







Preview text:
lOMoAR cPSD| 61457685
Câu 1: Phân tích định nghĩa vật chất của Lenin, rút ra ý nghĩa định nghĩa
Định nghĩa vật chất của Lenin: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan,
được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh,
và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” Phân tích:
Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan
+ Phân biệt khái niệm vật chất của Lenin với khái niệm vật chất trong các lĩnh vực vật lý, hóa học,
sinh học... (các dạng tồn tại của vật chất)
+ Thuộc tính quan trọng của vật chất là tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người.
=> Vật chất có trước ý thức
Vật chất được đem lại cho con người trong cảm giác
Vật chất là cái khi tác động vào giác quan của con người thì đem lại cảm giác
=> Con người nhận thức được
Được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.
Vật chất có trước (tính thứ nhất)
Cảm giác, ý thức chỉ là cái có sau (tính thứ hai) Ý nghĩa phương pháp luận
- Giải quyết đúng đắn và triệt để hai mặt vấn đề cơ bản của triết học
- Triệt để khắc phục hạn chế của chủ nghĩa duy vật cũ, bác bỏ chủ nghĩa duy tâm, thuyết bất khả tri
- Khắc phục được khủng hoảng, đem lại niềm tin trong khoa học tự nhiên, mở đường cho sự
phát triển của khoa học
- Tạo tiền đề xây dựng quan điểm chủ nghĩa duy vật về xã hội và lịch sử loài người
- Là cơ sở để xây dựng nền tảng vững chắc cho sự liên minh ngày càng chặt chẽ giữa triết học
duy vật biện chứng với khoa học
Câu 2: Trình bày nguồn gốc cho sự ra đời của ý thức. Liên hệ vai trò của lao động đến
sự phát triển ý thức của bản thân
Theo quan điểm triết học Mác – Lê-nin, ý thức là một phạm trù triết học dùng để chỉ toàn bộ hoạt
động tinh thần phản ánh thế giới vật chất diễn ra trong não người, hình thành trong quá trình lao động
và được diễn đạt nhờ ngôn ngữ.
Ý thức xuất hiện là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài của giới tự nhiên, của lịch sử trái đất, đồng
thời là kết quả trực tiếp của thực tiễn xã hội – lịch sử của con người.
Ý thức ra đời bởi hai nguồn gốc: nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội.
Xét về nguồn gốc tự nhiên của ý thức:
Thế giới khách quan tác động vào bộ não của con người, và bộ não của con người phản ánh lại sự tác
động đó thì lúc ấy mới sinh ra ý thức.
Ý thức là thuộc tính của vật chất, nhưng không phải của mọi dạng vật chất, mà là thuộc tính của một
dạng vật chất sống có tổ chức cao nhất, đó là bộ não con người. Não người là khí quan vật chất của ý
thức, ý thức là chức năng của bộ óc người hoạt động bình thường. Hoạt động ý thức của con người lOMoAR cPSD| 61457685
diễn ra trên cơ sở hoạt động của thần kinh não bộ, bộ não càng hoàn thiện hoạt động thần kinh càng
hiệu quả, ý thức của con người càng phong phú, sâu sắc.
Phản ánh là thuộc tính phổ biến của mọi dạng vật chất, được biểu hiện trong sự liên hệ, tác động qua
lại giữa các đối tượng vật chất với nhau. Sự phản ánh của vật chất là một trong những nguồn gốc tự
nhiên của ý thức. Phản ánh của vật chất có quá trình phát triển lâu dài và từ hình thức thấp lên cao
tùy thuộc vào kết cấu của tổ chức vật chất.Ý thức là hình thức phản ánh đặc trưng chỉ có ở con người
và là hình thức phản ánh cao nhất của thế giới vật chất. Ý thức là sự phản ánh thế giới hiện thực bởi bộ óc con người.
Như vậy, sự xuất hiện con người và hình thành bộ óc của con người có năng lực phản ánh hiện thực
khách quan là nguồn gốc tự nhiên của ý thức.
Bên cạnh nguồn gốc tự nhiên, sự ra đời của ý thức còn có nguồn gốc xã hội.
Xét về nguồn gốc xã hội của ý thức, nhân tố cơ bản và trực tiếp nhất tạo thành nguồn gốc xã hội của
ý thức là lao động và ngôn ngữ.
Để tồn tại, con người phải lao động để tạo ra sản phẩm thỏa mãn các nhu cầu của mình, thông qua
hoạt động lao động cải tạo thế giới khách quan mà con người từng bước nhận thức thế giới, có ý thức
ngày càng sâu sắc về thế giới.
Trong quá trình lao động, con người tác động vào thế giới khách quan làm thế giới khách quan bộc
lộ những thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận động của nó, biểu hiện thành những hiện
tượng nhất định mà con người có thể quan sát được. Những hiện tượng ấy, thông qua hoạt động của
các giác quan, tác động vào bộ óc người, thông qua hoạt động của bộ não con người, tạo ra khả năng
Trong quá trình lao động con người liên kết với nhau, tạo thành các mối quan hệ xã hội tất yếu và các
mối quan hệ của các thành viên của xã hội không ngừng được củng cố và phát triển dẫn đến nhu cầu
cần thiết “phải trao đổi với nhau điều gì đấy” nên ngôn ngữ xuất hiện.
Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung của ý thức. Ngôn ngữ xuất hiện trở thành cái
vỏ vật chất của tư duy, là hiện thực trực tiếp của ý thức và là phương thức để ý thức tồn tại với tư
cách là sản phẩm xã hội – lịch sử. Cùng với lao động, ngôn ngữ có vai trò to lớn với sự hình thành và
phát triển của ý thức. Ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp và là công cụ của tư duy. Nhờ có ngôn
ngữ con người có thể khái quát hóa, trừu tượng hóa, suy nghĩ độc lập, tách khỏi sự vật cảm tính, đồng
thời có thể giao tiếp, trao đổi tư tưởng, lưu giữ và kế thừa những tri thức được tích lũy qua nhiều thế hệ.
Lao động và ngôn ngữ là sự kích thích chủ yếu làm biến đổi bộ óc vượn thành bộ óc người và tâm lý
động vật thành ý thức con người.
Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan bởi bộ óc của con người, nhưng không phải cứ có thế
giới khách quan và bộ óc người là có ý thức, mà phải đặt chúng trong mối quan hệ với thực tiễn xã
hội. Ý thức là sản phẩm xã hội, một hiện tượng xã hội đặc trưng của loài người.
Xem xét nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội của ý thức cho thấy, ý thức xuất hiện là kết quả của
quá trình tiến hóa lâu dài của giới tự nhiên, của lịch sử trái đất, đồng thời là kết quả trực tiếp của thực
tiễn xã hội - lịch sử của con người; trong đó, nguồn gốc tự nhiên là điều kiện cần, còn nguồn gốc xã
hội là điều kiện đủ để ý thức hình thành, tồn tại và phát triển.
Liên hệ vai trò của lao động với sự phát triển ý thức của bản thân. Lao động là...
Lao động có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của con người. lOMoAR cPSD| 61457685
Thứ nhất, nhờ lao động con người tạo ra của cải vật chất, đồng thời là nhân tố quyết định hình thành
bộ óc người và hoàn thiện dần chức năng của bộ óc người.
Thứ hai, lao động giúp con người chuyển dáng đi khom thành dáng đi thẳng.
Thứ ba, thông qua quá trình lao động, con người nhận thức sự vật có hệ thống, giúp cho con người có
phương pháp tư duy khoa học hình thành từ cảm tính đến lý tính.
Thứ tư, thông qua lao động, các giác quan của con người ngày càng hoàn thiện, con người nhận dạng và phân loại thông tin.
Trong quá trình lao động, con người có nhu cầu giao tiếp với nhau, từ đó hình thành nên ngôn ngữ.
Câu 3: Phân tích bản chất và kết cấu của ý thức theo quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Theo quan điểm triết học Mác – Lê-nin, ý thức là một phạm trù triết học dùng để chỉ toàn bộ hoạt
động tinh thần phản ánh thế giới vật chất diễn ra trong não người, hình thành trong quá trình lao động
và được diễn đạt nhờ ngôn ngữ. Bản chất của ý thức
Bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của hiện thực khách quan, là quá trình phản ánh tích cực,
sáng tạo hiện thực khách quan của óc người.
Thứ nhất, ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
Sự phản ảnh của ý thức phụ thuộc vào bản thân của chủ thể trong quá trình phản ánh thế giới khách
quan: phụ thuộc vào năng lực, trình độ, kinh nghiệm, bị chi phối bởi lập trường, tình cảm của chủ thể
trong quá trình phản ánh.
Thứ hai, ý thức có tính năng động, sáng tạo
Ý thức phản ánh thể giới khách quan một cách có mục đích, có định hướng, có sáng tạo. Ý thức có
thể tạo ra cái mới, có thể dự báo, tiên đoán trước được tương lai. Đây cũng là đặc điểm để phân biệt
ý thức con người với tâm lý của động vật.
Thứ ba, ý thức là một hiện tượng xã hội mang bản chất xã hội.
Nội dung của ý thức bị quy định bởi các điều kiện xã hội, thay đổi theo sự thay đổi của xã hội. Về
mục đích, ý thức tái tạo lại hiện thực theo nhu cầu của xã hội. Ý thức được hình thành và phát triển
thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Kết cấu của ý thức
Ý thức có kết cấu phức tạp, bao gồm nhiều thành tố có mối liên hệ với nhau. Có thể phân chia
kết cấu đó thành những “lát cắt” khác nhau, tùy theo góc độ người nhìn. Ở đây, ta có thể chia
ý thức thành hai chiều sau đây:
Theo chiều ngang: ý thức bao gồm các thành tố như tri thức, tình cảm, niềm tin, ý chí.
1. Tri thức: là toàn bộ những hiểu biết của con người về thế giới, là kết quả của quá trìnhcon
người nhận thức về thế giới
VD: những hiểu biết của con người trong các lĩnh vực: khoa học, lịch sử, địa lý,...
2. Tình cảm: là những rung động của con người, được biểu hiện qua các trạng thái củacon
người trong các mối quan hệ với thế giới khách quan và giữa con người với chính bản thân nó. lOMoAR cPSD| 61457685
VD: buồn, vui, giận, ghét, yêu,...
3. Niềm tin: là sự kết hợp giữa tri thức và tình cảm.
VD: Khi bản thân có sự hiểu biết về Bác Hồ, đặc biệt là khi bạn có tình cảm đặc biệt
dành cho Bác thì bạn sẽ có niềm tin rằng Bác sẽ là ánh sáng soi đường của đất nước Việt Nam,
là tấm gương để bạn học tập và noi theo.
4. Ý chí: là sức mạnh tinh thần giúp con người có thể vượt qua những trở ngại trong
quátrình thực hiện mục đích của bản thân.
Theo chiều dọc: ý thức bao gồm các thành tố như tự ý thức, tiềm thức và vô thức.
1. Tự ý thức: là một phần của ý thức, là hoạt động tinh thần và ở đó diễn ra sự trao
2đổi,tranh luận nội tâm.
2. Tiềm thức: là những tri thức mà chủ thể đã có được từ trước( bằng cách trực tiếp
hoặcgián tiếp mà nắm bắt chúng) nhưng đó gần như đã trở thành những bản năng, kĩ
năng nằm trong tầng sâu ý thức của chủ thể, là ý thức dưới dạng tiềm năng.
Tiềm thức có vai trò quan trọng hoạt động tâm lý hằng ngày của con người và cả tư duy
khoa học. Trong tư duy khoa học, tiềm thức chủ yếu gắn với các loại hình tư duy chính
xác, với các loại hình tư duy thường lặp đi lặp lại nhiều lần góp phần giảm sự quá tải
của đầu óc trong việc xử lý khối lượng lớn các tài liệu, dữ kiện, tin tức diễn ra một cách
lặp đi lặp lại mà vẫn đảm bảo được độ chính xác và chặt chẽ cần thiết của tư duy khoa học.
3. Vô thức: là những trạng thái tâm lý ở chiều sâu, điều chỉnh suy nghĩ,thái độ, hành vivà
cách ứng xử của con người mà không có sự tranh luận nội tâm, chưa có sự kiểm tra, tính
toán của lý trí, được biểu hiện thành nhiều hiện tượng khác nhau và chỉ là một mắt khâu
trong cuộc sống có ý thức của con người.
VD: những ham muốn bản năng, giấc mơ, bị thôi miên, sự lỡ lời...
Vô thức có vai trò và tác dụng nhất định trong đời sống và hoạt động của con người.
Nhờ vô thức, con người tránh được tình trạng căng thẳng không cần thiết do thần kinh khi làm
việc“quá tải”. Nhờ vô thức mà những chuẩn mực con người đặt ra được thực hiện một cách tự
nhiên không có sự khiên cưỡng. Vô thức có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động giáo dục thế
hệ trẻ, trong hoạt động khoa học và nghệ thuật. Vì vậy, không thể phủ nhận vai trò cái vô thức
trong cuộc sống, nếu phủ nhận vô thức sẽ không thể hiểu đầy đủ và đúng đắn về con người.
Tuy nhiên không nên cường điệu, tuyệt đối hoá và thần bí hoá vô thức. Không nên coi vô thức
là hiện tượng tâm lý cô lập, hoàn toàn tách biệt khỏi hoàn cảnh xã hội xung quanh và tuyệt
nhiên không phải nó không có liên hệ gì đến ý thức.
Câu 4: Trình bày nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép BCDV. Rút ra ý nghĩa
phương pháp luận của nguyên lý đó trong việc giải quyết dịch bệnh COVID-19 ở Việt Nam. Khái niệm liên hệ:
Liên hệ là quan hệ giữa hai đối tượng mà sự thay đổi của một trong số chúng nhất định làm
thay đổi đối tượng kia.
Mỗi liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ các mỗi ràng buộc tương hỗ, quy định và ảnh
hưởng lẫn nhau giữa các yếu tố, bộ phận trong một đối tượng hoặc giữa các đối tượng với nhau. lOMoAR cPSD| 61457685
Nội dung nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Trong thế giới có vô vàn các sự vật, các hiện tượng và các quá trình khác nhau. Vậy giữa chúng có
mối liên hệ qua lại, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau hay chúng tồn tại biệt lập, tách rời nhau? Nếu chúng
có mối liên hệ qua lại thì cái gì quy định mối liên hệ đó?
Tất cả mọi sự vật hiện tượng luôn tồn tại trong mối liên hệ phổ biến, quy định ràng buộc lẫn nhau,
không có sự vật, hiện tượng nào tồn tại riêng lẻ, cô lập, không liên hệ. Các sự vật, hiện tượng và các
quá trình khác nhau vừa tồn tại độc lập, vừa quy định, tác động qua lại, chuyển hoá lẫn nhau. Chẳng
hạn, bão từ diễn ra trên mặt trời sẽ tác động đến từ trường của trái đất và do đó tác động đến mọi sự
vật, trong đó có con người; sự gia tăng về dân số sẽ tác động trực tiếp đến nền kinh tế, xã hội, giáo dục y tế.v.v
Theo quan điểm duy vật biện chứng khẳng định tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối
liên hệ giữa các sự vật và hiện tượng. Các sự vật, hiện tượng tạo thành thế giới dù có đa dạng, phong
phú, có khác nhau bao nhiêu, song chúng đều chỉ là những dạng khác nhau của một thế giới duy nhất,
thống nhất thế giới vật chất. Nhờ có tính thống nhất đó, chúng không thể tồn tại biệt lập tách rời nhau
mà tồn tại trong sự tác động qua lại chuyển hoá lẫn nhau theo những quan hệ xác định. Các sự vật
hiện tượng trong thế giới chỉ biểu hiện sự tồn tại của mình thông qua sự vận động, sự tác động qua
lại lẫn nhau. Bản chất tính quy luật của sự vật, hiện tượng cũng chỉ bộc lộ thông qua sự tác động qua
lại giữa các mặt của bản thân chúng hay sự tác động của chúng đối với sự vật, hiện tượng khác.
Các tính chất của mối liên hệ phổ biến
+ Tính khách quan: Mối liên hệ của các sự vật là khách quan vốn có của mọi sự vật, hiện tượng.
Ngay cả các sự vật vô tri vô giác hàng ngày cũng chịu sự tác động của các sự vật hiện tượng khác.
Con người cũng chịu tác động của các sự vật, hiện tượng khác và các yếu tố trong chính bản thân.
Nhờ có mối liên hệ mà có sự vận động, mà vận động là phương thức tồn tại của vật chất, là 1 tất yếu
khách quan nên mối liên hệ cũng tồn tại khách quan.
Ví dụ: Sự phụ thuộc của cơ thể sinh vật vào môi trường, khi môi trường thay đổi thì cơ thể sinh vật
cũng phải thay đổi để thích ứng với môi trường. Mối liên hệ đó không phải do ai sáng tạo ra, mà là
cái vốn có của thế giới vật chất
+ Tính phổ biến: Bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác. Không
có sự vật nào nằm ngoài mối liên hệ. Nó tồn tại trong tất cả các mặt: tự nhiên, xã hội và tư duy. Mối
liên hệ phổ biến là hiện thực, là cái vốn có của mọi sự vật, hiện tượng, nó thể hiện tính thống nhất
vật chất thế giới.
Ví dụ: Trong tự nhiên ( mlh mặt trời và mặt trăng-> xem thêm định luật vạn vật hấp dẫn) trong xã
hội (các hình thái kinh tế xã hội: CXNT-CHNL-PK-TBCNCS); trong tư duy ( LỚP 1-2-3-5 V.V..)
+ Tính đa dạng, phong phú, nhiều vẻ: Các sự vật hiện tượng trong thế giới là đa dạng nên mối liên
hệ giữa chúng cũng đa dạng, vì vậy khi nghiên cứu mối liên hệ giữa các sự vật cần phân loại mối liên
hệ một cách cụ thể. Căn cứ vào tính chất, phạm vi, trình độ, có thể có những cách phân loại sau:
chung và riêng, cơ bản và không cơ bản, bên trong và bên ngoài, chủ yếu và thứ yếu, không gian và
thời gian. Sự phân loại này chỉ mang tính tương đối vì mối liên hệ chỉ là 1 bộ phận, 1 mặt trong mối
liên hệ phổ biến nói chung.
Ví dụ: các loái cá, chim, thú đều có quan hệ với nước, nhưng cá quan hệ với nước khác với chim và
thú. Cá sống thường xuyên trong nước, không có nước thường xuyên thì cá không thể tồn tại được,
nhưng các loài chim và thú thì lại không sống trong nước thường xuyên được. Ý nghĩa ppl: lOMoAR cPSD| 61457685
Vì sự vật luôn tồn tại trong mối liên hệ mang tính khách quan, phổ biến, phong phú và đa dạng nên
khi nhận thức và hoạt động thực tiến ta phải có quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử cụ thể.
Quan điểm toàn diện yêu cầu chúng ta phải nhận thức sự vật trong mối liên hệ giữa các yếu tố, các
mặt của chính sự vật và trong sự tác động giữa sự vật đó với các sự vật khác; phải phân loại từng mối
liên hệ, xem xét có trọng tâm, trọng điểm, làm nổi bật cái cơ bản nhất của sự vật, hiện tượng, xem xét
phải gắn với nhu cầu thực tiễn; và cần tránh phiến diện, siêu hình và chiết trung ngụy biện.
Quan điểm lịch sử cụ thể yêu cầu chúng ta để nắm được bản chất của sự vật, hiện tượng cần xem xét
sự hình thành, tồn tại và phát triển của nó trong điều kiện, môi trường, hoàn cảnh vừa trong quá trình
lịch sử vừa ở từng giai đoạn cụ thể của quá trình; tức là xem xét sự vật phải chú ý tới hoàn cảnh lịch
sử đã sinh ra nó trên cả hai mặt khách quan và chủ quan.
Việt Nam đã vận dụng rất hiệu quả nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép duy vật biện chứng
trong việc giải quyết dịch bệnh COVID-19. https://www.facebook.com/svncst.hust/videos/-t
%C3%AAn-%C4%91%E1%BB%81-t%C3%A0i-v%E1%BA%ADn-d%E1%BB%A5ng-nguy
%C3%AAn-l%C3%BD-v%E1%BB%81-m%E1%BB%91i-li%C3%AAn-h%E1%BB%87-ph
%E1%BB%95-bi%E1%BA%BFn-%C4%91%E1%BB%83-t%C3%ACm-hi%E1%BB%83u-
%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-c%E1%BB%A7a/729777431475793/
https://baochinhphu.vn/who-khuyen-nghi-viet-nam-dong-gop-kinh-nghiem-day-lui-dich-benh-
trentoan-cau-102231030153146498.htm
Quy luật lượng chất 1. Vị trí, vai trò:
+ là 1 trong ba quy luật cơ bản của phép BCDV
+ chỉ ra cách thức, phương thức vận động và phát triển của sự vật hiện tượng. 2. Khái niệm
+ Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, là sự
thống nhất hữu cơ của nhưng thuộc tính làm cho sự vật là nó chứ không phải cái khác. + Lượng
là phạm trù triết học chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật về mặt số lượng, quy mô,
trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật.
Chất và lượng là hai phương diện khác nhau của cùng một sự vật, hiện tượng trong tự nhiên,
xá hội và tư duy. Chúng tồn tại khách quan và có mỗi quan hệ lẫn nhau.
3. Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược
lại.Mọi sự vật, hiện tượng đều là sự thống nhất giữa lượng và chất, sự thay đổi dần dần về
lượng trong khuôn khổ của độ tới điểm nút sẽ làm thay đổi chất của sự vật thông qua bước
nhảy, chất mới ra đời tác động trở lại sự thay đổi của lượng mới, tạo thành quá trình vận động,
phát triển liên tục của sự vật.
4. Mối quan hệ biện chứng giữa chất và lượng
- Mọi sự vật, hiện tượng đều là sự thống nhất giữa chất và lượng ( chất nào lượng ấy, lượng nào
chất ấy chứ không có chất lượng nói chung tồn tại tách rời nhau)
VD: Khi nói đến lớp A có 20 học viên là nói đến sự thống nhất giữa chất và lượng của lớp đó.
- Chất và lượng bao giờ cũng thống nhất trong độ nhất định.
+ Độ là khoảng giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật, hiện tượng.
VD: Sinh viên khi vào trường học tập, trong bốn năm học svien đó phải tích lũy những kiến
thức những học phần theo quy định. Sự tích lũy những kiến thức đó chính là sự thay đổi về lOMoAR cPSD| 61457685
lượng nhưng chưa dẫn đến sự thay đổi về chất. Khoảng bốn năm học tập và tích lũy đó gọi là độ.
+ Điểm nút là thời điểm mà tại đó sự thay đổi về lượng đã có thể làm thay đổi về chất của sự vật
VD: Thời điểm sinh viên tốt nghiệp đh của mình là điểm nút.
+ Bước nhảy chỉ sự chuyển hoá về chất do những thay đổi về lượng trước đó sinh ra.
VD: Sinh vien sau khi đã tích lũy đầy đủ các học phần theo quy định, có đủ điều kiện và thi
tốt nghiệp ra trường trở thành người GV. Từ sinh viên trở thành người GV gọi là bước nhảy.
- Chất mới ra đời tạo điều kiện mới, khả năng mới cho lượng biến đổi. Chất mới được bổ sung
những đặc trưng mới, những yếu tố mới. Mặt khác kế thừa được những yếu tố tích cực của sự
vật cũ do đó nó thúc đẩy lượng mới phát triển nhanh hơn, mạnh hơn so với lượng của chất cũ.
VD: Sviem khi ra trường trở thành người GV sẽ được bổ sung những yếu tố mới về mặt phẩm
chất đạo đức, về năng lực chuyên môn... sẽ giúp người nhân viên biến đổi nhanh hơn về chất.
- Chất mới ra đời sẽ tác động tích cực trở lại lượng của sự vật, thúc đẩy sự thay đổi về lượng
ấy lại dẫn đến sự thay đổi về chất của sự vật. Qúa trình đó diễn ra liên tục, vì thế sự vật không
ngừng vận động và phát triển. 5. Ý nghĩa PPL
Mọi sự vật hiện tượng đếu tồn tại hai mặt lượng và chất, vì vậy chúng ta cần nhìn sự vật trong
sự thống nhất giữa chất và lượng.
Vì lương đổi sẽ dẫn đến chất đổi nên chúng ta phải từng bước tích lũy về lượng để biến đổi về chất.
Bên cạnh đó, cần phải chống tả khuynh, đó là chủ quan, nóng vội, đốt cháy giai đoạn chưa tích
lũy đủ về lượng đã vội biến đổi về chất và chống hữu khuynh đó lad baot thủ, trì trệ, tích lũy
đủ về lượng nhưng không dám thực hiện bước nhảu để thay đổi về chất.
CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN – KẾT QUẢ 1. Khái niệm:
- Nguyên nhân là phạm trù chỉ sự tương tác lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng
hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau gây nên những biến đổi nhất định.
- Kết quả là phạm trù chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tương tác giữa các yếu tố mang tính nguyên nhân gây nên.
2. Mối quan hệ biện chứng nguyên nhân – kết quả: là mối quan hệ tất yếu khách quan
- Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả. vì vậy nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả. Còn
kết quả bao giờ cũng xuất hiện sau nguyên nhân. Chỉ những mối liên hệ trước sau về mặt thời
gian có quan hệ sản sinh mới là mối liên hệ nhân quả.
VD: + Không có lửa làm sao có khói.
+ Cuộc đấu tranh giai cấp vô sản mâu thuẫn giai cấp tư sản (là nguyên nhân bao giờ cũng
có trước để dẫn đến cuộc cách mạng vô sản với tính chất là kết quả bao giờ cũng xuất hiện sau)
+ Sự biến đổi của mầm mống trong hạt lúa bao giờ cũng phải xuất hiện trước còn cây lúa
là kết quả nó xuất hiện sau.
- Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân và một số nguyên nhân có thể sinh ra nhiều kết quả.
– Nếu các nguyên nhân tác động cùng chiều thì có xu hướng dẫn đến kết quả nhanh hơn. –
Nếu các nguyên nhân tác động ngược chiều thì làm cho tiến trình hình thành kết quả chậm
hơn, thậm chí triệt tiêu tác dụng của nhau.
- Giữa nguyên nhân và kết quả có tính tương đối, có sự chuyển hoá, tác động qua lại tạo thành
chuỗi liên hệ nhân – quả vô cùng vô tận. lOMoAR cPSD| 61457685
VD: Sự phát triển của vật chất là nguyên nhân sinh ra tinh thần, nhưng tinh thần lại trở thành
nguyên nhân làm biến đổi vật chất. 3. Ý nghĩa ppl
Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần tôn trọng tính khách quan của mối liên hệ nhân quả. –
Muốn cho hiện tượng nào đó xuất hiện cần tạo nguyên nhân cùng những điều kiện
chonguyên nhân đó phát huy tác dụng. Ngược lại, muốn hiện tượng nào đó mất đi thì phải làm
mất nguyên nhân tồn tại của nó.
VD: Để học tập tốt thì cần tạo điều kiện như nào, làm mất cái gì xấu? –
Phải biết xác định đúng nguyên nhân để giải quyết vấn đề nảy sinh vì các nguyên nhân cóvai trò không như nhau.
VD: Đau bụng do nhiều nguyên nhân: ngộ độc thực phẩm, nhiễm giun, đau bụng lạnh,...
cần xác định đúng nguyên nhân để có phương án điều trị phù hợp,... –
Kết quả có thể tác động trở lại nguyên nhân. Do đó, trong hoạt động thực tiễn cần
khaithác, tận dụng những kết quả đã đạt được để thúc đẩy nguyên nhân tác động theo hướng tích cực.
VD: Học tập tốt thì đạt được kết quả cao khiến người ta phấn khích, càng muốn đạt nhiều kết
quả cao hơn nữa – phấn đấu học tập tốt hơn 4. Vấn đề môi trường
Hiện nay, ô nhiễm môi trường là vấn đề được quan tâm hàng đầu trên thế giới, Việt Nam cũng
không ngoại lệ. Thông qua các phương tiện truyền thông, chúng ta có thể thấy được về thực
trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện nay.
VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC
1. Vấn đề cơ bản của triết học là giải quyết mối quan hệ giữa tồn tại với tư duy.
2. Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt. Mặt thứ nhất là giữa vật chất và ý thức, cái nào cótrước,
cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào? Mặt thứ hai là con người có khả năng nhận thức được thế giới không?
- Giải quyết mặt thứ nhất, triết học chia thành hai trường phái đó là chủ nghĩa duy tâm và chủ
nghĩa duy vật. Chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức có trước vật chất có sau, ý thức quyết định
vật chất. Ngược lại, chủ nghĩa duy vật cho rằng vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau và
vật chất quyết định ý thức.
- Giải quyết mặt thứ hai, trong lịch sử triết học, người ta đưa ra những quan điểm: thuyết khả tri
luận, thuyết bất khả tri luận và thuyết hoài nghi luận.
Thuyết khả tri luận khẳng định con người có khả năng nhận thức được thế giới, hiểu được bản
chất của sự vật, những cái mà con người biết về nguyên tắc là phù hợp với chính sự vật. Thuyết
bất khả tri luận cho rằng con người không thể hiểu được bản chất thật sự của đối tượng. Các
hiểu biết của con người về tính chất, đặc điểm của đối tượng dù có tính xác thực nhưng cũng
không cho phép con người đồng nhất chúng với đối tượng vì nó không đáng tin cậy.
Thuyết hoài nghi luận đã nâng sự hoài nghi lên thành nguyên tắc trong việc xem xét tri thức
đã đạt được và cho rằng con người không thể đạt tới chân lý khách quan.
3. Đây là vấn đề cơ bản của triết học vì từ xưa đến nay, từ phương đông sang phương tây, tất cả
các nhà triết học đều đi vào lí giải vấn đề này và khi lí giải được vấn đề này sẽ là cơ sở để đi
sâu vào giải quyết các mối quan hệ khác của triết học. Và thông qua việc giải quyết mối quan
hệ này sẽ phân chia ra các trường phái triết học.