TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN ĐÀO TẠO TIÊN TIẾN,
CHẤT LƯỢNG CAO VÀ POHE
TIỂU LUẬN
KINH TẾ VI MÔ
CHÍNH SÁCH ĐIỀU TIẾT ĐỘC QUYỀN
: Nguyễn Minh AnhHọ và tên sinh viên
Mã sinh viên: 11220371
Lớp: Tài chính doanh nghiệp CLC 64E
Giảng viên hướng dẫn: Phạm Văn Minh
I. MỞ ĐẦU
Độc quyền trong kinh doanh hình thành tồn tại bằng cách
nào cũng đều gây hậu quả tiêu cực cho nền kinh tế. Độc quyền tròn
kinh doanh dẫn đến hình thành giá cả độc quyền, giá cả lũng đoạn
ảnh hưởng đến lợi ích của người tiêu dùng. hầu hết các nước đều
tồn tại các loại độc quyền tự nhiên, độc quyền nhà nước. nước ta,
với xuất phát điểm thấp và một số đặc điểm nội tại của nền kinh tế -
hội nên vẫn còn một số ngành lĩnh vực tồn tại độc quyền nhà
nước. Tuy nhiên nhà nước cũng đang dần cải thiên các chế pháp
luật để kiểm soát nhằm hạn chế hiện tượng cửa quyền, lũng đoạn,
lạm dụng vị trí độc quyền để tránh gây hậu quả xấu cho xã hội.
Trên cơ sở nghiên cứu về độc quyền, ta sẽ tìm hiểu và phân tích
những chính sách về vấn đề độc quyền ở Việt Nam hiện nay.
II. SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘC QUYỀN
Một thị trường được xem là độc quyền khi chỉ có một nhà cung
ứng trên thị trường đó. Đường cung của nhà sản xuất cũng chính
ngành, đường cầu của thị trường chính là đường cầu đối với nhà độc
quyền. đường cầu xu hướng dốc xuống về phía phải, nên để
bán được nhiều hàng hoá hơn nhà độc quyền phải giảm giá bán.
Không giống như trên thị trường cạnh tranh hoàn toàn, mọi quyết
định của nhà cung ứng về mặt số lượng có ảnh hưởng đến giá cả trên
thị trường. Một ngành được xem là độc quyền hoàn toàn khi nó thoả
mãn hai điều kiện sau:
a) Những đối thủ cạnh tranh không thể gia nhập ngành
b) Không có những sản phẩm thay thế tương tự
1. Các nguyên nhân xuất hiện độc quyền: Nguyên nhân chủ yếu xuất
hiện độc quyền ở một ngành nào đó là do các doanh nghiệp khác không
thể tổn tại hay không thể gia nhập vào ngành đó. Do vậy, những hàng
rào ngăn cản sự gia nhập ngành nguồn gốc của sự độc quyền. Chúng
ta có thể phân loại những rào cản sau
1.1. Kiểm soát các yếu tố đầu vào: Một hãng thể trở thành độc
quyền khi nó kiểm soát được toàn bộ nguồn cung cấp các nguyên
liệu để chế tạo ra một loại sản phẩm nào đó.
1.2. Độc quyền t nhiên: Những doanh nghiệp quy lớn thường
doanh nghiệp sản xuất với chi phí thấp hơn những doanh
nghiệp khác nhờ vào kinh nghiệm, tính kinh tế của quy mô,… Do
đó những doanh nghiệp lớn khả năng loại trừ những doanh
nghiệp khác ra khỏi ngành bằng cách cắt giảm giá ( vẫn
thể thu được lợi nhuận), từ đó tạo ra thế độc quyền của mình.
1.3. Quy định của chính phủ: Chính phủ thể uỷ thác cho một hãng
nào đó quyền được bán hoặc cung cấp những loại sản phẩm hoặc
dịch vụ nhất định
1.4. Pháp lý: Nhiều nhà độc quyền được tạo ra từ nguyên nhân pháp
chứ không phải từ nguyên nhân kinh tế như trên. Pháp luật tạo
ra sự độc quyền dưới dạng hai hình thức sau
Pháp luật bảo hộ bằng phát minh, sáng chế: luật bảo hộ
bằng sáng chế chỉ cho phép một nhà sản xuất mặt hàng vừa
được phát minh và do vậy họ trở thành nhà độc quyền
Pháp luật bảo hộ những ngành có ảnh hưởng đến an ninh quốc
gia: Các ngành công nghiệp như điện, nước, thông tin liên lạc,
truyền hình,… sẽ được bảo hộ hay độc quyền bởi nhà nước
chúng có vai trò quan trọng đối với an ninh quốc gia.
2. Độc quyền và vấn đề phân biệt giá cả: Khác với thị trường cạnh tranh,
một nhà độc quyền khả năng ấn định các mức giá khác nhau đối với
nhiều người tiêu dùng khác nhau. Trường hợp này được gọi là phân biệt
giá. Sự phân biệt giá thể làm tăng lợi nhuận của nhà độc quyền so
với việc định một mức giá duy nhất cho tất cả sản phẩm của mình.
2.1. Chính sách phân biệt giá
2.1.1. Phân biệt giá hoàn hảo ( cấp I ) : chính sách trong đó
nhà độc quyền ấn định cho mỗi (nhóm) khách hàng một mức
giá tối đa người đó thể trả. Mức giá đó gọi giá sẵn
sàng trả hay giá đặt trước của người tiêu dùng.
2.1.2. Phân biệt giá cấp II: Trong một số thị trường, mỗi người tiêu
dùng không mua duy nhất một đơn vị mua nhiều đơn vị
hàng hoá trong một khoảng thời gian nhất định cầu của
người tiêu dùng giảm dần theo số lượng đã mua.
2.1.3. Phân biệt giá cấp III: Trong trường hợp nhà độc quyền thể
phân chia các khách hàng thành nhiều nhóm với hành vi
phản ứng khác nhau, việc phân chia khách hàng được căn cứ
trên các tiêu thức khác nhau như thu nhập, độ tuổi, thị hiếu,
thói quen tiêu dùng, …
2.2. Phân biệt giá theo thời kỳ và đặt giá cao điểm
2.2.1. Phân biệt giá theo thời kỳ: Ở đây người tiêu dùng được chia ra
thành các nhóm khác nhau với các hàm cầu khác nhau nàh
độc quyền sẽ áp dụng ở các mức giá khác nhau theo thời gian.
2.2.2. Đặt giá cao điểm
2.3. Chính sách hạn chế độc quyền: Hạn chế độc quyền một trong
những vấn đề quan trọng trong kinh tế học ứng dụng. Các ngành
công nghiệp phục vụ tiện ích như điện lực, viễn thông, … thường
bị khống chế bằng luật pháp để nhằm buộc các ngành này hoạt
động trong phương thức có lợi nhất về phương diện xã hội để hạn
chế phần thiệt hại do độc quyền.
2.4. Điều tiết giá: Do hội bị tổn thất, các quốc gia phải sử dụng
một phương pháp để hạn chế sức mạnh độc quyền, chính phủ ấn
định một mức giá trần nào đó thấp hơn mức giá độc quyền. Chính
sách này có thể giảm được tổn thất do sức mạnh độc quyền
2.5. Luật chống độc quyền: Ban hành các quy định, luật lệ nhằm ngăn
cản ngay từ đầu các doanh nghiệp trong việc giành được sức
mạnh thị trường quá mức một biện pháp đơn giản hữu hiệu
để chống độc quyền.
III. THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM
Thực tế ở Việt Nam hiện nay có hai loại hình độc quyền sau:
Loại thứ nhất kết quả cạnh tranh trong nền kinh tế thị
trường.
Loại thứ hai là loại hình độc quyền được coi là phổ biến nhất ở
Việt Nam hiện nay độc quyền kết quả của chế hành
chính trước đây một số quy định của pháp luật cũng như
các chính sách kinh tế hiện hành.
Thị trường điện nhu cầu tất yếu của cuộc sống hàng ngày nên g
điện luôn được điều tiết độc quyền bởi nhà nước thông qua các chính sách
sau:
Điều tiết giá: Các quốc gia có thể thiết lập giá điện thông qua
các chế điều tiết gp n bằng lợi ích của người tiêu ng
với khả năng đầu tư vận hành hệ thống điện.
Phân phối cung cấp điện: Các quốc gia thường ưu tiên sử
dụng ng ty Điện lực Quốc gia hoặc Tổng công ty Điện lực
Quốc gia để quản vận hành hệ thống phân phối điện
nhằm đảm bảo cung cấp điện liên tục cung cấp cho mọi
miền đất nước.
Điều chỉnh đầu tư: Nhà nước thể kiểm soát quy và tốc
độ đầu tư vào ngành điện để đảm bảo sự phát triển bền vững
của hệ thống điện quốc gia khả năng cung cấp điện trong
tương lai.
Th trường dầu mỏ: Ngoài ra, các chính phủ thường độc quyền thị
trường dầu m để đảm bảo nguồn cung ổn định kiểm soát giá cả. Các
chính sách quy định độc quyền sau đây có thể áp dụng trong lĩnh vực này:
Kiểm soát giá: Các quốc gia thường can thiệp vào thị trường
nội địa bằng cách áp thuế, hạn chế nhập khẩu hoặc đưa ra các
chế kiểm soát giá.
Quản nguồn cung: Chính ph thể kiểm soát và quản
nguồn cung dầu thông qua các cơ chế n giấy phép khai
thác, kiểm soát hàng tồn kho phân phối để đảm bảo nguồn
cung đáp ứng nhu cầu trong ớc.
Kiểm soát chất lượng: Chính phủ thường quy định các tiêu
chuẩn về chất lượng, an toàn và môi trường của dầu.
Ví dụ:
-Việc nắm giữ đường trục viễn thông quốc gia sẽ tạo lợi thế cho VNPT
ngăn cản các công ty khác tham gia vào thị trường viễn thông, bởi lẽ
các công ty khác muốn cung cấp dịch vụ viễn thông họ buộc phải sử
dụng đường trục viễn thông quốc gia do VNPT quản lý. Với lợi thế về
thị phần sẵn từ trước cùng với các quy định của pháp luật, VNPT đã
rính giá dịch vụ viễn thông cung cấp cho người sử dung cao hơn 30%
so với các nước ASEAN.
-Tình trạng này cũng tương tự như Tổng công ty điện lực Việt Nam
(EVN). nước ta đã một số doanh nghiệp sản xuất điện nhưng chỉ
EVN được nắm giữ hệ thống truyền tải điện. Trong thị trường điện
lưc, việc sản xuất điện liên quan mật thiết đến việc truyền tải điện.
Điều này làm cho các doanh nghiệp sản xuất điện phải phụ thuộc vào
EVN.
IV. KẾT LUẬN
Các chính sách điều tiết độc quyền quốc gia đóng vai trò quan
trọng trong việc đảm bảo ổn định kinh tế bảo vệ quyền lợi của
người tiêu dùng. Phân tích các chính ch điều tiết độc quyền trên
thị trường điện thị trường dầu mỏ trên các khía cạnh đảm bảo
chất lượng sản phẩm, n định giá nguồn cung, khuyến kch sử
dụng ng lượng tái tạo kiểm soát giá cả lợi. Tuy nhiên,
cần cân nhắc kỹ ỡng để đảm bảo các chính sách y không tác
động tiêu cực đến cạnh tranh s phát triển bền vững của thị
trường.

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN ĐÀO TẠO TIÊN TIẾN, CHẤT LƯỢNG CAO VÀ POHE TIỂU LUẬN KINH TẾ VI MÔ
CHÍNH SÁCH ĐIỀU TIẾT ĐỘC QUYỀN
Họ và tên sinh viên: Nguyễn Minh Anh Mã sinh viên: 11220371
Lớp: Tài chính doanh nghiệp CLC 64E
Giảng viên hướng dẫn: Phạm Văn Minh I. MỞ ĐẦU
Độc quyền trong kinh doanh dù hình thành và tồn tại bằng cách
nào cũng đều gây hậu quả tiêu cực cho nền kinh tế. Độc quyền tròn
kinh doanh dẫn đến hình thành giá cả độc quyền, giá cả lũng đoạn
ảnh hưởng đến lợi ích của người tiêu dùng. Ở hầu hết các nước đều
tồn tại các loại độc quyền tự nhiên, độc quyền nhà nước. Ở nước ta,
với xuất phát điểm thấp và một số đặc điểm nội tại của nền kinh tế -
xã hội nên vẫn còn một số ngành và lĩnh vực tồn tại độc quyền nhà
nước. Tuy nhiên nhà nước cũng đang dần cải thiên các cơ chế pháp
luật để kiểm soát nhằm hạn chế hiện tượng cửa quyền, lũng đoạn,
lạm dụng vị trí độc quyền để tránh gây hậu quả xấu cho xã hội.
Trên cơ sở nghiên cứu về độc quyền, ta sẽ tìm hiểu và phân tích
những chính sách về vấn đề độc quyền ở Việt Nam hiện nay. II.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘC QUYỀN
Một thị trường được xem là độc quyền khi chỉ có một nhà cung
ứng trên thị trường đó. Đường cung của nhà sản xuất cũng chính là
ngành, đường cầu của thị trường chính là đường cầu đối với nhà độc
quyền. Vì đường cầu có xu hướng dốc xuống về phía phải, nên để
bán được nhiều hàng hoá hơn nhà độc quyền phải giảm giá bán.
Không giống như trên thị trường cạnh tranh hoàn toàn, mọi quyết
định của nhà cung ứng về mặt số lượng có ảnh hưởng đến giá cả trên
thị trường. Một ngành được xem là độc quyền hoàn toàn khi nó thoả mãn hai điều kiện sau:
a) Những đối thủ cạnh tranh không thể gia nhập ngành
b) Không có những sản phẩm thay thế tương tự
1. Các nguyên nhân xuất hiện độc quyền: Nguyên nhân chủ yếu xuất
hiện độc quyền ở một ngành nào đó là do các doanh nghiệp khác không
thể tổn tại hay không thể gia nhập vào ngành đó. Do vậy, những hàng
rào ngăn cản sự gia nhập ngành là nguồn gốc của sự độc quyền. Chúng
ta có thể phân loại những rào cản sau
1.1. Kiểm soát các yếu tố đầu vào: Một hãng có thể trở thành độc
quyền khi nó kiểm soát được toàn bộ nguồn cung cấp các nguyên
liệu để chế tạo ra một loại sản phẩm nào đó.
1.2. Độc quyền tự nhiên: Những doanh nghiệp có quy mô lớn thường
là doanh nghiệp sản xuất với chi phí thấp hơn những doanh
nghiệp khác nhờ vào kinh nghiệm, tính kinh tế của quy mô,… Do
đó những doanh nghiệp lớn có khả năng loại trừ những doanh
nghiệp khác ra khỏi ngành bằng cách cắt giảm giá ( mà vẫn có
thể thu được lợi nhuận), từ đó tạo ra thế độc quyền của mình.
1.3. Quy định của chính phủ: Chính phủ có thể uỷ thác cho một hãng
nào đó quyền được bán hoặc cung cấp những loại sản phẩm hoặc dịch vụ nhất định
1.4. Pháp lý: Nhiều nhà độc quyền được tạo ra từ nguyên nhân pháp
lý chứ không phải từ nguyên nhân kinh tế như trên. Pháp luật tạo
ra sự độc quyền dưới dạng hai hình thức sau
Pháp luật bảo hộ bằng phát minh, sáng chế: Vì luật bảo hộ
bằng sáng chế chỉ cho phép một nhà sản xuất mặt hàng vừa
được phát minh và do vậy họ trở thành nhà độc quyền
Pháp luật bảo hộ những ngành có ảnh hưởng đến an ninh quốc
gia: Các ngành công nghiệp như điện, nước, thông tin liên lạc,
truyền hình,… sẽ được bảo hộ hay độc quyền bởi nhà nước vì
chúng có vai trò quan trọng đối với an ninh quốc gia.
2. Độc quyền và vấn đề phân biệt giá cả: Khác với thị trường cạnh tranh,
một nhà độc quyền có khả năng ấn định các mức giá khác nhau đối với
nhiều người tiêu dùng khác nhau. Trường hợp này được gọi là phân biệt
giá. Sự phân biệt giá có thể làm tăng lợi nhuận của nhà độc quyền so
với việc định một mức giá duy nhất cho tất cả sản phẩm của mình.
2.1. Chính sách phân biệt giá
2.1.1. Phân biệt giá hoàn hảo ( cấp I ) : là chính sách mà trong đó
nhà độc quyền ấn định cho mỗi (nhóm) khách hàng một mức
giá tối đa mà người đó có thể trả. Mức giá đó gọi là giá sẵn
sàng trả hay giá đặt trước của người tiêu dùng.
2.1.2. Phân biệt giá cấp II: Trong một số thị trường, mỗi người tiêu
dùng không mua duy nhất một đơn vị mà mua nhiều đơn vị
hàng hoá trong một khoảng thời gian nhất định và cầu của
người tiêu dùng giảm dần theo số lượng đã mua.
2.1.3. Phân biệt giá cấp III: Trong trường hợp nhà độc quyền có thể
phân chia các khách hàng thành nhiều nhóm với hành vi và
phản ứng khác nhau, việc phân chia khách hàng được căn cứ
trên các tiêu thức khác nhau như thu nhập, độ tuổi, thị hiếu, thói quen tiêu dùng, …
2.2. Phân biệt giá theo thời kỳ và đặt giá cao điểm
2.2.1. Phân biệt giá theo thời kỳ: Ở đây người tiêu dùng được chia ra
thành các nhóm khác nhau với các hàm cầu khác nhau mà nàh
độc quyền sẽ áp dụng ở các mức giá khác nhau theo thời gian. 2.2.2. Đặt giá cao điểm
2.3. Chính sách hạn chế độc quyền: Hạn chế độc quyền là một trong
những vấn đề quan trọng trong kinh tế học ứng dụng. Các ngành
công nghiệp phục vụ tiện ích như điện lực, viễn thông, … thường
bị khống chế bằng luật pháp để nhằm buộc các ngành này hoạt
động trong phương thức có lợi nhất về phương diện xã hội để hạn
chế phần thiệt hại do độc quyền.
2.4. Điều tiết giá: Do xã hội bị tổn thất, các quốc gia phải sử dụng
một phương pháp để hạn chế sức mạnh độc quyền, chính phủ ấn
định một mức giá trần nào đó thấp hơn mức giá độc quyền. Chính
sách này có thể giảm được tổn thất do sức mạnh độc quyền
2.5. Luật chống độc quyền: Ban hành các quy định, luật lệ nhằm ngăn
cản ngay từ đầu các doanh nghiệp trong việc giành được sức
mạnh thị trường quá mức là một biện pháp đơn giản và hữu hiệu để chống độc quyền.
III. THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM
Thực tế ở Việt Nam hiện nay có hai loại hình độc quyền sau: Loại thứ nhất là
kết quả cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường.
Loại thứ hai là loại hình độc quyền được coi l à phổ biến nhất ở
Việt Nam hiện nay là độc quyền là kết quả của cơ chế hành
chính trước đây và một số quy định của pháp luật cũng như
các chính sách kinh tế hiện hành.
Thị trường điện là nhu cầu tất yếu của cuộc sống hàng ngày nên giá
điện luôn được điều tiết độc quyền bởi nhà nước thông qua các chính sách sau:
Điều tiết giá: Các quốc gia có thể thiết lập giá điện thông qua
các cơ chế điều tiết giúp cân bằng lợi ích của người tiêu dùng
với khả năng đầu tư và vận hành hệ thống điện.
Phân phối và cung cấp điện: Các quốc gia thường ưu tiên sử
dụng Công ty Điện lực Quốc gia hoặc Tổng công ty Điện lực
Quốc gia để quản lý và vận hành hệ thống phân phối điện
nhằm đảm bảo cung cấp điện liên tục và cung cấp cho mọi miền đất nước.
Điều chỉnh đầu tư: Nhà nước có thể kiểm soát quy mô và tốc
độ đầu tư vào ngành điện để đảm bảo sự phát triển bền vững
của hệ thống điện quốc gia và khả năng cung cấp điện trong tương lai.
Thị trường dầu mỏ: Ngoài ra, các chính phủ thường độc quyền thị
trường dầu mỏ để đảm bảo nguồn cung ổn định và kiểm soát giá cả. Các
chính sách quy định độc quyền sau đây có thể áp dụng trong lĩnh vực này:
Kiểm soát giá: Các quốc gia thường can thiệp vào thị trường
nội địa bằng cách áp thuế, hạn chế nhập khẩu hoặc đưa ra các cơ chế kiểm soát giá.
Quản lý nguồn cung: Chính phủ có thể kiểm soát và quản lý
nguồn cung dầu thông qua các cơ chế như giấy phép khai
thác, kiểm soát hàng tồn kho và phân phối để đảm bảo nguồn
cung đáp ứng nhu cầu trong nước.
Kiểm soát chất lượng: Chính phủ thường quy định các tiêu
chuẩn về chất lượng, an toàn và môi trường của dầu. Ví dụ:
-Việc nắm giữ đường trục viễn thông quốc gia sẽ tạo lợi thế cho VNPT
ngăn cản các công ty khác tham gia vào thị trường viễn thông, bởi lẽ
các công ty khác muốn cung cấp dịch vụ viễn thông họ buộc phải sử
dụng đường trục viễn thông quốc gia do VNPT quản lý. Với lợi thế về
thị phần sẵn có từ trước cùng với các quy định của pháp luật, VNPT đã
rính giá dịch vụ viễn thông cung cấp cho người sử dung cao hơn 30% so với các nước ASEAN.
-Tình trạng này cũng tương tự như ở Tổng công ty điện lực Việt Nam
(EVN). Ở nước ta đã có một số doanh nghiệp sản xuất điện nhưng chỉ
có EVN được nắm giữ hệ thống truyền tải điện. Trong thị trường điện
lưc, việc sản xuất điện có liên quan mật thiết đến việc truyền tải điện.
Điều này làm cho các doanh nghiệp sản xuất điện phải phụ thuộc vào EVN. IV. KẾT LUẬN
Các chính sách điều tiết độc quyền quốc gia đóng vai trò quan
trọng trong việc đảm bảo ổn định kinh tế và bảo vệ quyền lợi của
người tiêu dùng. Phân tích các chính sách điều tiết độc quyền trên
thị trường điện và thị trường dầu mỏ trên các khía cạnh đảm bảo
chất lượng sản phẩm, ổn định giá và nguồn cung, khuyến khích sử
dụng năng lượng tái tạo và kiểm soát giá cả là có lợi. Tuy nhiên,
cần cân nhắc kỹ lưỡng để đảm bảo các chính sách này không tác
động tiêu cực đến cạnh tranh và sự phát triển bền vững của thị trường.