















Preview text:
10:23, 06/01/2026
Nhóm CPQT - Câu hỏi thảo luận công pháp quốc tế - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ Câu 1: Tại sao Luật quốc tế là - Studocu
CÔNG PHÁP QUỐC TẾ
Câu 1: Tại sao Luật quốc tế là một ngành luật độc lập?
1.1 Đối tượng điều chỉnh
Luật quốc gia: quan hệ giữa các chủ thể của luật quốc gia
Luật quốc gia thường được hiểu là luật điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể: nhà nước,
các nhân, pháp nhân ở trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia.
Luật quốc tế: quan hệ giữa các chủ thể của luật quốc tế
Luật quốc tế chủ yếu điều chỉnh quan hệ quốc tế, giữa các quốc gia, các tổ chức quốc
tế và các chủ thể khác của luật quốc tế. Đặc trưng về đối tượng điều chinh của luật quốc
tế hàm chứa 2 yếu tố chính:
+ Các quan hệ thuộc điều chỉnh của luật quốc tế là những quan hệ phát sinh trong mọi
lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội vượt khỏi phạm vi lãnh thổ của các quốc gia.
+ Những quan hệ này là những quan hệ chỉ phát sinh giữa các quốc gia và các chủ thể
khác của luật quốc tế.
1.2 Về phương thức xây dựng pháp luật:
Nếu như luật quốc gia thường được xây dựng bới một cơ quan làm luật (là cơ quan
quyền lực cao nhất của quốc gia, đại diện cho ý chí của nhân dân) thì luật quốc tế được
xây dựng thông qua sự thỏa thuận và thừa nhận của các chủ thể luật quốc tế trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng.
Điều này cũng có nghĩa là không tồn tại một cơ quan lập pháp quốc tế chung giống
như cơ quan lập pháp quốc gia. Cơ sở của vấn đề này là quan hệ quốc tế trước tiên và cơ
bản là quan hệ giữa các quốc gia - những thực thể có chủ quyền và bình đẳng về phương
diện pháp lý. Vậy nên sự tồn tại của một cơ quan lập pháp quốc tế không phản ánh được
bản chất của luật quốc tế là sự thỏa thuận, thống nhất về ý chí giữa các chủ thể của luật quốc tế.
Ngoài ra, việc không tồn tại một cơ quan lập pháp quốc tế chung có thể dẫn đến những
khác biệt về cấu trúc của hai hệ thống pháp luật. Trong luật quốc gia, các QPPL có thể
được sắp xếp theo thứ bậc tương đối rõ ràng (vd: hiến pháp có giá trị cao nhất trong hệ 10:23, 06/01/2026
Nhóm CPQT - Câu hỏi thảo luận công pháp quốc tế - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ Câu 1: Tại sao Luật quốc tế là - Studocu
thống văn bản luật, kế đến là các luật và văn bản dưới luật). Trong khi đó, các quy phạm
trong luật quốc tế không được ban hành bởi một cơ quan lập pháp quốc tế, do đó hệ
thống pháp luật quốc tế là một tổng thể các quy phạm mà trong đó không có sự sắp xếp
một cách hệ thống, có thứ bậc, vị trí rõ rang như trong hệ thống pháp luật quốc gia (tuy
vậy, trong luật quốc tế vẫn có sự phân chia thứ bậc dựa trên những nguyên tắc cơ bản của
điều ước quốc tế: luật sau ưu tiên hơn luật trước, luật riêng ưu tiên hơn luật chung,..)
1.3 Về chủ thể của luật:
Nếu chủ thể của pháp luật quốc gia là nhà nước, các cá nhân, pháp nhân thì chủ thể
của pháp luật quốc tế là các quốc gia, các tổ chức quốc tế liên chính phủ, các dân tộc
đang đấu tranh giành quyền tự quyết và một số vùng lãnh thổ có quy chế đặc biệt.
Sự khác biệt giữa 2 hệ thống pháp luật này còn được thể hiện qua vị trí và vai trò của
từng loại chủ thể tham gia quan hệ pháp luật mà mỗi hệ thống điều chỉnh:
+ Trong pháp luật quốc gia, cá nhân và pháp nhân là hai chủ thể cơ bản và chủ yếu
nhất có khả năng tham gia vào hầu hết các quan hệ pháp luật. Quốc gia/nhà nước chỉ có
sự tham gia nhất định vào một số quan hệ pháp luật đặc thù như hành chính, hình sự, dân
sự (nhưng với tư cách là một chủ thể đặc biệt)
+ Trong pháp luật quốc tế, quốc gia là một chủ thể cơ bản và chủ yếu tham gia vào tất
cả các quan hệ pháp luật quốc tế. Đến nay, luật quốc tế hiện đại vẫn không thừa nhận tư
cách chủ thể luật quốc tế của các các nhân và pháp nhân.
Thêm vào đó, quan hệ giữa các chủ thể luật quốc gia có sự bất bình đẳng: quốc gia là
chủ thể đặc biệt, có quyền quan trọng trong việc chi phối, xác lập địa vị pháp lý của các
chủ thể còn lại thông qua việc thiết lập các quy tắc pháp lý mà các chủ thể này buộc phải
tuân thủ. Trong khi đó, các chủ thể của luật quốc tế - các quốc gia - có quan hệ bình đẳng
không phụ thuộc vào chế độ chính trị, diện tích, dân số, trình độ phát triển kinh tế, văn
hóa, xã hội (không chủ thể nào có vai trò giống nhà nước trong luật quốc gia). Vì vậy các
quy phạm của luật quốc tế chỉ có thể ra đời và thực hiện nếu chính các chủ thể của luật
quốc tế tự xây dựng và thông qua.
1.4 Về phương thức thực thi pháp luật: 10:23, 06/01/2026
Nhóm CPQT - Câu hỏi thảo luận công pháp quốc tế - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ Câu 1: Tại sao Luật quốc tế là - Studocu
Việc thực thi pháp luật quốc gia được thực hiện một cách tập trung, thống nhất thông
qua hoạt động và phối hợp của hệ thống các cơ quan nhà nước có thẩm quyền như quân
đội, cơ quan kiểm sát, cơ quan tòa án, cảnh sát, nhà tù. Hệ thống các cơ quan này được
lập ra nhằm đảm bảo thi hành pháp luật cũng như đảm bảo cho pháp luật được tôn trọng
bởi tất cả các cá nhân và tổ chức trong quốc gia đó.
Hệ thống cơ quan với những đặc điểm như trên không tồn tại trong luật quốc tế (trong
luật quốc tế không có một hệ thống các cơ quan chuyên biệt và tập trung làm nhiệm vụ
đảm bảo thi hành luật quốc tế) vì việc tồn tại cơ quan như thế sẽ được hiểu như vi phạm
đến sự bình đẳng giữa các quốc gia. Hệ thống các nguyên tắc và quy phạm của luật quốc
tế được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, thông qua đấu tranh và thương lượng nên việc
tuân thủ các quy tắc và QPPL quốc tế cũng dựa trên cơ sở tự nguyện. Điểm khác biệt so
với luật quốc gia là ở chỗ, các biện pháp chế tài cá thể (như tự vệ, trả đũa hợp pháp, trừng
phạt) hoặc tập thể (trừng phạt phi vũ trang hoặc vũ trang) là do chính các chủ thể luật
quốc tế tự thực hiện.
Một số trường hợp việc cưỡng chế thực hiện pháp luật quốc tế được tiến hành bởi một
cơ quan chuyên biệt: Hiến chương LHQ được đảm bảo thực hiện bởi các cơ chế quy định
tại hiến chương, Hội đồng Bảo an có chức năng hành động trong những trường hợp có vi
phạm nghiêm trọng và kéo dài đối với quyền con người, Tòa án hình sự quốc tế có trách
nhiệm xét xử và trừng phạt những cá nhân chịu trách nhiệm về những vi phạm nghiêm
trọng nhất đối với luật nhân quyền và nhân đạo quốc tế.
1.5 Về nguồn của luật:
Luật quốc gia có các nguồn cơ bản bao gồm: văn bản QPPL, tập quán pháp, tiền lệ
pháp. Ngoài ra còn có các nguồn không cơ bản như đường lối chính sách của giai cấp
cầm quyền, các chuẩn mực đạo đức vã hội,... có giá trị bổ sung, thay thế trong trường hợp
nguồn cơ bản không quy định hoặc có những hạn chế, khiếm khuyết. Trong điều kiền
hợp tác quốc tế ngày càng mở rộng trên phạm vi toàn thế giới, điều ước quốc tế cũng
được coi là nguồn cơ bản của pháp luật. 10:23, 06/01/2026
Nhóm CPQT - Câu hỏi thảo luận công pháp quốc tế - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ Câu 1: Tại sao Luật quốc tế là - Studocu
Tuy nhiên nguồn của luật quốc tế lại có những khác biệt nhất định, có thể phân chia
nguồn của luật quốc tế thành nguồn thành văn và nguồn bất thành văn. Nguồn thành văn
là các nguyên tắc, QPPL quốc tế chứa đựng trong các điều ước song phương và đa
phương đã thiết lập được các bên tranh chấp thừa nhận. Nguồn bất thành văn bao gồm
các tập quán quốc tế, các nguyên tắc pháp luật chung được các dân tộc văn minh thừa
nhận và một số nguồn bổ trợ khác như án lệ của Tòa an Công lý quốc tế hay học thuyết
của các chuyên gia có chuyên môn cao nhất về luật pháp công khai của nhiều dân tộc
khác nhau trên thế giới.
Luật quốc tế có đầy đủ các tiêu chí như đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh,
phương thức xây dựng, chủ thể, nguồn luật có sự phân biệt với các ngành luật khác nên
nó được xem là một ngành luật độc lập.
Câu 2: Trình bày các nguyên tắc của Luật quốc tế Các nguyên tắc Cơ sở pháp lý Nội dung
1. Nguyên tắc - Tuyên bố năm 1970 của Đại
- Cấm xâm chiếm lãnh thổ quốc
cấm dùng vũ lựchội đồng LHQ
gia hoặc dùng vũ lực vũ trang
và đe dọa dùng vũ- Khoản 4 Điều 2 Hiến chương
để vượt qua biên giới tiến vào lực trong quan hệLHQ lãnh thổ nước khác. quốc tế
- Cấm cho quân vượt qua các giới tuyến quốc tế
- Cấm các hành vi đe dọa, trấn áp bằng vũ lực.
- Không cho phép các quốc gia
khác dùng lãnh thổ của mình để
tiến hành xâm lược nước thứ ba.
- Cấm tổ chức, xúi giục các
hành vi khủng bố tại các quốc gia khác.
- Không giúp đỡ các nhóm vũ
trang, lính đánh thuê đột nhập
phá hoại trong lãnh thổ quốc gia khác.
2. Nguyên tắc giải- Tuyên bố năm 1970 của Đại
- Các quốc gia có nghĩa vụ giải
quyết các tranh hội đồng LHQ
quyết các tranh chấp bằng chấp quốc tế bằng 10:23, 06/01/2026
Nhóm CPQT - Câu hỏi thảo luận công pháp quốc tế - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ Câu 1: Tại sao Luật quốc tế là - Studocu
phương pháp hòa - Khoản 3 Điều 2 Hiến chương phương pháp hòa bình bình LHQ
3. Nguyên tắc - Tuyên bố năm 1970 của Đại Ngoại lệ:
không can thiệp hội đồng LHQ
+ Hội đồng Bảo an LHQ có vào nội bộ của các
quyền can thiệp trực tiếp hoặc quốc gia khác
gián tiếp vào xung đột vũ trang nội bộ.
+ Hội đồng bảo an LHQ có
quyền can thiệp khi có vi phạm
nghiêm trọng các quyền cơ bản
của con người: phân biệt chủng tộc, diệt chủng.
4. Nguyên tắc các- Tuyên bố năm 1970 của Đại
Các quốc gia có nghĩa vụ hợp
quốc gia có nghĩahội đồng LHQ
tác với nhau để duy trì hòa bình
vụ hợp tác với- Khoản 5 Điều 2 Hiến chương
và an ninh quốc tế, hợp tác nhau LHQ
trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu.
5. Nguyên tắc - Tuyên bố năm 1970 của Đại
- Mỗi quốc gia có nghĩa vụ tôn
bình đẳng về chủhội đồng LHQ
trọng quyền năng chủ thể của
quyền giữa các - Khoản 1 Điều 2 Hiến chương các quốc gia khác quốc gia LHQ
- Mỗi quốc gia có quyền tự do
lựa chọn và phát triển chế độ
chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của mình.
6. Nguyên tắc tất- Tuyên bố năm 1970 của Đại
- Tuyên bố quyền của các dân
cả các dân tộchội đồng LHQ
tộc thuộc địa và phụ thuộc trong
bình đẳng và có- Khoản 2 Điều 1 và Điều 55
việc thành lập quốc gia, tự do quyền tự quyết Hiến chương LHQ
lựa chọn chế độ chính trị, kinh
tế - xã hội và văn hóa; tự giải
quyết các vấn đề đối nội, đối ngoại.
7. Nguyên tắc tận- Khoản 2 Điều 2 Hiến chương
- Mỗi quốc gia có nghĩa vụ phải tâm thực hiện cácLHQ
thực hiện một cách tận tâm, cam kêt quốc tế
- Tuyên bố năm 1970 của Đại
thiện chí và đầy đủ các cam kết hội đồng LHQ quốc tế của mình.
- Các quốc gia thành viên điều
ước quốc tế không được viện 10:23, 06/01/2026
Nhóm CPQT - Câu hỏi thảo luận công pháp quốc tế - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ Câu 1: Tại sao Luật quốc tế là - Studocu
dẫn các quy định của pháp luật
trong nước như nguyên nhan để
từ chối thực hiện nghĩa vụ của mình.
- Các quốc gia không được ký
kết điều ước quốc tế mới mâu
thuẫn với nghĩa vụ của mình
trong điều ước quốc tế đã ký với các quốc gia khác.
Câu 4: Cưỡng chế cá thể, cưỡng chế tập thể và bằng sức mạnh đấu tranh của c
đồng quốc tế là gì?
1. Cưỡng chế cá thể (Individual coercion)
Cưỡng chế cá thể là việc một quốc gia sử dụng sức ép hoặc đe dọa trực tiếp để buộc
một quốc gia khác hoặc đại diện của quốc gia đó chịu nhượng bộ. Luật quốc tế nghiêm
cấm hành vi này. Chẳng hạn, Điều 51 Công ước Vienna 1969 quy định rằng sự đồng ý ký
kết một điều ước “được thu được bằng biện pháp cưỡng ép đại diện của Nhà nước đó” sẽ
không có hiệu lực pháp lý. Tương tự, Điều 52 của Công ước tuyên bố điều ước vô hiệu
nếu được ký kết do “đe dọa hoặc sử dụng vũ lực”.
Cưỡng chế cá thể là việc một quốc gia sử dụng sức ép hoặc đe dọa trực tiếp để buộc
một quốc gia khác hoặc đại diện của quốc gia đó chịu nhượng bộ. Luật quốc tế nghiêm
cấm hành vi này. Chẳng hạn, Điều 51 Công ước Vienna 1969 quy định rằng sự đồng ý ký
kết một điều ước “được thu được bằng biện pháp cưỡng ép đại diện của Nhà nước đó” sẽ
không có hiệu lực pháp lý. Tương tự, Điều 52 của Công ước tuyên bố điều ước vô hiệu
nếu được ký kết do “đe dọa hoặc sử dụng vũ lực”.
Theo các học giả pháp lý, cưỡng chế cá thể có thể chia làm hai mô hình chính:
Cưỡng chế – tống tiền: đặt ra yêu cầu kèm đe dọa gây hại nhằm ép quốc gia bị ép buộc
thay đổi chính sách hoặc ý chí. Ví dụ, đòi cắt đứt quan hệ ngoại giao nếu không chấp
nhận điều kiện nào đó. 10:23, 06/01/2026
Nhóm CPQT - Câu hỏi thảo luận công pháp quốc tế - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ Câu 1: Tại sao Luật quốc tế là - Studocu
Cưỡng chế – kiểm soát: thực hiện hành động làm suy yếu khả năng tự chủ của quốc
gia bị ép, chẳng hạn tấn công mạng phá hoại quy trình bầu cử, khiến quốc gia đó mất khả
năng điều khiển chính trị dù không nhất thiết biết rõ nguyên nhân.
Ví dụ thực tiễn: Năm 2017, một số nước vùng Vịnh (Saudi Arabia, UAE, Ai Cập,
Bahrain) đã áp đặt phong tỏa kinh tế biên giới với Qatar và đưa ra 13 yêu cầu (đóng kênh
truyền hình Al Jazeera, hạn chế quan hệ với Iran, trục xuất quân đội Thổ Nhĩ Kỳ…) kèm
đe dọa không dỡ phong tỏa nếu không chấp nhận. Qatar lên án đây là hành vi vi phạm
chủ quyền và luật pháp quốc tế. Trường hợp này thể hiện mô hình “cưỡng chế-tống tiền”:
các điều kiện đòi hỏi kèm theo áp lực phong tỏa buộc Qatar phải chấp nhận. (Điều 51
Công ước Vienna 1969 được viện dẫn để khẳng định mọi “đồng ý có được bằng cưỡng
ép” là vô hiệu về pháp lý.)
2. Cưỡng chế tập thể (Collective coercion)
Cưỡng chế tập thể là biện pháp cưỡng ép do cộng đồng quốc tế hoặc một nhóm nhiều
quốc gia triển khai chung. Phổ biến nhất là các biện pháp do Liên Hợp Quốc ủy quyền
theo chương VII Hiến chương LHQ. Theo Điều 41 Hiến chương, Hội đồng Bảo an có thể
áp đặt các biện pháp không dùng vũ lực như cấm vận kinh tế toàn diện hoặc cấm vận có
chọn lọc (cấm xuất khẩu vũ khí, cấm đi lại lãnh đạo, phong tỏa tài chính, ngừng giao
thương, thậm chí lập tòa án quốc tế đặc biệt để xử tội ác). Nếu các biện pháp này không
đạt mục tiêu, Điều 42 cho phép dùng vũ lực (chiến dịch quân sự, phong tỏa vũ trang, sứ
quân…) để khôi phục hòa bình.
Quá trình thực hiện cưỡng chế tập thể thường bao gồm: Hội đồng Bảo an xác định có
“đe dọa hoà bình” hay “hành động gây bất ổn” (Điều 39), sau đó áp dụng biện pháp hòa
bình (Điều 41). Nhiều nghị quyết trừng phạt tập thể đã được đa số thành viên đồng thuận
thông qua. Tuy vậy, cần lưu ý Luật nhân đạo quốc tế nghiêm cấm trừng phạt tập thể dân
thường (không thể trách nhiệm tập thể dân chúng vì hành động của chính phủ), nên các
biện pháp cưỡng chế phải cân nhắc ảnh hưởng đến dân thường theo nguyên tắc tỉ lệ và nhân đạo. 10:23, 06/01/2026
Nhóm CPQT - Câu hỏi thảo luận công pháp quốc tế - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ Câu 1: Tại sao Luật quốc tế là - Studocu
Ví dụ thực tiễn: Năm 1990, khi Iraq xâm lược Kuwait, Hội đồng Bảo an đã thông qua
11 nghị quyết buộc Iraq rút quân ngay lập tức và áp đặt cấm vận kinh tế toàn diện (Điều
41). Sau khi Iraq bất hợp tác, Nghị quyết 678 đã cho phép dùng vũ lực (Điều 42) để thực
thi quyết định của LHQ. Trường hợp này thể hiện cưỡng chế tập thể: toàn bộ cộng đồng
đã áp dụng biện pháp kinh tế và sau đó là quân sự để ép Iraq tuân thủ. Tương tự, Triều
Tiên bị áp hàng loạt cấm vận của LHQ kể từ 2006 nhằm buộc từ bỏ chương trình hạt
nhân. Gần đây, sau chiến tranh Ukraine 2022, Liên minh châu Âu và các đồng minh đã
áp đặt gói cấm vận kinh tế “chưa từng có” lên Nga (nghĩa vụ phong tỏa ngân hàng, cấm
công nghệ, hạn chế năng lượng, v.v.) như một hình thức cưỡng chế tập thể nhằm trừng phạt Moskva.
3. Cưỡng chế thông qua sức mạnh đấu tranh cộng đồng quốc tế
Đây là những hình thức gây áp lực không chính thức nhưng có tác dụng mạnh qua dư
luận, xã hội dân sự và truyền thông toàn cầu. Các tổ chức phi chính phủ, phong trào nhân
quyền và báo chí thế giới thường xuyên kêu gọi, tố cáo các vi phạm pháp luật quốc tế và
kêu gọi cộng đồng trừng phạt (qua cấm vận hoặc áp lực chính trị) những quốc gia hoặc cá
nhân vi phạm. Ví dụ, phong trào BDS (Boycott, Divestment and Sanctions) kêu gọi tẩy
chay Israel vì những hành vi bị xem là vi phạm quyền con người của người Palestine, đã
huy động mạnh mẽ sự ủng hộ của sinh viên và học giả trên toàn thế giới. Ngoài ra, các tổ
chức nhân quyền quốc tế (Human Rights Watch, Ân xá Quốc tế, v.v.) thường xuyên công
bố báo cáo tố cáo vi phạm và kêu gọi chế tài. Áp lực từ dư luận, qua báo chí và đặc biệ
là mạng xã hội, giúp lan tỏa thông tin tức thời và duy trì sự chú ý quốc tế.
Ví dụ thực tế: trong cuộc xung đột Gaza gần đây, người tiêu dùng ở nhiều nước Trung
Đông và phương Tây đã tẩy chay các thương hiệu Mỹ như McDonald’s và Starbucks
(ảnh bên là bảng hiệu McDonald’s ở Tel Aviv) vì cho rằng các công ty này ủng hộ chính
sách của Israel. Nhờ mạng xã hội, chiến dịch tẩy chay này lan rộng khắp toàn cầu rất
nhanh chóng. Những chiến dịch kiểu này, dù không phải biện pháp cưỡng chế theo nghĩa
luật pháp, vẫn tạo ra sức ép công khai lớn: chính phủ và doanh nghiệp liên quan buộc
phải giải thích hoặc điều chỉnh hành động cho phù hợp hơn với công luận và thông lệ 10:23, 06/01/2026
Nhóm CPQT - Câu hỏi thảo luận công pháp quốc tế - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ Câu 1: Tại sao Luật quốc tế là - Studocu
pháp quốc tế. Chẳng hạn, các cuộc phản đối toàn cầu về Gaza hay Ukraine đã góp phần
thúc đẩy các nghị quyết LHQ, gói cấm vận và cả động thái tố cáo ra tòa án quốc tế nhằm
trừng phạt những vi phạm pháp luật quốc tế.
Nguồn tham khảo: Các quy định quốc tế nêu trên được trích dẫn từ Điều 51, 52 Công
ước Vienna 1969 và Điều 41, 42 Hiến chương LHQ. Các ví dụ và khái niệm được phân
tích theo các nghiên cứu và thực tiễn chính trường hiện đại.
CÂU 5: Tại sao luật quốc tế lại chủ yếu điều chỉnh về mặt chính trị?
Công pháp quốc tế chủ yếu mang tính chính trị vì:
Đối tượng điều chỉnh trung tâm là quan hệ giữa các quốc gia có chủ quyền, vốn
gắn trực tiếp lợi ích quyền lực, an ninh và ngoại giao. (bản chất chính trị chi phối)
Hệ thống quy phạm hình thành bằng thỏa thuận và tập quán nên việc ràng buộc,
tuân thủ phụ thuộc ý chí chính trị của quốc gia
Các nguyên tắc cơ bản như bình đẳng chủ quyền, cấm dùng vũ lực, không can
thiệp, giải quyết hòa bình tranh chấp… mang nội dung chính trị
Điều 1 Hiến chương LHQ là duy trì hòa bình, an ninh quốc tế; phát triển quan hệ
hữu nghị; hợp tác quốc tế => mục tiêu chính trị ở cộng đồng quốc tế.
Thứ nhất, không có quốc gia thì không có luật quốc tế. Quốc gia là chủ thể trung
tâm của luật quốc tế, luôn cần có sự tôn trọng và công nhận trong quan hệ quốc tế1,
thể hiện quan điểm chính trị của quốc gia, là cơ hội để mở ra các mối quan hệ khác
(an ninh, kinh tế…). Nếu không công nhận nhau quan hệ về chính trị sẽ không
công nhận về các quan hệ khác. Là cơ sở, nền tảng. mà sự công nhận đó chính là
thể hiện quan điểm về mặt chính trị giữa các chủ thể quốc tế, được thể hiện các bên
thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ lãnh sự. Nên trong quan hệ quốc tế, các quốc
gia cần có sự công nhận lẫn nhau.
1 Hành vi pháp lý chính trị. 10:23, 06/01/2026
Nhóm CPQT - Câu hỏi thảo luận công pháp quốc tế - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ Câu 1: Tại sao Luật quốc tế là - Studocu
Thứ hai, quan hệ về mặt chính trị là hành vi pháp lý chính trị thể hiện quan điểm
của các quốc gia khi có sự công nhận một quốc gia khác, có tư cách chủ thể của luật quốc tế
CÂU 6: Quy phạm pháp luật quốc tế ?
Khái niệm quy phạm pháp luật quốc tế: Là những quy tắc xử sự do các chủ thể
của luật quốc tế thoả thuận xây dựng nên hoặc cùng nhau thừa nhận giá trị pháp lý. Đặc điểm:
+ Ghi nhận các quyền và nghĩa vụ pháp lý
+ Có giá trị ràng buộc đối với các chủ thể luật quốc tế
+ Là công cụ điều chỉnh các quan hệ quốc tế
+ Là cơ sở pháp lý để đánh giá tính hợp pháp của các hành vi của chủ thể của LQT.
=> Được xem là thành tố nhỏ nhất, là hạt nhân của hệ thống luật quốc tế
Phân loại quy phạm pháp luật quốc tế:
+ Căn cứ vào nội dung và vị trí:
Nguyên tắc: Chứa nội dung cô đọng, có vai trò quan trọng nhất, có giá trị pháp lý cao hơn Quy phạm thông thường
Căn cứ vào phạm vi tác động:
- QPQT phổ cập: ghi nhận trong các điều ước đa phương mang tính toàn cầu
(có sự tham gia của đại đa số quốc gia, chủ thể trên toàn thế giới), có hiệu lực
pháp lý bắt buộc chung và được xây dựng và thay đổi phải do cộng đồng quốc tế tham gia thực hiện
- QPQT khu vực: do một nhóm các quốc gia, chủ thể nhất định xây dựng
hoặc tham gia, chỉ có giá trị pháp lý bắt buộc với những quốc gia, chủ thể đó
Căn cứ vào giá trị pháp lý có quy phạm mệnh lệnh và quy phạm tuỳ nghi:
Các quy phạm tồn tại dưới dạng điều ước và cả tập quán. 10:23, 06/01/2026
Nhóm CPQT - Câu hỏi thảo luận công pháp quốc tế - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ Câu 1: Tại sao Luật quốc tế là - Studocu
Các quy phạm có giá trị hiệu lực tuyệt đối trong tất cả các lĩnh vực của quan hệ quốc tế
Tính chất tối cao về giá trị pháp lý thể hiện ở việc các chủ thể của luật quốc
tế không có quyền loại bỏ chúng ngay cả khi có sự thoả thuận giữa họ với nhau
+ Căn cứ vào phương thức hình thành và hình thức tồn tại có quy phạm điều
ước và quy phạm tập quán
- Quy phạm chính trị quốc tế: là kết quả của sự thảo luận, thống nhất ý chí
giữa các chủ thể trên cơ sở hiểu biết, tin cậy và tôn trọng lẫn nhau. QPCT
khômng mang tính bắt buộc nên việc thực hiện mang tính mềm dẻo, linh hoạt
hơn và phụ thuộc vào thiện chí của các bên khi tuân thủ
- Quy phạm đạo đức quốc tế là những quy phạm hình thành trong thực tiễn
quan hệ quốc tế dựa trên các chuẩn mực đạo đức quốc tế.
CÂU 7: Bản chất của luật quốc tế
Chính là sự thỏa thuận ý chí giữa các chủ thể của luật quốc tế, chủ yếu là các quốc gia
độc lập, bình đẳng về chủ quyền. Nhằm hướng đến và phục vụ cho lợi ích của quốc gia -
giai cấp cầm quyền. Vì vậy, có thể nói rằng luật quốc tế luôn phản ánh sự đầu tranh và
nhân nhượng, thỏa hiệp và thương lượng giữa các quốc gia, mà mục đích chính là nhằm
phục vụ cho lợi ích của giai cấp cầm quyền ở mỗi quốc gia. Bản chất thỏa thuận, thống
nhất ý chí, hài hòa lợi ích của các quốc gia giúp làm sáng tỏ thực tế rằng pháp luật quốc
tế có sự liên hệ với pháp luật quốc gia mà ở đó luật quốc gia đóng vai trò xuất phát điểm
CÂU 8: PHÂN TÍCH ĐẶC TRƯNG CỦA LQT
Đầu tiên, về đối tượng điều chỉnh,
Pháp luật quốc gia điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong nội bộ phạm vi
lãnh thổ, còn pháp luật quốc tế điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong đời sống
sinh hoạt quốc tế giữa các chủ thể luật quốc tế.
Cụ thể hơn, đối tượng điều chỉnh của pháp luật quốc gia là quan hệ giữa các chủ thể
của luật quốc gia: nhà nước, cá nhân, pháp nhân trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó;
còn đối tượng điều chỉnh của luật quốc tế là quan hệ giữa các chủ thể của luật quốc tế:
giữa các quốc gia với nhau, giữa các tổ chức quốc tế và các chủ thể khác của luật quốc tế. 10:23, 06/01/2026
Nhóm CPQT - Câu hỏi thảo luận công pháp quốc tế - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ Câu 1: Tại sao Luật quốc tế là - Studocu
Tuy nhiên, cần phải phân biệt được quan hệ này với các quan hệ dân sự có yếu tố nước
ngoài được thiết lập giữa các cá nhân, pháp nhân có quốc tịch khác nhau, được điều chỉnh
bởi tư pháp quốc tế. Chẳng hạn như luật quốc tế điều chỉnh quan hệ giữa hai quốc gia
(Việt Nam và Trung Quốc, về vấn đề tranh chấp trên biển, Hiệp định thương mại Việt -
Mỹ), chứ không điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (hãng Honda của
Nhật Bản thiết lập quan hệ, thực hiện quan hệ các giao dịch tại nước ta). Như vậy, khi đề
cập đến sự khác biệt giữa hai hệ thống pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia, thì tính
chất liên quốc gia thường được nhắc đến như một tiêu chí cơ bản, đặc trưng về đối tượng
điều chỉnh của luật quốc tế. Bởi nó chứa hai yếu tố chính,
Một là các quan hệ thuộc điều chỉnh của luật quốc tế là những quan hệ phát sinh trong
mọi lĩnh vực chính trị kinh tế xã hội vượt ra khỏi phạm vi lãnh thổ của các quốc gia.
Hai là, những quan hệ này là những quan hệ chỉ phát sinh giữa các quốc gia và các chủ
thể khác của luật quốc tế mà thôi.
Thứ hai, về phương thức xây dựng pháp luật, việc xây dựng pháp luật và trình
xây đựng pháp luật của pháp luật quốc gia do cơ quan quyền lực cao nhất của quốc gia
cơ quan lập pháp (QH, CTN, TTCP, Bộ trưởng các bộ chuyên môn, Thủ trưởng các
CQNB,..) thực hiện và đại diện cho ý chí của nhân dân, còn phương thức xây dựng pháp
luật quốc tế do không có cơ quan lập pháp (LHQ chỉ làm ra các QPPL để điều chỉnh 1 vài
lĩnh vực giữa các nc hội viên với nhau, LHQ ko có quyền làm luật cho tất cả 203 qgia)
nên khi xây dựng các qui phạm thành văn bất thành văn chủ yếu do sự thỏa thuận ,
thông qua giữa các chủ thể có chủ quyền quốc gia của luật quốc tế dưới hình thứ
kết các ĐỨQT (VN muốn hòa nhập vào đs kte tgioi thì VN đã gửi đơn thể hiện ý chí xin
dc gia nhập WTO vào năm 2017) hoặc cùng nhau thừa nhận các tập quán quốc tế.Vì
không tồn tại một cơ quan lập pháp quốc tế chung giống như cơ quan lập pháp quốc gia,
nên hệ thống pháp luật quốc tế được các chủ thể của luật quốc tế thừa nhận trên cơ sở tự
nguyện, bình đẳng. Sở dĩ, việc không hình thành cơ quan lập pháp quốc tế chung để ban
hành, ấn định các quy phạm pháp luật ràng buộc các chủ thể của luật quốc tế là bởi việc
quan hệ quốc tế trước tiên và cơ bản là quan hệ giữa các quốc gia, đây là những thực thể
có chủ quyền và bình đẳng về phương diện pháp lý. Hơn nữa, khi không thành lập một cơ
quan lập pháp quốc tế chung sẽ phản ánh rõ hơn bản chất của luật quốc tế. Trái với luật
quốc gia, có một hệ thống các quy phạm pháp luật được sắp xếp theo thứ bậc tương đối
rõ ràng, luật quốc tế bao gồm tổng thể các quy phạm mà trong đó không có sự sắp xếp
một cách hệ thống, có thứ bậc, vị trí rõ ràng như trong hệ thông pháp luật quốc gia. Dù
vậy, trong luật quốc tế vẫn có sự phân chia thứ bậc dựa trên những nguyên tắc cơ bản của
luật điều ước quốc tế (qua các nguyên tắc như:“luật sau ưu tiên hơn luật trước”, “luật
riêng ưu tiên hơn luật chung”, hay cách ưu tiên quy phạm điều ước so với quy phạm tập
quán quốc tế, làm cho các điều ước vi phạm nótrở nên vô hiệu). Giải pháp này được đề ra 10:23, 06/01/2026
Nhóm CPQT - Câu hỏi thảo luận công pháp quốc tế - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ Câu 1: Tại sao Luật quốc tế là - Studocu
dựa trên ý chí của các quốc gia, nhằm giải quyết vấn đề xung đột trong việc lựa chọn, áp
dụng và giải thích luật, tránh tình trạng chồng lấn lẫn nhau.
Thứ ba, về chủ thể của luật, chủ thể luật quốc gia là thể nhân, pháp nhân và tổ chức,
nhà nước tham gia với tư cách là chủ thể đặc biệt khi nhà nước là một bên trong quan hệ,
các cá nhân, pháp nhân; còn chủ thể của pháp luật quốc tế là các quốc gia có chủ quyền,
các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập, các tổ chức liên chính phủ (liên quốc gia, khác
tổ chức phi chính phủ: là thực thể cá nhân và thể nhân ở các nc khác nhau còn liên chính
phủ là 1 thực thể liên kết các quốc gia có chủ quyền, dc thành lập bằng ĐỨQT đa phương
vô thời hạn, khác nhau ở thành viên) và các thực thể đặc biệt.
-Là những thực thể tham gia vào qhe PLQT 1 cách độc lập, có đầy đủ quyền và nghĩa
vụ có khả năng gánh vác trách nhiệm Ply QT do chính hành vi do chủ thể đó gây ra-> Là
những thực thể đáp ứng được cái điều kiện do LQT qđ khi tham gia vào qhe PLQT
- Có ý chí độc lập ko phụ thuộc vào chủ thể khác (thể hiện trong lĩnh vực đối nội, ngoại)
- Có đầy đủ quyền và nghĩa vụ riêng biệt đối với các chủ thể khác của LQT
- Có khả năng tham gia vào quan hệ QT do LQT điều chỉnh (khả năng thiết lập dc mqh
VD: có tham gia ký kết qt, có khả năng bảo vệ quyền, tham gia hội nghị QT,…)
Tsao thể nhân và pháp nhân ko dc coi là chủ thể của LQT? Dựa trên ngtac cơ
của LQT là bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia (ngtac dc coi là luật của luật QT)
thì chỉ có các qgia có thể qhe với các qgia, tức chủ thể quan hệ của LQT chỉ có thể điều
chỉnh qhe giữa các qgia với nhau or quốc gia với tổ chức QT liên chính phủ or qhe giữa
các tổ chức LCP với nhau or qhe giữa qgia với các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập,
thể nhân và pháp nhân ko thể xếp ngang hàng với các qgia nên nếu xếp ngang hàng thì sẽ
dẫn đến vi phạm ngtac cơ bản trên.
Vị trí và vai trò của từng loại chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật này cũng mang
nét khác biệt rõ rệt. Trong pháp luật quốc gia, cá nhân và pháp nhân là hai chủ thể cơ bản
và chủ yếu nhất có khả năng tham gia vào hầu hết các quan hệ pháp luật, còn quốc
gia/nhà nước trong luật quốc gia chỉ có sự tham gia nhất định vào một số quan hệ pháp
luật đặc thù như hành chính, hình sự, thậm chí trong quan hệ pháp luật dân sự với tư cách
là một chủ thể đặc biệt. Trong pháp luật quốc tế, quốc gia là một chủ thể cơ bản và chủ
yếu tham gia vào tất cả các quan hệ pháp luật quốc tế. Chính vì sự sắp xếp theo thứ bậc
các chủ thể trong luật quốc gia, nên quan hệ giữa các chủ thể của luật này có sự bất bình
đẳng: quốc gia là chủ thể đặc biệt, có quyền quan trọng trong việc chi phối, xác lập địa vị
pháp lý của các chủ thể còn lại, thông qua việc thiết lập các quy tắc pháp lý mà các chủ
thể này buộc phải tuân thủ. Trong khi đó, các chủ thể chủ yếu của luật quốc tế - các quốc
gia - có quan hệ bình đẳng, không phụ thuộc vào chế độ chính trị, diện tích, dân số, trình 10:23, 06/01/2026
Nhóm CPQT - Câu hỏi thảo luận công pháp quốc tế - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ Câu 1: Tại sao Luật quốc tế là - Studocu
độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Trong luật quốc tế, không chủ thể nào có vai trò
giống như nhà nước trong luật quốc gia. Vì vậy, các quy phạm của luật quốc tế chỉ có thể
được ra đời và thực hiện nếu chính các chủ thể của luật quốc tế tự nguyện xây dựng hoặc thông qua.
Thứ tư, về phương thức thực thi pháp luật, pháp luật quốc gia có bộ máy cưỡng chế
tập trung thường trực như quân đội, cảnh sát, tòa án, nhà tù…làm biện pháp bảo đảm thi
hành, còn pháp luật quốc tế thì không có bộ máy cưỡng chế tập trung thường trực mà chỉ
có một số biện pháp cưỡng chế nhất định mang tính tự cưỡng chế dưới hình thức riêng rẽ
hoặc tập thể. Nói cách khác, trong luật quốc tế không có một hệ thống các cơ quan
chuyên biệt và tập trung làm nhiệm vụ đảm bảo thi hành luật quốc tế. Bởi quan hệ quốc
tế trước tiên và chủ yếu là quan hệ giữa các quốc gia độc lập có chủ quyền và bình đẳng
với nhau về pháp lý, nên việc tồn tại một hệ thống cơ quan đảm bảo thi hành hoặc chế thi
hành luật quốc tế tập trung sẽ được hiểu như vi phạm đến sự bình đẳng giữa các quốc gia.
Mặt khác, hệ thống các nguyên tắc và quy phạm của luật quốc tế là do chính các quốc gia
và các chủ thể khác của luật quốc tế xây dựng nên trên cơ sở tự nguyện,thông qua đấu
tranh và thương lượng, chính vì vậy, việc tuân thủ các nguyên tắc và quy phạm pháp luật
quốc tế này cũng dựa trên cơ sở tự nguyện. Tuy nhiên, trong luật quốc tế vẫn tồn tại
những biện pháp chế tài
Điểm khác biệt so với luật quốc gia là ở chỗ, các biện pháp chế tài cá thể (như tự vệ,
trả đũa hợp pháp, trừng phạt, cấm vận, cắt đứt qhe) hoặc tập thể (như trừng phạt phi vũ
trang hoặc vũ trang) là do chính các chủ thể luật quốc tế tự thực hiện. Liên quan đến vấn
để đảm bảo thi hành pháp luật, điểm quan trọng nhất là hệ thống các nguyên tắc và quy
phạm của luật quốc tế trong đa số trường hợp được thực thi bởi sự tự nguyện của các
quốc gia. Có thể thấy, việc không thực thi luật quốc tế có thể dẫn đến những hậu quả rất
bất lợi cho quốc gia như: danh dự của quốc gia bị ảnh hưởng; trên cơ sở nguyên tắc có đi
có lại, các quốc gia bị thiệt hại sẽ không áp dụng nghĩa vụ của mình đối với quốc gia bị v
phạm;các quốc gia bị thiệt hại có thể sẽ áp dụng hành vi trả đũa... Dư luận của nhân dân
trên thế giới (trong và ngoài quốc gia có hành vi liên quan) cũng góp phân quan trọng
trong việc thúc đẩy sự tôn trọng luật quốc tế các của quốc gia.
Như vậy, qua các đặc điểm trên, ta có thể rút ra được mối quan hệ giữa luật quốc tế và
luật quốc gia. Xuất phát từ lợi ích chung của quốc gia, dân tộc và cộng đồng quốc tế. Sự
tác động qua lại giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia được thể hiện ở hai khía cạnh:
Một là, pháp luật quốc gia ảnh hưởng quyết định tới sự hình thành và phát triển của pháp luật quốc tế.
Hai là, pháp luật quốc tế có tác động tích cực nhằm phát triển và hoàn thiện pháp luật quốc gia. 10:23, 06/01/2026
Nhóm CPQT - Câu hỏi thảo luận công pháp quốc tế - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ Câu 1: Tại sao Luật quốc tế là - Studocu 10:23, 06/01/2026
Nhóm CPQT - Câu hỏi thảo luận công pháp quốc tế - CÔNG PHÁP QUỐC TẾ Câu 1: Tại sao Luật quốc tế là - Studocu