ngôn luận, xử lý vi phạm hành vi bôi nhọ danh dự…
PLVN phản ánh rõ nét tư tưởng nhân đạo: có nhiều chính sách ưu đãi, quan rậm đặc biệt thới
thương binh, liệt sĩ, người có công với đất nước.
Bộ luật hình sự: quy định tình tiết giảm nhẹ, mãn hạn tù.
PLVN gìn giữ, phát huy các quan niệm đạo đức tốt đẹp: Hiếu thảo - Luật hôn nhân và gia
đình: cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con cái, con cái có nghĩa vụ hiếu thảo, kính trọng
PLVH nghiêm cấm các hành vi trái đạo đức xã hội: Cấm truyền bá tư tưởng VN phản động,
đồi trụy, bài trừ mê tín dị đoan,..
PLVN loại bỏ tư tưởng đạo đức cổ hủ
+ Hạn chế: Nhiều quan niệm, tư tưởng, đạo đức cổ hủ vẫn chưa được PL ngăn chặn
đúng mức cần thiết: Gia trưởng, trọng nam khinh nữ,..
Chưa phát hiện kịp thời, Qtam rà soát các lực lượng phản động trên internet, còn
chậm tính răn đe chưa đủ.
Câu 6: Hệ thống PLVN gồm bao nhiêu bộ phận cấu thành? Trình bày các bộ phận cấu thành đó.
● Khái niệm Pháp luật: là hệ thống các quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành, thừa
nhận và bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế thể hiện ý chí của giai cấp
thống trị trong xã hội, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản, chứa đựng những
chuẩn mực chung được số đông xã hội ủng hộ
● KN PL CN XHCN VN: là hệ thống quy tắc xử sự chung do NN CHXHCN VN ban
hành, thể hiện ý chí của gccn và đại đa số ND, dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN, bảo
đảm thực hiện bằng Nhà nước, trên cơ sở giáo dục, tuyên truyền, thuyết phục, cưỡng
chế mọi người tôn trọng và thực thi
● KN hệ thống PL: là tổng thể các Quy phạm PL có mối liên hệ nội tại thống nhất với
nhau, được phân định thành các bộ phận cấu thành khác nhau, phù hợp với đặc điểm,
tính chất của các QHXH mà nó điều chỉnh.
● Hệ thống PLVN gồm 3 bộ phận cấu thành: - Ngành luật
+ Bao gồm tổng hợp những quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội cùng
loại thuộc một lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội, bằng những PP riêng của mình
+ Để xác định 1 ngành luật, ngta thường dựa vào đối tượng điều chỉnh và pp điều chỉnh
+ Đtdc: là những qhxh có chung tính chất, phát sinh trong 1 lĩnh vực của đsxh. Có thể
thay đổi vào từng giai đoạn lịch sử, phụ thuộc vào ý chí của NN, điều kiện CTXH
+ PP ĐC: cách thức, bp mà NN sử dụng trong PL để tác động lên cách xử sự của chủ
thể tham gia các qhxh phụ thuộc vào ND, tính chất của đt đc và ý muốn chủ quan của người ban hành PL
+ VN có 12 ngành luật cơ bản: NN, hành chính, tài chính, đất đai, dân sự ,lao động, hôn
nhân - gia đình, hình sự, tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, kinh tế, quốc tế…
+ Ví dụ: Đối tượng điều chỉnh của luật dân sự là quan hệ nhân thân và tài sản của cá
nhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí,
độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm
Phương pháp điều chỉnh của luật dân sự là phương pháp bình đẳng, thỏa thuận (trên
cơ sở tôn trọng sự tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận của các bên, đảm bảo cho các
bên có vị trí bình đẳng). - Chế định PL:
+ gồm 1 nhóm các quy phạm pháp luật điều chỉnh một nhóm qh xh liên quan mật thiết
với nhau và có chung tính chất.
+ Mang tính chất nhóm, mỗi chế đinh có đặc điểm riêng nhưng đều có mối liên hệ nội tại thống nhất.
+ Ví dụ: Ngành luật dân sự có các chế định như chế định quyền sở hữu, chế định hợp
đồng, chế định thừa kế..
Ngành luật hình sự có các chế định như các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội
xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người; các tội xâm
phạm quyền tự do, dân chủ của công dân… - Quy phạm PL:
+ là thành tố nhỏ nhất, là “tế bào” trong hệ thống cấu trúc PL.
+ Thể hiện đầy đủ đặc điểm PL - đó là tính khuôn mẫu, tính chặt chẽ, về mặt
hình thức, tính cưỡng chế nhà nước.
+ Mỗi quy phạm PL thực hiện vai trò điều chỉnh đối với một qh xh nhất định.
Câu 7: Hình thức nhà nước được hình thành từ những yếu tố nào? Làm rõ các yếu tố đó.
● Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, có bộ máy chuyên làm
nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý nhằm duy trì, bảo vệ trật tự
xã hội, bảo vệ địa vị của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp.
● Hình thức nhà nước phụ thuộc vào từng điều kiện, hoàn cảnh, truyền thống văn hóa, lịch sử đất nước.
● 3 yếu tố hình thành hình thức nhà nước: - Hình thức chính thể: + Khái niệm:
Cách tổ chức, cơ cấu, trình tự thành lập các cơ quan nhà nước cao nhất và mối liên hệ của
chúng với nhau, cũng như mức độ tham gia của nhân dân vào việc thiết lập các cơ quan này + 2 dạng cơ bản:
Chính thể quân chủ: quyền lực tối cao của nhà nước tập trung toàn bộ (hay 1 phần)
trong tay người đứng đầu nhà nước (vua, hoàng đế…) theo nguyên tắc thừa kế.
Chính thể quân chủ lại được chia ra thành:
Chính thể quân chủ tuyệt đối, người đứng đầu nhà nước (vua,..) có quyền lực vô hạn
Chính thể quân chủ hạn chế: người đứng đầu chỉ nắm 1 phần quyền lực tối cao + 1 cơ quan
quyền lực khác để hạn chế quyền lực người đứng đầu
Chính thể cộng hòa: quyền lực tối cao của nhà nước thuộc vào một cơ quan được bầu
ra trong thời gian nhất định
Cũng có 2 hình thức: Cộng hòa dân chủ và cộng hòa quý tộc
Cộng hòa dân chủ: pháp luật quy định quyền của công dân tham gia để bầu cử thành lập các
cơ quan đại diện (quyền lực) của nhà nước
Cộng hòa quý tộc (dưới chế độ nô lệ), quyền tham gia bầu cử để thành lập các cơ quan đại
diện cho nhà nước chỉ dành riêng cho giới quý tộc
Ngoài ra có 2 biến dạng chính là cộng hòa tổng thống và cộng hòa đại nghị:
Chính thể cộng hòa tổng thống: vai trò của nguyên thủ quốc gia rất quan trọng. Tổng thống
được cử tri bầu ra, vừa là nguyên thủ quốc gia, vừa đứng đầu Chính phủ. Các thành viên
chính phủ do tổng thống bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước tổng thống. (Mỹ, một số nước Mỹ la tinh)
Cộng hòa đại nghị: nghị viện thành lập ra chính phủ, kiểm tra hoạt động chính phủ. Tổng
thống do nghị viện bầu ra, có vai trò không lớn ( Đức, Áo, Ý, Phần Lan,..) -
Hình thức cấu trúc nhà nước:
+ Khái niệm: tổ chức NN theo các đơn vị hành chính lãnh thổ và mối liên hệ giữa cơ
quan nhà nước ở TW với các cơ quan nhà nước ở địa phương + 2 hình thức chủ yếu
Hình thức nhà nước đơn nhất:
là nhà nước có chủ quyền chung, nhà nước thống nhất
1 hiến pháp, 1 hệ thống duy nhất các cơ quản thể hiện quyền lực nhà nước: Lập Pháp, Hiến Pháp, Tư pháp
1 hệ thống pháp luật, 1 quy chế công dân, 1 chế độ quốc tịch
Hình thức nhà nước liên bang
Có từ 2 hoặc nhiều nước thành viên hợp lại
NN thành viên cũng có chủ quyền riêng
2 hệ thống cơ quan quyền lực và quản lý: một hệ thống chung cho toàn liên bang và một hệ
thống trong mỗi nước thành viên.
2 hệ thống pháp luật (Của bang và của Liên Bang) , 2 quốc tịch Như Mỹ, Đức, Ấn… - Chế độ chính trị
+ là tổng thể các phương pháp, cách thức mà các cơ quan nhà nước sử dụng để thực
hiện quyền lực nhà nước.
+ 2 PP chính: PP dân chủ và PP phản dân chủ
PP dân chủ: - nhà nước dân chủ: mọi công dân có quyền ngang nhau
PP phản dân chủ: tính chất độc tài, khi pp cai trị và quản lý xã hội này phát triển đến
mức độ cao sẽ trở thành những PP tàn bạo, quân phiệt, phát xít
Câu 8: Hợp đồng dân sự là gì? ND của Hợp đồng dân sự và cho ví dụ?
● Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt các
quyền và nghĩa vụ dân sự. là giao dịch dân sự trong đó các bên bày tỏ ý chí với nhau
để đi đến xác lập các quyền và nghĩa vụ. ● ND của HĐNS:
là sự tổng hợp các điều khoản mà các chủ thể ký kết hợp đồng và thỏa thuận với nhau không
trái với quy định của PL, các điều khoản đó xác định quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên hợp đồng
1 số Nd cơ bản có thể có: -
Đối tượng của hợp đồng - Số lượng, chất lượng -
Giá cả, phương thức thanh toán -
Thời gian, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng -
Quyền và nghĩa vụ của các bên -
Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng -
Phương thức giải quyết tranh chấp.
( Các bên tự thương lượng; nhờ bên T3 (kphai tòa án) hòa giải, đưa ra ưu, nhược điểm của
các phương án, không có quyền phán quyết; Khởi kiện -> có sự can thiệp của tòa án, đưa ra phán quyết)
● ví dụ: Hợp đồng mua bán xe máy cũ của anh A và chị B + Đối tượng: Xe máy cũ + slg: 1 chiếc
+ Chất lượng: cũ, đã dán xe, bọc khung xe + Dòng xe: SH - Honda 2018 + Giá cả: 50 tr
+ Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hd mua - bán
Anh A - bên mua sẽ thanh toán trước 30 triệu (tiền mặt) hoặc ck tại thời điểm chị B giao xe tại nhà chị B + Anh A bên mua
Quyền: Nhận xe dùng các giấy tờ về quyền sở hữu do chị B giao
Nghĩa vụ: trả tiền cho chị B như đã thỏa thuận, đăng kí quyền sở hữu xe máy cũ tại cơ quan
có thẩm quyền theo Quy định pháp luật (công chứng/ chứng thực) , sang tên (chịu phí) + Chị B - bên bán:
Quyền: nhận đủ tiền từ anh A
Nghĩa vụ: giao xe theo đúng tình trạng, đặc điểm, thời hạn, địa điểm cùng với các giấy tờ về
quyền sở hữu chiếc xe máy đó. Thực hiện thủ tục sang tên cho anh A
+ Phương thức giải quyết tranh chấp: các bên cùng nhau thương lượng trên nguyên tắc
tôn trọng quyền lợi của nhau
Câu 9: Kiểu nhà nước là gì? Đặc trưng của kiểu nhà nước và sự thay thế các kiểu nhà nước trong lịch sử
● Khái niệm: Kiểu nhà nước là tổng thể các dấu hiệu (đặc điểm) cơ bản của nhà nước,
thể hiện bản chất của nhà nước và những điều kiện tồn tại và phát triển của nhà nước
trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định
● Mỗi kiểu nhà nước phù hợp với một chế độ kinh tế nhất định của một xã hội có giai cấp. ● 4 kiểu nhà nước: - NN chủ nô - NN phong kiến - NN Tư sản
-> 3 kiểu trên có chung bản chất, xây dựng trên cơ sở tư hữu về TLSX, là những công cụ bạo
lực, bộ máy chuyên chính của các giai cấp bóc lột chống lại nhân dân lao động. -
NN XHCN: Tiến bộ nhất và cuối cùng trong lịch sử nhân loại.
Được xây dựng trên cơ sở công hữu về TLSX và qh thân thiện giữa những người lao
động. do nhân dân thiết lập và hoạt động vì nhân dân,
● Sự thay thế các kiểu NN: -
Là quy luật tất yếu. Quy luật về sự thay thế các kiểu nhà nước phù hợp với quy luật về
sự phát triển và thay thế của các hình thái kinh tế - xã hội. -
Con đường đưa đến sự thay thế: cách mạng/ biến động XH lật đổ chính quyền thống
trị cũ, thiết lập chính quyền thống trị mới -
Mâu thuẫn giữa các giai cấp ngày càng mờ nhạt, tính xã hội biểu hiệu rõ hơn, tư hữu giảm -
Quá trình từ 1 -> 4 , tuy nhiên quá trình thay thế kiểu nhà nước trong các xã hội khác
nhau diễn ra không giống nhau và thực thế không phải xã hội nào cũng trải qua 4 kiểu NN (như Việt Nam)
10. Luật Hành chính điều chỉnh những nhóm quan hệ xã hội nào? Chỉ rõ đặc điểm của
các nhóm quan hệ xã hội đó.
Các nhóm quan hệ xã hội là Luật Hành chính có thể điều chỉnh có thể chia thành 3 nhóm: -
Nhóm 1: Các quan hệ quản lý phát sinh trong quá trình các cơ quan hành chính
nhà nước thực hiện hoạt động chấp hành điều hành trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội -
Ví dụ: Chính phủ làm việc với Bộ văn hóa, thể thao và du lịch về kế hoạch công tác năm 2020
Đặc điểm: Nhóm QH cơ bản, quan trọng và chủ đạo trong đối tượng điều chỉnh của Luật
HC. Vì nó được thực hiện trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống XH và qua đó các cơ
quan hành chính nhà nước thực hiện chức năng cơ bản của mình. -
Nhóm 2: Các quan hệ quản lý hình thành trong quá trình các cơ quan nhà nước
xây dựng và củng cố chế độ công tác nội bộ (kiểm tra, nâng cấp trình độ nghiệp vụ,
khen thưởng, kỷ luật, sắp xếp nhân sự, tổ chức…) của cơ quan nhằm ổn định về tổ
chức để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của mình. -
Ví dụ: Chánh án tòa án nhân dân tối cao ra quyết định bổ nhiệm Thẩm phán tòa án nhân dân TP HN
Đặc điểm: Mỗi loại cơ quan nhà nước có chức năng cơ bản riêng và để hoàn thành chức năng
cơ bản của mình các cơ quan nhà nước phải tiến hành những hoạt động quản lý hành chính nhất định.
Những người lãnh đạo và một bộ phận công chức của các cơ quan trong bộ máy nhà nước
được trao quyền tiến hành hoạt động tổ chức trong giới hạn cơ quan. Hoạt động này còn được
gọi là hoạt động tổ chức nội bộ, khác với hoạt động hướng ra bên ngoài. Để cơ quan nhà
nước có thể hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của mình, hoạt động quản lí nội bộ cần được tổ chức tốt.
Hoạt động tổ chức nội bộ giữ vai trò đặc biệt quan trọng, tạo điều kiện cần thiết cho các cơ
quan nhà nước thực hiện tốt chức năng cơ bản của mình. Tuy nhiên, cần lưu ý nếu công tác tổ
chức nội bộ vượt quá giới hạn bình thường, nếu bộ máy nhà nước dành quá nhiều thời gian
và sức lực cho công tác tổ chức nội bộ, nếu có quá nhiều cơ quan trung gian thì hiệu quả của quản lí sẽ giảm sút. -
Nhóm 3: Các quan hệ quản lý hình thành trong quá trình các cá nhân và tổ chức
được nhà nước trao quyền thực hiện các hoạt động quản lý hành chính của nhà
nước trong một số trường hợp cụ thể do pháp luật quy định. -
Ví dụ: Tòa án là cơ quan xét xử, tòa được quyền xử lý các vi phạm hành chính. Mặc
dù không phải cơ quan quản lý nhà nước nhưng vẫn được thực hiện vì họ đc trao quyền thực hiện. Đặc điểm:
Trong thực tiễn quản lí hành chính nhà nước, trong nhiều trường hợp, pháp luật có thể trao
quyền thực hiện hoạt động chấp hành – điều hành cho các cơ quan nhà nước khác (không
phải là cơ quan hành chính nhà nước), các tổ chức hoặc cá nhân. Hoạt động trao quyền được
tiến hành trên cơ sở những lí do khác nhau: chính trị, tổ chức, đảm bảo hiệu quả v.v.. Vì vậy,
hoạt động quản lý hành chính nhà nước không chỉ do các cơ quan hành chính nhà nước tiến hành.
Hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân được trao quyền có tất cả những hậu
quả pháp lý như hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước nhưng chỉ trong khi thực hiện
hoạt động chấp hành – điều hành cụ thể được pháp luật quy định. Hoạt động này cần được
phân biệt rõ với hoạt động cơ bản của cơ quan nhà nước được trao quyền (chính cái đó quy
định tính chất của cơ quan và của các mối quan hệ). Xem xét vấn đề từ hướng khác cho thấy
cơ quan hành chính nhà nước không chỉ thực hiện hoạt động chấp hành – điều hành mà còn
được uỷ quyền lập pháp và tiến hành hoạt động tài phán trong những trường hợp nhất định.
11. Nêu các yếu tố cấu thành quan hệ pháp luật. Lấy ví dụ minh họa?
Các yếu tố cấu thành quan hệ pháp luật gồm có: Chủ thể của quan hệ pháp luật; Khách thể
của quan hệ pháp luật và Nội dung của quan hệ pháp luật.
1/ Chủ thể quan hệ pháp luật
– Chủ thể trong quan hệ pháp luật có thể là cá nhân, tổ chức phải có năng pháp luật, năng lực
hành vi phù hợp phù hợp để tham gia vào các quan hệ đó và thực hiện các quyền, lợi ích hợp
pháp cũng như nghĩa vụ pháp lý theo quy định.
– Trong đó chủ thể là cá nhân và tổ chức khác nhau, cụ thể:
+ Chủ thể quan hệ pháp luật là cá nhân: Năng lực pháp luật của cá nhân là khả năng để cá
nhân đó có quyền và nghĩa vụ dân sự. Còn năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng
mà cá nhân đó bằng hành vi của mình để xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự.
+ Chủ thể quan hệ pháp luật là tổ chức: Đối với chủ thể này, năng lực pháp luật dân sự và
năng lực hành vi sẽ xuất hiện đồng thời khi tổ chức đó thành lập theo quy định của pháp luật
và chấm dứt tư cách pháp lý khi bị phá sản, giải thể.
2/ Khách thể quan thể quan hệ pháp luật
– Khách thể của quan hệ pháp luật là những lợi ích mà các chủ thể mong muốn đạt được đó là
lợi ích về vật chất hoặc tinh thần, khi tham gia vào quan hệ pháp luật.
– Khách thể trong quan hệ pháp mà các bên hướng đến có thể là tài sản vật chất, lợi ích phi
vật chất hay hành vi xử sự của con người. Ví dụ:
+ Vàng, trang sức, đá quý, tiền. xe, nhà, đất,… (tài sản vật chất)
+ Khám chữa bệnh, vận chuyển hàng hóa, chăm sóc sắc đẹp, tham gia bầu cử,…(hành vi xử sự)
+ Quyền nhân thân, danh dự, nhân phẩm, học hàm học vị,…(Lợi ích phi vật chất)
3/ Nội dung quan hệ pháp luật
– Nội dung của quan hệ pháp luật là tổng thể quyền và nghĩa vụ pháp của các chủ thể tham
gia trong quan hệ đó. Trong đó:
+ Quyền của chủ thể tham gia: Chủ thể thực hiện quyền của mình thông qua việc thực hiện
các hành vi trong khuôn khổ pháp luật, yêu cầu chủ thể khác thực hiện hoặc kiềm chế thực
hiện hành vi nhất định.
+ Nghĩa vụ của chủ thể tham gia: Chủ thể tham gia phải xử sự theo quy định của pháp luật
và chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Quan hệ pháp luật có nhiều loại như quan hệ pháp luật dân sự, quan hệ pháp luật lao động,
quan hệ pháp luật hành chính, quan hệ pháp luật hình sự,…. Ví dụ:
Tháng 01/2020 A giao kết hợp đồng vay tiền B, trong thời hạn 5 tháng với số tiền là 100 triệu
đồng và hợp đồng này có công chứng.
1/ Chủ thể quan hệ pháp luật dân sự: A và B
2/ Nội dung quan hệ pháp luật dân sự:
+ A có quyền nhận được số tiền vay 100 triệu từ B để sử dụng và A có nghĩa vụ thanh toán
đúng hạn, trả lãi suất (nếu có).
+ B có quyền nhận đủ số tiền cho vay theo đúng thời hạn và có nghĩa vụ giao số tiền vay cho A.
3/ Khách thể quan hệ pháp luật dân sự: 100 triệu tiền vay và lãi (nếu có).
12. Nhà nước là gì? Trình bày bản chất và đặc trưng của nhà nước. Khái niệm: -
Nhà nước là một lực lượng nảy sinh từ xã hội, một lực lượng tựa hồ như đứng trên xã
hội, có nhiệm vụ làm dịu bớt sự xung đột và giữ cho sự xung đột đó nằm trong vòng trật tự. -
Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, thực hiện mục đích bảo vệ
địa vị, lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội và quản lí, duy trì trật tự xã hội, vì sự
tồn tại và phát triển của cả xã hội.
Bản chất giai cấp của nhà nước
Bản chất giai cấp của nhà nước được thể hiện qua các điểm sau: -
Thứ nhất, Nhà nước không tồn tại độc lập khỏi sự phân chia và xung đột giai cấp
trong xã hội. Bản chất giai cấp của nhà nước phản ánh sự tương tác và quan hệ giữa
các tầng lớp xã hội, bao gồm giai cấp thống trị và giai cấp bị áp bức. Nhà nước
thường được sử dụng làm công cụ để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị và duy trì
trật tự xã hội hiện tại. Nhà nước thường được sử dụng làm công cụ để bảo vệ lợi ích
của giai cấp thống trị và duy trì trật tự xã hội. -
Thứ hai, bản chất giai cấp của nhà nước thể hiện qua việc áp dụng các chính sách
và quyết định ưu tiên lợi ích của giai cấp thống trị. Nhà nước thường có vai trò bảo
vệ và duy trì lợi ích của giai cấp thống trị thông qua việc xác định các chính sách kinh
tế, chính trị và xã hội. Đồng thời, nhà nước cũng thể hiện vai trò kiểm soát và kiềm
chế các lực lượng giai cấp khác trong xã hội. -
Thứ ba, bản chất giai cấp của nhà nước phản ánh mâu thuẫn và xung đột giữa các
lực lượng giai cấp trong xã hội. Giai cấp thống trị sử dụng nhà nước để duy trì sự áp
bức và khống chế giai cấp bị áp bức. Tuy nhiên, sự phản kháng và đấu tranh của giai
cấp bị áp bức cũng tạo ra áp lực và thách thức đối với nhà nước. -
Thứ tư, bản chất giai cấp của nhà nước không tĩnh lặng mà thường chịu sự thay
đổi và phát triển. Xã hội tiến bộ và các cuộc cách mạng có thể thay đổi cấu trúc giai
cấp làm ảnh hưởng đến vai trò và quyền lực của nhà nước. Sự phân chia và xung đột
giai cấp là một động lực quan trọng trong sự phát triển xã hội cũng như sự thay đổi của nhà nước. -
Thứ năm, bản chất giai cấp của nhà nước phản ánh quyền lực dân chủ và tham
gia của người dân trong việc xác định chính sách và quyết định của nhà nước. Nhà
nước xã hội chủ nghĩa thường đặt quyền lợi của người dân lên hàng đầu và thúc đẩy
tham gia dân chủ trong quá trình quản lý và hoạt động nhà nước. -
Bản chất xã hội của nhà nước
Bản chất xã hội của nhà nước được thể hiện qua các quan điểm sau: -
Thứ nhất, nhà nước không thể tồn tại và hoạt động độc lập với xã hội. Bản chất xã
hội của nhà nước được thể hiện trong sự tương tác giữa nhà nước và các thành phần
xã hội khác, bao gồm các tầng lớp, giai cấp, nhóm người và cá nhân. Qua sự tương tác
này, nhà nước tác động lên xã hội và ngược lại, đồng thời xã hội cũng ảnh hưởng đến nhà nước. -
Thứ hai, bản chất xã hội của nhà nước được thể hiện qua việc quản lý và thực thi
quyền lực. Nhà nước có quyền lực và có khả năng tạo ra quyết định, áp dụng chính
sách và ảnh hưởng đến lợi ích của các tầng lớp, giai cấp cũng như cá nhân trong xã
hội. Bản chất xã hội của nhà nước đồng thời cũng phản ánh sự phân chia và cạnh
tranh về quyền lực và lợi ích trong xã hội. -
Thứ ba, Nhà nước không chỉ đóng vai trò quản lý và điều hành xã hội, mà còn có
mục tiêu và chức năng xã hội cụ thể. Bản chất xã hội của nhà nước thể hiện qua việc
đảm bảo trật tự, bình đẳng, công bằng và phát triển xã hội. Nhà nước có trách nhiệm
xây dựng và duy trì các cơ sở hạ tầng, cung cấp các dịch vụ cơ bản, đáp ứng nhu cầu
và quyền lợi của cộng đồng. -
Thứ tư, bản chất xã hội của nhà nước cũng phản ánh mâu thuẫn và xung đột giữa
các thành phần xã hội. Nhà nước thể hiện vai trò bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị
và kiểm soát các lực lượng xã hội khác. Tuy nhiên, sự phản kháng và tranh đấu của
các tầng lớp và giai cấp bị áp bức cũng tạo ra áp lực và thách thức đối với nhà nước. -
Thứ năm, bản chất xã hội của nhà nước phản ánh quyền lực dân chủ và tham gia
của người dân trong việc xác định chính sách và quyết định của nhà nước. Nhà
nước xã hội chủ nghĩa thường đặt quyền lợi của người dân lên hàng đầu và thúc đẩy
tham gia dân chủ trong quá trình quản lý và hoạt động nhà nước.
Các đặc trưng cơ bản của nhà nước
1. Nhà nước thiết lập quyền lực công cộng đặc biệt
Nhà nước thiết lập quyền lực công cộng đặc biệt quyền lực này không còn hòa nhập với dân
cư như trong chế độ thị tộc nữa. Để thực hiện quyền lực này, nhà nước xây dựng một hệ
thống cơ quan hành chính, thiết lập toà án, quân đội, cảnh sát, những phương tiện quản lý,
những phương tiện cưỡng chế ... nhằm áp bức bằng bạo lực và buộc các giai cấp khác phải
tuân thủ, phục tùng theo ý chí của giai cấp thống trị, đảm bảo phục vụ cho lợi ích giai cấp thống trị trong xã hội.
2. Nhà nước phân chia dân cư theo các đơn vị hành chính lãnh thổ
Nhà nước phân chia dân cư theo các đơn vị hành chính lãnh thổ không phụ thuộc vào huyết
thống, nghề nghiệp hoặc giới tính. Việc phân chia này dẫn đến việc hình thành các cơ quan
quản lý trong bộ máy nhà nước. Lãnh thổ là dấu hiệu đặc trưng của nhà nước, bởi lẽ không có
một quốc gia nào mà không có lãnh thổ. Nhà nước thực thi quyền lực chính trị của mình trên
toàn vẹn lãnh thổ. Một nhà nước có lãnh thổ riêng và trên lãnh thổ ấy phân chia thành các
đơn vị hành chính như tỉnh, huyện, xã...và do có dấu hiệu lãnh thổ mà xuất hiện chế định
quốc tịch– chế định quy định sự lệ thuộc của công dân vào 1 nhà nước và 1 lãnh thổ nhất
định, thông quá đó nhà nước thiết lập quan hệ với công dân của mình.
3. Nhà nước có chủ quyền quốc gia
Nhà nước là một tổ chức quyền lực có chủ quyền, thể hiện trong đối nội và đối ngoại.
Trong đối nội, Nhà nước có quyền lực tối cao đối với mọi con người, mọi tổ chức trong lãnh
thổ quốc gia, không chịu ảnh hưởng và không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ một quốc gia nào khác.
Trong đối ngoại, Nhà nước có sự độc lập hoàn toàn trong chính sách và các hoạt động kinh
tế, chính trị, văn hoá ....với nước ngoài. Nhà nước có quyền tự do và độc lập quyết định các
công việc của mình, tôn trọng chủ quyền của các nhà nước khác, tôn trọng các quy phạm của
luật quốc tế. . Chủ quyền là thuộc tính vốn có của nhà nước. Trong xã hội có giai cấp, không
có một tổ chức hoặc cá nhân nào có chủ quyền như nhà nước.
4. Nhà nước ban hành pháp luật và thực hiện sự quản lý bắt buộc đối với mọi công dân
Để giữ gìn trật tự và đảm bảo lợi ích của giai cấp thống trị, nhà nước phải trực tiếp xây dựng
các quy phạm để điều chỉnh các quan hệ xã hội quan trọng, buộc các chủ thể khi tham gia
quan hệ đó phải xử sự đúng ý chí của nhà nước. Nhà nước đảm bảo thực hiện các quy phạm
pháp luật đó bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước. Pháp luật trở thành một công cụ sắc
bén không thể thiếu được trong tay nhà nước để quản lý xã hội..
Nhà nước và pháp luật có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau: không thể có nhà nước mà thiệu
pháp luật và ngược lại. Chỉ có Nhà nước mới có quyền ban hành pháp luật và cũng chính nhà
nước bảo đảm cho pháp luật được thực thi trong cuộc sống.
5. Nhà nước có quyền quy định và thực hiện việc thu các loại thuế
Để nuôi dưỡng bộ máy nhà nước, đảm bảo cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giải quyết
công việc chung của xã hội, mọi nhà nước phải quy định và thực hiện việc thu các loại thuế
dưới các hình thức bắt buộc, với số lượng và thời hạn ấn định trước. Thuế là khoản đóng góp
bắt buộc của các công dân và các tổ chức kinh tế trên lãnh thổ quốc gia vào ngân sách nhà
nước, đây là nguồn thu nhập chủ yếu của nhà nước.
13. Phân biệt nhà nước với các tổ chức khác nhà nước.
Phân biệt nhà nước với tổ chức xã hội khác 1. Khái niệm:
- Nhà nước: là tổ chức quyền lực đặc biệt của xã hội, bao gồm một lớp người được tách ra từ
xã hội để chuyên thực thi quyền lực, nhằm tổ chức và quản lý xã hội, phục vụ cho lợi ích
chung của toàn xã hội cũng như lợi ích của lực lượng cầm quyền trong xã hội.
- Các tổ chức xã hội khác: là tập hợp một nhóm người tự nguyện liên kết với nhau tương đối
chặt chẽ, bền vững theo một tiêu chí nào đó ( cùng mục đích,chính kiến, lý tưởng, nghề
nghiệp, độ tuổi, giới tính,…) nhằm đại diện và bảo vệ lợi ích cho các hội viên của chúng. 2. Phạm vi quyền lực:
- Nhà nước: Nhà nước là tổ chức quyền lực đặc biệt của xã hội. Có tác động bao trùm lên
toàn xã hội, tới mọi tổ chức, cá nhân, mọi khu vực lãnh thổ quốc gia và các lĩnh vực cơ bản
của đời sống: kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục,..Mọi cá nhân và tổ chức đang sống và hoạt
động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đều phải phục tùng quyền lực và ý chí của nhà nước.
Do đó, nhà nước là tổ chức cơ sở xã hội và phạm vi tác động rộng lớn trong quốc gia.
+ Nhà nước có một lớp người tách ra khỏi lao động sản xuất để chuyên thực thi quyền lực
nhà nước, họ tham gia vào bộ máy nhà nước để làm hình thành nên một hệ thống các cơ quan
nhà nước từ trung ương đến địa phương, trong đó có các cơ quan bạo lực, cảnh sát, tòa án,…
+ Nhờ có quyền lực và bộ máy chuyên thực thi quyền lực đó mà nhà nước có thể điều hành
và quản lý xã hội, thiết lập và giữ gìn trật tự xã hội, phục vụ và bảo vệ lợi ích chung của toàn
xã hội cũng như lợi ích của lực lượng cầm quyền.
- Các tổ chức xã hội khác: cũng có quyền lực chung song quyền lực đó chỉ tác động tới các
hội viên trong tổ chức đó và không một tổ chức nào có bộ máy riêng để chuyên thực thi
quyền lực như nhà nước. Cơ sở và phạm vi tác động của các tổ chức xã hội khác đều hẹp hơn
nhà nước, chỉ tới một bộ phận cư dân.
3. Cách thức tổ chức và quản lý:
- Nhà nước thực hiện việc quản lý dân cư theo lãnh thổ:
+ Nhà nước luôn lấy việc quản lý dân cư theo lãnh thổ làm điểm xuất phát. Người dân không
phân biệt huyết thống, dân tộc, giới tính,… cứ sống trên một khu vực lãnh thổ nhất định thì
chịu sự quản lý của một nhà nước nhất định. Do vậy, họ thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với
nhà nước ở nơi họ cư trú. Nhà nước thực hiện việc quản lý dân cư trong phạm vi lãnh thổ
quốc gia của mình cũng theo địa bàn cư trú của họ hay theo các đơn vị hành chính – lãnh thổ.
Nhà nước phân chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính và quản lý dân cư theo các đơn vị đó.
- Các tổ chức xã hội khác: thường tập hợp và quản lý dân cư theo mục đích,chính kiến, lý
tưởng, nghề nghiệp, độ tuổi hoặc giới tính,… 4. Phạm vi đại diện:
- Nhà nước nắm giữ và thực thi chủ quyền quốc gia:
+ Chủ quyền quốc gia là khái niệm dùng để chỉ quyền quyết định tối cao của quốc gia trong
quan hệ đối nội và quyền độc lập tự quyết trong quan hệ đối ngoại. Nhà nước là đại diện
chính thức cho toàn quốc gia, dân tộc trong các quan hệ đối nội và đối ngoại. Trong quan hệ
đối nội thì quy định của nhà nước có giá trị bắt buộc phải tôn trọng hoặc thực hiện đối với các
tổ chức và cá nhân có liên quan; nhà nước có thể cho phép các tổ chức xã hội khác được
thành lập và hoạt động hoặc nhà nước công nhận sự tồn tại và hoạt động hợp pháp của các tổ
chức xã hội khác. Trong quan hệ đối ngoại, nhà nước có toàn quyền xác định và thực hiện
các đường lối,chính sách đối ngoại của mình.
- Các tổ chức xã hội khác chỉ được thành lập, tồn tại và hoạt động một cách hợp pháp khi
được nhà nước cho phép hoặc công nhận, đồng thời chỉ có thể nhân danh chính tổ chức đó
khi tham gia vào các quan hệ đối nội, đối ngoại và chỉ được tham gia vào quan hệ đối ngoại
nào mà nhà nước cho phép. 5. Ban hành pháp luật:
- Nhà nước ban hành pháp luật và dùng pháp luật làm công cụ quản lý xã hội:
+ Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung có giá trị bắt buộc phải tôn trọng hoặc thực
hiện đối với các tổ chức và cá nhân có liên quan trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Nhà nước
bảo đảm cho pháp luật được thực hiện bằng nhiều biện pháp:tuyên truyền, phổ biến, giáo dục,
thuyết phục, động viên, khen thưởng, áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước. Nhà nước
dùng pháp luật để quản lý xã hội theo mục đích của nhà nước và pháp luật là một trong
những phương tiện quản lý có hiệu quả nhất của nhà nước.
- Các tổ chức xã hội khác: chỉ có quyền ban hành các quy định dưới dạng điều lệ, chỉ thị,
nghị quyết có giá trị bắt buộc phải tôn trọng và thực hiện với các hội viên trong tổ chức; đồng
thời bảo đảm cho các quy định đó được thực hiện bằng sự tự giác của các hội viên và bằng
các hình thức kỷ luật của tổ chức. 6. Cơ sở kinh tế:
- Nhà nước quy định và thực hiện việc thu thuế: Thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người
dân buộc phải nộp cho nhà nước theo quy định của pháp luật. Nhà nước là một bộ máy được
tách ra khỏi lao động sản xuất trực tiếp để chuyên thực hiện chức năng quản lý xã hội nên nó
phải được nuôi dưỡng từ nguồn của cải do dân cư đóng góp, không có thuế bộ máy nhà nước
không thể tồn tại được và thuế luôn là quốc sách của mọi nhà nước. Thuế còn là nguồn của
cải quan trọng phục vụ cho việc phát triển các mặt của đời sống. Ngoài thuế, nhà nước còn có
quyền phát hành tiền, công trái, vì thế nhà nước có lực lượng vật chất to lớn, không chỉ để có
thể trang trải cho các hoạt động của nó,những hoạt động cơ bản của xã hội, mà còn có thể hỗ
trợ một phần kinh phí hoạt động cho một sống tổ chức khác.
- Các tổ chức xã hội khác: hoạt động trên cơ sở nguồn kinh phí do các hội viên đóng góp
hoặc từ nguồn tài trợ của nhà nước, các tổ chức quốc tế. 7. Mục tiêu:
- Nhà nước: quản lý xã hội, bảo vệ lợi ích chung của xã hội và lực lượng cầm quyền
- Các tổ chức xã hội khác: tạo thành một cộng đồng nhằm bảo vệ quyền lợi cho một nhóm
người nào đó ( cựu chiến binh, phụ nữ,…)
14. Phân biệt tội phạm với những hành vi vi phạm pháp luật khác. Lấy ví dụ minh họa? Tiêu chí Tội phạm
Các vi phạm pháp luật khác Căn cứ pháp lý
Quy định trong Bộ luật hình sự, cụ thể
Vi phạm pháp luật là những hành
tại Khoản 1 Điều 8 Bộ Luật Hình sự
vi xử sự (bằng hành động hoặc
năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
không hành động) trái với quy
định của pháp luật, có lỗi, xâm
Một hành vi là tội phạm khi đủ các dấu
phạm đến những quan hệ xã hội
hiệu: là hành vi nguy hiểm cho xã hội
được pháp luật bảo vệ, gây nên
được pháp luật hình sự bảo vệ, là hành
những thiệt hại cho những quan
vi có lỗi (tính có lỗi), là hành vi trái
hệ xã hội được pháp luật bảo vệ
pháp luật hình sự (tính trái pháp luật
trong chừng mực nhất định và
hình sự), là hành vi phải chịu phạt (tính
phải chịu trách nhiệm pháp lý phải chịu phạt).
theo quy định của pháp luật. Tính chất
Tội phạm là những hành vi có tính nguy
Vi phạm pháp luật khác là những
hiểm đáng kể cho xã hội .
hành vi có tính nguy hiểm chưa
đáng kể cho xã hội. Những hành
vi tuy có dấu hiệu của tội phạm
nhưng tính chất nguy hiểm cho xã
hội không đáng kể thì không phải
là tội phạm và được xử lý bằng
các biện pháp khác (Khoản 2
Điều 8 Bộ luật Hình sự) Hình thức pháp Quy định trong BLHS
Quy định trong các văn bản của lý các ngành luật khác Hậu quả pháp lý
Bị xử lý bằng các chế tài hình sự (các
Bị xử lý bằng các biện pháp
hình phạt, kể cả tù chung thân hoặc tử
cưỡng chế nhà nước ít nghiêm
hình) là những biện pháp cưỡng chế nhà
khắc hơn và không để lại án tích.
nước nghiêm khắc nhất được quy định
tại BLHS và để lại án tích