












Preview text:
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Câu 1: Chủ nghĩa Xã hội khoa học ra đời, tồn tại trong những điều kiện lịch sử nào?
Nêu vai trò của C.Mác và Ph.Ăngghen đối với sự ra đời của Chủ nghĩa xã hội khoa học? - Khái niệm:
+ Theo nghĩa rộng, chủ nghĩa xã hội khoa học (hay chủ nghĩa cộng sản khoa học) là chủ
nghĩa Mác - Lênin nói chung với tính cách là sự luận chứng toàn diện (triết học, kinh tế chính trị
và xã hội - chính trị) về sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản và thắng lợi tất yếu của chủ
nghĩa cộng sản, là sự biểu hiện khoa học những lợi ích cơ bản và những nhiệm vụ đấu tranh của
giai cấp công nhân. Điều ấy nói lên sự thống nhất, tính hoàn chỉnh về mặt cấu trúc của chủ nghĩa Mác - Lênin.
+ Theo nghĩa hẹp, chủ nghĩa xã hội khoa học là một trong ba bộ phận hợp thành của chủ
nghĩa Mác - Lênin. Chủ nghĩa xã hội khoa học là bộ phận thể hiện tập trung nhất tính chính trị -
thực tiễn sinh động của chủ nghĩa Mác - Lênin.
=> Chủ nghĩa xã hội khoa học là khoa học về các quy luật xã hội - chính trị, là học thuyết
về những điều kiện, con đường giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động, về cuộc đấu
tranh giai cấp của giai cấp công nhân, về cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, về các quy luật, biện
pháp đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của chính đảng
mácxít nhằm thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
- Hoàn cảnh ra đời, tồn tại:
* Điều kiện kinh tế - xã hội:
Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản ở châu Âu đã đạt được những bước
phát triển rất quan trọng trong kinh tế. Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật lần thứ nhất đã thúc
đẩy phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ. Chính sự phát triển đó làm cho
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa bộc lộ mâu thuẫn giữa sự phát triển của lực lượng sản xuất
có tính chất xã hội hóa ngày càng cao với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư
bản chủ nghĩa. Chính vì vậy, mà chủ nghĩa tư bản tạo ra những khả năng hiện thực cho những nhà
dân chủ cách mạng tiến bộ nhận thức đúng đắn bản chất của chủ nghĩa tư bản, để đề ra lý luận khoa học và cách mạng.
Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân hiện đại trưởng thành bước
lên vũ đài đấu tranh chống giai cấp tư sản với tư cách là một lực lượng xã hội độc lập. Giai cấp
công nhân là lực lượng xã hội có thể giải quyết những mâu thuẫn mà chủ nghĩa tư bản đã tạo ra.
Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân phát triển mạnh mẽ, đã bắt đầu có tổ chức và
trên quy mô rộng khắp. Nó đòi hỏi có một lý luận khoa học hướng dẫn. Tiêu biểu cho các phong
trào công nhân lúc đó là: cuộc khởi nghĩa của công nhân thành phố Liông (Pháp) từ năm 1831 đến
năm 1834; cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt Xêlidi (Đức) năm 1844; phong trào Hiến chương
(Anh) từ năm 1838 đến năm 1848. Những phong trào đó có tính quần chúng và mang hình thức
chính trị. Sự lớn mạnh của phong trào công nhân đặt ra yêu cầu bức thiết phải xây dựng một hệ
thống lý luận khoa học và cách mạng.
Đó là những điều kiện kinh tế - xã hội khách quan cho chủ nghĩa xã hội khoa học ra đời để 1
thay thế các trào lưu xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa đã tỏ ra lỗi thời, không còn có khả
năng đáp ứng phong trào công nhân trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản, đồng thời chủ
nghĩa xã hội khoa học ra đời phản ánh bằng lý luận phong trào công nhân.
* Những tiền đề văn hóa - tư tưởng (tiền đề lý luận):
Đến đầu thế kỷ XIX, nhân loại đã đạt nhiều thành tựu to lớn trong lĩnh vực khoa học, văn
hóa và tư tưởng. Về khoa học tự nhiên có: thuyết tế bào của M. Sơlayđen và T. Savanxơ (Đức);
thuyết tiến hóa của Đ. Đácuyn (Anh); thuyết bảo toàn và chuyển hóa năng lượng của M.
Lômônôxốp (Nga). Về khoa học xã hội có: triết học cổ điển Đức (tiêu biểu là Ph. Hêghen, L.
Phơbách), kinh tế chính trị học Anh (tiêu biểu là Ađam Smít, Đ. Ricácđô), chủ nghĩa xã hội không
tưởng - phê phán (tiêu biểu là H. Xanhximông, S. Phuriê và R. Ôoen). Những thành tựu của khoa
học, văn hóa, tư tưởng đã tạo ra những tiền đề tư tưởng - văn hóa cho sự ra đời chủ nghĩa Mác nói
chung và chủ nghĩa xã hội khoa học nói riêng.
- Vai trò của C.Mác và Ph.Ăngghen đối với sự ra đời của Chủ nghĩa xã hội khoa học:
+ Các Mác (1818 - 1883): C. Mác là người sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học, chủ nghĩa
duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và kinh tế chính trị khoa học. Ông là lãnh tụ và
người thầy của giai cấp vô sản thế giới.
+ Phriđrích Ăngghen (1820 - 1895): Ph. Ăngghen là nhà bác học, lãnh tụ và là người thầy
của giai cấp công nhân hiện đại, đã cùng với C. Mác sáng lập ra học thuyết mácxít.
Khi nghiên cứu miếng đất hiện thực tư bản chủ nghĩa trên quan điểm duy vật biện chứng với
phương pháp luận khoa học, C. Mác đã nêu ra hai phát kiến vĩ đại đó là: chủ nghĩa duy vật lịch sử
và học thuyết giá trị thặng dư. “Nhờ hai phát kiến ấy, chủ nghĩa xã hội đã trở thành khoa học”.
Chủ nghĩa xã hội khoa học ra đời không phải do tưởng tượng, ước mơ mà là kết quả tất yếu trong
sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, của tư duy lý luận có cơ sở khoa học.
Tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” do C. Mác và Ph. Ăngghen soạn thảo theo sự
ủy nhiệm của “Đồng minh những người cộng sản” - một tổ chức công nhân quốc tế, đánh dấu sự
ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học.
“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” (2-1848) là tác phẩm bất hủ, là khúc ca tuyệt tác của chủ
nghĩa Mác, là văn kiện có tính chất cương lĩnh đầu tiên của phong trào công nhân, phong trào cộng
sản. Với những nội dung đã được trình bày một cách rõ ràng và sáng sủa của thế giới quan khoa
học, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, theo V.I. Lênin, xứng đáng được thừa nhận là Tuyên ngôn
của chủ nghĩa xã hội thế giới, là “cuốn sách gối đầu giường cho tất cả những công nhân giác ngộ”.
“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” là kim chỉ nam cho hành động của phong trào cộng sản
và công nhân quốc tế. Các Đảng Cộng sản mácxít - lêninnít lấy tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng
Cộng sản” làm cơ sở cho việc xây dựng đường lối chiến lược và sách lược cách mạng nhằm thực
hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân: thủ tiêu chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội,
để tiến lên chủ nghĩa cộng sản.
Câu 2 (5): Giai cấp công nhân là gì? Phân tích điều kiện khách quan, nhân tố chủ quan
quy định và thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân? - Khái niệm:
+ Dưới chủ nghĩa tư bản, Mác, Ăng Ghen định nghĩa như sau: “Giai cấp công nhân là giai 2
cấp của những người làm thuê hiện đại, vì mất tư liệu sản xuất của bản thân nên buộc họ phải bán
sức lao động của mình để kiếm sống”. Lênin phát triển, hoàn thiện và làm rõ hơn khái niệm về
Giai cấp công nhân trong điều kiện Cách mạng xã hội chủ nghĩa, đó là ở các nước định hướng đi
lên Chủ nghĩa xã hội. Giai cấp công nhân đã giữ vị trí lãnh đạo xã hội và cùng với nhân dân lao
động trở thành những người làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội.
+ Định nghĩa của Lênin: “Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và
phát triển cùng với quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại, là giai cấp đại diện cho lực
lượng sản xuất tiên tiến, là lực lượng chủ yếu của tiến trình quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ
nghĩa xã hội; Ở những nước tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là những người không có hoặc
về cơ bản không có tư liệu sản xuất phải làm thuê cho giai cấp tư sản và bị giai cấp tư sản bóc lột
giá trị thặng dư; Ở các nước xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân là những người cùng nhân dân
lao động làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu và cùng nhau hợp tác lao động vì lợi ích chung
của toàn xã hội trong đó có lợi ích chính đáng của mình”.
- Điều kiện khách quan quy định và thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân:
+ Do địa vị kinh tế: đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến và lực lượng sản xuất hiện
đại; là giai cấp duy nhất có đủ điều kiện để lãnh đạo xã hội, xây dựng và phát triển lực lượng sản
xuất và quan hệ sản xuất, tạo nền tảng để xây dựng xã hội mới.
+ Do địa vị chính trị - xã hội của giai cấp công nhân quy định: đại biểu cho tương lai, cho
xu thế đi lên của tiến trình lịch sử; xóa bỏ cái bất công, áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản; giải phóng loài người.
- Nhân tố chủ quan quy định và thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân:
+ Sự phát triển của giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng.
+ Đảng Cộng sản là chính đảng của giai cấp công nhân. Nó là đội tiên phong, bộ tham mưu
chiến đấu, lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp
công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng Cộng sản bao gồm những bộ phận tiên
tiến của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động. Đảng Cộng sản lấy chủ nghĩa Mác
- Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động, lấy nguyên tắc tập trung dân chủ
làm nguyên tắc tổ chức cơ bản của mình.
Như vậy, Đảng Cộng sản mang bản chất giai cấp công nhân, không tách rời với giai cấp
công nhân, nhân dân lao động. Việc thành lập Đảng Cộng sản với lý luận tiên phong, trung thành
với sự nghiệp, lợi ích giai cấp là nhân tố chủ quan quan trọng nhất quyết định đảm bảo cho việc
thực hiện sứ mệnh lịch sử, thủ tiêu chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng
sản lấy nhân dân làm trọng tâm.
Câu 3 (6): Phân tích đặc điểm của giai cấp công nhân Việt Nam và nội dung sứ mệnh
lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay?
- Đặc điểm của giai cấp công nhân Việt Nam:
Giai cấp công nhân là một bộ phận của giai cấp công nhân quốc tế nên có những đặc điểm
chung của giai cấp công nhân quốc tế; ngoài ra, giai cấp công nhân Việt Nam ra đời và phát triển
trong điều kiện cụ thể của dân tộc Việt Nam nên còn có những đặc điểm riêng, ảnh hưởng đến việc
thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam, cụ thể: 3
+ Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trước cả giai cấp tư sản Việt Nam, là giai cấp đối
kháng trực tiếp với tư bản thực dân Pháp. Sinh ra và lớn lên ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến,
dưới sự thống trị của thực dân Pháp, một thứ chủ nghĩa tư bản thực lợi không quan tâm mấy đến
phát triển công nghiệp, nên giai cấp công nhân Việt Nam phát triển chậm.
Mặc dù ra đời muộn, số lượng ít, trình độ nghề nghiệp thấp chưa bằng giai cấp công nhân
thế giới, còn mang nhiều tàn dư của tâm lý và tập quán nông dân, song giai cấp công nhân Việt
Nam đã nhanh chóng vươn lên đảm nhiệm vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam, thực hiện sứ
mệnh lịch sử của mình là giải phóng dân tộc để giành độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội.
+ Giai cấp công nhân Việt Nam tiếp thu và kế thừa truyền thống yêu nước, đấu tranh bất
khuất chống ngoại xâm của dân tộc. Giai cấp công nhân khi ra đời vừa chịu nỗi nhục mất nước,
vừa bị áp bức bóc lột của giai cấp tư sản đế quốc nên họ có tinh thần cách mạng kiên cường, triệt
để, sớm nhận thức được mối quan hệ giữa sự nghiệp giải phóng dân tộc và sự nghiệp giải phóng
giai cấp, giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế.
+ Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trong điều kiện các giai cấp khác đã bế tắc về con
đường cứu nước thì chỉ có giai cấp công nhân mới có khả năng tìm thấy lối thoát cho cách mạng.
+ Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời khi Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng 10 Nga thành
công, mở ra một chế độ xã hội mới trong lịch sử nhân loại, đó là chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa
và cùng lúc đó Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường cứu nước giảỉ phóng dân tộc là con đường
cách mạng vô sản dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân. Đó là yếu tố hết sức quan trọng khích
lệ, thúc đẩy giai cấp công nhân Việt Nam đứng lên làm cách mạng để giải phóng dân tộc.
+ Phần lớn những người công nhân nước ta vốn xuất thân từ nông dân và các tầng lớp nhân
dân lao động khác, nên có quan hệ mật thiết, tự nhiên với nông dân và đông đảo nhân dân lao
động. Chính vì vậy, giai cấp công nhân Việt Nam sớm liên minh với nông dân, tạo thành khối liên
minh công - nông và khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đảm bảo cho sự lãnh đạo của giai cấp công
nhân trong suốt quá trình cách mạng. Đây cũng là điều kiện cần thiết đảm bảo cho cách mạng Việt
Nam giành được thắng lợi.
+ Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời sau một thời gian ngắn thì Đảng Cộng sản Việt Nam
ra đời. Đảng Cộng sản đã đem yếu tố tự giác vào phong trào công nhân, làm cho phong trào công
nhân có một bước phát triển nhảy vọt về chất. Giai cấp công nhân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trở
thành lực lượng chính trị độc lập, giành được quyền lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam.
+ Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc và sớm có Đảng lãnh
đạo nên không bị tác động bởi các khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa, cải lương, xét lại, không bị
giai cấp tư sản đầu độc về tư tưởng nên luôn luôn đoàn kết, thống nhất trong cuộc đấu tranh chống
thực dân Pháp và bọn địa chủ phong kiến tay sai.
Ngoài những đặc điểm nói trên, thể hiện những ưu điểm của giai cấp công nhân Việt Nam,
cho đến nay giai cấp công nhân Việt Nam còn có những hạn chế cần phải khắc phục: Số lượng
còn ít, trình độ văn hoá, chuyên môn và nghiệp vụ cũng như khoa học kĩ thuật còn thấp; tư tưởng
bảo thủ, chủ quan, cách làm ăn tuỳ tiện, manh mún của người sản xuất nhỏ còn ảnh hưởng khá nặng nề. 4
Nguyên nhân là do nền công nghiệp nước ta chưa phát triển và thành phần đa số xuất thân
từ nông dân. Tuy vậy, những hạn chế trên không thuộc về bản chất nên giai cấp công nhân Việt
Nam vẫn có đủ khả năng và điều kiện để đảm đương sứ mệnh lịch sử của mình đối với dân tộc.
- Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay:
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3/2/1930. Do hoàn cảnh của Việt Nam là một nước
thuộc địa nửa phong kiến, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa
Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở nước ta. Đảng Cộng sản Việt
Nam đã đem yếu tố tự giác vào phong trào công nhân, làm cho phong trào cách mạng nước ta có
một bước nhảy vọt về chất, lên một tầm cao mới.
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung
thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Đảng Cộng
sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ
nam cho hành động, lấy nguyên tắc tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, lấy sự nghiệp
giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động làm mục đích tối cao.
Từ khi ra đời cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện vai trò lãnh đạo, tinh thần
phụ trách trước giai cấp và dân tộc trong tiến trình cách mạng Việt Nam. Trong từng giai đoạn
cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối chiến lược, sách lược, phương pháp cách
mạng và lãnh đạo nhân dân Việt Nam hoàn thành từng mục tiêu của sự nghiệp cách mạng, hoàn
thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước và đưa cả nước quá độ lên chủ
nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề xướng và lãnh đạo
công cuộc đổi mới đất nước nhằm tạo ra bước ngoặt lịch sử, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng
khủng hoảng kinh tế - xã hội, xây dựng nước ta theo mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh”.
Để đưa sự nghiệp đổi mới đến thắng lợi, để đảm đương được vai trò lãnh đạo, Đảng Cộng
sản coi việc tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng và nâng cao năng lực lãnh đạo là yêu cầu quan trọng
hàng đầu, đảm bảo cho Đảng luôn luôn ngang tầm nhiệm vụ cách mạng. “Đảng phải vững mạnh
về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao
trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo. Giữ vững truyền thống đoàn kết, thống nhất trong Đảng, đảm
bảo đầy đủ dân chủ và kỷ luật trong sinh hoạt đảng. Thường xuyên tự phê bình và phê bình, đấu
tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội và mọi hành vi chia rẽ, bè phái. Đảng chăm lo
xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, có phẩm chất, năng lực, có sức chiến đấu cao.
Đảng quan tâm bồi dưỡng, đào tạo lớp người kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân”.
Câu 4 (10): Dân chủ là gì? Trình bày bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa? - Khái niệm:
+ Theo quan điểm của Mác – Lênin: Dân chủ là sản phẩm tiến hóa của lịch sử, là nhu cầu
khách quan của con người, thể hiện qua các phương diện sau đây: ▪
Về phương diện tổ chức, quản lý xã hội: Dân chủ là một nguyên tắc. ▪
Về phương diện chế độ xã hội (hay trong lĩnh vực chính trị): Dân chủ là một hình thái
nhà nước, là chính thể dân chủ hay chế độ dân chủ. ▪
Về phương diện quyền lực: Dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân, do chính nhân 5 dân làm chủ.
+ Theo quan điểm dân chủ: Dân chủ là quyền lực chính trị thuộc về nhân dân.
=> “Dân chủ là một hệ giá trị xã hội phản ánh những quyền cơ bản của con người và là
một phạm trù chính trị gắn với hình thức tổ chức nhà nước của giai cấp cầm quyền và là một phạm
trù lịch sử gắn với quá trình ra đời, phát triển của lịch sử xã hội nhân loại”.
- Bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa:
Bản chất tư tưởng,
Bản chất chính trị
Bản chất kinh tế
văn hóa – xã hội
+ Dựa trên chế độ sở hữu
+ Đặt dưới sự lãnh đạo duy những tư liệu sản xuất chủ yếu + Lấy hệ tư tưởng Mác - Lênin
nhất của một đảng của giai cấp của toàn xã hội đáp ứng sự - hệ tư tưởng của giai cấp công
công nhân, trên mọi lĩnh vực phát của lực lượng sản xuất nhân làm chủ đạo đối với mọi
xã hội đều thực hiện quyền lực dựa trên cơ sở khoa học - công hình thái ý thức xã hội khác
của nhân dân, thể hiện qua các nghệ hiện đại nhằm thỏa mãn trong xã hội mới.
quyền dân chủ, làm chủ, ngày càng cao những nhu cầu + Trong nền dân chủ xã hội
quyền con người, thỏa mãn vật chất và tinh thần của toàn chủ nghĩa có sự kết hợp hài
ngày càng cao hơn về nhu cầu thể nhân dân lao động.
hòa về lợi ích giữa cả nhân, tập
và các lợi ích của nhân dân.
+ Khác với nền dân chủ tư sản, thể và lợi ích của toàn xã hội.
+ Xét về bản chất chính trị: bản chất kinh tế của nền dân - Kế thừa, phát huy những tinh
dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa chủ xã hội chủ nghĩa là thực hoa văn hóa truyền thống của
có bản chất giai cấp công hiện chế độ công hữu về tư dân tộc, của nhân loại.
nhân, vừa có tính nhân dân liệu sản xuất chủ yếu và thực
rộng rãi, tính dân tộc sâu sắc. hiện chế độ phân phối lợi ích
theo kết quả lao động là chính.
Câu 5 (15): Phân tích quan điểm Mác – Lênin về vấn đề dân tộc? Trình bày hai xu
hướng khách quan của sự phát triển quan hệ dân tộc?
- Quan điểm Mác – Lênin về vấn đề dân tộc:
Dân tộc là sản phẩm của một quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người. Trước khi
dân tộc xuất hiện, loài người đã trải qua những hình thức cộng đồng từ thấp đến cao: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc.
Cho đến nay, khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong đó có hai nghĩa
được dùng phổ biến nhất, đó là:
+ Nghĩa hẹp: Dân tộc chỉ một cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có sinh
hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hóa đặc thù; xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc.
Dân tộc được hiểu như một tộc người hay một dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc. Với nghĩa
này, dân tộc là một bộ phận của quốc gia - quốc gia nhiều dân tộc.
+ Nghĩa rộng: Dân tộc đồng nghĩa với cộng đồng người ổn định hợp nên làm thành nhân
dân một quốc gia, có: lãnh thổ chung; phương thức sinh hoạt kinh tế chung; ngôn ngữ giao tiếp
chung; có nền văn hóa, tâm lý chung và có ý thức về sự thống nhất quốc gia của mình, gắn bó với
nhau bởi lợi ích chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong suốt 6
quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước. Với nghĩa này, dân tộc là toàn bộ nhân dân của
quốc gia đó - quốc gia dân tộc.
Dưới giác độ của môn học chủ nghĩa xã hội khoa học, dân tộc được hiểu theo nghĩa hẹp.
- Hai xu hướng khách quan của sự phát triển quan hệ dân tộc:
+ Xu hướng 1: Cộng đồng dân cư muốn tách ra để hình thành cộng đồng dân tộc độc lập.
Nguyên nhân chính: Do sự thức tỉnh, sự trưởng thành về ý thưc dân tộc, ý thức về quyền
sống của mình, các cộng đồng dân cư đó muốn tách ra để thành lập các dân tộc độc lập.
Biểu hiện phong trào giải phóng chống áp bức, ách nô dịch của chủ nghĩa đế quốc thục dân,
sự kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc.
+ Xu hướng 2: Các dân tộc trong ở từng quốc gia thậm chí ở nhiều quốc gia muốn phá đổ
hàng rào ngăn cách để liên hiệp lại trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện phù hợp với sự phát triển khách
quan của lực lượng sản xuất và phong trào mở rộng giao lưu văn hóa, thức đẩy sự xích lại gần
nhau giữa các dân tộc. Tạo nên sức hút các quốc gia, dân tộc liên minh trên cơ sở lợi ích kinh tế,
vượt qua khó khăn để đối phó với sức ép bên ngoài.
Câu 6 (16): Nêu nội dung cơ bản trong Cương lĩnh dân tộc của Lênin? Ý nghĩa của
Cương lĩnh dân tộc là gì? - Nội dung:
+ Dựa trên cơ sở tư tưởng của C. Mác - Ph. Ăngghen về vấn đề dân tộc, dựa vào sự tổng kết
kinh nghiệm đấu tranh của phong trào cách mạng thế giới và cách mạng Nga, phân tích hai xu
hướng khách quan của phong trào dân tộc, V.I. Lênin đã khái quát lại thành "Cương lĩnh dân tộc" của Đảng Cộng sản.
+ Vấn đề dân tộc là vấn đề bộ phận, là vấn đề phụ thuộc vào vấn đề giai cấp. Vì vậy, khi chế
độ người bóc lột người bị xóa bỏ thì sẽ xóa bỏ được tình trạng dân tộc này áp bức, xâm lược, đô hộ các dân tộc khác.
+ Đoàn kết giai cấp công nhân các dân tộc trong cuộc đấu tranh xoá bỏ áp bức dân tộc và
xây dựng mối quan hệ mới giữa các dân tộc.
+ Khi giải quyết vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc phải theo các nguyên tắc (nội dung Cương
lĩnh dân tộc của Lênin). Nội dung “Cương lĩnh dân tộc” thể hiện trên 3 vấn đề sau đây:
+ Đây là quyền thiêng liêng của các dân tộc trong mối quan hệ giữa
các dân tộc. Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng có nghĩa là: Các dân tộc
lớn hay nhỏ (kể cả Bộ tộc và chủng tộc) không được phân biệt trình độ
cao hay thấp đều, mà các dân tộc có nghĩa vụ và quyền lợi ngang nhau,
không một dân tộc nào được giữ đặc quyền đặc lợi và đi áp bức, bóc
Các dân tộc hoàn toàn lột dân tộc khác. bình đẳng
+ Trong một quốc gia có nhiều dân tộc, quyền bình đẳng giữa các dân
tộc phải được pháp luật bảo vệ như nhau; khắc phục sự chênh lệch về
trình độ phát triển kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc do lịch sử để lại.
+ Trên phạm vi giữa các quốc gia - dân tộc, đấu tranh cho sự bình đẳng
giữa các dân tộc gắn liền với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt
chủng tộc, gắn với cuộc đấu tranh xây dựng một trật tự kinh tế thế giới 7
mới, chống sự áp bức bóc lột của các nước tư bản phát triển đối với
các nước chậm phát triển về kinh tế.
+ Thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc là cơ sở để thực hiện
quyền dân tộc tự quyết và xây dựng mối quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa các dân tộc.
+ Quyền dân tộc tự quyết là quyền làm chủ của mỗi dân tộc đối với
vận mệnh của dân tộc mình: quyền tự quyết định chế độ chính trị - xã
hội và con đường phát triển của dân tộc mình; quyền tự do độc lập về
chính trị tách ra thành một quốc gia dân tộc độc lập vì lợi ích của các
dân tộc; quyền tự nguyện liên hiệp lại với các dân tộc khác trên cơ sở
bình đẳng cùng có lợi để có sức mạnh chống nguy cơ xâm lược từ bên
Các dân tộc được
ngoài, giữ vững độc lập chủ quyền và có thêm những điều kiện thuận quyền tự quyết
lợi cho sự phát triển quốc gia - dân tộc.
+ Khi giải quyết quyền tự quyết của các dân tộc cần đứng vững trên
lập trường của giai cấp công nhân ủng hộ các phong trào đấu tranh tiến
bộ phù hợp với lợi ích chính đáng của giai cấp công nhân và nhân dân
lao động. Kiên quyết đấu tranh chống những âm mưu thủ đoạn của các
thế lực đế quốc, lợi dụng chiêu bài "dân tộc tự quyết" để can thiệp vào
công việc nội bộ của các nước.
+ Đây là tư tưởng cơ bản trong cương lĩnh dân tộc của Lênin: Nó phản
ánh bản chất quốc tế của phong trào công nhân, phản ánh sự thống nhất
giữa sự nghiệp giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp. Nó đảm bảo
cho phong trào dân tộc có đủ sức mạnh để giành thắng lợi.
+ Nó quy định mục tiêu hướng tới; quy định đường lối, phương pháp
Liên hiệp công nhân xem xét, cách giải quyết quyền dân tộc tự quyết, quyền bình đẳng dân
tất cả các dân tộc lại tộc, đồng thời, nó là yếu tố sức mạnh bảo đảm cho giai cấp công nhân
và các đân tộc bị áp bức chiến thắng kẻ thù của mình.
+ Đây là cơ sở vững chắc để đoàn kết các tầng lớp nhân dân lao động
trong các dân tộc để đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc vì độc lập dân
tộc và tiến bộ xã hội. Vì vậy, nội dung liên hiệp công nhân các dân tộc
đóng vai trò liên kết cả 3 nội dung của cương lĩnh thành một chỉnh thể. - Ý nghĩa:
Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin là một bộ phận trong Cương lĩnh cách mạng
của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải
phóng giai cấp; là cơ sở lý luận của đường lối chính sách dân tộc của các Đảng cộng sản và Nhà
nước trong các quốc gia đang quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.
Câu 7 (18): Tôn giáo là gì? Trình bày bản chất, nguồn gốc và tính chất của tôn giáo? - Khái niệm:
Tôn giáo là một một hệ thống quan niệm tín ngưỡng, sùng bái một hay nhiều vị thần và
những lễ nghi để thể hiện sự sùng bái ấy. Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng: “Tôn giáo là một hình 8
thái ý thức xã hội, phản ánh một cách hoang đường, hư ảo hiện thực khách quan. Qua sự phản
ánh của tôn giáo, những sức mạnh tự phát trong tự nhiên và xã hội đều trở thành thần bí, những
sức mạnh của thế gian đã trở thành sức mạnh siêu thế gian”.
- Bản chất của tôn giáo:
+ Tôn giáo là hiện tượng văn hóa – xã hội và là sản phẩm do con người sáng tạo ra; vì mục
đích, lợi ích của họ; phản ánh những ước mơ, nguyện vọng, tâm tư, suy nghĩ của họ; gắn với những
điều kiện lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội xác định. Do đó, xét về mặt bản chất, tôn giáo là một
hiện tượng xã hội phản ánh sự bất lực, bế tắc của con người trước sức mạnh tự nhiên và sức mạnh xã hội.
+ Tuy nhiên, tôn giáo cũng chứa đựng một số nhân tố giá trị văn hóa, phù hợp với đạo đức, đạo lý của xã hội.
+ Về phương diện thế giới quan thì thế giới quan duy vật Mácxít và thế giới quan tôn giáo
là đối lập nhau. Tuy vậy, những người cộng sản có lập trường Mácxít không bao giờ có thái độ
xem thường hoặc trấn áp những nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo hợp pháp của nhân dân. Ngược lại,
chủ nghĩa Mác - Lênin và những người cộng sản, chế độ xã hội chủ nghĩa luôn tôn trọng quyền tự
do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân.
- Nguồn gốc của tôn giáo:
+ Nguồn gốc kinh tế - xã hội của tôn giáo:
Trước hết, do sự bất lực của con người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên, xã hội để giải
quyết các yêu cầu, các mục đích kinh tế - xã hội, cũng như cuộc sống của bản thân họ. Trong xã
hội đó, các mối quan hệ xã hội ngày càng phức tạp và con người ngày càng chịu tác động của
những yếu tố tự phát, ngẫu nhiên, may rủi... nằm ngoài ý muốn và khả năng điều chỉnh của mình
với những hậu quả khó lường... Mặt khác, trong những trường hợp cụ thể nào đó, sự xuất hiện tôn
giáo là để phục vụ cho những yêu cầu kinh tế - xã hội cụ thể. Điều này thể hiện rõ nét ở một số
tôn giáo, khi những yêu cầu, mục đích kinh tế - xã hội bị “tôn giáo hoá” qua những nội dung giáo
lý, cách thức hành lễ, tu trì. Đây cũng là nguyên nhân cho sự nảy sinh, phát triển nhu cầu tôn giáo, tín ngưỡng.
+ Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo:
Có một thời kỳ rất dài con người sống không có tôn giáo. Bởi lúc đó, nhận thức của con
người còn thấp kém; trình độ nhận thức mới ở giai đoạn trực quan, cảm tính. Với trình độ nhận
thức như vậy, con người chưa thể sáng tạo ra tôn giáo, vì tôn giáo bao giờ cũng gắn với cái thần
thánh, siêu nhiên, thế giới bên kia - sản phẩm của những biểu tượng, của sự trừu tượng hoá, khái quát hoá.
Phải đến một trình độ nhận thức nhất định, khi con người đạt đến khả năng tư duy trừu tượng
hoá, khái quát hoá (từ những hiện tượng riêng lẻ xảy ra được hệ thống hoá, khái quát hoá), con
người mới có khả năng sáng tạo ra tôn giáo. Thực chất nguồn gốc nhận thức của tôn giáo chính là
sự tuyệt đối hoá, sự cường điệu mặt chủ thể của nhận thức con người, biến cái nội dung khách
quan thành cái siêu nhiên, thần thánh.
+ Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo:
Con người thường đưa ra những luận điểm: “Sự sợ hãi sinh ra thần linh”. V.I.Lênin tán thành 9
và phân tích thêm: “Sợ hãi trước thế lực mù quáng của tư bản, mù quáng vì quần chúng nhân dân
không thể đoán trước được nó, đó chính là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo hiện đại”... Nhưng không
chỉ từ sự sợ hãi trước sức mạnh tự phát của thiên nhiên và xã hội đã dẫn con người đến nhờ cậy
thần Linh, mà ngay cả những nét tâm lý như tình yêu, lòng biết ơn, sự kính trọng… trong mối
quan hệ giữa con người với tự nhiên và con người với con người nhiều khi cũng được thể hiện qua tín ngưỡng, tôn giáo.
- Tính chất của tôn giáo:
+ Tính lịch sử của tôn giáo:
Con người sáng tạo ra tôn giáo. Mặc dù nó còn tồn tại lâu dài, nhưng nó chỉ là một phạm trù
lịch sử. Tôn giáo không phải xuất hiện cùng một lúc với con người. Tôn giáo chỉ xuất hiện khi khả
năng tư duy trừu tượng của con người đạt tới mức độ nhất định.
Tôn giáo là sản phẩm của lịch sử. Trong từng giai đoạn của lịch sử, tôn giáo có sự biến đổi
cho phù hợp với kết cấu chính trị và xã hội của thời đại đó. Thời đại thay đổi, tôn giáo cũng có sự
thay đổi, điều chỉnh theo.
Đến một giai đoạn lịch sử nhất định, khi con người nhận thức được bản chất các hiện tượng
tự nhiên, xã hội, khi con người làm chủ được tự nhiên, xã hội, làm chủ được bản thân mình và xây
dựng được niềm tin cho mỗi con người thì tôn giáo sẽ không còn.
+ Tính quần chúng của tôn giáo:
Tôn giáo là nơi sinh hoạt văn hóa, tinh thần của một số bộ phận quần chúng nhân dân lao
động. Hiện nay số lượng tín đồ của các tôn giáo chiếm tỷ lệ khá cao trong dân số thế giới (khoảng
1/3 đến 1/2 dân số thế giới chịu ảnh hưởng của tôn giáo).
Tuy tôn giáo phản ánh hạnh phúc hư ảo, song nó phản ánh khát vọng của những con người
bị áp bức về một xã hội tự do, bình đẳng, bác ái... Bởi vì, tôn giáo thường có tính nhân văn, nhân
đạo, hướng thiện. Vì vậy, còn nhiều người ở trong các tầng lớp khác nhau của xã hội tin theo.
+ Tính chính trị của tôn giáo:
Tính chính trị của tôn giáo chỉ xuất hiện khi xã hội đã phân chia giai cấp, các giai cấp thống
trị đã lợi dụng tôn giáo để phục vụ lợi ích của mình.
Trong nội bộ các tôn giáo, cuộc đấu tranh giữa các dòng, hệ, phái nhiều khi cũng mang tính
chính trị. Trong những cuộc đấu tranh ý thức hệ, thì tôn giáo thường là một bộ phận của đấu tranh giai cấp.
Ngày nay, tôn giáo đang có chiều hướng phát triển, đa dạng, phức tạp không chỉ ở quốc gia
mà còn cả phạm vi quốc tế. Đó là sự xuất hiện các tổ chức quốc tế của tôn giáo với thế lực lớn đã
tác động đến nhiều mặt, trong đó có chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Vì vậy, cần nhận thức rõ:
đa số quần chúng đến với tôn giáo nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần; Song trên thực tế đã và đang
bị các thế lực chính trị - xã hội lợi dụng để thực hiện mục đích ngoài tôn giáo của họ
Câu 8 (21): Gia đình là gì? Phân tích vị trí và chức năng của gia đình? - Khái niệm:
+ Gia đình là hình thức cộng đồng xã hội đặc biệt được hình thành, phát triển dựa trên cơ sở
các mối quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng, đồng thời có sự gắn kết
về kinh tế - vật chất, qua đó nảy sinh các nghĩa vụ và quyền lợi giữa các thành viên trong gia đình. 10
Gia đình là một thiết xã hội đặc thù, một hình ảnh “xã hội thu nhỏ”, cơ bản nhất của xã hội.
+ Quan hệ hôn nhân là quan hệ cơ bản của sự hình thành và phát triển của gia đình. Từ đây
nó sẽ là cơ sở nền tảng hình thành nên các quan hệ khác.
+ Quan hệ huyết thống là quan hệ cơ bản đặc trưng của gia đình. Quan hệ này chịu sự chi
phối của điều kiện kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội. Vì vậy nó cũng có những biến đổi theo tiến trình của lịch sử.
Gia đình hình thành từ rất sớm và trải qua một quá trình phát triển lâu dài. Lịch sử nhân loại
có những hình thức hôn nhân: tạp hôn, đối ngẫu, một vợ một chồng, thì cũng có các hình thức gia
đình: tập thể, cặp đôi, cá thể và cũng có các loại gia đình: một thế hệ, hai thế hệ và nhiều thế hệ.
- Vị trí của gia đình:
+ Gia đình là tế bào của xã hội:
Gia đình có vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội, là nhân tố cho
sự tồn tại và phát triển của xã hội. Gia đình như một tế bào tự nhiên, là đơn vị nhỏ nhất để tạo nên
xã hội. Không có gia đình để tái tạo ra con người thì xã hội không tồn tại và phát triển được. Chính
vì vậy, muốn xã hội tốt thì phải xây dựng gia đình tốt.
Tuy nhiên, mức độ tác động của gia đình đối với xã hội còn phụ thuộc vào bản chất của từng
chế độ xã hội. Trong các xã hội dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, sự bất bình đẳng trong
quan hệ gia đình, quan hệ xã hội đã hạn chế rất lớn đến sự tác động của gia đình đối với xã hội.
+ Gia đình là cầu nối giữa cá nhân và xã hội:
Mỗi cá nhân chỉ có thể sinh ra trong gia đình. Không thể có con người sinh ra từ bên ngoài
gia đình. Gia đình là môi trường đầu tiên có ảnh hưởng rất quan trọng đến sự hình thành và phát
triển tính cách của mỗi cá nhân. Và cũng chính trong gia đình, mỗi cá nhân sẽ học được cách cư
xử với người xung quanh và xã hội.
+ Gia đình là tổ ấm, mang lại các giá trị hạnh phúc, sự hài hòa trong đời sống cá nhân của mỗi thành viên.
Gia đình là tổ ấm, mang lại các giá trị hạnh phúc, sự hài hòa trong đời sống của mỗi thành
viên, mỗi công dân của xã hội. Chỉ trong gia đình, mới thể hiện được mối quan hệ tình cảm thiêng
liêng giữa vợ và chồng, cha mẹ và con cái.
Gia đình là nơi nuôi dưỡng, chăm sóc những công dân tốt cho xã hội. Sự hạnh phúc của gia
đình là tiền đề để hình thành nên nhân cách tốt cho những công dân của xã hội. Vì vậy, muốn xây
dựng xã hội thì phải chú trọng xây dựng gia đình.
Xây dựng gia đình là một trách nhiệm, là bộ phận cấu thành trong chỉnh thể các mục tiêu
phấn đấu của xã hội, vì sự ổn định và phát triển của xã hội.
Thế nhưng, các cá nhân không chỉ sống trong quan hệ gia đình mà còn có những quan hệ xã
hội. Mỗi cá nhân không chỉ là thành viên của gia đình mà còn là thành viên của xã hội. Không thể
có con người bên ngoài xã hội. Gia đình đóng vai trò quan trọng để đáp ứng nhu cầu về quan hệ
xã hội của mỗi cá nhân.
Ngược lại, bất cứ xã hội nào cũng thông qua gia đình để tác động đến mỗi cá nhân. Mặt
khác, nhiều hiện tượng của xã hội cũng thông qua gia đình mà có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu
cực đối với sự phát triển của mỗi cá nhân về tư tưởng, đạo đức, lối sống. 11
- Chức năng của gia đình:
Chức năng thỏa mãn
Chức năng tái sản Chức năng nuôi dưỡng, Chức năng kinh tế và
nhu cầu tâm sinh lý,
xuất ra con người giáo dục
tổ chức tiêu dùng tình cảm
Lao động sản xuất, kinh
+ Giáo dục thẩm mỹ, ý doanh, dịch vụ tạo ra thu Giúp duy trì dân số và
+ Nhu cầu tình cảm thức cộng đồng.
nhập chính đáng cho gia nguồn tài nguyên con
tự nhiên, tâm sinh lý. + Giáo dục đạo đức, lối đình để nâng cao đời người cho xã hội; đồng
+ Cung cấp lực lượng sống, nhân cách.
sống, đảm bảo hạnh thời cũng đáp ứng nhu sản xuất.
+ Giáo dục tri thức, kinh phúc cho gia đình, góp cầu sinh lý cơ bản của + Duy trì nòi giống. nghiệm.
phần to lớn vào sự con người.
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
=> Tóm lại: Gia đình, thông qua việc thực hiện các chức năng vốn có của mình, có vai trò
rất quan trọng đối với sự phát triển xã hội. Các chức năng này có quan hệ mật thiết với nhau, tác
động lẫn nhau. Việc phân chia chúng là tương đối. Cần tránh tư tưởng coi trọng chức năng này coi
nhẹ chức năng kia, hoặc tư tưởng hạ thấp chức năng gia đình. Mọi quan điểm tuyệt đối hóa, đề
cao quá mức hay phủ nhận, hạ thấp vai trò của gia đình đều là sai lầm.
Câu 9 (23): Phân tích những biến đổi cơ bản của gia đình Việt Nam trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội?
- Biến đổi quy mô, kết cấu của gia đình:
+ Biến đổi từ gia đình xã hội nông nghiệp cổ truyền sang xã hội công nghiệp hiện đại.
+ Cấu trúc của gia đình truyền thống được giải thể dần và từ từ hình thành hình thái mới là điều tất yếu.
+ Gia đình đơn (gia đình hạt nhân) thay thế cho kiểu gia đình truyền thống giữ vai trò chủ đạo trước đây.
+ Quy mô gia đình ngày nay tồn tại theo xu hướng nhỏ dần.
- Biến đổi các chức năng của gia đình:
+ Chức năng tái sản xuất ra con người.
+ Biến đổi chức năng kinh tế và tổ chức tiêu dùng gồm 2 bước chuyển mang tính bước ngoặt: ✓
Thứ nhất, từ kinh tế tự cấp tự túc thành kinh tế hàng hóa. ✓
Thứ hai, từ đơn vị kinh tế mà đặc trưng là sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu của thị
trường quốc gia – gia đình thành thị trường đáp ứng nhu cầu của thị trường toàn cầu.
+ Biến đổi chức năng giáo dục (xã hội hóa). ✓
Phát triển theo xu hướng đầu tư của gia đình cho con cái. ✓
Chuyển đổi trọng tâm từ giáo dục đạo đức - ứng xử sang giáo dục công nghệ - kỹ thuật
hòa nhập với thế giới.
+ Biến đổi chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, duy trì tình cảm.
- Sự biến đổi quan hệ gia đình:
+ Biến đổi quan hệ hôn nhân và quan hệ vợ chồng. 12 ✓
Mâu thuẫn gia đình tăng cao có thể dễ dẫn đến tình trạng ly hôn, gia đình tan nát. ✓
Vấn đề kết hôn vẫn còn gặp nhiều khó khăn ở một số trường hợp tiêu biểu như kết hôn
đồng tính, hôn nhân cận huyết thống, tảo hôn…
+ Biến đổi quan hệ giữa các thế hệ, các giá trị, chuẩn mực văn hóa của gia đình.
Giảng viên giảng dạy môn học
Người soạn thảo tài liệu, tác giả
Nguyễn Thị Huệ
Nguyễn Linh – khóa 60
Hà Nội, ngày 23 tháng 2 năm 2024 13