Câu 1. Trình bày nội dung nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật. Ý
nghĩa phương pháp luận.
Trả lời
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là một trong hai nguyên lý quan trọng cảu chủ nghĩa duy vật biện
chứng. Nó thể hiện nội dung cơ bản: các sự vật, hiện tượng, quá trình trong tự nhiên, xã hội và tư duy
luôn có mối liên hệ với nhau, không tồn tại riêng lẻ như quan điểm của chủ nghĩa siêu hình.
Trong phép biện chứng, khái niệm mối liên hệ dùng để chỉ sự qui định, sự tác động và chuyển hóa lẫn
nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới;
còn khái niệm mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật, hiện tượng của
thế
giới, trong đó, những mối liên hệ phổ biến nhất là những mối liên hệ tồn tại ở mọi sự vật, hiện tượng
của thế giới, nó thuộc đối tượng nghiên cứu của phép biện chứng, đó là các mối liên hệ giữa: các mặt
đối lập, lượng và chất, khẳng định và phủ định, cái chung và cái riêng…
Tính chất của các mối liên hệ: Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú là những
tính chất cơ bản của các mối liên hệ.
Tính khách quan của các mối liên hệ.
Các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới là có tính khách quan, sự qui định lẫn nhau,
tác động lẫn nhau và làm chuyển hóa lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng (hoặc trong chính bản thân
chúng) là cái vốn có của nó, tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý chí của con người. Ví dụ tùy vào loại
khí hậu con người sẽ có những tập quán sinh sống khác nhau để phù hợp với kiểu khí hậu đó. Con
người không thể quy định khí hậu mà dựa vào nó để dần dần hình thành nếp sống
Tính phổ biến của các mối liên hệ.
Theo quan điểm biện chứng thì không có bất cứ sự vật, hiện tượng hay quá trình nào tồn tại tuyệt đối
biệt lập với các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác; đồng thời cũng không có bất cứ sụ vật, hiện
tượng nào không phải là một cấu trúc hệ thống, bao gồm những yếu tố cấu thành với những mối liên hệ
bên trong của nó. Việc một con người trở nên xuất chúng có thể có nhiều yếu tố như bẩm sinh, rèn
luyện, quá trình học tập không ngừng. Nó là mối quan hệ nhân quả có thể xuất hiện ở bất kì đâu.
Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ.
Tính đa dạng, phong phú của các mối liên hệ được thể hiện ở chỗ: các sự vật, hiện tượng hay quá trình
khác nhau đều có những mối liên hệ cụ thể khác nhau, giữ vai trò, vị trí khác nhau đối với sự tồn tại và
phát triển của nó; mặt khác, cùng một mối liên hệ nhất định của sự vật nhưng trong những điều kiện cụ
thể khác nhau, ở những giai đoạn khác nhau trong quá trình vận động, phát triển của sự vật thì cũng có
những tính chất và vai trò khác nhau. Quan điểm về tính phong phú đa dạng của các mối liên hệ còn
bao hàm quan niệm về sự thể hiện phong phú, đa dạng của các mối liên hệ phổ biến ở các mối liên hệ
đặc thù trong mỗi sự vật, mỗi hiện tượng, mỗi quá trình cụ thể, trong những điều kiện không gian và
thời gian cụ thể. Mỗi người khác nhau sẽ có mối liên hệ với cha mẹ, anh em, bạn bè khác nhau. Hay
cũng là mối liên hệ giữa cha mẹ với con cái nhưng trong mỗi giai đoạn khác nhau, có tính chất và biểu
hiện khác nhau.
Ý nghĩa phương pháp luận:
- Trong nhận thức và thực tiễn phải có quan điểm toàn diện . Lênin cho rằng: “Muốn thực sự hiểu được
sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ “và quan hệ giao
tiếp” của sự vật đó” Quan điểm toàn diện yêu cầu khi nhận thức sự vật hiện tượng phải xem xét sự vật
trong mqh biện chững giữa các mặt các bộ phận cấu thành sự vật và giữa sự vật đó với sự vật khác.Song
toàn diện không có nghĩa là dàn đều giữa các mlh mà phải tập chung vào những mối liên hệ chủ yếu và
bản chất thì chúng ta mới nhận thức được đầy đủ sâu sắc các mối liên hệ ở các sự vật hiện tượng cần
nghiên cứu.
- Trong nhận thức và thực tiễn cấn phải có những quan điểm lịch sự cụ thể, quan điểm lịch sử cụ thể
yêu cầu khi nhận thức sự vật hiện tượng phải gắn với điều kiện lịch sử ra đời tồn tại và phát triển của sự
vật.
- Ví dụ: Trên một cánh đồng đang bị sâu bệnh, khi người nông dân tiến hành phun thuốc trừ sâu thấy
được hiệu quả tức thì là sâu chết mà vội vàng tiếp tục phun thuốc vô tội vạ sẽ xảy ra rất nhiều vấn đề
như: giết chết các vi sinh vật có lợi, làm mất chất dinh dưỡng của đất từ đó sẽ làm chết cây lúa. Vì thế
người nông dân cần phải biết điều chỉnh phun thuốc đúng liều lượng để vừa đạt được mục đích diệt sâu,
vừa bảo vệ được môi trường và cánh đồng.
- Từ đó ta rút ra cho mình bài học là bất kì sự vật hiện tượng nào cũng có liên hệ với nhau. Vì thế để có
thể phát triển bản thân cần tích cực học tập và vận dụng kiến thức, xem xét kĩ các vấn đề tránh phiến
diện, một chiều. Từ đó sẽ có cái nhìn đa chiều, phát triển bản thân theo hướng tích cực và nhận lại kết
quả xứng đáng.
Câu 2. Trình bày nội dung nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vật. Từ đó rút ra
ý nghĩa phương pháp luận.
Trả lời
Phép biện chứng duy vật trở thành một khoa học. Phép biện chứng duy vật được xây dựng trên cơ
sở một hệ thống những nguyên lý, những phạm trù cơ bản, những quy luật phổ biến phản ánh đúng đắn
hiện thực. Trong hệ thống đó, có hai nguyên lý cơ bản nhất, một trong số đó là nguyên lý về sự phát
triển. Nó khái quát một trong những thuộc tính phổ biến nhất của thế giới vật chất là vật chất luôn vận
động, phát triển.
Phép biện chứng duy vật khái niệm: phát triển dùng để chỉ quá trình vận động của sự vật, hiện tượng
theo khuynh hướng đi lên; từ trình độ thấp đến trình độ cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Như
vậy khái niệm “phát triển” không đồng nhất khái niệm “vận động” (nói chung); đó không phải là sự
biến đổi tăng lên hay giảm đi đơn thuần về lượng hay sự biến đổi tuần hoàn lặp đi lặp lại ở chất cũ mà
là sự biến đổi về chất theo hướng ngày càng hoàn thiện của những sự vật ở những trình độ ngày càng
cao hơn.
Phép biện chứng duy vật khái niệm: phát triển dùng để chỉ quá trình vận động của sự vật, hiện tượng
theo khuynh hướng đi lên; từ trình độ thấp đến trình độ cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Như
vậy khái niệm “phát triển” không đồng nhất khái niệm “vận động” (nói chung); đó không phải là sự
biến đổi tăng lên hay giảm đi đơn thuần về lượng hay sự biến đổi tuần hoàn lặp đi lặp lại ở chất cũ mà
là sự biến đổi về chất theo hướng ngày càng hoàn thiện của những sự vật ở những trình độ ngày càng
cao hơn.
Các quá trình phát triển đều có tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú:
Tính khách quan của sự phát triển biểu hiện trong nguồn gốc của sự vận động phát triển. Đó quá
trình bắt nguồn từ bản thân sự vật, hiện tượng; quá trình giải quyết mâu thuẫn trong sự vật, hiện
tượng đó. Vì vậy, phát triển là thuộc tính tất yếu, khách quan, không phụ thuộc vào ý thức con người.
Tính phổ biến của sự phát triển được thể hiện ở các quá trình phát triển diễn ra trong mọi lĩnh vực tự
nhiên, xã hội và tư duy; trong tất cả mọi sự vật, hiện tượng và mọi quá trình, mọi giai đoạn phát triển
của sự vật, hiện tượng đó. Trong mỗi quá trình biến đổi đã có thể bao hàm khả năng dẫn đến sự ra đời
của cái mới, phù hợp với quy luật khách quan.
Đối với tự nhiên: sự phát triển thể hiện ở khả năng thích nghi của thể, khả năng tiến hóa của thể,
khả năng hoàn thiện quá trình trao đổi VC giữa thể môi trường. Từ sinh đến hữu sinh. Người
miền Nam ra công tác Bắc thời gian đầu việc thích ứng với khí hậu làm họ khó chịu nhưng dần họ sẽ
quen và thích nghi
Đối với hội: Sự phát triển thể hiện ở năng lực chinh phục tự nhiên, cải tạo xã hội, nâng cao đời sống
mọi mặt của con người giải phóng con người tạo điều kiện thuận lợi cho con người phát triển toàn
diện, hoàn thiện nhân cách của bản thân. Mức sống của dân hội lúc nào cũng cao hơn so với
hội trước.
Đối với duy: Sự phát triển thể hiện ở khả năng nhận thức ngày càng sâu sắc, đầy đủ, đúng đắn hơn
đối với hiện thực. Trình độ hiểu biết của con người ngày càng cao so với trước đây.
Tính đa dạng, phong phú của sự phát triển được thể hiện ở chỗ: phát triển là khuynh hướng chung của
mọi sự vật, hiện tượng, song mỗi sự vật, mỗi hiện tượng, mỗi lĩnh vực hiện thực lại có quá trình phát
triển không hoàn toàn giống nhau. Tồn tại ở những không gian và thời gian khác nhau sự vật, hiện
tượng sẽ phát triển khác nhau. Sự tác động của các yếu tố khác có thể làm thay đổi chiều hướng phát
triển của sự vật, hiện tượng, thậm chí có thể làm cho sự vật, hiện tượng thụt lùi tạm thời, có thể dẫn tới
sự phát triển về mặt này và thoái hóa ở mặt khác… Đó là những biểu hiện của tính phong phú, đa dạng
của các quá trình phát triểnu.Cùng học 1 thầy cô nhưng cách suy nghĩ, sự phát triển của mỗi học sinh là
khác nhau.
Tính kế thừa: sự vật, hiện tượng mới ra đời không thể là sự phủ định tuyệt đối, phủ định sạch trơn,
đoạn tuyệt một cách siêu hình đối với sự vật, hiện tượng cũ mà thay vào đó là gạt bỏ những yếu tố tiêu
cực, lỗi thời của cái cũ, đồng thời giữ lại những yếu tố tích cực thích hợp để phát triển cái mới. Tính kế
thừa là tất yếu và khách quan, đảm bảo cho sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng là liên tục
không ngừng. Các giống loài phát triển theo quy luật di truyền. Thế hệ con cái kế thừa những yếu tố
tích cực của thế hệ bố mẹ, gạt bỏ những yếu tố không còn thích hợp với hoàn cảnh mới.
Nội dung nguyên lý
Sự phát triển là hiện tượng diễn ra không ngừng trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Triết học Mác xít
khẳng định phát triển là khuynh hướng chung của sự vận động của mọi sự vật và hiện tượng.
Con đường của sự phát triển lại là một quá trình biện chứng, bao hàm tính thuận nghịch đầy mâu thuẫn,
tính quanh co, phức tạp của sự vật, hiện tượng trong quá trình phát triển của nó
Phát triển cũng là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn có của sự vật, hiện
tượng; là quá trình thống nhất giữa phủ định các nhân tố tiêu cực và kế thừa, nâng cao nhân tố tích cực
từ sự vật, hiện tượng cũ trong hình thái của sự vật, hiện tượng mới.
Ý nghĩa phương pháp luận
Nguyên lý về sự phát triển là cơ sở lý luận khoa học để định hướng việc nhận thức và cải tạo thế giới.
Theo nguyên lý này, trong mọi nhận thức và thực tiễn cần phải có . Quan điểm quan điểm phát triển
phát triển đòi hỏi phải khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến, đối lập với sự phát triển.
Mặt khác, con đường của sự phát triển lại là một quá trình biện chứng, bao hàm tính thuận nghịch đầy
mâu thuẫn, vì vậy đòi hỏi phải nhận thức được tính quanh co, phức tạp của sự vật, hiện tượng trong quá
trình phát triển của nó, tức là phải có trong nhận thức và giải quyết các vấn quan điểm lịch s> - c@ thể
đề
Quá trình thay thế lẫn nhau của các hình thức tổ chức trong xã hội loài người: từ hình thức tổ
chức xã hội bộ tộc, bộ lạc còn sơ khai nguyên thủy lên các hình thức tổ chức xã hội cao hơn là hình
thức tổ chức bộ tộc, dân tộc,..
Từ đó chúng ta cần nhìn nhận khách quan đối với các sự vật hiện tượng, không được giao động
trước những quanh co, những phức tạp của sự phát triển. Cần tích cực chủ động tìm ra các phương thức
thúc đẩy sự phát triển của sự vật, hiện tượng. Luôn tìm tòi sáng tạo đẩy mạnh quá trình từ đó tìm ra
được các mâu thuẫn trong sự vật giúp xác định các giải pháp phù hợp để giải quyết mâu thuẫn và tiến
đến quá trình phát triển cao hơn.
Câu 3. Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức.
Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải
biến tự nhiên và xã hội.
Khác với các hoạt động khác, hoạt động thực tiễn loại hoạt động con người sử dụng những công
cụ vật chất tác động vào những đối tượng vật chất nhất định làm biến đổi chúng theo mục đích của
mình. Đó là những hoạt động đặc trưng và bản chất của con người. Nó được thực hiện một cách tất yếu
khách quan không ngừng phát triển bởi con người qua các thời kỳ lịch sử. Chính vậy, hoạt động
thực tiễn bao giờ cũnghoạt động vật chất mang tính chất sáng tạo vàtính mục đích, tính lịch sử -
xã hội.
Thực tiễn biểu hiện rất đa dạng với nhiều hình thức ngày càng phong phú. Trong ba hình thức
bản là:
hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị - xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học.
Hoạt động sản xuất vật chất là hình thức hoạt động cơ bản, đầu tiên của thực tiễn. Đây là hoạt động
trong đó con người sử dụng những công cụ lao động tác động vào giới tự nhiên để tạo ra của cải vật
chất, các điều kiện cần thiết nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của mình. Hoạt động gặt lúa của nông
dân, lao động của các công nhân trong các nhà máy, xí nghiệp,..
Hoạt động chính trị - xã hội hoạt động của các cộng đồng người, các tổ chức khác nhau trong xã hội
nhằm cải biến những quan hệ chính trị - xã hội để thúc đẩy xã hội phát triển. Hoạt động bầu cử đại biểu
Quốc hội, tiến hành Đại hội Đoàn Thanh niên trường học, Hội nghị công đoàn.
Thực nghiêm khoa học một hình thức đặc biệt của hoạt động thực tiễn. Đây hoạt động được tiến
hành trong những điều kiện do con người tạo ra, gần giống, giống hoặc lặp lại những trạng thái của tự
nhiên và xã hội nhằm xác đinh những quy luật biến đổi, phát triển của đối tượng nghiên cứu. Con người
nghiên cứu chế hoạt động của virut corona để điều chế ra vaccine ngừa Covid -19 tiêm chủng cho
con người.
Mỗi hình thức hoạt độngbản của thực tiễn một chức năng quan trọng khác nhau, không thể thay
thế cho nhau, song chúng mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau. Trong mối quan hệ đó,
hoạt động sản xuất vật chất loại hoạt động có vai trò quan trọng nhất, đóng vai trò quyết định đối với
các hoạt động thực tiễn khác.
Nhận thức và các trình độ nhận thức
Nhận thức một quá trình phản ánh tích cực, tự giác sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc con
người trên sở thực tiễn, nhằm sáng tạo ra những tri thức về thế giới khách quan. Đó quan điểm
duy vật biện chứng về nhận thức. Quan điểm này xuất phát từ các nguyên tắc cơ bản sau đây:
Một là, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan độc lập với ý thức của con người.
Hai là, thừa nhận con người khả năng nhận thức được thế giới khách quan; coi nhận thức
sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óc của con người, hoạt động tìm hiểu khách thể của
chủ thể.
Ba là, khẳng định sự phản ánh đó là một quá trình biện chứng. tích cực, tự giác và sáng tạo. Quá
trình phản ánh đó diễn ra theo trình tự từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến nhiều, từ chưa sâu sắc, chưa
toàn diện sâu sắc, toàn diện hơn,..
Bốn là, coi thực tiễn là cơ sỡ chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức; là động lực, mục đích của
nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý.
Phân loại nhận thức
Nhận thức kinh nghiệm trình độ nhận thức hình thành từ sự quan sát trực tiếp các sự vật, hiện tượng
trong giới tự nhiên, hội hoặc qua các thí nghiệm khoa học Tri thức này hai loại tri thức kinh
nghiệm thông thường những tri thức kinh nghiệm khoa học. K hi muối ăn tác động vào các quan
cảm giác, mắt (thị giác) sẽ cho ta biết muối màu trắng, dạng tinh thể; mũi (khướu giác) cho ta biết
muối không có mùi; lưỡi (vị giác) cho ta biết muối có vị mặn.
Nhận thức luận trình độ nhận thức gián tiếp, trìu tượng, tính hệ thống trong việc khái quát bản
chất, quy luật của các sự vật, hiện tượng. Nhờ đi sâu phân tích, người ta tìm ra cấu trúc tinh thể và công
thức hóa học của muối, điều chế được muối…
Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận là hai giai đoạn nhận thức khác nhau nhưng có mối
quan hệ biện chứng lẫn nhau. Trong mối quan hệ đó, nhận thức kinh nghiệm là cơ sở của nhận thức lý
luận; nó cung cấp cho nhận thức lý luận những tư liệu phong phú, cụ thể; nó trực tiếp gắn chặt với hoạt
động thực tiễn, tạo thành cơ sở hiện thực đề kiểm tra, sửa chữa, bổ sung cho lý luận đã có và tổng kết,
khái quát thành lý luận mới. “Tuy nhiên, nhận thức kinh nghiệm còn hạn chế ở chỗ chỉ dừng lại ở sự mô
tả, phân loại các sự kiện, các dữ kiện thu được từ sự quan sát và thí nghiệm trực tiếp. Do đó, nó chỉ
dem lại những hiểu biết về các mặt riêng rẽ, bề ngoài, rời rạc, chưa phản ánh được cái bản chất, những
mối liên hệ mang tính quy luật của các sự vật, hiện tượng. Vì vậy, nhận thức kinh nghiệm tự nó không
bao giờ có thế chứng minh được đầy đủ tính tất yếu. Ngược lại, mặc dù được hình thành từ sự tổng kết
những kinh nghiệm, nhưng nhận thức lý luận không hình thành một cách tự phát, trực tiếp từ kinh
nghiệm.”
Do tính độc lập tương đối của nó, lý luận có thể đi trước những dữ kiện kinh nghiệm, hướng dẫn sự
hình thành những tri thức kinh nghiệm có giá trị, lựa chọn những kinh nghiệm hợp lý để phục vụ cho
hoạt động thực tiễn.
Nhận thức thông thường loại nhận thức được hình thành một cách tự phát, trực tiếp từ trong hoạt
động hàng ngày của con người. Vì vậy, nhận thức thông thường mang tính phong phú, nhiều vẻ gắn
liền với những quan niệm sống thực tế hàng ngày.
Nhận thức khoa học là loại nhận thức được hình thành một cách từ giác và gián tiếp từ sự phản ánh đặc
điểm, bản chất, những quan hệ tất yếu của đối tượng nghiên cứu. Nhận thức khoa học vừa có tính khách
quan, trừu tượng, khái quát, lạ vừa có tính hệ thống, có căn cứ và có tính chân thực. Vì thế, nhận thức
khoa học có vai trò ngày càng to lớn trong hoạt động thực tiễn, đặc biệt trong thời đại khoa học và công
nghệ hiện đại.
Giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong mối quan hệ đó, nhận thức thông thường có
trước nhận thức khoa học và là nguồn chất liệu để xây dựng nội dung của các khoa học. Ngược lại, khi
đạt tới trình độ nhận thức khoa học, nó lại có tác động trở lại nhận thức thông thường, xâm nhập vào
nhận thức thông thường, làm cho nhận thức thông thường phát triển, tăng cường nội dung khoa học cho
quá trình con người nhận thức thế giới.
Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
Thực tiễn đóng vai trò là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn của chân lý, kiểm
tra tính chân lý của quá trình nhận thức.
Sở dĩ như vậy vì thực tiễn là điểm xuất phát trực tiếp của nhận thức; nó đề ra nhu cầu, nhiệm vụ, cách
thức, khuynh hướng vận động và phát triển của nhận thức. Chính con người có nhu cầu tất yếu khách
quan là phải giải thích thế giới và cải tạo thế giới nên con người tất yếu phải tác động vào các sự vật,
hiện
tuợng bằng hoạt động thực tiễn của mình. Sự tác động đó làm cho các sự vật, hiện tuợng bộc lộ những
thuộc tính, những mối liên hệ và quan hệ khác nhau giữa chúng, đem lại những tài liệu cho nhận thức,
giúp cho
nhận thức nắm bắt được bản chất, các quy luật vận động và phát triển của thế giới. Sự xuất hiện học
thuyết Macxit vào những năm 40 của thế kỷ XIX cũng BẮT NGUỒN từ hoạt động thực tiễn của các
phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại giai cấp tư sản lúc bấy giờ
Thực tiễn là cơ sở, động lực và mục đích của nhận thức còn là vì nhờ có hoạt động thực tiễn mà các
giác quan của con nguời ngày càng được hoàn thiện; năng lực tư duy lôgích không ngừng được củng cố
và phát triển; các phương tiện nhận thức ngày càng hiện đại, có tác dụng "nối dài" các giác quan của
con người trong việc nhận thức thế giới. Chẳng hạn, xuất phát từ NHU CẦU thực tiễn con người CẦN
phải “đo đạc diện tích và đo lường sức chứa của những cái bình, từ sự tính toán thời gian và sự chế tạo
cơ khí” MÀ toán học đã ra đời và phát triển.
Thực tiễn chẳng những sở, động lực, mục đích của nhận thức còn đóng vai trò tiêu chuẩn
của chân lý, kiểm tra tính chân của quá trình nhận thức. Điều này nghĩa thực tiễn thước đo giá
trị của những tri thức đã đạt được trong nhận thức. Đồng thời, thực tiễn không ngừng bổ sung, điều
chỉnh, sữa chữa, phát triển hoàn thiện nhận thức. Trên ti vi hiện nay nhiều công ty quảng cáo cho
rằng mặt hàng của mình là tốt nhất. Nhưng mặt hàng nào tốt nhất phải lấy thực tiễn để kiểm nghiệm
Tóm lại thực tiễn chẳng những là điểm xuất phát của nhận thức, là yếu tố đóng vai trò quyết định
đối với sự hình thành và phát triển của nhận thức mà cònnơi nhận thức phải luôn luôn hướng
tới để thể nghiệm tính đúng đắn của mình.
Ý nghĩa phương pháp luận
Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức đòi hỏi chúng ta phải luôn luôn quán triệt quan điểm thực tiễn.
Quan điểm này yêu cầu việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu vào
thực tiễn, phải coi trọng công tác tổng kểt thực tiễn. Việc nghiên cứu luận phải liên hệ với thực tiễn,
học đi đôi với hành. Nếu xa rời thực tiễn sẽ dẫn đến sai lầm của bệnh chủ quan, duy ý chí, giáo điều,
máy móc, quan liêu.
Từ đó chúng ta cần phải có bài học cho riêng mình. Thứ nhất, phải có phong cách làm việc nhiệt tình
nhung phải khách quan khoa học. Bản thân xây dựng thói quen tôn trọng thực tế khách quan, kiên quyết
không bóp méo sự thật để chạy theo thành tích. Tôn trọng và làm việc theo chức trách, chế độ công tác,
chương trình, kế hoạch đã đề ra, tránh lối làm việc ngẫu hứng, tùy tiện. Thứ hai là, xây dựng phong
cách làm việc dân chủ, tập thể, nhưng quyết đoán, dám chịu trách nhiệm cá nhân. Bản thân luôn tự căn
dặn mình cần phải nắm vững và thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác, xây
dựng thói quen lắng nghe ý kiến của tập thể, nhất là tập nghe cho được những ý kiến khác, trái với
mình. Rèn luyện đức tính khiêm tốn, cầu thị, trung thực, thẳng thắn, có quyết tâm cao, dám chịu trách
nhiệm về những quyết định của mình. Thứ ba là, rèn luyện được phong cách làm việc thiết thực, nói đi
đôi với làm.
Câu 4. Trình bày mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất.
Phương thức sản xuất là cách thức con người tiến hành quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn lịch
sử nhất định của hội loài người. Phương thức sản xuất sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất với
một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng.
Lực lượng sản xuất sự kết hợp giữa người lao động với liệu sản xuất, tạo ra sức sản xuất
năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của giới tự nhiên theo nhu cầu nhất định của con
người và xã hội.
Người lao động con người tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng lao động năng lực sáng tạo nhất
định trong quá trình sản xuất của hội. Người lao động chủ thể sáng tạo, đồng thời chủ thể tiêu
dùng mọi của cải vật chất xã hội. Đây là nguồn lực cơ bản, vô tận và đặc biệt của sản xuất.
liệu sản xuất là điều kiện vật chất cần thiết để tổ chức sản xuất, bao gồmliệu lao động đối
tượng lao động.
Đối tượng lao động những yếu tố vật chất của sản xuất con người dùng liệu lao động tác
động lên, nhằm biến đổi chúng cho phù hợp với mục đích sử dụng của con người.
Tư liệu lao động là những yếu tố vật chất của sản xuất mà con người dựa vào đó để tác
động lên đối tượng lao động nhằm biến đổi đối tượng lao động thành sản phẩm đáp ứng
yêu cầu sản xuất của con người. liệu lao động gồm công cụ lao động phương tiện
lao động.
những yếu tố vật chất của sản xuất, cùng với công cụ laoPhương tiện lao động
động con người sử dụng để tác động lên đối tượng lao động trong quá trình sản xuất
vật chất.
những phương tiện vật chất con người trực tiếp sử dụng đểCông cụ lao động
tác động vào đối tượng lao động nhằm biến đổi chúng, tạo ra của cải vật chất phục vụ nhu
cầu của con người hội. Công cụ lao động giữ vai trò quyết định đến năng suất lao
động.
Đặc trưng chủ yếu của lực lượng sản xuất mối quan hệ giữa người lao động
công cụ lao động. Trong lực lượng sản xuất, người lao động nhân tố hàng đầu giữ vai
trò quyết định, bởi vì người lao động là chủ thể sáng tạo và sử dụng công cụ lao động.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất là phát triển ở cả tính chất và trình độ. Tính chất
của lực lượng sản xuất nói lên tính chất nhân hoặc tính chất hội hóa trong việc sử
dụng tư liệu sản xuất. Trình độ của lực lượng sản xuất là sự phát triển của người lao động
công cụ lao động. Trình độ của lực lượng sản xuất được thể hiện trình độ của công
cụ lao động; trình độ tổ chức lao động hội; trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất;
trình độ, kinh nghiệm, kỹ năng của người lao động đặc biệt trình độ phân công lao
động hội. Trong thực tế, tính chất trình độ phát triển của lực lượng sản xuất không
tách rời nhau.
Quan hệ sản xuất tổng hợp các quan hệ kinh tế - vật chất giữa người với người
trong quá trình sản xuất vật chất. Đây chính một quan hệ vật chất quan trọng nhất -
quan hệ kinh tế, trong các mối quan hệ vật chất giữa người với người. Quá trình sản xuất
vật chất chính tổng thể các yếu tố trong một quá trình thống nhất, gồm sản xuất, phân
phối, trao đổi và tiêu dùng của cải vật chất.
Quan hệ sản xuất bao gồm các quan hệ sau:
Quan hệ sở hữu về liệu sản xuất quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc
chiếm hữu, sử dụng các liệu sản xuất hội. Đây quan hệ quy định địa vị kinh tế -
hội của các tập đoàn người trong sản xuất, t đó quy định quan hệ quản phân
phối. Quan hệ sở hữu vềliệu sản xuất là quan hệ xuất phát, cơ bản, trung tâm của quan
hệ sản xuất, luôn có vai trò quyết định các quan hệ khác bởi vì, lực lượng xã hội nào nắm
phương tiện vật chất chủ yếu của quá trình sản xuất thì sẽ quyết định việc quản quá
trình sản xuất và phân phối sản phẩm.
Quan hệ về tổ chức và quản lý sản xuất là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc
tổ chức sản xuất phân công lao động. Quan hệ này vai trò quyết định trực tiếp đến
quy mô, tốc độ, hiệu quả của nền sản xuất;khả năng đẩy nhanh hoặc kìm hãm sự phát
triển của nền sản xuất xã hội.
Quan hệ về phân phối sản phẩm lao động quan hệ giữa các tập đoàn người trong
việc phân phối sản phẩm lao động xã hội, nói lên cách thức và quy mô của cải vật chất mà
các tập đoàn người được hưởng. Quan hệ này vai t đặc biệt quan trọng, kích thích
trực tiếp lợi ích con người; “chất xúc tác” kinh tế thúc đẩy tốc độ, nhịp điệu sản xuất,
làm năng động hóa toàn bộ đời sống kinh tế - hội. Hoặc ngược lại, thể làm trì trệ,
kìm hãm quá trình sản xuất.
Các mặt trong quan hệ sản xuất mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại, chi phối,
ảnh hưởng lẫn nhau; trong đó quan hệ về sở hữu liệu sản xuất giữ vai trò quyết định
bản chất tính chất của quan hệ sản xuất. Quan hệ sản xuất hình thành một cách khách
quan, quan hệ đầu tiên, bản chủ yếu, quyết định mọi quan hệ hội.Đặc trưng chủ
yếu của lực lượng sản xuất mối quan hệ giữa người lao động công cụ lao động.
Trong lực lượng sản xuất, người lao động là nhân tố hàng đầu giữ vai trò quyết định, bởi
vì người lao động là chủ thể sáng tạo và sử dụng công cụ lao động.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất là phát triển ở cả tính chất và trình độ. Tính chất
của lực lượng sản xuất nói lên tính chất nhân hoặc tính chất hội hóa trong việc sử
dụng tư liệu sản xuất. Trình độ của lực lượng sản xuất là sự phát triển của người lao động
công cụ lao động. Trình độ của lực lượng sản xuất được thể hiện trình độ của công
cụ lao động; trình độ tổ chức lao động hội; trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất;
trình độ, kinh nghiệm, kỹ năng của người lao động đặc biệt trình độ phân công lao
động hội. Trong thực tế, tính chất trình độ phát triển của lực lượng sản xuất không
tách rời nhau.
Quan hệ sản xuất tổng hợp các quan hệ kinh tế - vật chất giữa người với người
trong quá trình sản xuất vật chất. Đây chính một quan hệ vật chất quan trọng nhất -
quan hệ kinh tế, trong các mối quan hệ vật chất giữa người với người. Quá trình sản xuất
vật chất chính tổng thể các yếu tố trong một quá trình thống nhất, gồm sản xuất, phân
phối, trao đổi và tiêu dùng của cải vật chất.
Quan hệ sản xuất bao gồm các quan hệ sau:
Quan hệ sở hữu về liệu sản xuất quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc
chiếm hữu, sử dụng các liệu sản xuất hội. Đây quan hệ quy định địa vị kinh tế -
hội của các tập đoàn người trong sản xuất, t đó quy định quan hệ quản phân
phối. Quan hệ sở hữu vềliệu sản xuất là quan hệ xuất phát, cơ bản, trung tâm của quan
hệ sản xuất, luôn có vai trò quyết định các quan hệ khác bởi vì, lực lượng xã hội nào nắm
phương tiện vật chất chủ yếu của quá trình sản xuất thì sẽ quyết định việc quản quá
trình sản xuất và phân phối sản phẩm.
Quan hệ về tổ chức và quản lý sản xuất là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc
tổ chức sản xuất phân công lao động. Quan hệ này vai trò quyết định trực tiếp đến
quy mô, tốc độ, hiệu quả của nền sản xuất;khả năng đẩy nhanh hoặc kìm hãm sự phát
triển của nền sản xuất xã hội.
Quan hệ về phân phối sản phẩm lao động quan hệ giữa các tập đoàn người trong
việc phân phối sản phẩm lao động xã hội, nói lên cách thức và quy mô của cải vật chất mà
các tập đoàn người được hưởng. Quan hệ này vai t đặc biệt quan trọng, kích thích
trực tiếp lợi ích con người; “chất xúc tác” kinh tế thúc đẩy tốc độ, nhịp điệu sản xuất,
làm năng động hóa toàn bộ đời sống kinh tế - hội. Hoặc ngược lại, thể làm trì trệ,
kìm hãm quá trình sản xuất.
Các mặt trong quan hệ sản xuất mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại, chi phối,
ảnh hưởng lẫn nhau; trong đó quan hệ về sở hữu liệu sản xuất giữ vai trò quyết định
bản chất tính chất của quan hệ sản xuất. Quan hệ sản xuất hình thành một cách khách
quan, là quan hệ đầu tiên, cơ bản chủ yếu, quyết định mọi quan hệ xã hội.
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuấthai mặt của một phương thức sản xuất có
tác động biện chứng, trong đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, còn quan
hệ sản xuất tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất.
* Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất
Sự vận động phát triển của phương thức sản xuất bắt đầu từ sự biến đổi của lực
lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất nội dung của quá trình sản xuất có tính năng động,
cách mạng, thường xuyên vận động và phát triển; quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của
quá trình sản xuất, tính ổn định tương đối. Trong sự vận động của mâu thuẫn biện
chứng đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất.
Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là đòi
hỏi khách quan của nền sản xuất. Lực lượng sản xuất vận động, phát triển không ngừng sẽ
mâu thuẫn với tính “đứng im” tương đối của quan hệ sản xuất. Quan hệ sản xuất từ chỗ là
“hình thức phù hợp”, “tạo địa bàn” phát triển của lực lượng sản xuất trở thành “xiềng
xích” kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Đòi hỏi tất yếu của nền sản xuất
hội phải xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất đã phát triển.
VD : Nền kinh tế phong kiến sản xuất nhỏ, sử dụng súc vật để kéo, giới hóa đơn
giản dẫn đến hình thành sở hữu tư nhân về ruộng đất, thiếu thị trường phân phối, tiêu thụ
sản phẩm
Lực lượng sản xuất quyết định sự ra đời của một kiểu quan hệ sản xuất mới trong lịch
sử, quyết định nội dung tính chất của quan hệ sản xuất. Bằng năng lực nhận thức
thực tiễn, con người phát hiệngiải quyết mâu thuẫn, thiết lập sự phù hợp mới làm cho
quá trình sản xuất phát triển đạt tới một nấc thang cao hơn.
VD : “Cái cối xay bằng tay đưa lại xã hộilãnh chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước
đã đưa lại xã hội có nhà tư bản công nghiệp”
* Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất
Do quan hệ sản xuất hình thức hội của quá trình sản xuất tính độc lập tương
đối nên tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lượng sản xuất. Vai trò của quan hệ sản xuất
đối với lực lượng sản xuất được thực hiện thông qua sự phù hợp biện chứng giữa quan hệ
sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất bao gồm sự kết hợp đúng
đắn giữa các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất; giữa các yếu tố cấu thành quan hệ sản
xuất; giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất.
Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất quy định mục đích, xu
hướng phát triển của nền sản xuấthội; hình thành hệ thống động lực thúc đẩy sản xuất
phát triển; đem lại năng suất, chất lượng, hiệu quả của nền sản xuất.
Sự tác động của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất diễn ra theo hai chiều
hướng, đó là thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Sự tác động biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất làm cho lịch sử
xã hội loài người là lịch sử kế tiếp nhau của các phương thức sản xuất.
VD : Nền sản xuất nhỏ, tự cung tự cấp sẽ kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế, dẫn
đến trình độ sản xuất nhỏ, manh mún, cơ giới hóa nông nghiệp khó thực hiện
* Ý nghĩa trong đời sống xã hội
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất có ý
nghĩa phương pháp luận rất quan trọng. Trong thực tiễn, muốn phát triển kinh tế phải bắt
đầu từ phát triển lực lượng sản xuất, trước hết là phát triển lực lượng lao động và công cụ
lao động. Muốn xóa bỏ một quan hệ sản xuất cũ, thiết lập một quan hệ sản xuất mới phải
căn cứ từ trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Nhận thức đúng đắn quy luật này có ý nghĩa rất quan trọng trong quán triệt, vận dụng
quan điểm, đường lối, chính sách, sở khoa học để nhận thức sâu sắc sự đổi mới
duy kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Việt Nam, để xây dựng phương thưc sản xuất hội chủ nghĩa, chúng ta chủ trương phát triển nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần với chế thị trường sự quản của Nhà nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa. Như vậy việc bo qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa về thực chất là bo qua chế
độ chính trị tư bản, chúng ta lại kế thừa những giá trị của chủ nghĩa tư bản với tư cáchlực lượng sản
xuất, để hướng nền sản xuất đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.
Câu 5. Trình bày mối quan hệ biện chứng giữa sở hạ tầng kiến trúc thượng
tầng của xã hội.
Cơ sở hạ tầng tổng hợp những quan hệ sản xuất hợp thành cấu kinh tế của một hình thái kinh tế-
xã hội nhất định.
Cơ sở hạ tầng của một xã hội cụ thể thường bao gồm: quan hệ sản xuất thống trị trong nền kinh tế, quan
hệ sản xuất tàn quan hệ sản xuất mới tồ tại dưới dạng mầm mống, tiền đề. sở hạ tầng đây
được hiểu là cơ cấu các thành phần kinh tế chư không phải là cơ sở vật chất kỹ thuật.
VD: s hạ tầng nước ta hiện nay nền kinh tế cấu nhiều thành phần, gồm kinh tế nhà
nước, tập thể, tư nhân, tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó kinh tế nhà nước
đóng vai trò chủ đạo.
Đặc trưng cho tính chất của một sở hạ tầng do quan hệ sản xuất thống trị quy định. Quan hệ sản
xuất thống trị qui địnhtác động trực tiếp đến xu hướng chung của toàn bộ đời sồng kinh tế - xã hội.
Qui định tính chất cơ bản của toàn bộ cơ sở hạ tầng xã hội đương thời.
Kiến trúc thượng tầng dùng để chỉ toàn bộ hệ thống kết cấu các hình thái ý thức hội cùng với các
thiết chế chính trị xã hội tương ứng được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định.
Kiến trúc thượng tầng toàn bộ những hình thái ý thức hội: chính trị, pháp quyền, đạo đức, triết
học, tôn giáo, nghệ thuật... với những thể chế tương ứng: nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể...
Kiến trúc thượng tầng của hội đối kháng giai cấp mang tính giai cấp sâu sắc. Tính giai cấp của
kiến trúc thượng tầng biểu hiện sự đối địch về quan điểm, tư tưởng và các cuộc đấu tranh về tư tưởng
của các giai cấp đối kháng.
Bộ phận có quyền lực mạnh nhất của kiến trúc thượng tầng của xã hội có tính chất đối kháng giai cấp là
nhà nước. Đây là công cụ của giai cấp thống trị tiêu biểu cho xã hội về mặt pháp lý- chính trị.
MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA SỞ HẠ TẦNG KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG
XÃ HỘI.
Chủ nghĩa Mác- Lê nin, đã khẳng định: Cơ sở hạ tầng kiến trúc thượng tầng quan hệ biện chứng
không tách rời nhau, trong đó sở hạ tầng giữ vai trò quyết định kiến trúc thượng tầng. Còn kiến
trúc thượng tầngphản ánh sở hạ tầng, nhưngvai trò tác động trở lại to lớn đối với cơ sở hạ
tầng đã sinh ra nó.
Trong sự thống nhất biện chứng này, sự phát triển của sở hạ tầng đóng vai trò với kiến trúc thượng
tầng. Kiến trúc thượng tầng phải phù hợp với tính chất trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng hay cơ sở hạ
tầng nào thì kiến trúc thượng tầng ấy.
Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng xã hội:
Vai trò quyết định của sở hạ tầng thể hiện trước hết chỗ: shạ tầng những quan hệ vật
chất khách quan quy định mọi quan hệ khác: Về chính trị, tinh thần, tư tưởng của xã hội. Cơ sở hạ tầng
nào sinh ra kiến trúc thượng tầng ấy, nói cách khác sở hạ tầng đã sinh ra kiến trúc thượng tầng,
kiến trúc thượng tầng bao giờ cũng phản ánh một cơ sở hạ tầng nhất định, và bảo vệ chosở hạ tầng
đó nên không kiến trúc thượng tầng chung cho mọi hội. Một đất nướccác nhà máy, tập đoàn
tư nhân 80-90% thì thể chế nhà nước là tư bản chủ nghĩa.
sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng về tính chất, nội dung kết cấu: Tính chất của kiến
trúc thượng tầng đối kháng hay không đối kháng, nội dung của kiến trúc thượng tầng nghèo nàn hay đa
dạng, phong phú hình thức của kiến trúc thượng tầng gọn nhẹ hay phức tạp do sở hạ tầng quyết
định. Tính chất mâu thuẫn trong cơ sở hạ tầng được thể hiện trong kiến trúc thượng tầng.
Vai trò quyết định của sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng còn thể hiện chỗ những biến đổi
căn bản trong sở hạ tầng dẫn đến sự biến đổi căn bản trong kiến trúc thượng tầng. Mác viết: ”Cơ sở
kinh tế thay đổi thì tất cả tất cả các kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị thay đổi ít nhiều nhanh chóng”.
Khi cơ sở hạ tầng mất đi thì kiến trúc thượng tầng của nó cũng mất đi.
Tuy vậy, những quan hệ tinh thần, tưởng của hội đó kiến trúc thượng tầng, cũng không hoàn
toàn thụ động, nó có vai trò tác động trở lại to lớn đối với cơ sở hạ tầng sinh ra nó.
Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng .
Sự tác động tích cực của kiến trúc thượng tầng đối vớisở hạ tầng được thể hiện chức nănghội
của kiến trúc thượng tầng luôn luôn bảo vệ duy trì, củng cố hoàn thiện sở hạ tầng sinh ra nó,
đấu tranh xoá bỏ cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng đã lỗi thời lạc hậu.
Thực chất tronghội có giai cấp đối kháng, kiến trúc thượng tầng bảo đảm sự thống trị chính trị và tư
tưởng của giai cấp giữ địa vị thống trị trong kinh tế. vậy, kiến trúc thượng tầng thực sự trở thành
công cụ, phương tiện để duy trì, bảo vệ địa vị thống trị về kinh tế của giai cấp thống trị của xã hội.
Trong các yếu tố cấu thành nên kiến trúc thượng tầng, nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng
tác dụng to lớn đối với cơ sở hạ tầng vì, nó là một lượng vật chất tập trung sức mạnh kinh tế và chính trị
của giai cấp thống trị .Nhà nước không chỉ dựa trên hệ tưởng, mà còn dựa trên những hình thức nhất
định của việc kiểm soát xã hội, sử dụng bạo lực, bao gồm các yếu tố vật chất: quân đội, cảnh sát, toà án,
nhà tù... để tăng cường sức mạnh kinh tế của giai cấp thống trị, củng cố địa vị của quan hệ sản xuất
thống trị.”
Cùng với nhà nước, các yếu tố khác của kiến trúc thượng tầng cũng đã tác động đến cơ sở hạ tầng bằng
nhiều hình thức khác nhau. Song thường thường những sự tác động đó phải thông qua nhà nước, pháp
luật thể chế tương ứng, chỉ qua đó chúng mới phát huy được hết hiệu lực đối với sở hạ tầng,
đối với toàn xã hội.
Quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầngkiến trúc thượng tầng là cơ sở khoa học cho
việc nhận thức một cách đúng đắn mối quan hệ giữa kinh tế chính trị. Kinh tế chính trị tác động
biện chứng, trong đó kinh tế quyết định chính trị, chính trị tác động trở lại to lớn, mạnh mẽ đối với kinh
tế. Thực chất của vai trò kiến trúc thượng tầng vai trò hoạt động tự giác, tích cực của các giai cấp,
đảng pháilợi ích kinh tế sống còn của mình. Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ
tầng trước hết và chủ yếu thông qua đường lối, chính sách của đảng, nhà nước.
Trong nhận thức và thực tiễn, nếu tách rời hoặc tuyệt đối hóa một yếu tố nào giữa kinh tế và chính
trị đều sai lầm. Tuyệt đối hóa kinh tế, hạ thấp hoặc phủ nhận yếu tố chính trị rơi vào quan điểm
duy vật tầm thường, duy vật kinh tế sẽ dẫn đến chính phủ, bất chấp kỷ cương, pháp luật không
tránh khỏi thất bại, đổ vỡ. Nếu tuyệt đối hóa về chính trị, hạ thấp hoặc phủ định vai trò của kinh tế sẽ
dẫn đến duy tâm, duy ý chí, nôn nóng, chủ quan, đốt cháy giai đoạn và cũng không tránh khỏi thất bại.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã rất quan tâm đến nhận thức
vận dụng quy luật này. Trong thời kỳ đổi mới đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương đổi mới
toàn diện cả kinh tế và chính trị, trong đó đổi mới kinh tế là trung tâm, đồng thời đổi mới chính trị từng
bước thận trọng vững chắc bằng những hình thức, bước đi thích hợp; giải quyết tốt mối quan hệ giữa
đổi mới - ổn định - phát triển, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ý nghĩa Phương pháp luận:
Sự phát triển của lực lượng sản xuất thay đổi quan hệ sản xuất, thay đổi kiến trúc thượng tầng, cần
ưu tiên phát triển nguồn nhân lực trình độ cao, thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa
VD : Ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ trong sản xuất, đổi mới đồng bộ toàn diện nền giáo
dục nước nhà.
Nhận thức đúng mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế chính trị, không tuyệt đối hóa vai trò của
kinh tế hay chính trị
VD : Đổi mới phải có lộ trình, kết hợp cả kinh tế và chính trị, trong đó đổi mới kinh tế làm trung tâm
S tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng : cần đường lối chính sáchphù hợp thúc đẩy phát
triển phù hợp quy luật khách quan
VD : Nhà nước ban hành các đạo luật mới về kinh tế, thương mại, đất đai,...
Quan hệ sản xuất : sở hữu công về liệu sản xuất, doanh nghiệp nhà nước làm chủ đạo, đồng thời
đảm bảo lợi ích các thành phần khác
Nhà nước tác động trực tiếp nhất mạnh mẽ nhất : xây dựng nhà nước pháp quyền hội chủ
nghĩa (hệ thống pháp luật đảm bảo lợi ích các thành phần kinh tế)
Câu 6. Trình bày mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
Khái niệm tồn tại xã hội, ý thức xã hội
Khái niệm dùng để chỉ phương diện sinh hoạt vật chất và các điều kiện sinh hoạt vật tồn tại xã hội
chất của xã hội. Các yếu tố cơ bản tạo thành tồn tại xã hội bao gồm phương thức sản xuất vật chất,
các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên - hoàn cảnh địa lý và dân cư. Các yếu tố do tồn tại trong mối
quan hệ thống nhất biện chứng, tác động lẫn nhau tạo thành điều kiện sinh tồn và phát triển của xã
hội. Trong đó phương thức sản xuất vật chất là yếu tố cơ bản nhất.
Khái niệm dùng để chỉ phương diện sinh hoạt tinh thần của xã hội, nảy sinh từ tồn tại xãý thức xã hội
hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định.
Giữa ý thức xã hội và ý thức cá nhân có sự thống nhât biện chứng nhưng không đồng nhất. Mối quan
hệ giữa ý thức xã hội và ý thức cá nhân thuộc mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng.
Theo nội dung và lĩnh vực phản ánh đời sống xã hội, ý thức xã hội bao gồm các hình thái khác nhau: ý
thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức tôn giáo, ý thức thẩm mỹ, ý thức khoa học…
Theo trình độ phản ánh của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội có thể phân biệt ý thức xã hội thông
thường và ý thức lý luận.
Vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội
Tồn tại xã hội như thế nào thì ý thức xã hội như thế đó (tồn tại xã hội sản sinh ravà quyết định ý thức
xã hội), tức là mọi hiện tượng trong đời sống tinh thần của các cộng đồng người đều phát sinh từ điều
kiện sinh tồn, hoàn cảnh sống khách quan
VD : Sự ra đời của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong lịch sử trên hai nghìn nămcũng có nguồn gốc sâu
xa từ nhu cầu cải tạo tự nhiên và chống giặc ngoại xâm
Nội dung của ý thức xã hội là “những hình ảnh chủ quan” mang tính cải biến sáng tạo trong đời sống
tinh thần của xã hội, là sự tái tạo các hình ảnh trong hiện thựckhách quan
VD : Biểu tượng “Rồng” ở Đông Nam Á là hình ảnh mang tính sáng tạo nghệ thuật và tín ngưỡng tôn
giáo về sức mạnh tự nhiên gắn liền với sản xuất của nông nghiệp
Những biến đổi của ý thức xã hội đều có nguyên nhân sâu xa từ sự biến đổi của tồn tại xã hội, đặc
biệt là sự biến đổi của phương thức sản xuất. Ý thức xã hội luôn luôn thay đổi vì chỉ là sự phản ánh đối
với tồn tại xã hội, khi tồn tại xã hội thay đổi sẽ dẫn đến ý thức xã hội thay đổi theo
VD : Thời nguyên thủy, tư liệu sản xuất là của chung, mọi người đều lao động bình đẳng, không áp bức,
bóc lột,...vì thế trong đời sống tinh thần con người chưa có ý thức về tư hữu, áp bức, bóc lột
Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội
Thứ nhất, YTXH thường lạc hậu hơn so với TTXH: : tồn tại xã hội thường biến đổi nhanh nên ý thức xã
hội phản ánh không kịp và trở nên lạc hậu ; do tính bảo thủ, lạc hậu của một số hình thái ý thức xã hội ; ý
thức xã hội mang tính giai cấp nên các thế lực phản tiến bộ lưu giữ và truyền bá nhằm chống lại lực
lượng tiến bộ
VD: Tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, đề cao vai trò người đàn ông trong xã hội phong kiến làm mất cân
bằng giới tính
Thứ hai, YTXH có thể vượt trước TTXH: Trong nhứng điều kiện nhất định, tư tưởng của con người đặc
biệt là tư tưởng khoa học tiến bộ có thể vượt trước sự phát triển của tồn tại xã hội, dự báo tương lai và
được ứng dụng và có tác dụng chỉ đạo tổ chức các hoạt động thực tiễn của con người. Tuy nhiên, suy đến
cùng khả năng vượt trước của ý thức xã hội cũng phụ thuộc vào tồn tại xã hội.( như các lý thuyết về khoa
học vượt trước công nghệ xã hội đương thời như thuyết tương đối cuả Anhxtanh…)
Thứ ba, YTXH có tính kế thừa trong sự phát triển của chúng: Những quan điểm lý luận của mỗi thời đại
không xuất hiện trên mảnh đất trống mà được tạo ra trên cơ sở kế thừa những tài liệu lý luận của thời đaị
trước
VD: Đảng ta chủ trương xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Thứ tư, sự tác động của các hình thái ý thức xã hội trong sự phát triển của chúng: Sự tác động của các
hình thái ý thức xã hội làm cho một số mặt thuộc tính trong chúng không thể giải thích trực tiếp từ tồn tai
xã hội.
VD : Trong thời Lý - Trần, mặc dù tồn tại nhiều học thuyết, quan điểm khác nhau, nhưng Phật giáo vẫn
chi phối đời sống tinh thần, xã hội...
Thứ năm, ý thức xã hội có khả năng tác động trở lại tồn tại xã hội: Chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định
tầm quan trong của ý thức xã hội trong tác động đến tồn tại xã hội,tạo điều kiện tồn tại và phát triển cho
tồn tại xã hội và ngược lại
VD: Thời đại ngày nay, nếu vẫn còn duy trì tư tưởng “trọng nam kinh nữ”, thì sẽ cản trở sự phát triển,
đóng góp của người phụ nữ trong phát triển kinh tế, chính trị, xã hội
Ý nghĩa phương pháp luận
Thứ nhất, tồn tại xã hội đóng vai trò quyết định ý thức xã hội, tức mặt đời sống tinh thần của xã hội. Vì
vậy, muốn xoá bỏ hình thái ý thức xã hội cũ lỗi thời, lạc hậu, bảo thủ, trì trệ thì trước hết phải cải tạo tồn
tại xã hội sinh ra nó.
Thứ hai, ý thức xã hội có sự tác động trở lại tồn tại xã hội. Vì vậy, cần đấu tranh chống lại các tư tưởng
bảo thủ, lạc hậu, phản tiến bộ, phản khoa học nhằm thúc đẩy xã hội phát triển.
Thứ ba, ý thức xã hội có tính kế thừa. Vì vậy, trong quá trình phát triển cần phải kế thừa những giá trị
truyền thống của dân tộc và không ngừng tiếp thu, ứng dụng những thành tựu văn hoá, khoa học kỹ thuật
và công nghệ của nhân .
Thứ tư, ý thức xã hội có tính vượt trước, dự báo xu hướng vận động và phát triển của xã hội tương lai.
Vì vậy, cần phải tích cực đẩy mạnh nghiên cứu khoa học nhằm phát hiện những quy luật vận động, phát
triển khách quan của tự nhiên, xã hội và con người.

Preview text:

Câu 1. Trình bày nội dung nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật. Ý nghĩa phương pháp luận. Trả lời
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là một trong hai nguyên lý quan trọng cảu chủ nghĩa duy vật biện
chứng. Nó thể hiện nội dung cơ bản: các sự vật, hiện tượng, quá trình trong tự nhiên, xã hội và tư duy
luôn có mối liên hệ với nhau, không tồn tại riêng lẻ như quan điểm của chủ nghĩa siêu hình.
Trong phép biện chứng, khái niệm mối liên hệ dùng để chỉ sự qui định, sự tác động và chuyển hóa lẫn
nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới;
còn khái niệm mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế
giới, trong đó, những mối liên hệ phổ biến nhất là những mối liên hệ tồn tại ở mọi sự vật, hiện tượng
của thế giới, nó thuộc đối tượng nghiên cứu của phép biện chứng, đó là các mối liên hệ giữa: các mặt
đối lập, lượng và chất, khẳng định và phủ định, cái chung và cái riêng…
Tính chất của các mối liên hệ: Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú là những
tính chất cơ bản của các mối liên hệ.
Tính khách quan của các mối liên hệ.
Các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới là có tính khách quan, sự qui định lẫn nhau,
tác động lẫn nhau và làm chuyển hóa lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng (hoặc trong chính bản thân
chúng) là cái vốn có của nó, tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý chí của con người. Ví dụ tùy vào loại
khí hậu con người sẽ có những tập quán sinh sống khác nhau để phù hợp với kiểu khí hậu đó. Con
người không thể quy định khí hậu mà dựa vào nó để dần dần hình thành nếp sống Tính phổ biến của các mối liên hệ .
Theo quan điểm biện chứng thì không có bất cứ sự vật, hiện tượng hay quá trình nào tồn tại tuyệt đối
biệt lập với các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác; đồng thời cũng không có bất cứ sụ vật, hiện
tượng nào không phải là một cấu trúc hệ thống, bao gồm những yếu tố cấu thành với những mối liên hệ
bên trong của nó. Việc một con người trở nên xuất chúng có thể có nhiều yếu tố như bẩm sinh, rèn
luyện, quá trình học tập không ngừng. Nó là mối quan hệ nhân quả có thể xuất hiện ở bất kì đâu.
Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ.
Tính đa dạng, phong phú của các mối liên hệ được thể hiện ở chỗ: các sự vật, hiện tượng hay quá trình
khác nhau đều có những mối liên hệ cụ thể khác nhau, giữ vai trò, vị trí khác nhau đối với sự tồn tại và
phát triển của nó; mặt khác, cùng một mối liên hệ nhất định của sự vật nhưng trong những điều kiện cụ
thể khác nhau, ở những giai đoạn khác nhau trong quá trình vận động, phát triển của sự vật thì cũng có
những tính chất và vai trò khác nhau. Quan điểm về tính phong phú đa dạng của các mối liên hệ còn
bao hàm quan niệm về sự thể hiện phong phú, đa dạng của các mối liên hệ phổ biến ở các mối liên hệ
đặc thù trong mỗi sự vật, mỗi hiện tượng, mỗi quá trình cụ thể, trong những điều kiện không gian và
thời gian cụ thể. Mỗi người khác nhau sẽ có mối liên hệ với cha mẹ, anh em, bạn bè khác nhau. Hay
cũng là mối liên hệ giữa cha mẹ với con cái nhưng trong mỗi giai đoạn khác nhau, có tính chất và biểu hiện khác nhau.
Ý nghĩa phương pháp luận:
- Trong nhận thức và thực tiễn phải có quan điểm toàn diện . Lênin cho rằng: “Muốn thực sự hiểu được
sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ “và quan hệ giao
tiếp” của sự vật đó” Quan điểm toàn diện yêu cầu khi nhận thức sự vật hiện tượng phải xem xét sự vật
trong mqh biện chững giữa các mặt các bộ phận cấu thành sự vật và giữa sự vật đó với sự vật khác.Song
toàn diện không có nghĩa là dàn đều giữa các mlh mà phải tập chung vào những mối liên hệ chủ yếu và
bản chất thì chúng ta mới nhận thức được đầy đủ sâu sắc các mối liên hệ ở các sự vật hiện tượng cần nghiên cứu.
- Trong nhận thức và thực tiễn cấn phải có những quan điểm lịch sự cụ thể, quan điểm lịch sử cụ thể
yêu cầu khi nhận thức sự vật hiện tượng phải gắn với điều kiện lịch sử ra đời tồn tại và phát triển của sự vật.
- Ví dụ: Trên một cánh đồng đang bị sâu bệnh, khi người nông dân tiến hành phun thuốc trừ sâu thấy
được hiệu quả tức thì là sâu chết mà vội vàng tiếp tục phun thuốc vô tội vạ sẽ xảy ra rất nhiều vấn đề
như: giết chết các vi sinh vật có lợi, làm mất chất dinh dưỡng của đất từ đó sẽ làm chết cây lúa. Vì thế
người nông dân cần phải biết điều chỉnh phun thuốc đúng liều lượng để vừa đạt được mục đích diệt sâu,
vừa bảo vệ được môi trường và cánh đồng.
- Từ đó ta rút ra cho mình bài học là bất kì sự vật hiện tượng nào cũng có liên hệ với nhau. Vì thế để có
thể phát triển bản thân cần tích cực học tập và vận dụng kiến thức, xem xét kĩ các vấn đề tránh phiến
diện, một chiều. Từ đó sẽ có cái nhìn đa chiều, phát triển bản thân theo hướng tích cực và nhận lại kết quả xứng đáng.
Câu 2. Trình bày nội dung nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vật. Từ đó rút ra
ý nghĩa phương pháp luận. Trả lời
Phép biện chứng duy vật trở thành một khoa học. Phép biện chứng duy vật được xây dựng trên cơ
sở một hệ thống những nguyên lý, những phạm trù cơ bản, những quy luật phổ biến phản ánh đúng đắn
hiện thực. Trong hệ thống đó, có hai nguyên lý cơ bản nhất, một trong số đó là nguyên lý về sự phát
triển. Nó khái quát một trong những thuộc tính phổ biến nhất của thế giới vật chất là vật chất luôn vận động, phát triển.
Phép biện chứng duy vật khái niệm: phát triển dùng để chỉ quá trình vận động của sự vật, hiện tượng
theo khuynh hướng đi lên; từ trình độ thấp đến trình độ cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Như
vậy khái niệm “phát triển” không đồng nhất khái niệm “vận động” (nói chung); đó không phải là sự
biến đổi tăng lên hay giảm đi đơn thuần về lượng hay sự biến đổi tuần hoàn lặp đi lặp lại ở chất cũ mà
là sự biến đổi về chất theo hướng ngày càng hoàn thiện của những sự vật ở những trình độ ngày càng cao hơn.
Phép biện chứng duy vật khái niệm: phát triển dùng để chỉ quá trình vận động của sự vật, hiện tượng
theo khuynh hướng đi lên; từ trình độ thấp đến trình độ cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Như
vậy khái niệm “phát triển” không đồng nhất khái niệm “vận động” (nói chung); đó không phải là sự
biến đổi tăng lên hay giảm đi đơn thuần về lượng hay sự biến đổi tuần hoàn lặp đi lặp lại ở chất cũ mà
là sự biến đổi về chất theo hướng ngày càng hoàn thiện của những sự vật ở những trình độ ngày càng cao hơn.
Các quá trình phát triển đều có tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú:
Tính khách quan của sự phát triển biểu hiện trong nguồn gốc của sự vận động và phát triển. Đó là quá
trình bắt nguồn từ bản thân sự vật, hiện tượng; là quá trình giải quyết mâu thuẫn trong sự vật, hiện
tượng đó. Vì vậy, phát triển là thuộc tính tất yếu, khách quan, không phụ thuộc vào ý thức con người.
Tính phổ biến của sự phát triển được thể hiện ở các quá trình phát triển diễn ra trong mọi lĩnh vực tự
nhiên, xã hội và tư duy; trong tất cả mọi sự vật, hiện tượng và mọi quá trình, mọi giai đoạn phát triển
của sự vật, hiện tượng đó. Trong mỗi quá trình biến đổi đã có thể bao hàm khả năng dẫn đến sự ra đời
của cái mới, phù hợp với quy luật khách quan. Đối với tự nhiên:
sự phát triển thể hiện ở khả năng thích nghi của cơ thể, khả năng tiến hóa của cơ thể,
khả năng hoàn thiện quá trình trao đổi VC giữa cơ thể và môi trường. Từ vô sinh đến hữu sinh. Người
miền Nam ra công tác ở Bắc thời gian đầu việc thích ứng với khí hậu làm họ khó chịu nhưng dần họ sẽ quen và thích nghi Đối với xã hội:
Sự phát triển thể hiện ở năng lực chinh phục tự nhiên, cải tạo xã hội, nâng cao đời sống
mọi mặt của con người giải phóng con người và tạo điều kiện thuận lợi cho con người phát triển toàn
diện, hoàn thiện nhân cách của bản thân. Mức sống của dân cư xã hội lúc nào cũng cao hơn so với xã hội trước. Đối với tư duy:
Sự phát triển thể hiện ở khả năng nhận thức ngày càng sâu sắc, đầy đủ, đúng đắn hơn
đối với hiện thực. Trình độ hiểu biết của con người ngày càng cao so với trước đây.
Tính đa dạng, phong phú của sự phát triển được thể hiện ở chỗ: phát triển là khuynh hướng chung của
mọi sự vật, hiện tượng, song mỗi sự vật, mỗi hiện tượng, mỗi lĩnh vực hiện thực lại có quá trình phát
triển không hoàn toàn giống nhau. Tồn tại ở những không gian và thời gian khác nhau sự vật, hiện
tượng sẽ phát triển khác nhau. Sự tác động của các yếu tố khác có thể làm thay đổi chiều hướng phát
triển của sự vật, hiện tượng, thậm chí có thể làm cho sự vật, hiện tượng thụt lùi tạm thời, có thể dẫn tới
sự phát triển về mặt này và thoái hóa ở mặt khác… Đó là những biểu hiện của tính phong phú, đa dạng
của các quá trình phát triểnu.Cùng học 1 thầy cô nhưng cách suy nghĩ, sự phát triển của mỗi học sinh là khác nhau.
Tính kế thừa: sự vật, hiện tượng mới ra đời không thể là sự phủ định tuyệt đối, phủ định sạch trơn,
đoạn tuyệt một cách siêu hình đối với sự vật, hiện tượng cũ mà thay vào đó là gạt bỏ những yếu tố tiêu
cực, lỗi thời của cái cũ, đồng thời giữ lại những yếu tố tích cực thích hợp để phát triển cái mới. Tính kế
thừa là tất yếu và khách quan, đảm bảo cho sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng là liên tục
không ngừng. Các giống loài phát triển theo quy luật di truyền. Thế hệ con cái kế thừa những yếu tố
tích cực của thế hệ bố mẹ, gạt bỏ những yếu tố không còn thích hợp với hoàn cảnh mới. Nội dung nguyên lý
Sự phát triển là hiện tượng diễn ra không ngừng trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Triết học Mác xít
khẳng định phát triển là khuynh hướng chung của sự vận động của mọi sự vật và hiện tượng.
Con đường của sự phát triển lại là một quá trình biện chứng, bao hàm tính thuận nghịch đầy mâu thuẫn,
tính quanh co, phức tạp của sự vật, hiện tượng trong quá trình phát triển của nó
Phát triển cũng là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn có của sự vật, hiện
tượng; là quá trình thống nhất giữa phủ định các nhân tố tiêu cực và kế thừa, nâng cao nhân tố tích cực
từ sự vật, hiện tượng cũ trong hình thái của sự vật, hiện tượng mới.
Ý nghĩa phương pháp luận
Nguyên lý về sự phát triển là cơ sở lý luận khoa học để định hướng việc nhận thức và cải tạo thế giới.
Theo nguyên lý này, trong mọi nhận thức và thực tiễn cần phải có quan điểm phát triển. Quan điểm
phát triển đòi hỏi phải khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến, đối lập với sự phát triển.
Mặt khác, con đường của sự phát triển lại là một quá trình biện chứng, bao hàm tính thuận nghịch đầy
mâu thuẫn, vì vậy đòi hỏi phải nhận thức được tính quanh co, phức tạp của sự vật, hiện tượng trong quá
trình phát triển của nó, tức là phải có quan điểm lịch s> - c@ thể trong nhận thức và giải quyết các vấn đề
Quá trình thay thế lẫn nhau của các hình thức tổ chức trong xã hội loài người: từ hình thức tổ
chức xã hội bộ tộc, bộ lạc còn sơ khai nguyên thủy lên các hình thức tổ chức xã hội cao hơn là hình
thức tổ chức bộ tộc, dân tộc,..
Từ đó chúng ta cần nhìn nhận khách quan đối với các sự vật hiện tượng, không được giao động
trước những quanh co, những phức tạp của sự phát triển. Cần tích cực chủ động tìm ra các phương thức
thúc đẩy sự phát triển của sự vật, hiện tượng. Luôn tìm tòi sáng tạo đẩy mạnh quá trình từ đó tìm ra
được các mâu thuẫn trong sự vật giúp xác định các giải pháp phù hợp để giải quyết mâu thuẫn và tiến
đến quá trình phát triển cao hơn.
Câu 3. Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức.
Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải
biến tự nhiên và xã hội.
Khác với các hoạt động khác, hoạt động thực tiễn là loại hoạt động mà con người sử dụng những công
cụ vật chất tác động vào những đối tượng vật chất nhất định làm biến đổi chúng theo mục đích của
mình. Đó là những hoạt động đặc trưng và bản chất của con người. Nó được thực hiện một cách tất yếu
khách quan và không ngừng phát triển bởi con người qua các thời kỳ lịch sử. Chính vì vậy, hoạt động
thực tiễn bao giờ cũng là hoạt động vật chất mang tính chất sáng tạo và có tính mục đích, tính lịch sử - xã hội.
Thực tiễn biểu hiện rất đa dạng với nhiều hình thức ngày càng phong phú. Trong có ba hình thức cơ bản là:
hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị - xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học.
Hoạt động sản xuất vật chất là hình thức hoạt động cơ bản, đầu tiên của thực tiễn. Đây là hoạt động mà
trong đó con người sử dụng những công cụ lao động tác động vào giới tự nhiên để tạo ra của cải vật
chất, các điều kiện cần thiết nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của mình. Hoạt động gặt lúa của nông
dân, lao động của các công nhân trong các nhà máy, xí nghiệp,..
Hoạt động chính trị - xã hội là hoạt động của các cộng đồng người, các tổ chức khác nhau trong xã hội
nhằm cải biến những quan hệ chính trị - xã hội để thúc đẩy xã hội phát triển. Hoạt động bầu cử đại biểu
Quốc hội, tiến hành Đại hội Đoàn Thanh niên trường học, Hội nghị công đoàn.
Thực nghiêm khoa học là một hình thức đặc biệt của hoạt động thực tiễn. Đây là hoạt động được tiến
hành trong những điều kiện do con người tạo ra, gần giống, giống hoặc lặp lại những trạng thái của tự
nhiên và xã hội nhằm xác đinh những quy luật biến đổi, phát triển của đối tượng nghiên cứu. Con người
nghiên cứu cơ chế hoạt động của virut corona để điều chế ra vaccine ngừa Covid -19 tiêm chủng cho con người.
Mỗi hình thức hoạt động cơ bản của thực tiễn có một chức năng quan trọng khác nhau, không thể thay
thế cho nhau, song chúng có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau. Trong mối quan hệ đó,
hoạt động sản xuất vật chất là loại hoạt động có vai trò quan trọng nhất, đóng vai trò quyết định đối với
các hoạt động thực tiễn khác.
Nhận thức và các trình độ nhận thức
Nhận thức là một quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc con
người trên cơ sở thực tiễn, nhằm sáng tạo ra những tri thức về thế giới khách quan. Đó là quan điểm
duy vật biện chứng về nhận thức. Quan điểm này xuất phát từ các nguyên tắc cơ bản sau đây:
Một là, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan độc lập với ý thức của con người.
Hai là, thừa nhận con người có khả năng nhận thức được thế giới khách quan; coi nhận thức là
sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óc của con người, là hoạt động tìm hiểu khách thể của chủ thể.
Ba là, khẳng định sự phản ánh đó là một quá trình biện chứng. tích cực, tự giác và sáng tạo. Quá
trình phản ánh đó diễn ra theo trình tự từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến nhiều, từ chưa sâu sắc, chưa
toàn diện sâu sắc, toàn diện hơn,..
Bốn là, coi thực tiễn là cơ sỡ chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức; là động lực, mục đích của
nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý. Phân loại nhận thức
Nhận thức kinh nghiệm là trình độ nhận thức hình thành từ sự quan sát trực tiếp các sự vật, hiện tượng
trong giới tự nhiên, xã hội hoặc qua các thí nghiệm khoa học Tri thức này có hai loại là tri thức kinh
nghiệm thông thường và những tri thức kinh nghiệm khoa học. K hi
muối ăn tác động vào các cơ quan
cảm giác, mắt (thị giác) sẽ cho ta biết muối có màu trắng, dạng tinh thể; mũi (khướu giác) cho ta biết
muối không có mùi; lưỡi (vị giác) cho ta biết muối có vị mặn. Nhận thức lý luận
là trình độ nhận thức gián tiếp, trìu tượng, có tính hệ thống trong việc khái quát bản
chất, quy luật của các sự vật, hiện tượng. Nhờ đi
sâu phân tích, người ta tìm ra cấu trúc tinh thể và công
thức hóa học của muối, điều chế được muối…
Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận là hai giai đoạn nhận thức khác nhau nhưng có mối
quan hệ biện chứng lẫn nhau. Trong mối quan hệ đó, nhận thức kinh nghiệm là cơ sở của nhận thức lý
luận; nó cung cấp cho nhận thức lý luận những tư liệu phong phú, cụ thể; nó trực tiếp gắn chặt với hoạt
động thực tiễn, tạo thành cơ sở hiện thực đề kiểm tra, sửa chữa, bổ sung cho lý luận đã có và tổng kết,
khái quát thành lý luận mới. “Tuy nhiên, nhận thức kinh nghiệm còn hạn chế ở chỗ chỉ dừng lại ở sự mô
tả, phân loại các sự kiện, các dữ kiện thu được từ sự quan sát và thí nghiệm trực tiếp. Do đó, nó chỉ
dem lại những hiểu biết về các mặt riêng rẽ, bề ngoài, rời rạc, chưa phản ánh được cái bản chất, những
mối liên hệ mang tính quy luật của các sự vật, hiện tượng. Vì vậy, nhận thức kinh nghiệm tự nó không
bao giờ có thế chứng minh được đầy đủ tính tất yếu. Ngược lại, mặc dù được hình thành từ sự tổng kết
những kinh nghiệm, nhưng nhận thức lý luận không hình thành một cách tự phát, trực tiếp từ kinh nghiệm.”
Do tính độc lập tương đối của nó, lý luận có thể đi trước những dữ kiện kinh nghiệm, hướng dẫn sự
hình thành những tri thức kinh nghiệm có giá trị, lựa chọn những kinh nghiệm hợp lý để phục vụ cho hoạt động thực tiễn.
Nhận thức thông thường là loại nhận thức được hình thành một cách tự phát, trực tiếp từ trong hoạt
động hàng ngày của con người. Vì vậy, nhận thức thông thường mang tính phong phú, nhiều vẻ và gắn
liền với những quan niệm sống thực tế hàng ngày.
Nhận thức khoa học là loại nhận thức được hình thành một cách từ giác và gián tiếp từ sự phản ánh đặc
điểm, bản chất, những quan hệ tất yếu của đối tượng nghiên cứu. Nhận thức khoa học vừa có tính khách
quan, trừu tượng, khái quát, lạ vừa có tính hệ thống, có căn cứ và có tính chân thực. Vì thế, nhận thức
khoa học có vai trò ngày càng to lớn trong hoạt động thực tiễn, đặc biệt trong thời đại khoa học và công nghệ hiện đại.
Giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong mối quan hệ đó, nhận thức thông thường có
trước nhận thức khoa học và là nguồn chất liệu để xây dựng nội dung của các khoa học. Ngược lại, khi
đạt tới trình độ nhận thức khoa học, nó lại có tác động trở lại nhận thức thông thường, xâm nhập vào
nhận thức thông thường, làm cho nhận thức thông thường phát triển, tăng cường nội dung khoa học cho
quá trình con người nhận thức thế giới.
Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
Thực tiễn đóng vai trò là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn của chân lý, kiểm
tra tính chân lý của quá trình nhận thức.
Sở dĩ như vậy vì thực tiễn là điểm xuất phát trực tiếp của nhận thức; nó đề ra nhu cầu, nhiệm vụ, cách
thức, khuynh hướng vận động và phát triển của nhận thức. Chính con người có nhu cầu tất yếu khách
quan là phải giải thích thế giới và cải tạo thế giới nên con người tất yếu phải tác động vào các sự vật, hiện
tuợng bằng hoạt động thực tiễn của mình. Sự tác động đó làm cho các sự vật, hiện tuợng bộc lộ những
thuộc tính, những mối liên hệ và quan hệ khác nhau giữa chúng, đem lại những tài liệu cho nhận thức, giúp cho
nhận thức nắm bắt được bản chất, các quy luật vận động và phát triển của thế giới. Sự xuất hiện học
thuyết Macxit vào những năm 40 của thế kỷ XIX cũng BẮT NGUỒN từ hoạt động thực tiễn của các pho
ng trào đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại giai cấp tư sả n lúc bấy giờ
Thực tiễn là cơ sở, động lực và mục đích của nhận thức còn là vì nhờ có hoạt động thực tiễn mà các
giác quan của con nguời ngày càng được hoàn thiện; năng lực tư duy lôgích không ngừng được củng cố
và phát triển; các phương tiện nhận thức ngày càng hiện đại, có tác dụng "nối dài" các giác quan của
con người trong việc nhận thức thế giới. Chẳng hạn, xuất phát từ NHU CẦU thực tiễn con người CẦN
phải “đo đạc diện tích và đo lường sức chứa của những cái bình, từ sự tính toán thời gian và sự chế tạo
cơ khí” MÀ toán học đã ra đời và phát triển.
Thực tiễn chẳng những là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức mà còn đóng vai trò là tiêu chuẩn
của chân lý, kiểm tra tính chân lý của quá trình nhận thức. Điều này có nghĩa thực tiễn là thước đo giá
trị của những tri thức đã đạt được trong nhận thức. Đồng thời, thực tiễn không ngừng bổ sung, điều chỉnh,
sữa chữa, phát triển và hoàn thiện nhận thức. Trên ti vi hiện nay nhiều công ty quảng cáo cho
rằng mặt hàng của mình là tốt nhất. Nhưng mặt hàng nào tốt nhất phải lấy thực tiễn để kiểm nghiệm
Tóm lại thực tiễn chẳng những là điểm xuất phát của nhận thức, là yếu tố đóng vai trò quyết định
đối với sự hình thành và phát triển của nhận thức mà còn là nơi nhận thức phải luôn luôn hướng
tới để thể nghiệm tính đúng đắn của mình.
Ý nghĩa phương pháp luận
Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức đòi hỏi chúng ta phải luôn luôn quán triệt quan điểm thực tiễn.
Quan điểm này yêu cầu việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu vào
thực tiễn, phải coi trọng công tác tổng kểt thực tiễn. Việc nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn,
học đi đôi với hành. Nếu xa rời thực tiễn sẽ dẫn đến sai lầm của bệnh chủ quan, duy ý chí, giáo điều, máy móc, quan liêu.
Từ đó chúng ta cần phải có bài học cho riêng mình. Thứ nhất, phải có phong cách làm việc nhiệt tình
nhung phải khách quan khoa học.
Bản thân xây dựng thói quen tôn trọng thực tế khách quan, kiên quyết
không bóp méo sự thật để chạy theo thành tích. Tôn trọng và làm việc theo chức trách, chế độ công tác,
chương trình, kế hoạch đã đề ra, tránh lối làm việc ngẫu hứng, tùy tiện. Thứ hai là, xây dựng phong
cách làm việc dân chủ, tập thể, nhưng quyết đoán, dám chịu trách nhiệm cá nhân. Bản thân luôn tự căn
dặn mình cần phải nắm vững và thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác, xây
dựng thói quen lắng nghe ý kiến của tập thể, nhất là tập nghe cho được những ý kiến khác, trái với
mình. Rèn luyện đức tính khiêm tốn, cầu thị, trung thực, thẳng thắn, có quyết tâm cao, dám chịu trách
nhiệm về những quyết định của mình. Thứ ba là,
rèn luyện được phong cách làm việc thiết thực, nói đi đôi với làm.
Câu 4. Trình bày mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
Phương thức sản xuất là cách thức con người tiến hành quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn lịch
sử nhất định của xã hội loài người. Phương thức sản xuất là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất với
một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng.
Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất, tạo ra sức sản xuất và
năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của giới tự nhiên theo nhu cầu nhất định của con người và xã hội.
Người lao động là con người có tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng lao động và năng lực sáng tạo nhất
định trong quá trình sản xuất của xã hội. Người lao động là chủ thể sáng tạo, đồng thời là chủ thể tiêu
dùng mọi của cải vật chất xã hội. Đây là nguồn lực cơ bản, vô tận và đặc biệt của sản xuất.
Tư liệu sản xuất là điều kiện vật chất cần thiết để tổ chức sản xuất, bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động.
Đối tượng lao động là những yếu tố vật chất của sản xuất mà con người dùng tư liệu lao động tác
động lên, nhằm biến đổi chúng cho phù hợp với mục đích sử dụng của con người.
Tư liệu lao động là những yếu tố vật chất của sản xuất mà con người dựa vào đó để tác
động lên đối tượng lao động nhằm biến đổi đối tượng lao động thành sản phẩm đáp ứng
yêu cầu sản xuất của con người. Tư liệu lao động gồm công cụ lao động và phương tiện lao động.
Phương tiện lao động là những yếu tố vật chất của sản xuất, cùng với công cụ lao
động mà con người sử dụng để tác động lên đối tượng lao động trong quá trình sản xuất vật chất.
Công cụ lao động là những phương tiện vật chất mà con người trực tiếp sử dụng để
tác động vào đối tượng lao động nhằm biến đổi chúng, tạo ra của cải vật chất phục vụ nhu
cầu của con người và xã hội. Công cụ lao động giữ vai trò quyết định đến năng suất lao động.
Đặc trưng chủ yếu của lực lượng sản xuất là mối quan hệ giữa người lao động và
công cụ lao động. Trong lực lượng sản xuất, người lao động là nhân tố hàng đầu giữ vai
trò quyết định, bởi vì người lao động là chủ thể sáng tạo và sử dụng công cụ lao động.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất là phát triển ở cả tính chất và trình độ. Tính chất
của lực lượng sản xuất nói lên tính chất cá nhân hoặc tính chất xã hội hóa trong việc sử
dụng tư liệu sản xuất. Trình độ của lực lượng sản xuất là sự phát triển của người lao động
và công cụ lao động. Trình độ của lực lượng sản xuất được thể hiện ở trình độ của công
cụ lao động; trình độ tổ chức lao động xã hội; trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất;
trình độ, kinh nghiệm, kỹ năng của người lao động và đặc biệt là trình độ phân công lao
động xã hội. Trong thực tế, tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất không tách rời nhau.
Quan hệ sản xuất là tổng hợp các quan hệ kinh tế - vật chất giữa người với người
trong quá trình sản xuất vật chất. Đây chính là một quan hệ vật chất quan trọng nhất -
quan hệ kinh tế, trong các mối quan hệ vật chất giữa người với người. Quá trình sản xuất
vật chất chính là tổng thể các yếu tố trong một quá trình thống nhất, gồm sản xuất, phân
phối, trao đổi và tiêu dùng của cải vật chất.
Quan hệ sản xuất bao gồm các quan hệ sau:
Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc
chiếm hữu, sử dụng các tư liệu sản xuất xã hội. Đây là quan hệ quy định địa vị kinh tế -
xã hội của các tập đoàn người trong sản xuất, từ đó quy định quan hệ quản lý và phân
phối. Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ xuất phát, cơ bản, trung tâm của quan
hệ sản xuất, luôn có vai trò quyết định các quan hệ khác bởi vì, lực lượng xã hội nào nắm
phương tiện vật chất chủ yếu của quá trình sản xuất thì sẽ quyết định việc quản lý quá
trình sản xuất và phân phối sản phẩm.
Quan hệ về tổ chức và quản lý sản xuất là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc
tổ chức sản xuất và phân công lao động. Quan hệ này có vai trò quyết định trực tiếp đến
quy mô, tốc độ, hiệu quả của nền sản xuất; có khả năng đẩy nhanh hoặc kìm hãm sự phát
triển của nền sản xuất xã hội.
Quan hệ về phân phối sản phẩm lao động là quan hệ giữa các tập đoàn người trong
việc phân phối sản phẩm lao động xã hội, nói lên cách thức và quy mô của cải vật chất mà
các tập đoàn người được hưởng. Quan hệ này có vai trò đặc biệt quan trọng, kích thích
trực tiếp lợi ích con người; là “chất xúc tác” kinh tế thúc đẩy tốc độ, nhịp điệu sản xuất,
làm năng động hóa toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội. Hoặc ngược lại, có thể làm trì trệ,
kìm hãm quá trình sản xuất.
Các mặt trong quan hệ sản xuất có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại, chi phối,
ảnh hưởng lẫn nhau; trong đó quan hệ về sở hữu tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định
bản chất và tính chất của quan hệ sản xuất. Quan hệ sản xuất hình thành một cách khách
quan, là quan hệ đầu tiên, cơ bản chủ yếu, quyết định mọi quan hệ xã hội.Đặc trưng chủ
yếu của lực lượng sản xuất là mối quan hệ giữa người lao động và công cụ lao động.
Trong lực lượng sản xuất, người lao động là nhân tố hàng đầu giữ vai trò quyết định, bởi
vì người lao động là chủ thể sáng tạo và sử dụng công cụ lao động.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất là phát triển ở cả tính chất và trình độ. Tính chất
của lực lượng sản xuất nói lên tính chất cá nhân hoặc tính chất xã hội hóa trong việc sử
dụng tư liệu sản xuất. Trình độ của lực lượng sản xuất là sự phát triển của người lao động
và công cụ lao động. Trình độ của lực lượng sản xuất được thể hiện ở trình độ của công
cụ lao động; trình độ tổ chức lao động xã hội; trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất;
trình độ, kinh nghiệm, kỹ năng của người lao động và đặc biệt là trình độ phân công lao
động xã hội. Trong thực tế, tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất không tách rời nhau.
Quan hệ sản xuất là tổng hợp các quan hệ kinh tế - vật chất giữa người với người
trong quá trình sản xuất vật chất. Đây chính là một quan hệ vật chất quan trọng nhất -
quan hệ kinh tế, trong các mối quan hệ vật chất giữa người với người. Quá trình sản xuất
vật chất chính là tổng thể các yếu tố trong một quá trình thống nhất, gồm sản xuất, phân
phối, trao đổi và tiêu dùng của cải vật chất.
Quan hệ sản xuất bao gồm các quan hệ sau:
Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc
chiếm hữu, sử dụng các tư liệu sản xuất xã hội. Đây là quan hệ quy định địa vị kinh tế -
xã hội của các tập đoàn người trong sản xuất, từ đó quy định quan hệ quản lý và phân
phối. Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ xuất phát, cơ bản, trung tâm của quan
hệ sản xuất, luôn có vai trò quyết định các quan hệ khác bởi vì, lực lượng xã hội nào nắm
phương tiện vật chất chủ yếu của quá trình sản xuất thì sẽ quyết định việc quản lý quá
trình sản xuất và phân phối sản phẩm.
Quan hệ về tổ chức và quản lý sản xuất là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc
tổ chức sản xuất và phân công lao động. Quan hệ này có vai trò quyết định trực tiếp đến
quy mô, tốc độ, hiệu quả của nền sản xuất; có khả năng đẩy nhanh hoặc kìm hãm sự phát
triển của nền sản xuất xã hội.
Quan hệ về phân phối sản phẩm lao động là quan hệ giữa các tập đoàn người trong
việc phân phối sản phẩm lao động xã hội, nói lên cách thức và quy mô của cải vật chất mà
các tập đoàn người được hưởng. Quan hệ này có vai trò đặc biệt quan trọng, kích thích
trực tiếp lợi ích con người; là “chất xúc tác” kinh tế thúc đẩy tốc độ, nhịp điệu sản xuất,
làm năng động hóa toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội. Hoặc ngược lại, có thể làm trì trệ,
kìm hãm quá trình sản xuất.
Các mặt trong quan hệ sản xuất có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại, chi phối,
ảnh hưởng lẫn nhau; trong đó quan hệ về sở hữu tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định
bản chất và tính chất của quan hệ sản xuất. Quan hệ sản xuất hình thành một cách khách
quan, là quan hệ đầu tiên, cơ bản chủ yếu, quyết định mọi quan hệ xã hội.
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của một phương thức sản xuất có
tác động biện chứng, trong đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, còn quan
hệ sản xuất tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất.
* Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất
Sự vận động và phát triển của phương thức sản xuất bắt đầu từ sự biến đổi của lực
lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất là nội dung của quá trình sản xuất có tính năng động,
cách mạng, thường xuyên vận động và phát triển; quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của
quá trình sản xuất, có tính ổn định tương đối. Trong sự vận động của mâu thuẫn biện
chứng đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất.
Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là đòi
hỏi khách quan của nền sản xuất. Lực lượng sản xuất vận động, phát triển không ngừng sẽ
mâu thuẫn với tính “đứng im” tương đối của quan hệ sản xuất. Quan hệ sản xuất từ chỗ là
“hình thức phù hợp”, “tạo địa bàn” phát triển của lực lượng sản xuất trở thành “xiềng
xích” kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Đòi hỏi tất yếu của nền sản xuất xã
hội là phải xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất đã phát triển.
VD : Nền kinh tế phong kiến sản xuất nhỏ, sử dụng súc vật để kéo, cơ giới hóa đơn
giản dẫn đến hình thành sở hữu tư nhân về ruộng đất, thiếu thị trường phân phối, tiêu thụ sản phẩm
Lực lượng sản xuất quyết định sự ra đời của một kiểu quan hệ sản xuất mới trong lịch
sử, quyết định nội dung và tính chất của quan hệ sản xuất. Bằng năng lực nhận thức và
thực tiễn, con người phát hiện và giải quyết mâu thuẫn, thiết lập sự phù hợp mới làm cho
quá trình sản xuất phát triển đạt tới một nấc thang cao hơn.
VD : “Cái cối xay bằng tay đưa lại xã hội có lãnh chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước
đã đưa lại xã hội có nhà tư bản công nghiệp”
* Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất
Do quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của quá trình sản xuất có tính độc lập tương
đối nên tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lượng sản xuất. Vai trò của quan hệ sản xuất
đối với lực lượng sản xuất được thực hiện thông qua sự phù hợp biện chứng giữa quan hệ
sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất bao gồm sự kết hợp đúng
đắn giữa các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất; giữa các yếu tố cấu thành quan hệ sản
xuất; giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất.
Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất quy định mục đích, xu
hướng phát triển của nền sản xuất xã hội; hình thành hệ thống động lực thúc đẩy sản xuất
phát triển; đem lại năng suất, chất lượng, hiệu quả của nền sản xuất.
Sự tác động của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất diễn ra theo hai chiều
hướng, đó là thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Sự tác động biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất làm cho lịch sử
xã hội loài người là lịch sử kế tiếp nhau của các phương thức sản xuất.
VD : Nền sản xuất nhỏ, tự cung tự cấp sẽ kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế, dẫn
đến trình độ sản xuất nhỏ, manh mún, cơ giới hóa nông nghiệp khó thực hiện
* Ý nghĩa trong đời sống xã hội
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất có ý
nghĩa phương pháp luận rất quan trọng. Trong thực tiễn, muốn phát triển kinh tế phải bắt
đầu từ phát triển lực lượng sản xuất, trước hết là phát triển lực lượng lao động và công cụ
lao động. Muốn xóa bỏ một quan hệ sản xuất cũ, thiết lập một quan hệ sản xuất mới phải
căn cứ từ trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Nhận thức đúng đắn quy luật này có ý nghĩa rất quan trọng trong quán triệt, vận dụng
quan điểm, đường lối, chính sách, là cơ sở khoa học để nhận thức sâu sắc sự đổi mới tư
duy kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ở Việt Nam, để xây dựng phương thưc sản xuất xã hội chủ nghĩa, chúng ta chủ trương phát triển nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần với cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa. Như vậy việc bo qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa về thực chất là bo qua chế
độ chính trị tư bản, chúng ta lại kế thừa những giá trị của chủ nghĩa tư bản với tư cách là lực lượng sản
xuất, để hướng nền sản xuất đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.
Câu 5. Trình bày mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội.
Cơ sở hạ tầng là tổng hợp những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một hình thái kinh tế- xã hội nhất định.
Cơ sở hạ tầng của một xã hội cụ thể thường bao gồm: quan hệ sản xuất thống trị trong nền kinh tế, quan
hệ sản xuất tàn dư và quan hệ sản xuất mới tồ tại dưới dạng mầm mống, tiền đề. Cơ sở hạ tầng ở đây
được hiểu là cơ cấu các thành phần kinh tế chư không phải là cơ sở vật chất kỹ thuật.
VD: Cơ sở hạ tầng ở nước ta hiện nay là nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần, gồm kinh tế nhà
nước, tập thể, tư nhân, tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo.
Đặc trưng cho tính chất của một cơ sở hạ tầng là do quan hệ sản xuất thống trị quy định. Quan hệ sản
xuất thống trị qui định và tác động trực tiếp đến xu hướng chung của toàn bộ đời sồng kinh tế - xã hội.
Qui định tính chất cơ bản của toàn bộ cơ sở hạ tầng xã hội đương thời.
Kiến trúc thượng tầng dùng để chỉ toàn bộ hệ thống kết cấu các hình thái ý thức xã hội cùng với các
thiết chế chính trị xã hội tương ứng được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định.
Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những hình thái ý thức xã hội: chính trị, pháp quyền, đạo đức, triết
học, tôn giáo, nghệ thuật... với những thể chế tương ứng: nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể...
Kiến trúc thượng tầng của xã hội có đối kháng giai cấp mang tính giai cấp sâu sắc. Tính giai cấp của
kiến trúc thượng tầng biểu hiện ở sự đối địch về quan điểm, tư tưởng và các cuộc đấu tranh về tư tưởng
của các giai cấp đối kháng.
Bộ phận có quyền lực mạnh nhất của kiến trúc thượng tầng của xã hội có tính chất đối kháng giai cấp là
nhà nước. Đây là công cụ của giai cấp thống trị tiêu biểu cho xã hội về mặt pháp lý- chính trị.
MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG XÃ HỘI.
Chủ nghĩa Mác- Lê nin, đã khẳng định: Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng có quan hệ biện chứng
không tách rời nhau, trong đó có cơ sở hạ tầng giữ vai trò quyết định kiến trúc thượng tầng. Còn kiến
trúc thượng tầng là phản ánh cơ sở hạ tầng, nhưng nó có vai trò tác động trở lại to lớn đối với cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó.
Trong sự thống nhất biện chứng này, sự phát triển của cơ sở hạ tầng đóng vai trò với kiến trúc thượng
tầng. Kiến trúc thượng tầng phải phù hợp với tính chất trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng hay cơ sở hạ
tầng nào thì kiến trúc thượng tầng ấy.
Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng xã hội:
Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng thể hiện trước hết là ở chỗ: Cơ sở hạ tầng là những quan hệ vật
chất khách quan quy định mọi quan hệ khác: Về chính trị, tinh thần, tư tưởng của xã hội. Cơ sở hạ tầng
nào sinh ra kiến trúc thượng tầng ấy, nói cách khác cơ sở hạ tầng đã sinh ra kiến trúc thượng tầng, và
kiến trúc thượng tầng bao giờ cũng phản ánh một cơ sở hạ tầng nhất định, và bảo vệ cho cơ sở hạ tầng
đó nên không có kiến trúc thượng tầng chung cho mọi xã hội. Một đất nước có các nhà máy, tập đoàn
tư nhân 80-90% thì thể chế nhà nước là tư bản chủ nghĩa.
Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng về tính chất, nội dung và kết cấu: Tính chất của kiến
trúc thượng tầng đối kháng hay không đối kháng, nội dung của kiến trúc thượng tầng nghèo nàn hay đa
dạng, phong phú và hình thức của kiến trúc thượng tầng gọn nhẹ hay phức tạp do cơ sở hạ tầng quyết
định. Tính chất mâu thuẫn trong cơ sở hạ tầng được thể hiện trong kiến trúc thượng tầng.
Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng còn thể hiện ở chỗ những biến đổi
căn bản trong cơ sở hạ tầng dẫn đến sự biến đổi căn bản trong kiến trúc thượng tầng. Mác viết: ”Cơ sở
kinh tế thay đổi thì tất cả tất cả các kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị thay đổi ít nhiều nhanh chóng”.
Khi cơ sở hạ tầng mất đi thì kiến trúc thượng tầng của nó cũng mất đi.
Tuy vậy, những quan hệ tinh thần, tư tưởng của xã hội đó là kiến trúc thượng tầng, cũng không hoàn
toàn thụ động, nó có vai trò tác động trở lại to lớn đối với cơ sở hạ tầng sinh ra nó.
Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng .
Sự tác động tích cực của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng được thể hiện ở chức năng xã hội
của kiến trúc thượng tầng là luôn luôn bảo vệ duy trì, củng cố và hoàn thiện cơ sở hạ tầng sinh ra nó,
đấu tranh xoá bỏ cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng đã lỗi thời lạc hậu.
Thực chất trong xã hội có giai cấp đối kháng, kiến trúc thượng tầng bảo đảm sự thống trị chính trị và tư
tưởng của giai cấp giữ địa vị thống trị trong kinh tế. Vì vậy, kiến trúc thượng tầng thực sự trở thành
công cụ, phương tiện để duy trì, bảo vệ địa vị thống trị về kinh tế của giai cấp thống trị của xã hội.
Trong các yếu tố cấu thành nên kiến trúc thượng tầng, nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng và có
tác dụng to lớn đối với cơ sở hạ tầng vì, nó là một lượng vật chất tập trung sức mạnh kinh tế và chính trị
của giai cấp thống trị . “ Nhà nước không chỉ dựa trên hệ tưởng, mà còn dựa trên những hình thức nhất
định của việc kiểm soát xã hội, sử dụng bạo lực, bao gồm các yếu tố vật chất: quân đội, cảnh sát, toà án,
nhà tù... để tăng cường sức mạnh kinh tế của giai cấp thống trị, củng cố địa vị của quan hệ sản xuất thống trị.”
Cùng với nhà nước, các yếu tố khác của kiến trúc thượng tầng cũng đã tác động đến cơ sở hạ tầng bằng
nhiều hình thức khác nhau. Song thường thường những sự tác động đó phải thông qua nhà nước, pháp
luật và thể chế tương ứng, chỉ qua đó chúng mới phát huy được hết hiệu lực đối với cơ sở hạ tầng, và đối với toàn xã hội.
Quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là cơ sở khoa học cho
việc nhận thức một cách đúng đắn mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị. Kinh tế và chính trị tác động
biện chứng, trong đó kinh tế quyết định chính trị, chính trị tác động trở lại to lớn, mạnh mẽ đối với kinh
tế. Thực chất của vai trò kiến trúc thượng tầng là vai trò hoạt động tự giác, tích cực của các giai cấp,
đảng phái vì lợi ích kinh tế sống còn của mình. Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ
tầng trước hết và chủ yếu thông qua đường lối, chính sách của đảng, nhà nước.
Trong nhận thức và thực tiễn, nếu tách rời hoặc tuyệt đối hóa một yếu tố nào giữa kinh tế và chính
trị đều là sai lầm. Tuyệt đối hóa kinh tế, hạ thấp hoặc phủ nhận yếu tố chính trị là rơi vào quan điểm
duy vật tầm thường, duy vật kinh tế sẽ dẫn đến vô chính phủ, bất chấp kỷ cương, pháp luật và không
tránh khỏi thất bại, đổ vỡ. Nếu tuyệt đối hóa về chính trị, hạ thấp hoặc phủ định vai trò của kinh tế sẽ
dẫn đến duy tâm, duy ý chí, nôn nóng, chủ quan, đốt cháy giai đoạn và cũng không tránh khỏi thất bại.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã rất quan tâm đến nhận thức và
vận dụng quy luật này. Trong thời kỳ đổi mới đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương đổi mới
toàn diện cả kinh tế và chính trị, trong đó đổi mới kinh tế là trung tâm, đồng thời đổi mới chính trị từng
bước thận trọng vững chắc bằng những hình thức, bước đi thích hợp; giải quyết tốt mối quan hệ giữa
đổi mới - ổn định - phát triển, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ý nghĩa Phương pháp luận:
Sự phát triển của lực lượng sản xuất thay đổi quan hệ sản xuất, thay đổi kiến trúc thượng tầng, cần
ưu tiên phát triển nguồn nhân lực trình độ cao, thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa
VD : Ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ trong sản xuất, đổi mới đồng bộ và toàn diện nền giáo dục nước nhà.
Nhận thức đúng mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị, không tuyệt đối hóa vai trò của kinh tế hay chính trị
VD : Đổi mới phải có lộ trình, kết hợp cả kinh tế và chính trị, trong đó đổi mới kinh tế làm trung tâm
Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng : cần có đường lối chính sáchphù hợp thúc đẩy phát
triển phù hợp quy luật khách quan
VD : Nhà nước ban hành các đạo luật mới về kinh tế, thương mại, đất đai,...
Quan hệ sản xuất : sở hữu công về tư liệu sản xuất, doanh nghiệp nhà nước làm chủ đạo, đồng thời
đảm bảo lợi ích các thành phần khác
Nhà nước tác động trực tiếp nhất và mạnh mẽ nhất : xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa (hệ thống pháp luật đảm bảo lợi ích các thành phần kinh tế)
Câu 6. Trình bày mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
Khái niệm tồn tại xã hội, ý thức xã hội
Khái niệm tồn tại xã hội dùng để chỉ phương diện sinh hoạt vật chất và các điều kiện sinh hoạt vật
chất của xã hội. Các yếu tố cơ bản tạo thành tồn tại xã hội bao gồm phương thức sản xuất vật chất,
các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên - hoàn cảnh địa lý và dân cư. Các yếu tố do tồn tại trong mối
quan hệ thống nhất biện chứng, tác động lẫn nhau tạo thành điều kiện sinh tồn và phát triển của xã
hội. Trong đó phương thức sản xuất vật chất là yếu tố cơ bản nhất.
Khái niệm ý thức xã hội dùng để chỉ phương diện sinh hoạt tinh thần của xã hội, nảy sinh từ tồn tại xã
hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định.
Giữa ý thức xã hội và ý thức cá nhân có sự thống nhât biện chứng nhưng không đồng nhất. Mối quan
hệ giữa ý thức xã hội và ý thức cá nhân thuộc mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng.
Theo nội dung và lĩnh vực phản ánh đời sống xã hội, ý thức xã hội bao gồm các hình thái khác nhau: ý
thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức tôn giáo, ý thức thẩm mỹ, ý thức khoa học…
Theo trình độ phản ánh của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội có thể phân biệt ý thức xã hội thông
thường và ý thức lý luận.
Vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội
Tồn tại xã hội như thế nào thì ý thức xã hội như thế đó (tồn tại xã hội sản sinh ravà quyết định ý thức
xã hội), tức là mọi hiện tượng trong đời sống tinh thần của các cộng đồng người đều phát sinh từ điều
kiện sinh tồn, hoàn cảnh sống khách quan
VD : Sự ra đời của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong lịch sử trên hai nghìn nămcũng có nguồn gốc sâu
xa từ nhu cầu cải tạo tự nhiên và chống giặc ngoại xâm
Nội dung của ý thức xã hội là “những hình ảnh chủ quan” mang tính cải biến sáng tạo trong đời sống
tinh thần của xã hội, là sự tái tạo các hình ảnh trong hiện thựckhách quan
VD : Biểu tượng “Rồng” ở Đông Nam Á là hình ảnh mang tính sáng tạo nghệ thuật và tín ngưỡng tôn
giáo về sức mạnh tự nhiên gắn liền với sản xuất của nông nghiệp
Những biến đổi của ý thức xã hội đều có nguyên nhân sâu xa từ sự biến đổi của
tồn tại xã hội, đặc
biệt là sự biến đổi của phương thức sản xuất. Ý thức xã hội luôn luôn thay đổi vì chỉ là sự phản ánh đối
với tồn tại xã hội, khi tồn tại xã hội thay đổi sẽ dẫn đến ý thức xã hội thay đổi theo
VD : Thời nguyên thủy, tư liệu sản xuất là của chung, mọi người đều lao động bình đẳng, không áp bức,
bóc lột,...vì thế trong đời sống tinh thần con người chưa có ý thức về tư hữu, áp bức, bóc lột
Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội
Thứ nhất, YTXH thường lạc hậu hơn so với TTXH: : tồn tại xã hội thường biến đổi nhanh nên ý thức xã
hội phản ánh không kịp và trở nên lạc hậu ; do tính bảo thủ, lạc hậu của một số hình thái ý thức xã hội ; ý
thức xã hội mang tính giai cấp nên các thế lực phản tiến bộ lưu giữ và truyền bá nhằm chống lại lực lượng tiến bộ
VD: Tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, đề cao vai trò người đàn ông trong xã hội phong kiến làm mất cân bằng giới tính
Thứ hai, YTXH có thể vượt trước TTXH: Trong nhứng điều kiện nhất định, tư tưởng của con người đặc
biệt là tư tưởng khoa học tiến bộ có thể vượt trước sự phát triển của tồn tại xã hội, dự báo tương lai và
được ứng dụng và có tác dụng chỉ đạo tổ chức các hoạt động thực tiễn của con người. Tuy nhiên, suy đến
cùng khả năng vượt trước của ý thức xã hội cũng phụ thuộc vào tồn tại xã hội.( như các lý thuyết về khoa
học vượt trước công nghệ xã hội đương thời như thuyết tương đối cuả Anhxtanh…)
Thứ ba, YTXH có tính kế thừa trong sự phát triển của chúng: Những quan điểm lý luận của mỗi thời đại
không xuất hiện trên mảnh đất trống mà được tạo ra trên cơ sở kế thừa những tài liệu lý luận của thời đaị trước
VD: Đảng ta chủ trương xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Thứ tư, sự tác động của các hình thái ý thức xã hội trong sự phát triển của chúng: Sự tác động của các
hình thái ý thức xã hội làm cho một số mặt thuộc tính trong chúng không thể giải thích trực tiếp từ tồn tai xã hội.
VD : Trong thời Lý - Trần, mặc dù tồn tại nhiều học thuyết, quan điểm khác nhau, nhưng Phật giáo vẫn
chi phối đời sống tinh thần, xã hội...
Thứ năm, ý thức xã hội có khả năng tác động trở lại tồn tại xã hội: Chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định
tầm quan trong của ý thức xã hội trong tác động đến tồn tại xã hội,tạo điều kiện tồn tại và phát triển cho
tồn tại xã hội và ngược lại
VD: Thời đại ngày nay, nếu vẫn còn duy trì tư tưởng “trọng nam kinh nữ”, thì sẽ cản trở sự phát triển,
đóng góp của người phụ nữ trong phát triển kinh tế, chính trị, xã hội
Ý nghĩa phương pháp luận
Thứ nhất, tồn tại xã hội đóng vai trò quyết định ý thức xã hội, tức mặt đời sống tinh thần của xã hội. Vì
vậy, muốn xoá bỏ hình thái ý thức xã hội cũ lỗi thời, lạc hậu, bảo thủ, trì trệ thì trước hết phải cải tạo tồn tại xã hội sinh ra nó.
Thứ hai, ý thức xã hội có sự tác động trở lại tồn tại xã hội. Vì vậy, cần đấu tranh chống lại các tư tưởng
bảo thủ, lạc hậu, phản tiến bộ, phản khoa học nhằm thúc đẩy xã hội phát triển.
Thứ ba, ý thức xã hội có tính kế thừa. Vì vậy, trong quá trình phát triển cần phải kế thừa những giá trị
truyền thống của dân tộc và không ngừng tiếp thu, ứng dụng những thành tựu văn hoá, khoa học kỹ thuật và công nghệ của nhân .
Thứ tư, ý thức xã hội có tính vượt trước, dự báo xu hướng vận động và phát triển của xã hội tương lai.
Vì vậy, cần phải tích cực đẩy mạnh nghiên cứu khoa học nhằm phát hiện những quy luật vận động, phát
triển khách quan của tự nhiên, xã hội và con người.