



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 61430673 MỤC LỤC
MỤC LỤC ................................................................................................................................................ 1
LỜI MỞ ĐẦU ........................................................................................................................................... 1
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ ................................................................................................................... 3 lOMoAR cPSD| 61430673
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TỚI CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN 2013 LỜI MỞ ĐẦU
Tầm quan trọng và vai trò của tỷ giá hối đoái gắn liền với quá trình lớn mạnh không
ngừng của nền kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế. Giống như vai trò của giá cả
trong nền kinh tế thị trường, tỷ giá hối đoái có tác động quan trọng đến những biến đổi
của nền kinh tế mỗi quốc gia. Thực tế cho thấy một chính sách tỷ giá hối đoái hợp lý có
thể là nhân tố quan trọng tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh tế một nước tăng trưởng.
Không ít nước đã thành công khi sử dụng chính sách tỷ giá hối đoái để phát triển, cũng
có nhiều nước đã vấp phải những thất bại về chính sách tỷ giá. Sự biến động mạnh của
một số các đồng tiền mạnh trong thời gian gần đây (đồng đô la Mỹ, đồng Yên Nhật,
đồng Euro) có ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế của nhiều nước và thế giới. Việt
Nam trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và từng bước hội nhập quốc
tế không thể không quan tâm đến tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá. Hiện nay đồng
Việt Nam vẫn neo đậu chủ yếu vào đồng đô la Mỹ, việc điều chỉnh tỷ giá hiện nay lên
hay xuống để hỗ trợ cho hoạt động xuất khẩu, giúp cải thiện cán cân thương mại là một
vấn đề mà các nhà kinh tế Việt Nam luôn luôn phải tính toán.
Xuất phát từ tầm quan trọng của tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá trong nền kinh
tế mở, đặc biệt là một nền kinh tế đang hội nhập mạnh mẽ như Việt Nam. Đồng thời
chúng ta cũng chưa có một chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt để giúp điều chỉnh và
làm cải thiện cán cân thương mại. Do vậy tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Chính
sách tỷ giá và tác động của tỷ giá hối đoái tới cán cân thương mại Việt Nam giai đoạn
từ 1989 đến 2013”.
Ngoài phần mở đầu, mục lục, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài nghiên cứu gồm 3 chương:
- Chương 1: Khái quát chung về chính sách tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại.
- Chương 2: Chính sách tỷ giá và tác động của tỷ giá hối đoái tới cán cân thương
mại Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến 2013.
- Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả của chính sách tỷ giá hối đoái
nhằm cải thiện cán cân thương mại của Việt Nam. 1
Do giới hạn về thời gian, tài liệu tham khảo cũng như những hạn chế về mặt kiến
thức của người viết, đề tài nghiên cứu không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy tôi lOMoAR cPSD| 61430673
rất mong nhận được sự chỉ bảo của thầy cô, bạn bè cũng như những ý kiến đóng góp
quý báu của những ai quan tâm tới đề tài này đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn! lOMoAR cPSD| 61430673
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TỚI CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN 2013
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ BẢNG
Bảng 1: Tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại Việt Nam giai đoạn 1986-1992
Bảng 2: Tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại Việt Nam giai đoạn 1993-1996
Bảng 3: Tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại Việt Nam giai đoạn 1997 – 1999
Bảng 4: Tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại Việt Nam giai đoan 2000-2006
Bảng 5: Tỷ giá hối đoái và CCTM của Việt Nam từ năm 2007 đến nay BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Diễn biến tỷ giá USD/VND 2008-2009
Biểu đồ 2: Biến động tỷ giá USD/VND trên thị trường năm 2009-2010 lOMoAR cPSD| 61430673
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TỚI CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN 2013
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ
HỐI ĐOÁI VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
1.1. Chính sách tỷ giá hối đoái
1.1.1. Khái niệm tỷ giá hối đoái a. Khái niệm
Trong điều kiện của một nền kinh tế mở, thương mại quốc tế trở thành phổ biến,
việc thanh toán giữa các quốc gia nhất thiết phải sử dụng tiền tệ của nước này hay nước
khác. Để thực hiện việc chuyển đổi tiền tệ giữa các nước, các quốc gia phải dựa vào tỷ
giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đồng tiền được tính bằng một đồng tiền
khác, hay là quan hệ so sánh về mặt giá cả giữa hai đồng tiền của các quốc gia khác nhau.
Tỷ giá được niêm yết theo hai phương pháp:
Yết giá trực tiếp đồng nội tệ: tức là việc niêm yết giá trong đó đồng nội tệ là đồng
tiền yết giá còn đồng ngoại tệ là đồng tiền định giá cho đồng nội tệ, ví dụ 1USD = 20.800VND tại Việt Nam.
Yết giá gián tiếp đồng nội tệ: là việc niêm yết giá trong đó đồng ngoại tệ là đồng
tiền yết giá còn đồng nội tệ là đồng tiền định giá cho đồng ngoại tệ, ví dụ 1USD =
20.800VND tại Mỹ. b. Phân loại tỷ giá
Trong thực tế tùy từng trường hợp mà người ta sử dụng các loại tỷ giá khác nhau.
Do đó mà dựa vào những căn cứ khác nhau người ta chia tỷ giá hối đoái thành nhiều loại tỷ giá khác nhau: (1)
Căn cứ vào phương tiện chuyển ngoại hối, tỷ giá gồm 2 loại:
Tỷ giá điện hối: là tỷ giá mua bán ngoại hối mà ngân hàng có trách nhiệm chuyển
ngoại hối bằng điện (telegraphic transfer - T/T).
Tỷ giá thư hối: là tỷ giá mua bán ngoại hối mà ngân hàng có trách nhiệm chuyển
ngoại hối bằng thư (mail transfer - M/T). (2)
Căn cứ vào chế độ quản lý ngoại hối, tỷ giá gồm: lOMoAR cPSD| 61430673
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TỚI CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN 2013
Tỷ giá chính thức: là tỷ giá do nhà Nước công bố được hình thành trên cơ sở ngang giá vàng.
Tỷ giá tự do là tỷ giá hình thành tự phát trên thị trường do quan hệ cung cầu qui định.
Tỷ giá thả nổi là tỷ giá hình thành tự phát trên thị trường và nhà nước không can
thiệp vào sự hình thành và quản lý tỷ giá này.
Tỷ giá cố định là tỷ giá không biến động trong phạm vi thời gian nào đó. (3)
Căn cứ vào phương tiện thanh toán quốc tế, tỷ giá gồm:
Tỷ giá séc là tỷ giá mua bán các loại séc ngoại tệ.
Tỷ giá hối phiếu trả tiền ngay là tỷ giá mua bán các loại hối phiếu có kỳ hạn bằng ngoại tệ.
Tỷ giá chuyển khoản là tỷ giá mua bán ngoại hối trong đó việc chuyển khoản ngoại
hối không phải bằng tiền mặt mà bằng cách chuyển khoản qua ngân hàng.
Tỷ giá tiền mặt là tỷ giá mua bán ngoại hối mà việc chuyển trả ngoại hối bằng tiền mặt. (4)
Căn cứ vào thời điểm mua bán ngoại hối:
Tỷ giá mở cửa: là tỷ giá vào đầu giờ giao dịch hay tỷ giá mua bán ngoại hối của
chuyến giao dịch đầu tiên trong ngày.
Tỷ giá đóng cửa: là tỷ giá vào cuối giờ giao dịch hay tỷ giá mua bán ngoại hối của
chuyến giao dịch cuối cùng trong ngày.
Tỷ giá giao nhận ngay: là tỷ giá mua bán ngoại hối mà việc giao nhận ngoại hối
sẽ được thực hiện chậm nhất trong 2 ngày làm việc.
Tỷ giá giao nhận có kỳ hạn: là tỷ giá mua bán ngoại hối mà việc giao nhận ngoại
hối sẽ được thực hiện theo thời hạn nhất định ghi trong hợp đồng(có thể là 1,2,3 tháng sau). (5)
Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối của ngân hàng, tỷ giá được chia ra làm hai loại:
Tỷ giá mua: là tỷ giá mà ngân hàng mua ngoại hối vào.
Tỷ giá bán: là tỷ giá mà ngân hàng bán ngoại hối ra. 1.1.2.
Chính sách tỷ giá hối đoái lOMoAR cPSD| 61430673
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TỚI CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN 2013 a. Khái niệm
Chính sách tỷ giá hối đoái là một hệ thống các công cụ dùng để tác động tới cung
cầu ngoại tệ trên thị trường từ đó giúp điều chỉnh tỷ giá hối đoái nhằm đạt tới những mục tiêu cần thiết.
Về cơ bản, chính sách tỷ giá hối đoái tập trung chú trọng vào hai vấn đề lớn là:
vấn đề lựa chọn chế độ (hệ thống) tỷ giá hối đoái (cơ chế vận động của tỷ giá hối đoái)
và vấn đề điều chỉnh tỷ giá hối đoái . b. Các chế độ tỷ giá hối đoái
❖ Chế độ tỷ giá hối đoái cố định
Tỷ giá hối đoái cố định, đôi khi còn được gọi là tỷ giá hối đoái neo, là một kiểu
chế độ tỷ giá hối đoái trong đó giá trị của một đồng tiền được gắn với giá trị của một
đồng tiền khác hay với một rổ các đồng tiền khác, hay với một thước đo giá trị khác,
như vàng chẳng hạn. Khi giá trị tham khảo tăng hoặc giảm, thì giá trị của đồng tiền neo
vào cũng tăng hoặc giảm. Đồng tiền sử dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định gọi là đồng
tiền cố định. Tỷ giá hối đoái cố định là một lựa chọn chế độ tỷ giá ngược hoàn toàn với
tỷ giá hối đoái thả nổi.
❖ Chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi hoàn toàn
Chế độ tỷ giá thả nổi hay còn gọi là chế độ tỷ giá linh hoạt là một chế độ trong
đó giá trị của một đồng tiền được phép dao động trên thị trường ngoại hối. Đồng tiền sử
dụng chế độ tỷ giá thả nổi được gọi là một đồng tiền thả nổi.
Nói chung, các nhà kinh tế đều cho rằng, trong phần lớn trường hợp, chế độ tỷ
giá thả nổi tốt hơn chế độ tỷ giá cố định bởi vì tỷ giá thả nổi nhạy với thị trường ngoại
hối. Điều này cho phép làm dịu tác động của các cú sốc và chu kỳ kinh doanh nước
ngoài. Thêm vào đó, nó không bóp méo các hoạt động kinh tế.
❖ Chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có sự điều tiết
Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết là một chế độ tỷ giá hối đoái nằm giữa hai chế
độ thả nổi và cố định. Mặc dù lý thuyết nói chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi tốt hơn, nhưng
trong thực tế không có một đồng tiền nào được thả nổi hoàn toàn, vì nó quá bất ổn định.
Tuy chế độ tỷ giá hối đoái cố định tạo ra sự ổn định, song việc thực hiện các biện pháp
chính sách nhằm giữ cho tỷ giá hối đoái cố định tương đối khó khăn và tốn kém, và trên lOMoAR cPSD| 61430673
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TỚI CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN 2013
hết là chế độ này làm cho chính sách tiền tệ trở nên vô hiệu lực. Chính vì thế, chỉ một
số ít đồng tiền trên thế giới sử dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định. Hầu hết các đồng
tiền trên thế giới sử dụng chế độ tỷ giá thả nổi, nhưng chính phủ sẽ can thiệp để tỷ giá
không hoàn toàn phản ứng theo thị trường.
1.2. Cán cân thương mại 1.2.1. Khái niệm
Cán cân thương mại phản ánh chênh lệch giữa các khoản thu từ xuất khẩu và các
khoản chi cho nhập khẩu hàng hoá. Chính vì vậy, nó được gọi là cán cân hữu hình bởi
vì hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá hoàn toàn có thể quan sát bằng mắt thường khi di
chuyển qua biên giới. Trong cán cân thương mại, hoạt động xuất khẩu làm phát sinh
cung ngoại tệ (cầu nội tệ) nên được ghi có (+) trong cán cân thanh toán BP, còn hoạt
động nhập khẩu làm phát sinh cầu ngoại tệ (cung nội tệ) nên được ghi nợ (-) trong cán cân thanh toán BP.
Khi nguồn thu từ xuất khẩu lớn hơn các khoản chi cho nhập khẩu hàng hoá thì
cán cân thương mại thặng dư. Ngược lại, khi thu từ xuất khẩu nhỏ hơn chi cho nhập
khẩu hàng hoá thì cán cân thương mại thâm hụt, còn khi thu từ xuất khẩu bằng chi cho
nhập khẩu thì cán cân thương mại cân bằng. Khi giá trị xuất khẩu ròng (hiệu số giữa
xuất khẩu và nhập khẩu) tăng, cán cân thương mại được cải thiện; ngược lại, giá trị xuất
khẩu ròng giảm, cán cân thương mại trở nên xấu đi.
Cán cân thương mại là một trong những cán cân bộ phận rất quan trọng của BP
bởi vì nó phản ảnh vị thế của quốc gia trong thương mại quốc tế. Cán cân thương mại
thặng dư phản ánh quốc gia đang có ưu thế trong mua bán trao đối với các nước bạn
hàng, vì giá trị xuất khẩu cao hơn giá trị nhập khẩu, làm tăng nguồn thu cho đất nước.
Ngược lại, cán cân thương mại thâm hụt cho thấy quốc gia đang ở vị thế không thuận
lợi trong thương mại quốc tế, nhập khẩu lớn hơn xuất khẩu, làm giảm thu nhập quốc gia.
1.2.2. Biện pháp điều chỉnh cán cân thương mại
Cán cân thương mại có ý nghĩa rất lớn đối với nền kinh tế, nó thể hiện rất rõ mối
liên hệ giữa sản xuất và tiêu dùng, giữa tiết kiệm và đầu tư, nhờ vậy chúng ta có thể thấy
được sự thay đổi của những nhân tố trong nền kinh tế sẽ có tác động theo chiều hướng
nào đối với cán cân thương mại. Trong phần này chúng ta sẽ nghiên cứu về việc điều lOMoAR cPSD| 61430673
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TỚI CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN 2013
chỉnh cán cân thương mại được thực hiện thông qua biện pháp nào cùng với mức độ tác
động của sự biến đổi những nhân tố trong nền kinh tế đối với cán cân thương mại. Thông
thường, quá trình điều chỉnh cán cân thương mại được thực hiện thông qua 2 biện pháp
chính: điều chỉnh tỷ giá và điều chỉnh thu nhập.
❖ Biện pháp điều chỉnh tỷ giá
Tỷ giá hối đoái là mức giá mà ở đó đồng tiền của một quốc gia được trao đổi với
đồng tiền của một quốc gia khác. Trong thương mại, giá cả là một nhân tố vô cùng quan
trọng quyết định hành vi mua hàng. Vì vậy, biện pháp điều chỉnh tỷ giá có tác động trực
tiếp tới cán cân thương mại. Một đồng tiền của một quốc gia có thể được nâng giá hay
giảm giá tuỳ thuộc vào chính sách thương mại của quốc gia đó. Trong trường hợp cán
cân thương mại của một quốc gia bị thâm hụt thì thông thường việc phá giá đồng tiền là
một biện pháp nhằm cải thiện cán cân thương mại giúp quốc gia đó tăng cường xuất
khẩu và giảm nhập khẩu do giá hàng hoá xuất khẩu tính bằng đồng ngoại tệ sẽ rẻ hơn
tương đối. Ngược lại, trong trường hợp một quốc gia sử dụng biện pháp thắt chặt tiền tệ
với mục đích điều chỉnh yếu tố kinh tê vĩ mô khác như kiềm chế lạm phát thì đồng tiền
của quốc gia đó sẽ lên giá tương đối so với đồng tiền khác, điều này sẽ làm giảm xuất
khẩu và tăng cường nhập khẩu, sẽ tác động không tốt đến cán cân thương mại.
❖ Biện pháp điều chỉnh thu nhập
Thu nhập có mối quan hệ trực tiếp tới cầu nhập khẩu của một quốc gia. Thu nhập
tăng sẽ làm cho nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ của người dân đối với cả hàng trong
nước và hàng nhập khẩu tăng lên, vì vậy sẽ làm tăng nhập khẩu. Trong một chế độ tỷ
giá cố định, khi một quốc gia có cán cân thương mại thâm hụt thường xuyên sẽ dẫn đến
việc giảm thu nhập và sau đó là giảm nhập khẩu. Ngược lại, khi một quốc gia có cán
cân thương mại thặng dư sẽ làm tăng thu nhập và kéo theo đó là tăng nhập khẩu. Như
thế những tác động của thu nhập tới nhập khẩu sẽ điều chỉnh cán cân thương mại, kéo về vị trí cân bằng.
Tóm lại, thông qua cái nhìn tổng quan về cán cân thương mại ở trên có thể cho
ta thấy, cán cân thương mại có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế, nó phản
sức cạnh tranh và trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia cũng như chính sách kinh lOMoAR cPSD| 61430673
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TỚI CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN 2013
tế vĩ mô của nền kinh tế đó. Khi một quốc gia có cán cân thương mại thặng dư là khi
quốc gia đó có tiềm lực, khả năng đạt mức tăng trưởng cao, chính sách kinh tế ổn định,
nếu một quốc gia bị thâm hụt thương mại thì quốc gia đó luôn phải điều chỉnh chính
sách kinh tế của mình sao cho có thể cải thiện cán cân thương mại về mức cân bằng.
Tuy nhiên, đối với nhiều quốc gia thâm hụt thương mại chưa chắc đã là dấu hiệu xấu
của nền kinh tế, nhưng nếu thâm hụt liên tục trong dài hạn thì quốc gia đó cần phải điều
chỉnh chính sách kinh tế của mình. Có nhiều yếu tố có thể tác động tới cán cân thương
mại như tác động của tiêu dùng, của đầu tư, của tiết kiệm, tác động trực tiếp từ xuất
khẩu, nhập khẩu và đặc biệt là tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái có mối quan hệ mật thiết
tới cán cân thương mại vì thực thế cán cân thương mại là thể hiện tình hình ngoại thương
với các quốc gia và tỷ giá hối đoái là sự định giá đồng tiền nội tệ so với đồng ngoại tệ,
điều này rất quan trọng trong hoạt động ngoại thương của một quốc gia. Trong phần tiếp
theo tôi sẽ trình bày rõ hơn về tỷ giá hối đoái cũng như tác động của nó tới xuất nhập
khẩu, là hai yếu tố quan trọng của cán cân thương mại. lOMoAR cPSD| 61430673
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TỚI CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN 2013
CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ
GIÁ HỐI ĐOÁI TỚI CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN TỪ 1989 ĐẾN 2013
Trước năm 1986 nền kinh tế nước ta trong tình trạng kế hoạch hoá tập trung cao
độ mọi vấn đề sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai hoàn toàn là do ý
muốn chủ quan của các nhà hoạch định chính sách. Nền kinh tế lâm vào khủng hoảng
trì trệ, đòi hỏi một sự đổi mới kịp thời và toàn diện. Trong thời kỳ này quan hệ ngoại
thương của nước ta chỉ bó hẹp với những nước xã hội chủ nghĩa, ngoài đồng Rup chuyển
nhượng là chính, dự trữ ngoại hối của chúng ta rất ít các đống tiền tự do chuyển đổi
khác. Ngoài ra, trên thị trường, quan hệ cung cầu, các yếu tố ảnh hưởng đến nền kinh tế
không được xem xét. Trong giai đoạn này Việt Nam áp dụng chế độ tỷ giá cố định và
cấu trúc đa tỷ giá được áp dụng để xác định tỷ giá giữa VND và đồng tiền của các quốc
gia trong hệ thống các nước Xă hội chủ nghĩa. Đây là một khó khăn rất lớn của chúng
ta trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới. Thời kỳ này, đất nước bị đặt trong tình trạng
rất nhiều thử thách, lạm phát phi mã, cán cân thanh toán bị mất cân bằng nghiêm trọng.
Yêu cầu của nền kinh tế lúc này là cần nhanh chóng có một đường lối đổi mới đưa đất
nước ra khỏi tình trạng khủng hoảng và suy thoái kéo dài.
Từ năm 1989 trở về sau cho đến nay, nhà nước ta đã có những chủ trương và giải
pháp đổi mới trong quan hệ đối ngoại, và chính sách tỷ giá đã từng bước xoá bỏ cơ chế
độc quyền ngoại thương, cho phép các tổ chức kinh tế được phép xuất nhập khẩu trực
tiếp với nước ngoài. Số lượng các công ty được trực tiếp kinh doanh xuất nhập khẩu
không ngừng tăng lên, cùng với việc mở rộng ngoại thương chế độ tỷ giá cũng có những
thay đổi căn bản; chuyển sang cơ chế quản lý kinh tế mới bản thân cơ chế điều hành tỷ
giá hối đoái đã được nhanh chóng thay đổi phù hợp với bối cảnh thực tế. Từ một cơ chế
đa tỷ giá, mang nặng tính chủ quan bao cấp, xa rời với thị rường; tỷ giá hối đoái đã được
điều chỉnh theo các quan hệ và điều kiện của các quy luật kinh tế thị trường. Cơ chế một
tỷ giá linh hoạt, có sự điều tiết của nhà nước đã phát huy được vai trò vừa là một phạm
trù kinh tế vận động theo quy luật cung cầu của nền kinh tế vừa là một công cụ điều tiết
vĩ mô quan trọng của nhà nước. Nhà nước đã áp dụng chính sách tỷ giá linh hoạt có sự lOMoAR cPSD| 61430673
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TỚI CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN 2013
quản lý của nhà nước nhưng việc điều hành của nhà nước trong từng năm có khác nhau,
ta có thể chia ra 3 thời kỳ:
2.1. Chính sách tỷ giá thời kỳ từ năm 1989 đến năm 1992
Chỉ thị 271-CT ban hành tháng 10/1988 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng với
nội dung xác lập một mức tỷ giá đồng Việt Nam đối với khu vực ngoại tệ chuyển đổi
phù hợp với mức tỷ giá thị trường trong biên độ dao động 10-20% chính là biện pháp
đầu tiên trong việc thực hiện chính sách đổi mới tỷ giá của Chính phủ. Tháng 3/1989,
Nhà nước bãi bỏ hệ thống tỷ giá kết toán nội bộ, tiến tới thực hiện thống nhất một mức
tỷ giá duy nhất cho toàn bộ hoạt động của nền kinh tế - tỷ giá chính thức. Từ đó, động
lực phát triển ngoại thương được khôi phục, kinh tế Việt Nam cũng như hoạt động xuất
nhập khẩu có cơ hội phát triển mạnh.
Thật vậy, tỷ giá hối đoái cũng đã thể hiện vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy
hoạt động ngoại thương trên tất cả các phương diện từ kim ngạch cho đến cơ cấu, thị
trường xuất nhập khẩu.
Bảng 1: Tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại Việt Nam
giai đoạn 1986-1992
Năm Tỷ giá chính thức Xuất khẩu Nhập khẩu
Cán cân thương mại
Tỷ giá thị trường (USD/VND) (USD/VND)
Mức tỷ %Tăng, Kim % Tăng, Kim % Tăng, Giá trị % Tăng, Mức tỷ % Tăng, giá giảm ngạch giảm ngạch giảm (triệu USD) giảm giá giảm (triệu (triệu (đồng) USD) USD) (đồng) 1986 80 100 789,1 100 2155,1 100 -1366 100 425 369,56 1987 368 460 854,2 108,25 2455,1 113,92 -1600,9 117,20 1270 298,82 1988 3000 815,21 1038,4 121,56 2756,7 112,29 -1718,3 107,33 5000 393,70 1989 3900 130 1320 127,12 2565,8 93,08 -1245,8 72,50 4100 82 1990 6300 161,54 2404 182,12 2752,4 107,27 -348,4 27,96 6500 158,54 1991 9767 155,03 2087,1 86,82 2338.4 84,96 -251,3 72,13 11975 184,23 1992 10720 109,75 2580,7 123,65 2540,7 108,65 40 -15,92 10550 88,1
Nguồn: Tính toán dựa trên số liệu Tổng Cục Thống Kê lOMoAR cPSD| 61430673
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TỚI CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN 2013
Bảng 1 cho thấy giá trị danh nghĩa đồng Việt Nam sụt giảm mạnh và liên tiếp
trong suốt giai đoạn 89-92. Từ mức tỷ giá 1USD = 3000VND năm 1989, đồng VND đã
giảm xuống 10720 đồng/đôla năm 1992. Trong vòng 3 năm, tỷ giá đã sụt giảm gần 4
lần. Sự sụt giảm này đã tác động mạnh mẽ đến hoạt động ngoại thương Việt Nam, đặc
biệt là trên phương diện kim ngạch xuất nhập khẩu trong quan hệ buôn bán với các quốc gia.
Ta có thể nhận thấy trước thời điểm 1989, khi Nhà nước càng cố gắng hạ giá đồng
nội tệ thì nhập siêu lại càng lớn. Nếu nhập siêu năm 1987 khoảng 1,6 tỷ thì sang năm
1988, khi tỷ giá bị hạ xuống thấp hơn so với năm trước đó 8 lần thì nhập siêu lại lên
đến hơn 1,7 tỷ. Điều này cho thấy việc hạ giá đồng Việt Nam trong bối cảnh vẫn áp dụng
tỷ giá kết toán nội bộ không kích thích được ngoại thương mà còn làm cho nhập siêu trầm trọng hơn.
Năm 1989, sau khi xóa bỏ tỷ giá kết toán nội bộ, thực hiện thống nhất tỷ giá, lĩnh
vực ngoại thương nhanh chóng có chuyển biến rõ nét. Mặc dù mức giá đồng ngoại tệ
chỉ tăng 30% (ít hơn so với giai đoạn trước đó) song nhập khẩu đã giảm xuống chỉ bằng
93% so với năm trước, xuất khẩu được kích thích tăng trưởng nên kim ngạch đã đạt
được 1,3 tỷ USD, thu hẹp khoảng cách nhập siêu xuống còn 1,2 tỷ USD (so với mức 1,7 tỷ USD năm 1988).
Mặt khác, do tỷ giá chính thức được điều chỉnh sát với tỷ giá thị trường, hình
thành theo quy luật cung cầu nên tác động của tỷ giá đến hoạt động thương mại - xuất
nhập khẩu trở nên rõ ràng hơn. Giá đồng nội tệ giảm xuống thực sự kích thích tăng
trưởng xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu. Năm 1989 nếu tỷ giá giảm 1 đồng, xuất khẩu lập
tức tăng lên 0,97 đồng, thì bước sang năm 1990 sau khi giảm tỷ giá xuống trên 60% thì
1 đồng giảm của tỷ giá lại khiến xuất khẩu tăng những 1,13 đồng, một mức tăng khá
lớn, ta thấy được xuất khẩu co giãn hoàn toàn với tỷ giá do đó có tác động tích cực lên
hoạt động xuất khẩu. Trong bốn năm 1989-1992 tác động của tỷ giá đến hoạt động nhập
khẩu thể hiện qua thực trạng: mức giảm giá đồng nội tệ càng lớn thì mức tăng nhập khẩu
càng giảm. Như năm 1989, mức giảm giá 30%, trong đó 1 đồng giảm giá kéo theo mức lOMoAR cPSD| 61430673
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TỚI CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN 2013
tăng 0,71 đồng thì bước sang năm 1990, tỷ giá giảm đến 60% đã lập tức giảm mức tăng
nhập khẩu xuống còn 0,66 đồng.
Đặc biệt, sự kiện tỷ giá danh nghĩa giảm thấp hơn 7,04% so với tỷ giá thị trường
cuối năm 1991 cùng với quyết định bãi bỏ “tỷ giá nhóm hàng” trong thanh toán ngoại
thương năm 1992 đã khiến ngoại thương Việt Nam xuất siêu liên tục trong 6 tháng đầu
năm 1992. Vào cuối năm 1992, cán cân thương mại thặng dư 40 triệu USD. Nguyên
nhân xuất siêu chính là do tỷ giá năm 1992, bởi tại thời điểm năm 1992 giá thành sản
xuất hàng Việt Nam còn cao, chất lượng còn thấp, công tác xúc tiến thương mại cũng
chưa được coi trọng và cạnh tranh về giá được xem là yếu tố duy nhất đưa ngoại thương
Việt Nam đạt thành tích trên. Nếu đầu năm 1991, buôn lậu qua biên giới Việt Nam -
Trung Quốc tăng mạnh do hàng hóa của Trung Quốc được duy trì ở mức giá thấp hơn
nhiều so với mức giá hàng hóa của nước ta thì cuối năm 1991, khi đồng Việt Nam bị
phá giá mạnh so với USD 50% từ khoảng 7000VND/USD xuống 14500 VND/USD thì
tỷ giá đồng Việt Nam so với nhân dân tệ của Trung Quốc cũng bị sụt giảm mạnh. So với
năm 1991, đồng nhân dân tệ đã tăng giá 50%, mức tăng giá này đã kéo theo tình trạng
hàng hóa Trung Quốc bị tăng cao, gặp khó khăn trong tiêu thụ trên thị trường Việt Nam.
Nhiều mặt hàng Việt Nam có cơ hội cạnh tranh với giá thấp hơn các sản phẩm nội địa
trên thị trường Trung Quốc.
Chúng ta có thể nhận thấy rằng việc xóa bỏ tỷ giá kết toán nội bộ, thống nhất tỷ
giá, đưa tỷ giá chính thức tiến gần tỷ giá thị trường nhằm đạt được mức tỷ giá hợp lý
những năm cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90 thế kỷ trước là một chủ trương đúng
đắn. Chủ trương này đã có ảnh hưởng tích cực đến hoạt động nhập khẩu, giúp cải thiện cán cân thương mại.
2.2. Chính sách tỷ giá thời kỳ từ năm 1993 đến năm 1997
Vào thời điểm cuối năm 1992, do kết quả sự can thiệp của Ngân hàng Nhà nước
vào thị trường ngoại tệ, tỷ giá dần ổn định khiến cho lượng ngoại tệ đầu cơ trong các
doanh nghiệp được tung ra, hướng mạnh vào kinh doanh xuất nhập khẩu . Động thời có
một lượng ngoại tệ được chuyển về do người Việt Nam ở nước ngoài gửi về cho người
thân tăng lên khoảng 300-400 triệu USD làm cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ và kéo
theo tỷ giá VND/USD giảm mạnh. Lĩnh vực tài chính - tiền tệ bắt đầu trở ngại. Bên cạnh
đó, cùng với việc quản lý các đại lý thu đổi ngoại tệ còn lỏng lẻo, sự chênh lệch lớn giữa lOMoAR cPSD| 61430673
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TỚI CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN 2013
tỷ giá hối đoái ở thị trường chính thức và thị trường chợ đen dẫn đến việc các đại lý lợi
dụng danh nghĩa của Nhà nước để buôn bán trục lợi, các ngân hàng không thu mua được
lượng ngoại tệ đáng kể qua nguồn này. Một mặt tình trạng này làm hạn chế khả năng
kiểm soát các luồng ngoại tệ lưu hành trong nước. Mặt khác làm gia tăng các giao dịch
trên thị trường chợ đen bất hợp pháp, tâm lý đầu cơ, găm giữ ngoại tệ tăng mạnh.
Việc ngân hàng Nhà nước khống chế chênh lệch giữa tỷ giá mua và tỷ giá bán là
cứng nhắc. Điều này làm cho tỷ giá vận hành thoát ly hoàn toàn quan hệ cung cầu và
không khuyến khích các tổ chức tín dụng, các ngân hàng thương mại hoạt động theo
đúng quan hệ nội tại của nó và thực tế không ít các ngân hàng thương mại đã phá rào.
Trước những tồn tại của việc”thả nổi” mất kiểm soát tỷ giá, chính phủ đã thay
đổi cơ chế điều hành tỷ giá với những nội dung cụ thể sau:
Thứ nhất, quy định biên độ giao động của tỷ giá với tỷ giá chính thức được công
bố bởi Ngân hàng nhà nước (công bố tỷ giá chính thức mỗi ngày và xác định rõ biên độ
giao động); Tăng cường sức mạnh của các biện pháp hành chính mà cụ thể là buộc các
đơn vị kinh tế (trước hết là đơn vị kinh tế quốc doanh) có ngoại tệ phải bán cho Ngân
hàng theo tỷ giá nhất định.
Thứ hai, bãi bỏ hoàn toàn hình thức quy định tỷ giá nhóm hàng trong thanh toán
ngoại thương giữa ngân sách với các đơn vị kinh tế tham gia vào hoạt động ngoại
thương. Thay vào đó là việc áp dụng tỷ giá chính thức do Ngân hàng nhà nước công bố.
Để hạn chế tác động của các yếu tố phi kinh tế, một mặt chính phủ đã tăng cường
công tác thông tin, cho công khai hoá một cách nhanh chóng và chính xác chỉ số kinh tế
quan trọng như tỷ giá chính thức, tỷ giá thị trường, chỉ số giá, sự biến động giá vàng…
Nhờ vậy hạn chế được hoạt động đầu cơ, giải tâm lý hoang mang. Mặt khác, chính phủ
cũng thông quan nhiều hình thức, tốc độ, mức can thiệp để thể hiện rõ quyết tâm cải
cách triệt để nền kinh tế nói chung và áp dập tắt nguy cơ bùng nổ trở lại lạm phát nói riêng.
Ngoài ra, chính phủ cũng cho thấy có sự chú trong tăng cường thực lực kinh tế cho
hoạt động can thiệp vào tỷ giá bằng cách gia tăng mạnh mẽ dự trữ ngoại tệ, lập quỹ ổn
giá. Theo số liệu báo cáo thường niên của Ngân hàng nhà nước cho thấy, chính phủ lOMoAR cPSD| 61430673
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TỚI CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN 2013
thường dành một tỷ trọng khá lớn trong tổng lượng tiền cung ứng thêm cho nền kinh tế
để tăng tài sản có ngoại tệ. Những biện pháp can thiệp trên đã phần nào xoá đi tâm lý
găm giữ ngoại tệ, góp phần làm giảm giá đô la và tỷ giá được ổn định trong những năm tiếp theo.
Thứ ba, đẩy mạnh hoạt động của trung tâm giao dịch ngoại tệ (trung tâm giao
dịch ngoại tệ tại trực tiếp Hồ Chí Minh được mở cửa từ tháng 8 năm 1991) để cho các
đơn vị kinh tế và các tổ chức tín dụng trao đổi, mua bán ngoại tệ với nhau theo giá tự
thoả thuận, tạo ra môi trường điều kiện để cung cầu thực sự gặp nhau. Sau đó, tiến dần
tới việc thành lập thị trường ngoại tệ liên Ngân hàng tháng 9 năm 1994.
Tính đến cuối năm 1992, đầu năm 1993, những biện pháp can thiệp đã đem lại
một kết quả như mong đợi, nạn đầu cơ ngoại tệ về cơ bản đã được giải toả, những đồng
ngoại tệ đã được hướng mạnh vào hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu. Tình hình cung
- cầu ngoại tệ đã được cải thiện với cùng kỳ trong những năm trước đó, Đôla có xu
hướng giảm giá. Mức tỷ giá trên thị trường chợ đen chỉ giao động trong phạm vi từ
10200 đến 10400 đồng Việt Nam ăn 1 Đôla Mỹ. Thậm chí có lúc tỷ giá tụt xuống ở mức
1USD = 9750VND. Mặc dù có nhiều ý kiến cho rằng tình hình này phần lớn là nhờ vào
lượng kiều hối vào nhiều (ước tính trong tháng 1 năm 1993, nhân dịp tết nguyên đán, có
trên 60.000 việt kiều về thăm quê đã đem theo một lượng ngoại tệ khoảng 400 triệu Đôla
Mỹ). Dĩ nhiên không thể phủ nhận đóng góp của lượng kiều hối này vào việc làm gia
tăng cung ngoại tệ trên thị trường. Trên thực tế cho thấy, lượng kiều hối này tăng giảm
hoàn toàn không ổn định qua các năm và chỉ tập trung vào những thời gian ngắn nhất
định trong năm, trong khi tình hình cung - cầu ngoại tệ về tỷ giá hối đoái luôn được ổn
định trong suốt thời gian dài từ năm 1993 đến đầu năm 1997.
Bảng 2: Tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại Việt Nam giai đoạn 1993- 1996 Năm
Tỷ giá chính Xuất khẩu Nhập khẩu
Cán cân thương thức mại (USD/VND) Mức %Tăng, Kim % Kim % Thâm % Tăng,
tỷ giá giảm
ngạch Tăng, ngạch Tăng, hụt giảm
(triệu giảm (triệu giảm (triệu USD) USD) USD) lOMoAR cPSD| 61430673
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TỚI CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN 2013 1993 10640 100 2985,2 100 3924 100 938,8 100 1994 10955 102,9 4054,3 135,8 5825,8 148,5 1771,5 143,7 1995 10970 100,1 5448,9 134,4 8155,4 140 2706,5 149,7 1996 11100 101,2 7255,9 133,2 11143,6 136,6 3887,7 153,6
Nguồn: Tính toán dựa trên số liệu của Tổng cục Thống kê
Với các số liệu tính toán từ bảng 2 trên đây, việc tỷ giá dao động với biên độ +/-
0,5% trong giai đoạn 93-96 đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động nhập khẩu. Nhập
siêu tăng gần gấp đôi trong năm 93, 94. Đặc biệt năm 1996, khi tỷ giá danh nghĩa bị ấn
định so với tỷ giá thực ở mức cao nhất 28% thì nhập siêu cũng đạt mức kỷ lục: 3,8 tỷ đô
la. Trung bình giai đoạn 94-96, cứ 1 đồng tăng giá nội tệ kéo theo hàng nhập khẩu rẻ đi
1,4 đồng trong khi xuất khẩu sụt giảm 1,3 đồng. Điều này cho thấy tác động của tỷ giá
hối đoái lên ngoại thương Việt Nam trong bối cảnh tỷ giá hối đoái nội tệ bị ấn định cao
hơn so với giá trị thực vận động theo xu thế lí luận chung. Tỷ giá tăng đã kéo lùi tốc độ
tăng xuất khẩu, đẩy nhanh tốc độ nhập siêu và gây thiệt hại đến sản xuất trong nước.
Đối với cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu, việc tỷ giá lên cao tạo điều kiện thuận
lợi cho các mặt hàng nhập khẩu hơn. Tỷ giá danh nghĩa được định cao hơn tỷ giá thực
bao nhiêu thì giá hàng nhập khẩu cũng được rẻ đi bấy nhiêu. Trước tình trạng hàng trong
nước cạnh tranh không nổi, năm 1994, nhà nước phải có chính sách cấm nhập khẩu 17
mặt hàng nhằm bảo vệ sản xuất trong nước. Thời điểm này,hàng hóa xuất khẩu lại gặp
bất lợi. Trong 3 năm 1993-1995, nếu lấy năm 1992 làm mốc thì đồng Việt Nam đã lên
giá và giá hàng xuất khẩu đã bị đẩy đắt lên trên các thị trường ngoại quốc.
Ngoài ra, việc đồng Việt Nam tăng giá so với đồng đô la cũng góp phần khiến
đồng Việt Nam tăng giá so với các đồng tiền khác như Nhân dân tệ, Yên Nhật...Điều
này cũng khiến việc mở rộng thị trường trở nên khó khăn. Tuy nhiên do việc giới thiệu
sản phẩm Việt Nam tại thị trường nước ngoài bắt đầu được thực hiện mạnh mẽ nên qui
mô thị trường ngày càng được mở rộng. Ta nhận thấy thời kỳ này tỷ giá không ảnh
hưởng lớn đến hoạt động xuất-nhập khẩu
Trong bối cảnh nến kinh tế thế giới và thị trường tiền tệ quốc tế đầy biến động
mà nền kinh tế xã hội Việt Nam lại đạt được sự ổn định và tăng trưởng cao, điều này đã lOMoAR cPSD| 61430673
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TỚI CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN 2013
thể hiện tính hợp lý về cơ bản của các tỷ số kinh tế vĩ mô và tất yếu là có biến số tỷ giá
hối đoái. Giai đoạn này là giai đoạn tăng giá mạnh của đồng tiền Việt Nam. Chính điều
này là nguyên nhân gây ra tình trạng thâm hụt lớn cán cân thương mại của Việt Nam.
2.3. Chính sách tỷ giá thời kỳ từ năm 1997 đến nay
Đây là giai đoạn điều hành tỷ giá linh hoạt có sự điều tiết của nhà nước. Chủ
trương điều hành tỷ giá một cách linh hoạt theo tình hình trong nước và quốc tế nhằm
khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu và tăng dự trữ ngoại tệ. Trong thời kỳ này
chúng ta sẽ cùng nghiên cứu các giai đoạn khác nhau tương ứng vơi sự phát triển của kinh tế Việt Nam.
2.3.1. Giai đoạn từ năm 1997 đến năm 1999
Đây là giai đoạn nền kinh tế Việt Nam chịu những tác động mạnh mẽ của cuộc
khủng hoảng tài chính châu Á. Đồng Đô la lên giá mạnh so với tất cả các đồng tiền trong
khu vực Đông Nam Á. Trong tình hình đó Ngân hàng Trung ương đã tiến hành điều
chỉnh tỷ giá đồng Việt Nam: Tăng biên độ tỷ giá giao dịch lên +/-5% rồi +/-10%, đồng
thời giảm giá đồng tiền Việt Nam nhằm tạo ra một mức tỷ giá mới sát với mức tỷ giá
thực tế. Chính sách tỷ giá mới đã khiến cho đồng Việt Nam giảm giá 16% chỉ trong vòng
một năm, khoảng cách giữa tỷ giá thực và tỷ giá danh nghĩa cũng được thu hẹp. Điều
này đã đem lại những tác động tích cực cho cán cân thương mại Việt Nam: kim ngạch
nhập khẩu tăng chậm, mức nhập siêu giảm xuống còn 2,4 tỷ USD (giảm 36,8% so với
năm trước). Đặc biệt trong năm 1999 mức nhập siêu chỉ còn 200 triệu USD.
Bảng 3: Tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại Việt Nam
giai đoạn 1997 – 1999 Năm
Tỷ giá chính Xuất khẩu Nhập khẩu
Cán cân thương thức mại (USD/VND) Mức %Tăng, Kim % Kim % Thâm % Tăng,
tỷ giá giảm
ngạch Tăng,
ngạch Tăng, hụt giảm
(triệu giảm (triệu giảm (triệu USD) USD) USD) 1996 11100 100 7255,9 100 11143,6 100 3887,7 100 1997 11175 100,7 9185 126,6 11592,3 104 2407,3 126,2 1998 12985 116,2 9360 101,9 11499,6 99,2 2139,6 122,9 lOMoAR cPSD| 61430673
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TỚI CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN 2013 1999
14004 107,85 11541.4 123,31 11742,1 102,109 200,7 101,7
Nguồn: Tính toán dựa trên số liệu của Tổng Cục Thống Kê
Mặc dù vậy, đồng Việt Nam vẫn còn bị định giá cao so với các nước trong khu vực,
khiến cho giá hàng hoá Việt Nam tăng cao. Hàng hoá Việt Nam khó có thể cạnh tranh
được với các nước trong khu vực nên hoạt động xuất khẩu phần nào bị hạn chế (tốc độ
tăng xuất khẩu ở mức tương đối thấp: 1,9% trong năm 1998). Đồng thời việc đồng Việt
Nam bị định giá cao trong khu vực cũng khiến cho cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt
Nam chuyển dịch từ khối ASEAN sang thị trường châu Âu. Cuộc khủng hoảng kinh tế
khiến cho các quốc gia châu Á phải hạn chế nhập khẩu để dữ trữ ngoại tệ cũng là một
phần nguyên nhân của hiện tượng này.
Nói tóm lại, trong giai đoạn này, việc điều chỉnh tỷ giá ở Việt Nam đã mang lại
những kết quả hết sức tích cực: kiểm soát được nhập khẩu đồng thời mở ra những cơ
hội mới khi thay đổi thị trường xuất khẩu, từ đó cải thiện cán cân thương mại của Việt
Nam. Có thể nói đây là một giai đoạn thành công trong điều hành tỷ giá ở Việt Nam.
2.3.2. Giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2006
Giai đoạn này được đánh dấu bằng việc đồng EUR được lưu hành thống nhất trên
tất cả các quốc gia EU và trờ thành đối thủ nặng ký của USD. Trong bối cảnh này, Việt
Nam đã áp dụng cơ chế neo tỷ giá có điều chỉnh, đồng thời tỷ giá Việt Nam được gắn
với một “rổ tiền tệ” trong đó tỷ trọng của EUR được nâng lên.
Trong giai đoạn này, biên độ tỷ giá được nới rộng từ +/-0,1% lên +/-0,25% đối
với nghiệp vụ giao ngay và từ +/-0,4% lên +/0,5% đối với nghiệp vụ kì hạn ngày
1/7/2002. Tỷ giá nội tệ bị ép cao hơn giá trị thực khiến đồng Việt Nam bị định giá cao hơn USD từ 10-20%.
Xuất khẩu Việt Nam thời kỳ này gặp nhiều khó khăn do không cạnh tranh được
với hàng hoá Trung Quốc. Kim ngạch xuất khẩu tăng chậm (thấp nhất là hơn 3% năm
2001), đồng thời tốc độ tăng xuất khẩu luôn nhỏ hơn tốc độ tăng nhập khẩu, dẫn đến
tình trạng nhập siêu ở mức cao: đến tháng 10/2003, mức nhập siêu là 4,55 tỷ USD. Bên
cạnh đó, việc định giá cao đồng Việt Nam cũng dẫn đến tình trạng nhập khẩu hàng loạt, lOMoAR cPSD| 61430673
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TỚI CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN 2013
kể cả những mặt hàng trong nước có thể sản xuất được do mức giá nhập khẩu rẻ hơn
mức giá hàng hoá trong nước.
Bảng 4: Tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại Việt Nam
giai đoan 2000-2006 Năm
Tỷ giá chính Xuất khẩu Nhập khẩu
Cán cân thương thức mại (USD/VND)
Mức %Tăng, Kim % Kim % Thâm % Tăng, tỷ giá giảm
ngạch Tăng,
ngạch Tăng, hụt giảm (triệu giảm (triệu giảm (triệu USD) USD) USD) 2000 14157 100 14483 100 15637 100 1154 100 2001 14752 104,2 15029 103,77 16218 113,72 1189 103,03 2002 15368 104,18 16706 111,16 19746 121,75 3040 255,68 2003 15608 101,56 20149 120,61 25256 127,90 5152 169,47 2004 15739 100,84 26485 131,45 31969 126,58 5484 106,44 2005 15873 100,85 32447 122,51 36761 114,99 4314 78,66 2006 16091 101,37 39826 122,74 44891 122,12 5065 117,41
Nguồn: Tính toán dựa trên số liệu của Tổng cục Thống Kê
Tóm lại, diễn biến tỷ giá và cán cân thương mại Việt Nam giai đoạn 2000 – 2006
cho thấy ảnh hưởng của tỷ giá tới cán cân thương mại là tương đối rõ ràng, biến động
của tỷ giá và cán cân thương mại có xu hướng bám sát nhau: tỷ giá có xu hướng tăng,
trong khi cán cân thương mại giai đoạn đầu có chiều hướng tăng thâm hụt nhưng sau đó
lại được cải thiện dần. Tuy vậy nhưng trong giai đoạn này, cùng với quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam được cải thiện rõ rệt, kim ngạch
xuất khẩu và nhập khẩu đều tăng mạnh, góp phần không nhỏ cho quá trình xây dựng và
đổi mới đất nước. Tuy nhiên, trên danh nghĩa Việt Nam áp đặt cơ chế tỷ giá thả nổi có
sự điều tiết của nhà nước nhưng trên thực tế đồng Việt Nam bị neo giữ một cách cứng
nhắc gây ra những tổn thất cho cán cân thương mại Việt Nam.
2.3.3. Giai đoạn từ năm 2007 đến nay
Ngày 7/11/2006, Việt Nam đã được kết nạp vào Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO). Đối với nước ta, sự kiện này có một ý nghĩa đặc biệt. Đây là kết quả của quá