













Preview text:
lOMoAR cPSD| 61531195 Câu 1:
Trình bày quan niệm dân chủ và quan điểm của chủ nghĩa Mac-Lenin về dân chủ.
Quan niệm dân chủ: Dân chủ là một hình thức nhà nước có tính chất giai cấp, trong đó quyền lực
nhà nước thuộc về một giai cấp nào đó của nhân dân, được gọi là chủ thể của dân chủ. Dân chủ
không phải là một khái niệm trừu tượng mà luôn mang tính chất giai cấp rõ ràng.
Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lenin:
- Thứ nhất, trên phương diện quyền lực: Dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân
là chủ nhân của đất nước. Quyền lợi căn bản nhất của nhân dân là quyền lực nhà nước phải
thuộc sở hữu của xã hội, bộ máy nhà nước phải vì nhân dân phục vụ. Chỉ khi mọi quyền
lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân thì quyền làm chủ của nhân dân mới được đảm bảo.
- Thứ hai, trên phương diện chế độ xã hội và chính trị: Dân chủ là một hình thức hay hình
thái nhà nước, là chính thể dân chủ hay chế độ dân chủ. Ở phương diện này, dân chủ ra đời
và phát triển gắn liền với sự ra đời và phát triển của Nhà nước (phạm trù lịch sử).
- Thứ ba, trên phương diện tổ chức và quản lý xã hội: Dân chủ là một nguyên tắc – nguyên
tắc dân chủ. Nguyên tắc này kết hợp với nguyên tắc tập trung để hình thành nguyên tắc tập
trung dân chủ trong tổ chức và quản lý xã hội.
Bản chất và tính chất của dân chủ theo quan điểm Mác - Lênin Khác với các quan điểm tư
sản, chủ nghĩa Mác - Lênin nhấn mạnh sâu sắc vào bản chất chính trị - giai cấp của dân chủ:
- Tính giai cấp của dân chủ: Không có nền dân chủ "thuần khiết", phi giai cấp hay dân chủ
cho toàn thể xã hội một cách chung chung. Dân chủ luôn gắn liền với nhà nước và mang
bản chất của giai cấp cầm quyền. (Ví dụ: Dân chủ tư sản thực chất là nền chuyên chính của
giai cấp tư sản; Dân chủ xã hội chủ nghĩa là sự làm chủ của đại đa số nhân dân lao động).
- Mối quan hệ biện chứng giữa Dân chủ và Chuyên chính: Dân chủ xã hội chủ nghĩa bao
hàm hai mặt thống nhất: vừa thực hiện rộng rãi quyền dân chủ cho nhân dân, vừa thực hiện
chuyên chính (trấn áp) đối với các thế lực thù địch chống phá lợi ích của nhân dân.
- Tính lịch sử (Dân chủ là phương tiện, không phải mục đích cuối cùng): Dân chủ là một
phạm trù lịch sử. Nó ra đời khi có nhà nước và sẽ tiêu vong khi xã hội tiến lên Chủ nghĩa
Cộng sản – khi nhà nước không còn, giai cấp không còn, thì dân chủ với tư cách là một
chế độ chính trị cũng sẽ biến mất, nhường chỗ cho sự tự quản của cộng đồng xã hội.
=> Kết luận: Dân chủ theo chủ nghĩa Mác - Lênin vừa là mục tiêu (xây dựng xã hội công bằng),
vừa là động lực phát triển xã hội. Đó là nền dân chủ của đa số, vì lợi ích của đa số và được thực
hiện bằng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Trình bày quan niệm dân chủ xã hội chủ nghĩa và bản chất nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Trong các bản chất ấy, bản chất nào quan trọng nhất? Vì sao? lOMoAR cPSD| 61531195 Câu 2:
Quan niệm: Dân chủ xã hội chủ nghĩa là một hình thức dân chủ đặc thù trong giai đoạn xã hội chủ
nghĩa, là dân chủ của giai cấp công nhân và các lực lượng đồng minh của nó, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa: thể hiện toàn diện trên 3 phương diện: Chính trị, Kinh
tế, và Tư tưởng - Văn hóa - Xã hội.
- Về phương diện Chính trị:
o Là nền dân chủ mang bản chất của giai cấp công nhân (giai cấp tiên phong), nhưng
phục vụ lợi ích cho đa số nhân dân lao động.
o Được lãnh đạo bởi Đảng Cộng sản.
o Thừa nhận quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhưng vẫn thực hiện trấn áp
(chuyên chính) với các thế lực thù địch.
- Về phương diện Kinh tế:
o Dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu.
o Đây là nền tảng để đảm bảo quyền làm chủ thực sự của nhân dân, ngăn chặn sự bất
bình đẳng giàu nghèo quá mức và sự bóc lột giai cấp.
- Về phương diện Tư tưởng - Văn hóa - Xã hội:
o Lấy hệ tư tưởng Mác - Lênin làm chủ đạo.
o Giải phóng con người khỏi mê tín dị đoan, áp bức về tinh thần, hướng tới sự phát
triển toàn diện của cá nhân.
Trong các bản chất trên, Bản chất KINH TẾ là quan trọng nhất.
Lý do (Dựa trên Thế giới quan Duy vật): •
Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng: Theo Mác, quan hệ kinh tế là gốc rễ. Muốn
người dân có quyền lực về chính trị (Dân chủ), trước hết họ phải nắm được quyền lực về
kinh tế (Làm chủ tư liệu sản xuất). •
Sự khác biệt căn bản: Các nền dân chủ trước đây dù có tuyên bố "tự do, bình đẳng" nhưng
vẫn duy trì chế độ Tư hữu, nên thực chất quyền lực vẫn thuộc về thiểu số người giàu. Chỉ
có Dân chủ XHCN thiết lập chế độ Công hữu, mới tạo ra cơ sở vật chất thực tế để người
dân thực sự làm chủ nhà nước. •
Kết luận: Nếu thiếu bản chất kinh tế này, tính nhân dân hay các mục tiêu chính trị khác sẽ
không thể thực hiện được triệt để. lOMoAR cPSD| 61531195 Câu 3:
So sánh dân chủ xã hội chủ nghĩa và các hình thức dân chủ trước đó. Tiêu chí so sánh
Các nền dân chủ trước đó Dân chủ Xã hội chủ nghĩa (Vô sản) (Chủ nô, Tư sản) 1. Cơ sở kinh tế
Dựa trên chế độ Tư hữu về tư Dựa trên chế độ Công hữu về những
liệu sản xuất (Tư liệu sản xuất tư liệu sản xuất chủ yếu (Tư liệu sản
thuộc về thiểu số giai cấp thống xuất thuộc về toàn xã hội). trị).
2. Bản chất giai Mang bản chất của giai cấp bóc
Mang bản chất của giai cấp công cấp
lột (Chủ nô, Tư sản). Bảo vệ lợi
nhân. Bảo vệ lợi ích của tuyệt đại đa
ích của thiểu số người giàu. số nhân dân lao động.
3. Cơ chế quyền Thực hiện dân chủ với thiểu số Thực hiện dân chủ rộng rãi với đa số
lực (Dân chủ & (giai cấp thống trị) và chuyên (nhân dân) và chuyên chính (trấn áp) Chuyên chính)
chính (trấn áp) với đa số (người với thiểu số (kẻ thù địch, đi ngược lợi lao động). ích dân tộc).
4. Mục tiêu lịch Duy trì và bảo vệ chế độ bóc lột, Xóa bỏ chế độ bóc lột, xóa bỏ nghèo sử
duy trì sự thống trị của giai cấp nàn, hướng tới giải phóng con người cầm quyền. và xây dựng CNXH/CNCS. 5. Tính chất lịch
Là nền dân chủ hạn hẹp, mang Là nền dân chủ rộng rãi nhất, thực sử
tính hình thức (đặc biệt là Dân chất nhất trong lịch sử (người dân làm
chủ Tư sản: tuyên bố bình đẳng chủ cả về chính trị, kinh tế và văn
nhưng thực tế bị chi phối bởi hóa). đồng tiền).
Sự khác biệt giữa Dân chủ XHCN và các nền dân chủ trước đó là sự khác biệt về CHẤT, thể hiện ở 2 điểm cốt lõi: •
Về sở hữu: Các nền dân chủ cũ vẫn giữ chế độ Tư hữu -> dẫn đến bất bình đẳng giàu
nghèo -> Dân chủ chỉ là hình thức (người nghèo có quyền nhưng không có lực). Ngược lOMoAR cPSD| 61531195 Câu 4:
lại, Dân chủ XHCN thiết lập chế độ Công hữu -> Người dân làm chủ kinh tế thì mới làm
chủ chính trị thực sự. •
Về đối tượng: Lần đầu tiên trong lịch sử, Dân chủ XHCN là nhà nước của đa số cai quản
thiểu số (ngược lại hoàn toàn với trước đây là thiểu số cai quản đa số).
Phân tích điều kiện khách quan quan điểm sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân.
Thứ nhất, do địa vị kinh tế của giai cấp công nhân quy định.
Giai cấp công nhân là sản phẩm trực tiếp của nền đại công nghiệp trong phương thức sản xuất tư
bản chủ nghĩa, là chủ thể của quá trình sản xuất vật chất hiện đại. Đại diện cho phương thức sản
xuất tiên tiến và lực lượng sản xuất hiện đại có vai trò quyết định sự thay thế quan hệ sản xuất thiết lập.
Điều kiện khách quan này là nhân tố kinh tế, quy định giai cấp công nhân là lực lượng phá vỡ quan
hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Về xã hội: Trong CNTB giai cấp công nhân là giai cấp chịu sự áp bức bóc lột trực tiếp từ giai cấp
tư sản, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân ngày càng phát triển thể hiện thông
qua các cuộc đấu tranh cả về kinh tế và chính trị.
Về chính trị: Để giải phóng mình khỏi sự áp bức bóc lột về kinh tế, xã hội giai cấp công nhân đấu
tranh giành chính quyền về tay mình, xóa bỏ sự thống trị của giai cấp tư sản, xóa bỏ CNTB.
Thứ hai, do địa vị chính trị - xã hội của giai cấp công nhân quy định.
Giai cấp công nhân có được những phẩm chất của một giai cấp tiên tiến, giai cấp cách mạng: tính
tổ chức và kỷ luật, tự giác và đoàn kết trong cuộc đấu tranh tự giải phóng mình và giải phóng xã hội.
Những phẩm chất ấy của giai cấp công nhân được hình thành từ chính những điều kiện khách quan,
được quy định từ địa vị kinh tế và địa vị chính trị - xã hội của nó trong nền sản xuất hiện đại và
trong xã hội hiện đại mà giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản đã tạo ra một cách khách quan, ngoài ý muốn của nó.
Giai cấp công nhân được trang bị lý luận tiên tiến là chủ nghĩa Mác – Lênin, có đội tiền phong là
Đảng cộng sản dẫn dắt.
Giai cấp công nhân là giai cấp đại biểu cho tương lai, cho xu thế đi lên của tiến trình phát triển lịch
sử. Đây là đặc tính quan trọng, quyết định bản chất cách mạng của giai cấp công nhân.
Giai cấp công nhân, một giai cấp cách mạng là hậu quả của sự bóc lột, áp bức mà giai cấp tư sản
và chủ nghĩa tư bản tạo ra đối với công nhân, đó là trạng thái mà cách mạng sẽ xóa bỏ để giải
phóng giai cấp công nhân và giải phóng xã hội. lOMoAR cPSD| 61531195 Câu 5:
Địa vị chính trị - xã hội của giai cấp công nhân đã tạo nên những phẩm chất chính trị là giai cấp
tiến tiến nhất; giai cấp có ý thức kỷ luật cao; giai cấp có tinh thần cách mạng triệt để; giai cấp có bản chất quốc tế.
Tóm lại, chính địa vị kinh tế và địa vị chính trị - xã hội của giai cấp công nhân là yếu tố khách
quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
Phân tích điều kiện chủ quan để giai cấp công nhân thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình. mình.
1. Sự phát triển của bản thân giai cấp công nhân về cả số lượng và chất lượng
Thông qua sự phát triển này có thể thấy sự lớn mạnh của giai cấp công nhân cùng với quy mô phát
triển của nền sản xuất vật chất hiện đại trên nền tảng của công nghiệp, của kỹ thuật và công nghệ.
Sự phát triển về số lượng phải gắn liền với sự phát triển về chất lượng giai cấp công nhân hiện đại,
đảm bảo cho giai cấp công nhân thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình. Chất lượng giai cấp
công nhân phải thể hiện ở trình độ trưởng thành về ý thức chính trị của một giai cấp cách mạng,
tức là tự giác nhận thức được vai trò và trọng trách của giai cấp mình đối với lịch sử, do đó giai
cấp công nhân phải được giác ngộ về lý luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác Lênin.
Là giai cấp đại diện tiêu biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến, chất lượng giai cấp công nhân
còn phải thể hiện ở năng lực và trình độ làm chủ khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại, nhất là
trong điều kiện hiện nay.
2. Đảng Cộng sản là nhân tố chủ quan quan trọng nhất để giai cấp công nhân thực hiện
thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình.
Đảng Cộng sản – đội tiên phong của giai cấp công nhân ra đời và đảm nhận vai trò lãnh đạo cuộc
cách mạng là dấu hiệu về sự trưởng thành vượt bậc của giai cấp công nhân với tư cách là giai cấp cách mạng.
Quy luật chung, phổ biến cho sự ra đời của Đảng Cộng sản là sự kết hợp giữa chủ nghĩa xã hội
khoa học, tức chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân.
Giai cấp công nhân là cơ sở xã hội và nguồn bổ sung lực lượng quan trọng nhất của Đảng, làm cho
Đảng mang bản chất giai cấp công nhân trở thành đội tiên phong, bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp.
Đảng Cộng sản đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, của dân tộc và xã hội. Sức
mạnh của Đảng không chỉ thể hiện ở bản chất giai cấp công nhân mà còn ở mối liên hệ mật thiết
giữa Đảng với nhân dân, với quần chúng lao động đông đảo trong xã hội, thực hiện cuộc cách
mạng do Đảng lãnh đạo để giải phóng giai cấp và giải phóng xã hội. lOMoAR cPSD| 61531195 Câu 6:
3. Liên minh giai cấp giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác
Ngoài hai điều kiện trên, phải có sự liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và
các tầng lớp lao động khác do giai cấp công nhân thông qua đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản lãnh đạo.
Nêu nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân 1 cách tổng quát. Phân tích nội dung
sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân về chính trị.
1. Nội dung tổng quát sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân không chỉ giới hạn ở việc giải phóng bản thân giai cấp
mình, mà là sự nghiệp mang tính toàn cầu và triệt để nhất trong lịch sử. Nội dung tổng quát của sứ
mệnh ấy là: Thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản, giai cấp công nhân tổ chức, lãnh đạo
nhân dân lao động đấu tranh xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xóa bỏ mọi chế độ áp bức, bóc lột;
giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi mọi sự áp bức, bóc
lột, nghèo nàn, lạc hậu; đồng thời xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa và cuối cùng là chủ nghĩa
cộng sản - một xã hội văn minh, công bằng, nơi con người được phát triển toàn diện.
2. Phân tích nội dung sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân về phương diện Chính trị - Xã hội
Trong các nội dung của sứ mệnh lịch sử (Kinh tế, Chính trị, Văn hóa), nội dung chính trị - xã hội
giữ vai trò tiên quyết, mở đường cho các biến đổi khác. Cụ thể:
Thứ nhất, tiến hành cách mạng chính trị để giành chính quyền: Trong chế độ tư bản chủ nghĩa,
giai cấp công nhân bị giai cấp tư sản thống trị và bóc lột. Do đó, nhiệm vụ đầu tiên và cấp bách
nhất là giai cấp công nhân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, phải tiến hành cuộc cách mạng
chính trị để lật đổ quyền thống trị của giai cấp tư sản, xóa bỏ bộ máy nhà nước tư sản áp bức cũ
và giành lấy quyền lực nhà nước về tay giai cấp mình và nhân dân lao động. Đây là tiền đề chính
trị bắt buộc, vì nếu không giành được chính quyền, giai cấp công nhân không thể thực hiện được
các cải biến về kinh tế và xã hội.
Thứ hai, thiết lập và củng cố Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa: Sau khi giành được
chính quyền, giai cấp công nhân không dừng lại mà phải thiết lập một nhà nước kiểu mới – Nhà
nước của dân, do dân và vì dân (mà C.Mác gọi là chuyên chính vô sản). Nhà nước này mang bản
chất của giai cấp công nhân nhưng đại diện cho lợi ích của toàn thể nhân dân lao động. Giai cấp
công nhân sử dụng bộ máy nhà nước này như một công cụ hữu hiệu để cải tạo xã hội cũ, tổ chức
xây dựng xã hội mới, đồng thời trấn áp các thế lực phản động đi ngược lại lợi ích của dân tộc, bảo
vệ vững chắc thành quả cách mạng.
Thứ ba, xây dựng nền dân chủ Xã hội chủ nghĩa: Nội dung chính trị cốt lõi của sứ mệnh lịch
sử là xây dựng một nền dân chủ rộng rãi và thực chất – nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Giai cấp lOMoAR cPSD| 61531195 Câu 7:
công nhân lãnh đạo xã hội thông qua Đảng Cộng sản và Nhà nước để đảm bảo quyền lực thực sự
thuộc về nhân dân. Quá trình này bao gồm việc lôi cuốn đông đảo nhân dân lao động tham gia vào
quản lý nhà nước, quản lý xã hội, đảm bảo quyền tự do, dân chủ và công bằng xã hội. Chỉ khi thực
hiện tốt nền dân chủ này, giai cấp công nhân mới huy động được sức mạnh tổng hợp của toàn dân
tộc để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. lOMoAR cPSD| 61531195
Kết luận: Như vậy, nội dung chính trị của sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân không chỉ là việc
giành lấy quyền lực, mà quan trọng hơn là việc sử dụng quyền lực đó để thiết lập một chế độ chính
trị mới, một nền dân chủ mới, làm bàn đạp vững chắc để thực hiện thắng lợi công cuộc cải tạo và
xây dựng đất nước trên các lĩnh vực kinh tế và văn hóa.
Câu 7: Nêu đặc điểm dân tộc Việt Nam. Hiện nay Đảng ta đã và đang làm gì để giải quyết các vấn đề dân tộc.
1. Đặc điểm nổi bật của các dân tộc Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số, các dân tộc thiểu số
chiếm tỷ lệ nhỏ nhưng lại cư trú trên những địa bàn chiến lược. Đặc điểm của dân tộc Việt Nam
có những nét đặc thù sau: •
Thứ nhất, các dân tộc cư trú xen kẽ nhau: Khác với nhiều quốc gia trên thế giới nơi các
dân tộc thường sống tách biệt thành từng khu tự trị, ở Việt Nam, không có dân tộc nào cư
trú trên một địa bàn lãnh thổ riêng biệt hoàn toàn. Đồng bào các dân tộc sinh sống xen kẽ
nhau từ Bắc vào Nam. Đặc điểm này tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, văn
hóa, tăng cường sự hiểu biết và tình đoàn kết, nhưng cũng đặt ra những thách thức lớn cho
công tác quản lý hành chính và giải quyết các vấn đề đặc thù về văn hóa, phong tục. •
Thứ hai, có sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế - xã hội: Do điều kiện tự nhiên,
lịch sử và xã hội, trình độ phát triển giữa các dân tộc còn chưa đồng đều. Dân tộc Kinh và
một số dân tộc (như Hoa, Khmer) sống ở vùng đồng bằng, đô thị thường có trình độ phát
triển kinh tế - xã hội cao hơn. Trong khi đó, đa số các dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng
sâu, vùng xa, vùng núi cao, biên giới có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, nên đời sống còn
nhiều khó khăn, trình độ dân trí và kỹ thuật sản xuất còn hạn chế. •
Thứ ba, các dân tộc có truyền thống đoàn kết gắn bó lâu đời: Đây là đặc điểm nổi bật
và quý báu nhất. Do yêu cầu khách quan của công cuộc dựng nước và giữ nước, đấu tranh
chống thiên tai và giặc ngoại xâm, các dân tộc Việt Nam đã sớm hình thành ý thức cộng
đồng quốc gia - dân tộc. Lịch sử chứng minh chưa từng có cuộc chiến tranh sắc tộc nào
xảy ra giữa các dân tộc ở Việt Nam. •
Thứ tư, mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, góp phần tạo nên sự phong phú, thống
nhất của văn hóa Việt Nam: Mỗi dân tộc đều có ngôn ngữ, trang phục, phong tục tập
quán riêng , tạo nên một bức tranh văn hóa đa dạng. Tuy nhiên, sự đa dạng đó nằm trong
sự thống nhất của một nền văn hóa chung – văn hóa Việt Nam.
2. Chính sách và hành động của Đảng ta hiện nay để giải quyết vấn đề dân tộc
Dựa trên quan điểm nhất quán: "Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng
phát triển", hiện nay Đảng và Nhà nước ta đang tập trung thực hiện các nội dung cụ thể sau: •
Về chính trị: Thực hiện quyền bình đẳng về chính trị cho các dân tộc. Đảng chủ trương
xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh ở vùng dân tộc thiểu số; thực hiện tốt quy lOMoAR cPSD| 61531195
chế dân chủ ở cơ sở. Đặc biệt, Đảng luôn chú trọng cơ cấu hợp lý thành phần đại biểu là
người dân tộc thiểu số trong Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và bộ máy chính quyền,
đảm bảo tiếng nói và quyền lợi của đồng bào được tôn trọng và bảo vệ. •
Về kinh tế: Đây là nhiệm vụ trọng tâm và cấp bách nhất hiện nay. Đảng chủ trương ưu
tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi thông qua các chương
trình mục tiêu quốc gia (như Chương trình 135, Chương trình giảm nghèo bền vững, Xây
dựng nông thôn mới). Tập trung giải quyết vấn đề đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt;
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, áp dụng khoa học kỹ thuật để nâng cao năng suất lao động,
từng bước rút ngắn khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng miền và giữa các dân tộc. •
Về văn hóa - xã hội: Đảng chủ trương bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống
tốt đẹp của các dân tộc (tiếng nói, chữ viết, lễ hội); đồng thời kiên quyết bài trừ các hủ tục
lạc hậu, mê tín dị đoan. Đẩy mạnh phát triển giáo dục - đào tạo, thực hiện tốt chế độ cử
tuyển, mở rộng hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú để nâng cao dân trí và đào tạo
nguồn nhân lực tại chỗ cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Chú trọng công tác chăm sóc
sức khỏe, y tế cho đồng bào. •
Về an ninh - quốc phòng: Tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh ở các địa bàn xung
yếu, vùng biên giới, vùng dân tộc thiểu số. Xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc, kiên
quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc,
tôn giáo để gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động ly khai, gây mất ổn định chính trị.
Câu 8: Phân tích nội dung cương lĩnh dân tộc của Leenin. Trong các nội dung đó, nội dung nào quan trọng nhất? Vì sao?
Thứ nhất, các dân tộc hoàn toàn bình đẳng. Đây là quyền thiêng liêng của các dân tộc, là nền
tảng để xây dựng mối quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia. Theo Lênin, không phân biệt dân tộc
lớn hay nhỏ, trình độ phát triển cao hay thấp, tất cả đều có nghĩa vụ và quyền lợi ngang nhau trên
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong một quốc gia, quyền bình đẳng này phải được pháp luật
bảo vệ, nghiêm cấm mọi hành vi chia rẽ, kỳ thị hoặc giữ đặc quyền, đặc lợi. Tuy nhiên, Lênin nhấn
mạnh rằng bình đẳng trên văn bản là chưa đủ, mà quan trọng hơn là phải thực hiện bình đẳng trên
thực tế bằng cách giúp đỡ các dân tộc lạc hậu phát triển kinh tế - xã hội để rút ngắn khoảng cách chênh lệch.
Thứ hai, các dân tộc được quyền tự quyết. Đây là quyền làm chủ vận mệnh của mỗi dân tộc.
Quyền này bao gồm hai khía cạnh: quyền tự do tách ra thành lập một quốc gia dân tộc độc lập và
quyền tự nguyện liên hiệp với các dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng. Việc giải quyết quyền tự
quyết phải xuất phát từ thực tiễn lịch sử cụ thể và phải đứng vững trên lập trường của giai cấp công
nhân. Lênin kiên quyết phản đối việc các thế lực thù địch lợi dụng chiêu bài "dân tộc tự quyết" để
kích động ly khai, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. lOMoAR cPSD| 61531195
Thứ ba, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc. Đây là nội dung cơ bản, quan trọng nhất và là
"linh hồn" của Cương lĩnh dân tộc. Nó phản ánh bản chất quốc tế của giai cấp công nhân và sự
thống nhất giữa sự nghiệp giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp. Lênin chỉ rõ rằng giai cấp
công nhân toàn thế giới, không phân biệt dân tộc, đều có chung một kẻ thù là chủ nghĩa tư bản và
chủ nghĩa đế quốc. Do đó, họ cần phải đoàn kết, liên hiệp lại để tạo thành sức mạnh tổng hợp. Sự
liên hiệp này chính là cơ sở vững chắc để thực hiện đúng đắn quyền bình đẳng và quyền tự quyết
dân tộc, đảm bảo thắng lợi cho sự nghiệp cách mạng vô sản.
Trong ba nội dung của Cương lĩnh dân tộc, "Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc" đóng vai
trò quan trọng nhất và mang tính quyết định, vì những lý do sau:
Thứ nhất, nội dung này thể hiện bản chất giai cấp và mục tiêu chiến lược của chủ nghĩa Mác -
Lênin. Vấn đề dân tộc tuy quan trọng nhưng luôn phải phục vụ cho vấn đề giai cấp. Giai cấp công
nhân toàn thế giới có chung một kẻ thù là chủ nghĩa đế quốc và có chung một mục tiêu là xóa bỏ
áp bức, bóc lột. Nếu không có sự đoàn kết, liên hiệp lại, giai cấp công nhân sẽ bị giai cấp tư sản
dùng chiêu bài "dân tộc cực đoan" để chia rẽ, làm suy yếu phong trào cách mạng.
Thứ hai, sự liên hiệp công nhân các dân tộc là cơ sở và điều kiện tiên quyết để thực hiện thắng
lợi hai quyền còn lại (quyền bình đẳng và quyền tự quyết). Nếu không có sự đoàn kết của giai cấp
công nhân để lật đổ chế độ áp bức, bóc lột thì quyền bình đẳng hay quyền tự quyết dân tộc chỉ là
hình thức, không bao giờ trở thành hiện thực trọn vẹn. Chỉ khi giai cấp công nhân các dân tộc đoàn
kết lại, giành được chính quyền và giải phóng giai cấp mình, thì mới có đủ sức mạnh để giải phóng
các dân tộc khỏi ách nô dịch.
Thứ ba, đây là giải pháp then chốt để củng cố tình hữu nghị giữa các dân tộc, chống lại mọi âm
mưu chia rẽ của các thế lực thù địch, đảm bảo cho sự thắng lợi của công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới.
Câu 9: Nêu bản chất của tôn giáo. Phân biệt tôn giáo – tín ngưỡng – mê tín dị đoan. Hiện nay
Đảng ta đã và đang làm gì để giải quyết các vấn đề tôn giáo.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, bản chất của tôn giáo được thể hiện qua 4 điểm chính sau:
1. Là một hình thái ý thức xã hội phản ánh hư ảo hiện thực •
Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, nhưng phản ánh hiện thực khách quan một cách
hoang đường, hư ảo. •
Qua lăng kính tôn giáo, những sức mạnh của tự nhiên và xã hội (mà con người chưa kiểm
soát được) đã trở thành những sức mạnh thần bí, siêu nhiên chi phối lại con người. •
Luận điểm nổi tiếng của C.Mác: "Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân"
2. Là một hiện tượng xã hội - văn hóa do con người sáng tạo ra lOMoAR cPSD| 61531195 •
Tôn giáo không phải do thần linh tạo ra, mà là sản phẩm của con người, do con người sáng
tạo ra để gửi gắm ước mơ, hy vọng. •
Tuy nhiên, điểm nghịch lý là: Con người sáng tạo ra tôn giáo nhưng lại bị lệ thuộc, phục
tùng tôn giáo vô điều kiện. •
Xét đến cùng, kinh tế quyết định sự tồn tại và biến đổi của tôn giáo (ý thức xã hội).
3. Là một thực thể xã hội: Khi xem xét tôn giáo như một thực thể xã hội cụ thể, một tôn giáo
phải hội tụ đủ 5 yếu tố:
1. Có niềm tin sâu sắc vào đấng siêu nhiên.
2. Có hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi.
3. Có hệ thống cơ sở thờ tự.
4. Có tổ chức nhân sự quản lý.
5. Có hệ thống tín đồ đông đảo.
4. Về phương diện thế giới quan •
Tôn giáo mang thế giới quan duy tâm, đối lập với thế giới quan duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin. •
Tuy nhiên, những người cộng sản luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân
dân; chủ trương đoàn kết giữa người theo đạo và không theo đạo để cùng xây dựng xã hội.
Phân biệt Tôn giáo – Tín ngưỡng – Mê tín dị đoan
Để phân biệt ba khái niệm này, cần dựa vào mức độ niềm tin, tính hệ thống và giá trị xã hội của chúng: •
Tín ngưỡng: Là niềm tin của con người vào cái thiêng liêng, huyền bí (như thần linh, tổ
tiên, anh hùng dân tộc...). Mang tính chất dân gian, truyền thống, gắn liền với phong tục
tập quán của cộng đồng. Ví dụ: Thờ cúng tổ tiên, thờ Thành hoàng làng, thờ Mẫu. Đặc
điểm: Chưa có hệ thống giáo lý, giáo luật chặt chẽ như tôn giáo. •
Tôn giáo (Đạo): Là hình thức tín ngưỡng ở trình độ cao, có tính hệ thống và tổ chức chặt
chẽ. Phải hội tụ đủ các yếu tố: Giáo lý (lý thuyết), Giáo luật (luật lệ), Lễ nghi, Tổ chức giáo
hội và Tín đồ. Ví dụ: Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo. Đặc điểm: Là một thực thể
xã hội có tổ chức, được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân. •
Mê tín dị đoan:Là niềm tin mù quáng vào những điều mơ hồ, nhảm nhí, không có căn cứ
khoa học. Dẫn đến những hành vi cực đoan, gây hậu quả xấu cho sức khỏe, tài sản, tính
mạng và trật tự xã hội. Ví dụ: Bói toán lừa đảo, chữa bệnh bằng nước thánh, đốt vàng mã
quá mức gây lãng phí. Đặc điểm: Là hiện tượng tiêu cực, phản văn hóa, cần phải bài trừ. lOMoAR cPSD| 61531195
2. Đảng ta đã và đang làm gì để giải quyết vấn đề tôn giáo hiện nay?
Dựa trên quan điểm Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta thực hiện nhất quán các chính sách sau: •
Thứ nhất, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo:
o Khẳng định tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân.
o Công dân có quyền theo hoặc không theo một tôn giáo nào; các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.
o Nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm tự do tín ngưỡng hoặc lợi dụng tín ngưỡng để vi phạm pháp luật. •
Thứ hai, thực hiện đoàn kết đồng bào theo đạo và không theo đạo (Đại đoàn kết dân tộc):
o Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, không phân biệt lương - giáo.
o Tập trung vào điểm tương đồng là lòng yêu nước và mục tiêu xây dựng đất nước
("Kính chúa yêu nước", "Tốt đời đẹp đạo").
o Kiên quyết đấu tranh chống lại mọi âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn
đề tôn giáo để chia rẽ dân tộc. •
Thứ ba, chăm lo đời sống vật chất và văn hóa cho đồng bào tôn giáo:
o Đảng xác định: Muốn giải quyết vấn đề tôn giáo, cốt lõi là phải phát triển kinh tế xã hội.
o Tập trung xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí ở vùng đồng bào có đạo, giúp họ
"an cư lạc nghiệp". Khi đời sống vật chất đi lên thì nhận thức xã hội cũng được nâng cao. •
Thứ tư, tăng cường quản lý nhà nước về tôn giáo bằng pháp luật:
o Mọi hoạt động tôn giáo phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật.
o Nhà nước tạo điều kiện cho các tôn giáo hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích; đồng
thời xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng tôn giáo để chống phá Nhà nước, gây mất
an ninh trật tự (như mê tín dị đoan, tà đạo).
Câu 10: Nêu bản chất tôn giáo? Phân tích các nguồn gốc tôn giáo. Trong các nguồn gốc đó, nguồn
gốc nào quan trọng nhất? Vì sao?
Có 3 nguồn gốc: Tự nhiên, kinh tế - xã hội; Nhận thức; Tâm lý. Trong đó nguồn gốc tự nhiên, kinh
tế - xã hội là cơ bản nhất. lOMoAR cPSD| 61531195
- Nguồn gốc tự nhiên, kinh tế - xã hội:
Trong xã hội công xã nguyên thuỷ, do lực lượng sản xuất chưa phát triển, trước thiên nhiên hùng
vĩ tác động và chi phối khiến cho con người cảm thấy yếu đuối và bất lực, không giải thích được,
nên con người đã gán cho tự nhiên những sức mạnh, quyền lực thần bí. Khi xã hội xuất hiện các
giai cấp đối kháng, có áp bức bất công, do không giải thích được nguồn gốc của sự phân hoá giai
cấp và áp bức bóc lột bất công, tội ác v.v..., cộng với lo sợ trước sự thống trị của các lực lượng xã
hội, con người trông chờ vào sự giải phóng của một lực lượng siêu nhiên ngoài trần thế.
- Nguồn gốc nhận thức:
Ở một giai đoạn lịch sử nhất định, sự nhận thức của con người về tự nhiên, xã hội và chính bản
thân mình là có giới hạn. Khi mà khoảng cách giữa “biết” và “chưa biết” vẫn tồn tại, khi những
điều mà khoa học chưa giải thích được, thì điều đó thường được giải thích thông qua lăng kính các
tôn giáo. Ngay cả những vấn đề đã được khoa học chứng minh, nhưng do trình độ dân trí thấp,
chưa thể nhận thức đầy đủ, thì đây vẫn là điều kiện, là mảnh đất cho tôn giáo ra đời, tồn tại và phát
triển. Thực chất nguồn gốc nhận thức của tôn giáo chính là sự tuyệt đối hoá, sự cường điệu mặt
chủ thể của nhận thức con người, biến cái nội dung khách quan thành cái siêu nhiên, thần thánh.
- Nguồn gốc tâm lý:
Sự sợ hãi trước những hiện tượng tự nhiên, xã hội, hay trong những lúc ốm đau, bệnh tật; ngay cả
những may, rủi bất ngờ xảy ra, hoặc tâm lý muốn được bình yên khi làm một việc lớn, con người
cũng dễ tìm đến với tôn giáo. Thậm chí cả những tình cảm tích cực như tình yêu, lòng biết ơn,
lòng kính trọng đối với những người có công với nước, với dân cũng dễ dẫn con người đến với tôn giáo.
Nguồn gốc Tự nhiên, Kinh tế - Xã hội là quan trọng nhất? 1.
Xuất phát từ quan điểm duy vật lịch sử: Theo nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác -
Lênin: "Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội". •
Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội. •
Nguồn gốc tự nhiên và kinh tế - xã hội chính là "tồn tại xã hội". •
Vì vậy, mọi ảo tưởng, niềm tin tôn giáo đều là sự phản ánh hư ảo từ chính hiện thực cuộc
sống. Nếu không có sự bất lực trước thiên nhiên và sự bất công trong xã hội, con người sẽ
không có nhu cầu sáng tạo ra "thần linh" để cứu rỗi mình. 2.
Nó chi phối các nguồn gốc còn lại: Nguồn gốc nhận thức và tâm lý không tự nhiên sinh
ra, mà chúng nảy sinh trên nền tảng của điều kiện kinh tế - xã hội thấp kém: •
Về nhận thức: Do lực lượng sản xuất kém phát triển, khoa học chưa tiến bộ nên nhận thức
của con người mới bị giới hạn, mới có những "khoảng trống" để tôn giáo lấp vào. lOMoAR cPSD| 61531195 •
Về tâm lý: Do cuộc sống nghèo khổ, bị áp bức, bấp bênh trước thiên nhiên nên con người
mới sinh ra tâm lý sợ hãi, lo âu và cần tìm chỗ dựa tinh thần. 3.
Quyết định sự mất đi của tôn giáo: Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định: Muốn xóa bỏ tôn
giáo, không thể chỉ dùng giáo dục hay khuyên răn, mà quan trọng nhất là phải cải tạo hiện thực
xã hội. Khi con người làm chủ được tự nhiên và xóa bỏ được chế độ áp bức bóc lột, thì nguồn gốc
tự nhiên, kinh tế - xã hội của tôn giáo mất đi. Khi "cái gốc" vật chất này mất đi, tôn giáo sẽ dần dần tiêu vong.