Chỉ đạo của Đảng trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1946–1954) Trọng tâm:
Mặt trận quân sự và ngoại giao – Chiến dịch Điện Biên Phủ I. Bối cảnh
Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, nhưng ngay lập
tức phải đối mặt với thù trong giặc ngoài.
Thực dân Pháp quay lại xâm lược, âm mưu tái chiếm Đông Dương.
Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định đường lối: “Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng
chiến, lâu dài kháng chiến, dựa vào sức mình là chính”.
Đồng thời, Đảng kết hợp quân sự và ngoại giao để vừa chiến đấu, vừa tranh thủ thời gian,
lực lượng và sự ủng hộ quốc tế.
II. Nội Dung Trọng Tâm
1. Mặt trận quân sự
1946–1947: Toàn quốc kháng chiến
19/12/1946: Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.
Chủ trương: rút khỏi thành phố, xây dựng căn cứ địa, xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ
quân( bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích).
Kết quả: giữ vững lực lượng, bảo toàn cơ quan đầu não kháng chiến.
1947: Chiến dịch Việt Bắc Thu – Đông
Pháp mở cuộc tiến công quy mô lớn lên Việt Bắc -> Đảng chỉ đạo mở rộng chiến tranh du
kích trong phạm vi cả nước nhằm tiêu hao địch.
Đảng chỉ đạo quân dân ta : o
Giữ vững căn cứ địa Việt Bắc o
Phát triển lực lượng chính trị -> xây dựng chính quyền o
Kết hợp kháng chiến, sản xuất, xây dựng hậu phương vững mạnh
Ý nghĩa: chứng minh khả năng trường kỳ kháng chiến, làm thất bại âm mưu “đánh nhanh, thắng nhanh” của Pháp.
1950: Chiến dịch Biên giới
Mục tiêu: phá thế bao vây của Pháp, khai thông biên giới với Trung Quốc – Liên Xô.
Kết quả: ta giành thắng lợi lớn, mở rộng vùng giải phóng, đưa kháng chiến sang thế chủ động.
Ý nghĩa: tạo điều kiện cho ta nhận viện trợ quốc tế, nâng cao vị thế ngoại giao.
1953–1954: Đông Xuân và Điện Biên Phủ
Chủ trương Đông Xuân 1953–1954: phương châm “tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt”. Cụ thể: o
Dùng chủ lực tiến công vào hướng địch sơ hở. o
Kết hợp chiến tranh du kích ở hậu phương. o
Lấy Tây Bắc làm hướng chính, phối hợp với Lào, Tây Nguyên, trung du và đồng bằng Bắc Bộ.
Chiến dịch Điện Biên Phủ (6/12/1953): o
Ban đầu dự kiến “đánh nhanh, giải quyết nhanh”, nhưng Đại tướng Võ Nguyên Giáp
chuyển sang “đánh chắc, tiến chắc”. o
Sau 56 ngày đêm (13/3 – 7/5/1954), ta tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm, làm nên chiến thắng vang dội.
2. Mặt trận ngoại giao
1946: Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946) và Tạm ước (14/9) – tranh thủ thời gian hòa hoãn để
chuẩn bị kháng chiến; hòa để tiến, kết hợp đấu tranh và nhân nhượng 1947-1949: o
Ta tiến hành sách lược ngoại giao “ vừa đánh vừa đàm” , mục tiêu là tranh thủ sự
đồng tình của quốc tế và làm suy yếu Pháp o
Ngoại giao gắn với phương trâm toàn dân – toàn diện – trường kỳ. o
Tuyên truyền rộng rãi chính nghĩa của kháng chiến. 1950: o
Thiết lập quan hệ ngoại giao -> cụ thể: TQ là nước đầu tiên công nhận và thiếp lập qh ngoại giao o
Tranh thủ viện trợ từ phe XHCN (TQ, LX). 1954: o
Chiến thắng Điện Biên Phủ tạo thế mạnh quyết định trên bàn đàm phán. o
Hội nghị Genève (7/1954): Pháp buộc phải ký kết, công nhận độc lập, chủ quyền,
thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. o
Đây là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa thắng lợi quân sự và đấu tranh ngoại giao.
III. Đánh giá kết quả và ý nghĩa Kết quả: o
Đánh bại thực dân Pháp, kết thúc chiến tranh xâm lược ở Đông Dương. o
Giải phóng miền Bắc, tạo cơ sở cho sự nghiệp xây dựng CNXH và đấu tranh thống nhất đất nước. Ý nghĩa: o
Khẳng định sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. o
Mặt trận quân sự mang tính trực tiếp và quyết định ( tạo điều kiện cho thắng lợi ngoại giao). o
Mặt trận ngoại giao mang tính chiến lược (đem lại lợi thế cho quận sự từ các cuộc
đàm phán hòa hoãn, tận dụng đc sự viện trợ quốc tế). o
Nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam. o
Góp phần cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. o
Khẳng định sức mạng đại đoàn kết toàn dân tộc. o
Chiến thắng Điện Biên Phủ trở thành biểu tượng của ý chí độc lập, tự do.
Bấm Tải xuống để xem toàn bộ.