lOMoARcPSD| 46342576
lOMoARcPSD| 46342576
phần
Hà Nội 2024
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU........................................................................4
PHẦN NỘI DUNG.....................................................................5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ
HỖI VÀ SỰ TT YẾU KHÁCH QUAN CỦA HÌNH THÁI KINH
TẾ XÃ HỘI CỘNG SẢN CHỦ NGHĨA.....................................5
1.1. Giới thiệu đề tài.........................................................5
1.2. Mục êu nghiên cứu.................................................9
1.3. Lý luận về hình thái kinh tế xã hội cộng sản ch
nghĩa.................................................................................10
1.3.1. Khái niệm và các đặc điểm bản của hình thái kinh tế hội cộng
sản chủ nghĩa.....................10
1.3.2. Tiền đề lịch sử và xã hội dẫn đến sự ra đời của hình thái kinh tế xã
hội cộng sản chủ nghĩa:............10
1.3.3. Phân ch sự tất yếu khách quan trong lịch sử và các yếu tố kinh
tế, xã hội, chính trị dẫn đến sự ra đời của hình thái kinh tế xã hội cộng
sản chủ nghĩa
........................................................................................11
CHƯƠNG 2: ỨNG DỤNG LÝ LUẬN VÀO NGHIÊN CỨU THỰC
TIN VIỆT NAM...............................................................14
2.1. Phân ch quá trình hình thành và phát triển của nền kinh tế Việt Nam
trước khi giành độc lập và từ khi
giành được độc lập đến nay...........................................14
2.2. Chứng minh cho luận điểm “Nước ta lựa chọn con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội là tất yếu”...................16
2.3.Đánh giá vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc định hướng
lãnh đạo đất nước trên con
đường phát triển xã hội chủ nghĩa...............................20
2. 4.Phân ch những thành tựu và thách thức mà Việt Nam đang đối mặt
trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã
hội................................................................................25
lOMoARcPSD| 46342576
2.4.1.................................................................Thành tựu
25
2.2. Thách thức................................................................27
CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN.......................................................29
3.1. Tổng kết lại các luận điểm chính:.........................29
3.1.1. Khẳng định sự tất yếu khách quan của sự ra đời hình thái kinh tế
xã hội cộng sản chủ nghĩa......29
3.1.2. Xác định lý do vì sao con đường phát triển xã hội chủ nghĩa là phù
hợp với bối cảnh và điều kiện
của Việt Nam.................................................................29
3.2. Một số đề xut.........................................................31
3.2.1..Các chiến lược chính sách cần thiết để ếp tục thúc đẩy sự phát
triển bền vững theo hướng xã
hội chủ nghĩa ở Vit Nam............................................31
3.2.2....Gợi ý về việc nâng cao nhận thức sự đồng thuận của người
dân trong quá trình xây dựng chủ
nghĩa xã hội...................................................................34
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................36
PHẦN MỞ ĐẦU
Chnghĩa xã hội quá độ lên chủ nghĩa xã hội Việt Nam khát vọng
của Nhân dân ta, slựa chọn đúng đắn của Đảng cộng sản Việt Nam Chủ
tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử. Tuy nhiên, quá đ
lên chủ nghĩa hội ớc ta từ một nước phong kiến nghèo nàn, lạc hậu bỏ
qua việc xác lập quan hệ sản xuất bản chủ nghĩa đã đang bcác thế lực thù
địch, hội chính trị ngay cả những cán bộ, đảng viên, những người nhận
thức chưa đầy đủ, hiểu chưa đúng đắn về bản chất, luận của chủ nghĩa Mác,
xuyên tạc, phủ nhận, hoài nghi. Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội Liên Xô và các
ớc Đông Âu sở để họ rêu rao học thuyết lý luận của chủ nghĩa Mác đã lỗi
thời, không còn phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, họ cxúy cho nh ưu
việt của chủ nghĩa bản, họ phnhận học thuyết hình thái kinh tế hội của
Mác và cho rằng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội Việt Nam là sai lầm.
Chính thế, nhóm 2 chúng em đã quyết định lựa chọn “Chứng minh s
ra đời của hình thái kinh tế hội cộng sản chủ nghĩa là một tất yếu khách quan.
Vận dụng lý luận y vào nghiên cứu thực ễn Việt Nam để khẳng định nước
ta lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu” làm đề tài nghiên cứu.
lOMoARcPSD| 46342576
Trong bài thảo luận y, do trình độ kiến thức chưa sâu, trình độ kỹ năng
còn nhiều hạn chế nên không tránh khỏi những sai t. Vì vậy, nhóm em kính
mong nhận được s giúp đỡ, đóng góp ý kiến của giảng viên.
Nhóm 2 chúng em xin chân thành cảm ơn!
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: SỞ LÝ LUẬN VỀ HÌNH THÁI KINH TẾ HỖI VÀ SỰ TT YẾU
KHÁCH QUAN CỦA HÌNH THÁI KINH
TẾ XÃ HỘI CỘNG SẢN CHỦ NGHĨA
1.1. Giới thiệu đề tài
a) Khái quát về hình thái kinh tế hội chủ nghĩa:
Nói về giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản, C.Mác chỉ ra rằng, đó là một
xã hội về phương diện kinh tế, đạo đức, nh thần còn mang những dấu vết
của xã hội lọt lòng ra. Chính vì vậy, trong giai đoạn y còn những
thiếu sót không thể tránh khỏi. Vmặt kinh tế, đó sự thiếu t trong khâu phân
phối. Trong giai đoạn này, việc phân phối được thực hiện theo nguyên tắc phân
- phối sản phẩm êu dùng theo số ợng và chất lượng lao động. Sự ến bộ của
nguyên tắc này chkhông thừa nhận một sự phân biệt giai cấp nào cả,
bất cứ người lao động nào cũng như nhau. Sự cống hiến của mỗi người được đo
bằng một thước đo như nhau, tức bằng hiệu quả lao động. Sthiếu sót không
thtránh khỏi của nguyên tắc này là mặc nhiên thừa nhận sự không ngang nhau
về thchất, về nh thần, năng khiếu, tóm lại, về năng lực lao động của những
người lao động. Do đó, "quyền ngang nhau ấy là một quyển không ngang nhau
dồi với một lao động không ngang nhau". Việc phân phối những vật phẩm êu
dùng vẫn phải tuân theo nguyên tắc trong việc trao đổi hàng hóa - vật ngang giá:
một số ợng lao động dưới một hình thức này được đổi ly cùng một số ợng
lao động dưới một hình thức khác. Vì vậy, ở đây về nguyên tắc, cái quyền ngang
nhau cũng là cái quyền tư sản, tuy rằng ở dây, nguyên lý và thực ễn không còn
mâu thun với nhau nữa.
Đến một giai đoạn cao hơn của hội cộng sản chủ nghĩa, khi đã tạo ra
những ền đề vật chất và nh thần cần thiết, khi "cùng với sự phát triển toàn
diện của các nhân, sức sản xuất của họ cũng ngày càng tăng lên và tất cả các
nguồn của cải xã hội đều tuôn ra dồi dào, - chkhi đó người ta mới thể t
hẳn ra khỏi giới hạn chật hẹp của pháp quyền sản hội mới thể ghi
trên lá cờ của mình: làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu".
b) Sự tất yếu của sự ra đời hình thái kinh tế xã hội cộng sảnchủ nghĩa:
C.Mác Ph.Ăngghen đã vận đụng một cách triệt để quan điểm duy vật
về lịch sử để nghiên cứu hội loài người, từ đó đã xây dựng nên học thuyết
lOMoARcPSD| 46342576
hình thái kinh tế - hội, phân ch một cách khoa học sự chuyển biến thình
thái kinh tế - hội thấp lên hình thái kinh tế - xã hội cao hơn và coi đó mt
quá trình lịch sử - tự nhiên.
C.Mác Ph.Ăngghen đã vận đụng một cách triệt để quan điểm duy vật
về lịch sử để nghiên cứu hội loài người, từ đó đã xây dựng nên học thuyết
hình thái kinh tế - hội, phân ch một cách khoa học sự chuyển biến thình
thái kinh tế - hội thấp lên hình thái kinh tế - xã hội cao hơn và coi đó mt
quá trình lịch sử - tự nhiên.
Trong nhiều tác phẩm của mình, đặc biệt trong tác phẩm Tuyên ngôn
của Đảng Cộng sản và tác phẩm Chống Đuyrinh, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng
định sự ra đời của chủ nghĩa bản một giai đoạn phát triển mới của nhân
loại, các ông viết: "Giai cấp sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy
một thế kỷ đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng
sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại". Nhưng mặt khác, C.Mác và
Ph.Ăngghen cũng chỉ ra rằng: trong xã hội đối kháng giai cấp đó, con người càng
chinh phục thiên nhiên, cải tạo tự nhiên thì nh trạng người áp bức, bóc lột
người càng được mở rộng.
Lực lượng sản xuất của chủ nghĩa bản càng phát triển đến trình độ xã
hội hóa cao thì càng làm cho mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển của lực lượng
sản xuất với sự kìm hãm của quan hệ sản xuất mang nh nhân bản chủ
nghĩa thêm sâu sắc. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. C.Mác và
Ph.Ăngghen đã nhận định: "T hàng chục năm nay. lịch sử công nghiệp
thương nghiệp không phải cái khác hơn lịch sử cuộc nổi dậy của lực lượng
sản xuất hiện đại chống lại quan hệ sản xuất hiện đi".
Tính mâu thuẫn gay gắt trong lĩnh vực kinh tế của chủ nghĩa bản biểu
hiện trên lĩnh vực chính tr- hội mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân, nhân
dân lao động với giai cấp tư sản ngày càng trở nên quyết liệt.
Cuộc đấu tranh giữa giai cấp công nhân và giai cấp sản xuất hiện ngay
từ khi chủ nghĩa bản hình thành ngày càng trở nên sâu sắc. Qua thực ễn cuộc
đấu tranh, giai cấp công nhân đã nhận thức được rằng, muôn giành thắng lợi
phải ếp thu chủ nghĩa hội khoa học, hình thành chính đảng của giai cấp mình.
Khi đảng cộng sản ra đời, toàn bộ hoạt động của nghĩa đều hướng vào lật đổ nhà
ớc của giai cấp sản, xác lập nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân
lao động. Việc thiết lập nhà nước của giai cấp công nhân nhân dân lao động
là sự mở đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa.
lOMoARcPSD| 46342576
Như vậy, sxuất hiện của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa phải
những điều kiện nhất định, đó sphát triển của lực lượng sản xuất dưới
chnghĩa bản đạt đến một mức độ nhất định, lực lượng giai cấp công nhân
trở nên đông đảo, mâu thuẫn gay gắt với giai cấp tư sản. Mặt khác, từ thực ễn
cách mạng, giai cấp công nhân phải giác ngộ cách mạng, phải y dựng được
chính đảng cách mạng, phải kiên quyết đấu tranh giành lấy chính quyền từ tay
giai cấpsản khi có thời cơ cách mạng. Cách mạng không tự diễn ra, chủ nghĩa
tư bản không tự sụp đổ
C.Mác và Ph.Ăngghen dự báo sra đời của hình thái kinh tế -xã hội cộng
sản chủ nghĩa tnhững nước bản chủ nghĩa phát triển, sống trong thời đại
đế quốc chủ nghĩa, khi mà giai cấp tư sản đã trở thành lực lượng phản động, đã
ến hành những cuộc chiến tranh xâm lược các nước lạc hậu, biến các nước đó
thành thuộc địa, khi lực lượng công nhân đã phát triển mạnh mẽ, V.I.Lênin
đã dự báo sự xuất hiện hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa ở các nước
tư bản chủ nghĩa có trình độ phát triển trung bình và những nước thuộc địa sau
khi được giải phóng do giai cấp công nhân lãnh đạo.
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học
công nghệ, lực lượng sản xuất của chủ nghĩa bản nh hội hóa cao đã
mang nh chất toàn cầu ngày càng mâu thuẫn với quan hệ sản xuất tư nhân tư
bản chủ nghĩa. Ý thức được mâu thuẫn đó giai cấp sản dùng rất nhiều biện
pháp như tăng cường sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế, thành lập các tập
đoàn bản,... với mong muốn làm giảm những mâu thuẫn giữa sản
sản. Song, sở hữu nhà nước trong chủ nghĩa tư bản, thực chất chỉgiai cấp tư
sản lợi dụng nhà ớc, nhân danh nhà nước để nắm liệu sản xuất. Do vậy,
mâu thuẫn đối kháng trong kinh tế trong lĩnh vực chính trhội không hề
suy giảm. Mâu thuẫn đó chỉ thể giải quyết bằng một cuộc cách mạng hội
chủ nghĩa, thiết lập hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa với quan hệ sản
xuất xã hội chủ nghĩa nhằm mđường cho lực lượng sản xuất phát triển.
"Mác đặt vấn đchủ nghĩa cộng sản giống như một nhà tự nhiên học đặt
chẳng hạn, vấn đề ến hóa của một giống sinh vật mới, một khi đã biết nguồn
gốc của nó", nhưng cũng khẳng định hình thái kinh tế - hội cộng sản chủ nghĩa
ra đời là kết quả hoạt động tự giác của giai cấp công nhân, bằng hành động đấu
tranh cách mạng của giai cấp này, bởi chế đbản chủ nghĩa không tự
sụp đổ. Ngày nay chủ nghĩa tư bản đã lỗi thời, nhưng giai cấp tư sản vẫn m mi
biện pháp bảo vchế độ tư hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa.
Trong khi nhấn mạnh vai trò ch cực của nhân tố chquan trong ến trình
cách mạng xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa xác lập chế độ mới xã hội chủ nghĩa,
lOMoARcPSD| 46342576
các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học cũng cương quyết đấu tranh chống
lại khuynh hướng cách mạng phiêu lưu, không nh đến trình độ phát triển của
hiện thực cách mạng, không xem xét tới trình độ giác ngộ của nhân dân, thiếu
sự chuẩn bị chu đáo.
c) Tầm quan trọng của nghiên cứu lý luận này trong bối cảnh Việt Nam:
Khi nghiên cứu ến trình phát triển của lịch sử loài người tC.Mác phát
hiện lịch sử loài người lịch sthay thế các chế độ hội từ thấp đến cao: cụ
thchiếm hữu lệ ra đời thay thế Cộng sản nguyên thuỷ, phong kiến ra
đời thay thế cho chiếm hữu lệ, bản chủ nghĩa ra đời thay thế cho phong
kiến. Như vậy chủ nghĩa tư bản sẽ bị thay thế bởi xã hội khác đó là Cộng sản chủ
nghĩa. Việc thay thế y lặp đi lặp lại theo quy luật, Chủ Nghĩa cộng sản tất yếu
ra đời là để thay thế cho hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa.
Khi nghiên cứu C.Mác thấy rằng giai cấp công nhân là giai cấp có khả năng
để lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa. Mục êu, lý tưởng, khát vọng của phong trào
đấu tranh của giai cấp công nhân là muốn xây dựng chế độ xã hội mới, một chế
độ xã hội tốt đẹp k có áp bức bóc lột, tài sản của xã hội của chung tất cả mọi
người.
Cơ sở lý luận vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tquc:
ớng dẫn đường lối: Lý luận Mác - Lênin về hình thái kinh tế - hội
cung cấp những nguyên tắc bản, phương pháp luận khoa học để
Đảng ta y dựng đường lối, chính sách phợp với điều kiện cụ th
của đất nước.
Đoàn kết nhân dân: Nghiên cứu sâu sắc về nh tất yếu khách quan của
chnghĩa xã hội giúp tăng cường niềm n của nhân dân vào sự lựa chọn
con đường đi lên chủ nghĩa hội, từ đó củng cố khối đại đoàn kết toàn
dân tc.
Đối phó với các quan điểm sai trái: Việc nắm vững lý luận giúp ta có đủ
sở để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ
nền tảng tư tưởng của Đảng.
Thúc đẩy quá trình đổi mới và phát triển:
Đổi mới duy: Nghiên cứu luận giúp đổi mới duy, cách ếp cận
vấn đề, từ đó tạo ra những đột phá trong quá trình đổi mới.
Phát triển kinh tế - hội: Lý luận Mác - Lênin về hình thái kinh tế -
hội cung cấp những nguyên tắc bản đphát triển kinh tế - hội một
cách bền vững, hướng tới mục êu dân giàu, nước mạnh, hội công
bằng, dân chủ, văn minh.
lOMoARcPSD| 46342576
Hội nhập quốc tế: Việc nắm vững luận giúp ta chủ động hơn trong
quá trình hội nhập quốc tế, vừa gigìn bản sắc văn hóa dân tộc, vừa
học hỏi kinh nghiệm của các nước khác.
Hoàn thiện hthống chính trị:
Xây dựng nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa: Nghiên cứu luận
giúp hoàn thiện hệ thống chính trị, y dựng nhà nước pháp quyền
hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Đảm bảo dân chủ: Lý luận Mác - Lênin về hình thái kinh tế - xã hội nhấn
mạnh vai trò của dân chủ, vậy nghiên cứu luận giúp ta y dựng
một xã hội dân chủ, công bằng.
Giải quyết các vn đề lý luận và thực ễn:
Vận dụng sáng tạọ: Trong quá trình xây dựng phát triển đất nước,
chúng ta sẽ gặp phải nhiều vấn đề lý luận và thực ễn mới. Việc nghiên
cứu lý luận giúp ta vận dụng sáng tạo những nguyên lý bản vào giải
quyết các vấn đđó.
Phát triển luận: Nghiên cứu luận cũng quá trình phát triển luận,
làm phong phú thêm kho tàng lý luận của Đảng.
1.2. Mục êu nghiên cứu
Cung cấp những kiến thức cơ bản về quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
về hình thái kinh tế xã hội cộng sản ch
nghĩa.
Chứng minh sự ra đời của hình thái kinh tế hội cộng sản chủ nghĩa
một tất yếu khách quan.
Vận dụng luận vào điều kiện cụ thViệt Nam để khẳng định lựa chọn
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội Việt Nam là tất yếu.
Vkiến thức: Bài thảo luận giúp cho người đọc nắm được kiến thức
bản những quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về hình thái kinh tế xã hội
cộng sản chủ nghĩa, sự ra đời của hình thái kinh tế hội cộng sản chủ
nghĩa một tất yếu khách quan. Đồng thời, bài nghiên cứu cũng vận dụng
những lý luận y vào điều kiện cụ thViệt Nam để khẳng định lựa chọn
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội Việt Nam là tất yếu.
Về tư tưởng: Bài nghiên cứu giúp người đọc có niềm n vào chế độ xã hội
chnghĩa, luôn n ủng hộ đường lối đổi mới theo định hướng hội
chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
1.3. Lý luận về hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa
1.3.1. Khái niệm các đặc điểm cơ bản của hình thái kinh tế xã hội cộng sản
chủ nghĩa.
a) Khái niệm về hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa:
lOMoARcPSD| 46342576
Hình thái kinh tế hội cộng sản chủ nghĩa được định nghĩa giai đoạn
phát triển cao nhất của hội loài người, nơi các phương thức sản xuất được
công hữu của cải được phân phối theo nhu cầu của mỗi nhân. Đây giai
đoạn mà mọi sự phân biệt giai cấp, thành thị - nông thôn, hay giữa lao động trí
óc và lao động chân tay đều được xóa bỏ. Trong xã hội này, quyền lực không còn
nằm trong tay một nhóm nhỏ thuộc vtoàn bộ nhân dân lao động. Theo
luận của C.Mác Ph.Ăngghen, đây giai đoạn cuối cùng của sphát triển
hội, khi con người đạt đến mức độ tự do và bình đẳng cao nht.
b) Các đặc điểm cơ bản của hình thái kinh tế xã hội cộng sảnchủ nghĩa:
Về kinh tế: Chủ nghĩa cộng sản dựa trên sự công hữu tư liệu sản xuất, tức
tất cả các phương ện sản xuất như đất đai, nhà máy, tài nguyên đều thuộc về
toàn hội. Không còn sự chiếm hữu nhân, điều y loại bỏ nguyên nhân
chính của sự bất công và xung đột giai cấp trong các hình thái kinh tế trước đó.
Của cải sản xuất ra sẽ được phân phối theo nguyên tắc “làm theo năng lực,
ởng theo nhu cầu”, đảm bảo mọi người đều thể ếp cận các nhu cầu
bản của cuộc sống.
Về chính trị: Giai cấp công nhân nắm giữ quyn lực chính trị và không còn
sự tồn tại của nhà nước như một quan đàn áp giai cấp. Các chế chính trị
sẽ do nhân dân lao động trực ếp tham gia quản . Nhà nước chỉ còn đóng vai
trò điều hành, dần dần, khi hội phát triển đến giai đoạn cộng sản, nhà nước
sẽ tự êu vong do không còn mâu thuẫn giai cấp.
Vvăn hóa - xã hội: Xã hội cộng sản thúc đẩy sự phát triển toàn diện của
mỗi nhân, loại bỏ mọi hình thức áp bức bất công. Giáo dục, y tế, các dịch
vụ công cộng sẽ hoàn toàn miễn phí, giúp tạo điều kiện cho mỗi người phát triển
ềm năng của mình. Trong hội này, con người ssống hòa hợp với nhau và
với tự nhiên, không còn sự bóc lột hay phân chia giàu nghèo.
1.3.2. Tiền đề lịch sử hội dẫn đến sự ra đời của hình thái kinh tế hội
cộng sản chủ nghĩa:
Hình thái kinh tế hội cộng sản chủ nghĩa không phải một ý tưởng
ngẫu nhiên mà là kết quả của quá trình phát triển lịch sử, dựa trên sự phát triển
của lực lượng sản xuất và mâu thuẫn giữa giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột.
Lịch sử loài người đã trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau của hình thái
kinh tế hội: từ cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu lệ, phong kiến, đến chủ
nghĩa bản. Trong mỗi giai đoạn, mâu thuẫn giữa các giai cấp đã dẫn đến sự
thay đổi, theo C.Mác, chủ nghĩa bản cuối cùng sẽ nhường chỗ cho chủ
nghĩa xã hội và sau đó là chủ nghĩa cộng sản.
Khi lực lượng sản xuất phát triển đến mức độ cao, mâu thuẫn giữa giai cấp
công nhân sản trnên không thể giải quyết trong khuôn khổ của chủ nghĩa
tư bản. Từ đó, giai cấp công nhân sẽ lãnh đạo cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa,
lOMoARcPSD| 46342576
lật đổ chủ nghĩa tư bản, và thiết lập nn tảng cho xã hội cộng sản. Quá trình này
kết quả tất yếu của sự phát triển lịch sử và một giai đoạn không thể tránh
khi.
1.3.3. Phân ch sự tất yếu khách quan trong lịch sử các yếu tố kinh tế,
hội, chính trị dẫn đến sự ra đời của hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa
a) Sự tất yếu khách quan trong lịch sử
Theo quan điểm duy vật lịch sử của C. Mác và Ph. Ăngghen, sự phát triển
của các hình thái kinh tế hội là một quá trình lịch sử mang nh quy luật. Trong
lịch sử loài người phát triển qua nhiều giai đoạn kinh tế hội khác nhau như:
Cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu lệ, phong kiến, bản chnghĩa cuối
cùng là cộng sản chủ nghĩa. Mỗi hình thái kinh tế xã hội đều có cơ sở kinh tế (h
tầng) và cấu trúc thượng tầng (chính trị, luật pháp, tư tưởng) khác nhau để phù
hợp với từng loại nh thái kinh tế. C. Mác cho rằng mâu thuẫn giai cấp giữa
những người sở hữu liệu sản xuất và những người lao động trong hội
bản chủ nghĩa nguồn gốc sâu xa dẫn đến sự thay đổi hình thái kinh tế xã hội.
Khi mâu thuẫn này trở nên gay gắt, sẽ tạo nên một cuộc cách mạng hội sẽ nổ
ra, giai cấp công nhân đứng lên đấu tranh để nắm quyền, phá vỡ hệ thống
bản y dựng hội cộng sản chủ nghĩa, nơi không còn sự bất bình đẳng giữa
các giai cp.
Một số đặc điểm quan trọng của quy luật lịch sử y đó mâu thuẫn giữa
lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất: Khi lực lượng sản xuất (công nghệ,
liệu sản xuất, lao động) phát triển đến mức độ nào đó, nó trnên không tương
thích với quan hệ sản xuất hiện hành (tư hữu, quyền sở hữu tài sản). Smâu
thuẫn này đòi hỏi phải thay đổi quan hệ sản xuất để phù hợp với lực lượng sản
xuất mới. Nếu không mâu thuẫn sẽ bị đẩy lên cao trào. Trong hệ thng bản
chủ nghĩa, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản (người sở hữu tư liệu sản xuất) và giai
cấp vô sản (người lao động) không ngừng gia tăng. Giai cấp công nhân phải chịu
bóc lột, dẫn đến ý thức cách mạng và đấu tranh lật đổ chế độ tư bản.
b) Yếu tố kinh tế dẫn đến sự ra đời của hình thái cộng sảnchủ nghĩa
Sự phát triển của lực lượng sản xuất công nghiệp hóa: Cuộc cách mạng
công nghiệp trong thế kỷ XVIII XIX đã làm tăng mạnh lực lượng sản xuất thông
qua việc áp dụng máy móc và công nghệ hiện đại. Tư bản chnghĩa, với động lực
lợi nhuận, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, nhưng cũng tạo ra sự tập trung
bản sphân hóa giai cấp giàu nghèo sâu sắc .Tầng lớp lao động công
nhân và nông dân bị bóc lột. Sphát triển của công nghiệp đã làm gia tăng s
ợng công nhân làm thuê lên một con số lớn. Tuy nhiên điều kiện làm việc khắc
nghiệt và thời gian lao động kéo dài mà mức lương lại thấp, giai cấp vô sản đc
biệt là công nhân trong nhà máy bị bóc lột nặng nề, dẫn đến bất mãn xã hội.
lOMoARcPSD| 46342576
Ngoài ra, các nhà Tư bản chủ nghĩa cũng gặp phải các cuộc khủng hoảng
kinh tế định kỳ do mâu thuẫn nội tại trong hệ thống. Những cuộc khủng hoảng
y thường bắt nguồn từ sản xuất thừa, khi hàng hóa sản xuất ra nhiều hơn khả
năng êu thụ, dẫn đến phá sản, thất nghiệp, và suy thoái kinh tế. Điều này làm
tăng thêm sự bất ổn xã hội và thúc đẩy quá trình m kiếm một hệ thống kinh tế
hội mới.
c) Yếu tố hội dẫn đến sự ra đời của hình thái kinh tế cngsản chủ nghĩa
Trong xã hội tư bản, tư liệu sản xuất nằm trong tay một số ít cá nhân
giàu đó là sản , còn lại đa số người lao động không quyền shữu và phải
làm thuê để kiếm sống họ được gọi sản . Điều này dẫn đến sự bất bình đẳng
kinh tế, tạo ra mâu thuẫn sâu sắc và sự phân chia rõ ràng giữa giai cấp tư sản và
giai cấp vô sản. Sự phân hóa xã hội rõ rệt nh trạng bóc lột công nhân đã kích
thích các phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân đòi cải thiện điều kiện lao
động, lương bổng và quyền lợi xã hội. Những phong trào này đã tạo ền đề cho
các cuộc cách mạng hội, trong đó điển hình Cách mạng Tháng Mười Nga
năm 1917.
Theo C.Mác, sự bất mãn của công nhân với hệ thống tư bản chủ nghĩa đã
tạo ra ý thức cách mạng, tức nhận thức về việc họ quyền lật đhệ thống
bất công và xây dựng hội mới. Giai cấp công nhân sđi từ việc đấu tranh tự
phát sang đấu tranh tgiác, với mục êu lật đchế độ bản. Dưới sự ớng
dẫn của C.Mác Ph.Ăngghen, Đảng Cộng sản đã ra đời như lực lượng ên
phong của giai cấp sản, đóng vai trò lãnh đạo trong việc tổ chức các phong
trào cách mạng nhằm lật đổ chế độ bản xây dựng hội cộng sản chủ nghĩa.
d) Yếu tố chính trị dẫn đến sự ra đời của hình thái cộng sảnchủ nghĩa
Trong hệ thống bản, nhà nước được coi công cụ để bảo vệ lợi ích của
giai cấp tư sản. Hệ thống pháp luật, quân đội, cảnh sát và hệ thống quản lý nhà
ớc được sử dụng đbảo vệ quyền sở hữu tài sản của sản đàn áp các
phong trào đòi quyền lợi của công nhân. Nhiều cải cách chính trị hội được đưa
ra để giảm bớt sự bất mãn trong giai cấp lao động, như cải cách lương bổng,
quyền lợi lao động. Tuy nhiên, những cải cách này thường chỉ những biện pháp
tạm thời và không thể giải quyết tận gc vn đề mâu thuẫn giai cấp.
C.Mác Ph.Ăngghen khẳng định rằng chỉ cách mạng chính trị do giai
cấp sản lãnh đạo mới thể lật đổ nhà nước sản thiết lập nhà nước
chuyên chính sản. Trong giai đoạn y, nhà nước sản sẽ tịch thu liệu sản
xuất của giai cấp sản, ến tới xóa bỏ chế độ hữu và xây dựng xã hội công
bằng, không còn sự bóc lột giai cấp.
lOMoARcPSD| 46342576
Sự ra đời của hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa là kết quả tất yếu
khách quan của các yếu tố kinh tế, xã hội và chính trị trong qtrình phát triển
lịch sử. Mâu thuẫn giai cấp trong xã hội bản chủ nghĩa, sự phát triển của lực
ợng sản xuất ý thức cách mạng sản đã dẫn đến sự hình thành của một
trật tự xã hội mới. C. Mác cho rằng xã hội cộng sản chủ nghĩa sẽ là đỉnh cao của
sự phát triển lịch sloài người, nơi không còn bóc lột giai cấp con người sẽ
được giải phóng hoàn toàn khỏi sự áp bức kinh tế và chính trị.
CHƯƠNG 2: ỨNG DỤNG LÝ LUẬN VÀO NGHIÊN CỨU THỰC
TIN VIỆT NAM
2.1. Phân ch quá trình hình thành phát triển của nền kinh tế Vit Nam
trước khi giành độc lập và từ khi giành được độc lập đến nay.
a) Giai đoạn trước khi giành độc lập
Trước khi giành độc lập nền kinh tế Việt Nam chủ yếu dựa vào nông
nghiệp, với một hội nông thôn chiếm ưu thế. Vào cuối thế kỷ 19, Việt Nam tr
thành thuộc địa của Pháp, nền kinh tế bắt đầu chuyển mình dưới sự kiểm soát
của thực dân. Trong thời kỳ này, Việt Nam chịu sự thống trcủa thực dân Pháp,
kinh tế Việt Nam bị biến đổi mạnh mẽ. Điều này đã ảnh hưởng sâu sắc đến cấu
trúc kinh tế hội của nước ta. Thực dân Pháp đã thiết lập một hệ thống kinh
tế thuộc địa trong đó nông nghiệp vẫn chiếm ưu thế nhưng bị chi phối bởi các
lợi ích của thực n Pháp. Trong đó họ khai thác tài nguyên thiên nhiên lao
động của người dân Việt Nam để phục vụ cho lợi ích của mình, nền kinh tế nông
nghiệp truyền thống bị bóp nghẹt bởi các chính sách thuế nặng nề sự cạnh
tranh không công bằng từ hàng hóa nhập khẩu.
Trong giai đoạn y, một số ngành công nghiệp nhẹ bắt đầu hình thành,
nhưng chủ yếu phục vụ cho nhu cầu êu dùng nội địa không phát triển mạnh
mẽ. Sự phát triển kinh tế bị hạn chế bởi các yếu tố như thiếu vốn đầu tư, công
nghệ lạc hậu sự phân chia giai cấp rệt trong hội. Nền kinh tế Việt Nam
trong thời kỳ này có thể được tả một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, bị
lệ thuộc vào Pháp, các nước phương Tây các yếu tố bên ngoài với cấu trúc
kinh tế chyếu nông nghiệp nhưng bị khai thác cạn kiệt và không sự phát
triển bn vững.
b) Giai đoạn từ khi giành độc lập đến nay
Thời kỳ 1945-1954 là thời kỳ đầu ên y dựng chế độ kinh tế mới Vit
Nam và là giai đoạn khó khăn nhất, gian khổ nht vì vừa phải kháng chiến chống
giặc, vừa phát triển kinh tế trong điều kiện nghèo nàn đói kém sthiếu hụt
nguồn lc.
lOMoARcPSD| 46342576
Đặc trưng của nền kinh tế Việt Nam thời kỳ này nền kinh tế nông thôn, quy
mô kinh tế rất thấp, ềm lực yếu kém. Chính phủ đã thực hiện nhiều biện pháp
khẩn cấp để khôi phục nền kinh tế, trong đó việc cải cách ruộng đất nhằm
phân phối lại đất đai cho nông dân. Tuy nhiên, cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp (1946-1954) đã làm cho nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, sản xuất nông
nghiệp và công nghiệp bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Tsau khi đất nước giành độc lập, Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn
phát triển kinh tế khác nhau, đặc biệt thời kỳ 1986-2000 nước ta thực hiện
đường lối đổi mới nền kinh tế do nhận ra những bất cập của cơ chế kinh tế hin
hành, Nhà nước bắt đầu một số thay đổi trong chính sách quản kinh tế.
Trong thời kỳ y, nước ta đã thực hiện đường lối đổi mới, đánh dấu một bước
ngoặt quan trọng trong phát triển kinh tế. Chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoch
hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hoạt động
theo chế thtrường, sự quản của Nhà nước định hướng hội chủ
nghĩa. Các cải cách này bao gồm việc khuyến khích đầu nhân, mở cửa thị
trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Nền kinh tế đã chuyển mình từ một nền kinh
tế nông nghiệp sang một nền kinh tế đa dạng hơn, với sự phát triển mạnh mẽ
của các ngành công nghiệp chế biến, công nghệ thông n dịch vụ. Đặc biệt,
Việt Nam đã thu hút được nhiều vốn đầu nước ngoài, trở thành một điểm
đến hấp dẫn cho các nhà đầu quốc tế. Đường lối đổi mới của Đảng nhanh
chóng được sự ng ứng rộng rãi của quần chúng nhân dân, khơi dy ềm
năng và sức sáng tạo của các loại hình kinh tế để phát triển sản xuất, tạo thêm
nhiều việc làm cho người lao động, tăng sản phẩm cho hội. Kết quả nền
kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, với tốc độ tăng trưởng
GDP cao. Cùng với phát triển kinh tế, hoạt động giáo dục cũng đạt được những
thành tựu to lớn, đời sống vật chất và nh thần của nhân dân cũng nâng lên.
Thời kỳ 2001 đến nay - thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng. Trong thời kỳ
y, đất ớc ta thực hiện hai chiến lược phát triển kinh tế hội Chiến lược
2001-2010 Chiến lược 2011-2020 nhằm y dựng nước Việt Nam dân giàu,
ớc mạnh, hội công bằng, dân chủ, văn minhtheo phương châm “Việt Nam
sẵn sàng bạn, đối tác n cậy của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế
trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng
cùng có lợi, không can thiệp công việc nội bộ, cùng phấn đấu hòa bình, độc lập
phát triển.
Ngoài ra, việc Việt Nam tham gia vào nhiều tổ chức thương mại quốc tế,
như WTO, APEC…, giúp mra nhiều hội thương mại đầu quốc tế. S
phát triển của các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dịch vụ đã đóng góp
lớn vào tăng trưởng kinh tế, đồng thời cải thiện đời sống của người dân. Chính
lOMoARcPSD| 46342576
phủ ếp tục cải cách cơ cấu kinh tế, thúc đẩy các ngành công nghiệp, dịch vụ, và
công nghệ cao. Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế quan trọng, trở
thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh của khu vực Đông Nam Á.
Những dấu n trong sự phát triển kinh tế – xã hội của nước ta kể từ năm
1945 đến khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng, chính sách, đường lối nhất quán
của Nhà nước về phát triển kinh tế xã hội. Vị thế của Việt Nam thay đổi đáng
kể trên thế giới và trong khu vực.
2.2. Chứng minh cho luận điểm “Nước ta lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội là tất yếu”.
a) Những đặc trưng thể hiện nh ưu việt của xã hội xã hội chủ nghĩa
Việt Nam đã trải qua nhiều giai đon lch sử khó khăn, từ chiến tranh đến
tái thiết đất nước. Sự lựa chọn con đường chủ nghĩa xã hội không chỉ phản ánh
nguyện vọng của nhân dân mà còn là một sự lựa chọn phù hợp với bối cảnh lch
sử và xã hội của đất nước. Sau khi giành độc lập, Việt Nam cần một hình phát
triển có thể đáp ứng nhu cầu cơ bản của người dân, đồng thời xây dựng một xã
hội công bằng và bình đẳng.
Chủ nghĩa xã hội theo quan điểm của chủ nghĩa Mác -
Lênin giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Chủ nghĩa
xã hội ến bộ, ưu việt hơn tất cả các xã hội trước đó về các đặc trưng chính trị,
kinh tế, văn hoá, xã hội nhằm giải phóng con người khỏi mọi nh trạng áp bức,
bóc lột, bất công. Để xây dựng chủ nghĩa hội, những người cộng sản phải hình
dung ra được những đường nét bản nhất của hình chủ nghĩa hội (mà
chúng ta gọi đó những “đặc trưng”). Hơn nữa, những đặc trưng thể hiện
hình đó phải phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử xã hội loài người, phản
ánh được nét đặc sắc của truyền thống dân tộc và xu thế phát triển của thời đại.
Đây đòi hỏi tất yếu nhưng rất khó khăn đối với các Đảng Cộng sản trong quá
trình lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hi.
Công cuộc đổi mới đất nước đã đang thu được những thành tựu to lớn,
có ý nghĩa lịch sử. Những đặc trưng có thể kể đến của chủ nghĩa xã hội mà nhân
dân ta đang xây dựng đã thể hiện nh ưu việt của chủ nghĩa xã hội Việt Nam so
với chủ nghĩa tư bản là:
Một là, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Đây đặc trưng tổng quát nhất chi phối các đặc trưng khác, bởi thể hiện mục
êu của chủ nghĩa hội Việt Nam. ớc ta, nh ưu việt của chủ nghĩa
hội phải được biểu hiện cụ ththiết thực, trên skế thừa quan điểm Mác -
Lênin về mục êu của chủ nghĩa xã hội, đồng thời vận dụng sáng tạo quan điểm
lOMoARcPSD| 46342576
của Chủ tịch H Chí Minh: Chủ nghĩa hội làm sao cho dân giàu, c
mạnh..., là công bằng, hợp lý, mọi người đều được hưởng quyền tự do, dân chủ
được sống cuộc đời hạnh phúc… Đối với dân tộc Việt Nam, chỉ chủ nghĩa
hội mới bảo đảm cho dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh thật
sự. Đây là khát vọng tha thiết của toàn thể nhân dân Việt Nam sau khi đất nước
giành được đc lập và thống nhất Tquc.
Nói đến nh ưu việt của đặc trưng y, không thể không so sánh về mặt bản chất
của xã hội chủ nghĩa nhân dân ta đang xây dựng với các hội đã từng tồn
tại trước đây Việt Nam nói riêng với chủ nghĩa tư bản nói chung. Trước năm
1945, Việt Nam chưa hề và chưa thể có các giá trị dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh. Đó là một thực tế hiển nhiên mà mỗi người đều nhận
biết. Trong Dự thảo Cương lĩnh (bổ sung phát triển), Đảng ta đã đánh giá
đúng đắn, khách quan về chủ nghĩa tư bản: “Hiện tại, chủ nghĩa tư bản còn ềm
năng phát triển, nhưng về bản chất vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột bất
công.
Nhân dân ta đã từng chứng kiến bản chất áp bức, bóc lột, bất công, tàn bạo của
chnghĩa bản trong thời gian dài bị chnghĩa thực dân, đế quốc xâm lăng,
đô hộ. Chủ nghĩa hội phải xóa bỏ nghèo nàn, lạc hậu, khuyến khích mọi người
dân làm giàu chính đáng để tất cả cùng giàu có. Đó cũng là ền đề để đất nước
giàu mạnh thật sự trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, hội an ninh,
quốc phòng. Chủ nghĩa hội nhân dân ta đang y dựng quá trình dân
chhóa, phát huy mọi quyền dân chủ của nhân dân, đồng thời hướng tới những
giá trị công bằng cho mọi tầng lớp, mọi người dân, y dựng hội Việt Nam
thành một hội văn minh, hiện đại. Chúng ta đang xây dựng chủ nghĩa hội là
đang từng bước hiện thực hoá nh ưu việt của đặc trưng thứ nhất vừa nêu.
Hai là, có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại
là chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu.
Đây là đặc trưng thể hiện nh ưu việt trên lĩnh vực kinh tế của chủ nghĩa xã hội
mà nhân dân ta đang xây dựng so với các chế độ xã hội khác.
Về lực lượng sản xuất của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang y dựng
không thể là cái gì khác ngoài lực lượng sản xuất hiện đại với khoa học kỹ thuật
công nghệ ên ến, gắn với phát triển kinh tế tri thức. Vquan hệ sản xuất
không thể không nh đến yếu tố quan trọng hàng đầu chế độ sở hữu. Trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội việc xác định chế độ công hữu về các tư liệu
sản xuất chủ yếu thể hiện nh ưu việt của chủ nghĩa xã hội chúng ta đang y
dựng (đã khắc phục được duy cũ, giáo điều về chnghĩa hội Việt Nam
đồng nghĩa với chế độ công hữu là duy nhất ngay trong thời kỳ quá độ).
lOMoARcPSD| 46342576
Trong xã hội bản, chế đchiếm hữu nhân bản chủ nghĩa givai trò thống
trị của quan hệ sản xuất; là cơ sở nảy sinh những bất bình đẳng về kinh tế và áp
bức về xã hội. Bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất bản chủ
nghĩa, từng bước y dựng mối quan hệ sản xuất mới dựa trên cơ sở của chế độ
công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu thể hiện nh ưu việt của chủ nghĩa
hội mà nhân dân ta đang xây dựng so với chế độ tư bản chủ nghĩa.
b) “Nước ta lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu”
Thnht, ta có thể thy, năm 1858, khi thực dân Pháp nổng xâm lược
ớc ta, từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã xuất hiện những phong trào yêu
ớc chống thực dân Pháp, theo những khuynh hướng khác nhau: Phong trào
yêu nước theo khuynh hướng phong kiến, êu biểu phong trào Cần Vương
(1885 – 1896) và phong trào khởi nghĩa nông dân Yên Thế; phong trào yêu nước
theo khuynh hướng dân chủ sản, êu biểu là xu hướng bạo động do Phan Bội
Châu tổ chức, lãnh đạo; xu hướng cải cách do Phan Châu Trinh đớng và tổ
chức, khởi nghĩa của Việt Nam Quốc dân Đảng do Nguyễn Thái Học đứng đầu.
Nhưng tất cả những phong trào này đều bị thất bại, nguyên nhân chủ yếu là do
thiếu một đường lối cứu nước đúng đắn. Trong khi đó, Hồ Chí Minh vào tháng 7
năm 1920, sau khi đọc Sơ thảo Lần thứ nhất Luận cương về các vấn đdân tộc
thuộc địa của Lênin đã đi đến kết luận quan trọng: Muốn cứu nước giải
phóng dân tộc không con đường nào khác ngoài con đường cách mạng
sản. Sau đó, qua thực hiện Cương lĩnh của Đảng, cách mạng nước ta đã giành
những thắng lợi đại: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan
ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược, đỉnh cao chiến
thắng lịch sĐiện Biên
Phnăm 1954, đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất
đất nước. Điều này chứng minh sự lựa chọn của Đảng nhân dân ta đúng
đắn, phù hợp với thực tế Việt Nam.
Thhai, sphát triển như bão của cuộc cách mạng khoa học công
nghệ làm cho lực lượng sản xuất thế giới phát triển đã đạt đến trình đcao, đã
mở đầu giai đoạn mới của quá trình xã hội hóa sản xuất, tạo ra cuộc cách mạng
trong lĩnh vực kinh tế, tạo điều kiện hiện thực để ớc ta có thể tranh thủ vốn,
svật chất - kỹ thuật, kinh nghiệm quản của thế giới cho sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước. Trong điều kiện kinh tế thế gii
bước nhảy vọt về cơ sở vật chất - kỹ thuật, hội loài người đòi hỏi phát triển
lên một hội mới của nền văn minh cao hơn - đó nền văn minh của kinh tế
tri thức. Do đó, quá đlên chủ nghĩa hội là con đường phát triển hợp quy luật
khách quan. Sau chủ nghĩa bản nhất định phải một chế độ hội tốt đẹp
lOMoARcPSD| 46342576
hơn - chế độ hội chủ nghĩa sự lựa chọn của Việt Nam hoàn toàn đúng
đắn. Nước ta là nước đã giành được độc lập dân tộc, có chính quyền dân chủ do
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Với những thắng lợi đã giành được trong hơn
80 năm qua, đặc biệt là những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử của hơn 30
năm đổi mới, đất nước ta đã ra khỏi nh trạng nước nghèo, kém phát triển, bước
vào nhóm nước đang phát triển thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, quan hệ quc tế rộng rãi, vị thế quốc tế ngày
càng quan trọng trong khu vực trên thế giới. Đây điều kiện ên quyết, quyết
định con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ớc ta.
Thba, sự lựa chọn xu hướng phát triển. Sau khi giải phóng miền Nam,
thống nhất đất nước, từ nền nông nghiệp lạc hậu, mang nặng nh chất tự cung
tự cấp, nền kinh tế ớc ta này sinh một yêu cầu khách quan là: chuyển kinh tế
tự nhiên lên kinh tế hàng hóa và thúc đẩy sản xuất hàng hóa nhỏ phát triển lên
thành sản xuất lớn dựa trên sở kỹ thuật, công nghhiện đại. Nếu để nền kinh
tế phát triển tphát chuyển thành nền kinh tế bản chủ nghĩa, trên sở phân
hóa những người sản xuất hàng hóa nhỏ, do tác động của quy luật giá trị thì sẽ
hình thành chnghĩa bản, dẫn đến những hậu quả như: Chính quyền do chính
nhân n ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ bị mất và chỉnh
nhân dân lao động lại rơi xuống địa vị người làm thuê, bị bóc lột khó thể
thực hiện được mục êu giải phóng giai cấp, giải phóng con người, hướng tới
mục êu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Chúng ta không
đi theo con đường bản chủ nghĩa thời đại ngày nay không phải thời đại
của chủ nghĩa bản, mặc chủ nghĩa bản đang động lực chủ yếu để phát
triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với
nông dân trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích nhân, tập
thể và xã hội, phát huy mọi ềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế,
của toàn xã hội..." điều chỉnh để thích nghi với cuộc cách mạng khoa hc - công
nghệ, nhưng chủ nghĩa bản vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn,
bất công hội thuộc về bản chất của chế độ bản chủ nghĩa. Theo quy luật
phát triển của lịch sử thì chủ nghĩa tư bản không thể không bị phủ định. Vì thế,
Đảng ta nên lựa chọn hướng đi phù hợp với lịch sử cụ thể của Việt Nam là thc
hiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa dựa trên cơ sở
củng cố chính quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Thtư, những thành tựu đã đạt được qua hơn 30 năm đổi mới đã chứng
tỏ sự lựa chọn đó đúng hướng, phù hợp với lợi ích của cả dân tộc và hoàn cảnh
lịch sử cụ thcủa nước ta, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Toàn bộ
lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh: quy luật của cách mạng Việt Nam là
độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa hội, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ
lOMoARcPSD| 46342576
rõ: “Muốn cứu nước giải phóng dân tộc không con đường nào khác con
đường cách mạng vô sản. Và trong thực ễn, chủ nghĩa hội không những đã
trở thành động lực nh thần, mà còn là sức mạnh vật chất to lớn góp phần đưa
sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ớc ta đến thắng lợi. Quá
trình cách mạng do Đảng ta lãnh đạo đã tạo những ền đcả vật chất nh
thần để thể “rút ngắnến trình phát triển lịch s- tự nhiên của hội. Vì
thế, dân tộc ta hoàn toàn phù hợp để chọn con đường quá độ lên chủ nghĩa
hội bỏ qua chế độ bản chủ nghĩa. Đó con đường phù hợp cả về luận
thc ễn, cả về đặc điểm lch sử - cụ thể trong nước và hoàn cảnh quốc tế.
Thứ năm, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ớc ta, gọi là Thời kì quá
độ với ý nghĩa là đất nước ta phải trải qua một trạng thái xã hội mang nh trung
gian, chuyển ếp giữa hình thái kinh tế xã hội cũ và hình thái kinh tế xã hội mới,
trong đó nền kinh tế là nền kinh tế quá độ gồm nhiều thành phần kinh tế. Những
thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, sự hợp tác kinh tế
quốc tế đa phương, đa dạng cho phép chúng ta tận dụng đại công nghiệp của cả
thế giới để có thể "rút ngắn" quá trình phát triển kinh tế đất nước.
2.3. Đánh giá vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc định ớng
lãnh đạo đất nước trên con đường phát triển xã hội chủ nghĩa.
Đảng ta ra đời sự kết hợp của chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công
nhân phong trào yêu ớc Việt Nam. Tkhi xuất hiện trên đài chính trị,
Đảng Cộng sản Việt Nam đã tỏ một đảng cách mạng chân chính nhất,
sức hội tụ lớn nhất mọi sức mạnh của dân tộc, của giai cấp, sớm trở thành đội
ên phong của giai cấp của dân tộc trong cuộc đấu tranh chống đế quốc,
phong kiến.
Vai trò lãnh đạo của Đảng – Nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt
Nam
-Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam-
Đảng Cộng sản Việt Nam đóng vai trò then chốt trong công cuộc định
ớng và lãnh đạo đất nước trên con đường phát triển xã hội chủ nghĩa. Vai trò
của Đảng thể hiện qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, tkhi diễn ra cuộc
cách mạng giải phóng dân tộc đến y dựng phát triển đất nước trong thời
bình hiện nay.
a) Lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc xây dựng chế độ xã hội
chủ nghĩa
Đảng Cộng sản Việt Nam chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam
ra đời trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc giai cấp. Ngay từ đầu,
lOMoARcPSD| 46342576
Đảng đã nhận sứ mệnh lịch sử to lớn mà nhân dân giao phó: Lãnh đạo các tầng
lớp nhân dân Việt Nam đấu tranh chống thực dân, phong kiến, giành độc lập dân
tộc, dân chủ cho nhân dân.
Mỗi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều gắn chặt với vai trò của Đảng
sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các cuộc kháng chiến chống Pháp
Mỹ, từ đó ến lên giải phóng dân tộc. Nhờ xác định đúng đắn, sáng tạo đường
lối, chiến lược, nhân dân ta đã được soi đường ến tới những chiến thắng vang
dội liên ếp của các cuộc cách mạng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã m thấy con đường
cứu nước, đường lối cách mạng đúng đn chủ nghĩa Mác - Lênin, dẫn dắt dân
tộc ta bước vào kỷ nguyên độc lp gn với chủ nghĩa xã hội.
Trước năm 1930, đất nước ta chìm trong màu u tối của ách thống trị, áp
bức từ chnghĩa thực dân Pháp suốt 80 năm và chịu đựng hàng trăm năm chế
độ phong kiến thối t. Trong quá khứ không ít cuộc khởi nghĩa chống lại áp
bức, bóc lột, tuy nhiên những ngọn cờ này đều thất bại do đường lối không đúng
đắn: Phong trào Cần ơng cùng khởi nghĩa nông dân mang tưởng phong
kiến lỗi thời; đấu tranh của giai cấp sản lộ ra khuyết điểm yếu hèn, không gánh
vác được nhiệm vụ lịch sử;... Chỉ đến khi phong trào đấu tranh cách mạng của
giai cấp công nhân liên minh các tầng lớp lao động khác dưới slãnh đạo của
Đảng Cộng sản do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin
làm nền tảng và kim chỉ nam trong các hoạt động, mục êu cho cách mạng, lúc
y đất nước ta mới hoàn toàn được thắp sáng ngọn đuốc của chiến thắng, ến
lên chủ nghĩa xã hội là giành được những thắng lợi vẻ vang.
Hoàn toàn thể khẳng định rằng việc lựa chọn đúng con đường cách
mạng dấu mốc lớn giúp nước ta thành công giải phóng dân tộc. Ngay từ những
năm đầu thập niên 20, thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã sự lựa chọn đúng đắn khẳng
định con đường đi đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam: "không con đường
nào khác con đường cách mạng sản"[1]. Trải qua thực ễn cuộc sống, hoạt
động cách mạng phong phú ếp thu chân khoa học, Người đã đi đến kết
luận chỉ chủ nghĩa cộng sản mới cứu được nhân loại, đem lại cho mọi người
không phân biệt chủng tộc nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết,
ấm no trên trái đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hoà bình,
hạnh phúc.
Cách mạng tháng 8 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đi
(2/9/1945) tạo ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa hội. Đảng đã huy động toàn bộ sức mạnh của dân tộc, kết hợp đấu tranh
lOMoARcPSD| 46342576
quân sự với đấu tranh chính trị, ngoại giao, đưa đất nước đến thắng lợi cuối
cùng, thống nhất đất nước vào năm 1975.
b) Định hướng phát triển kinh tế, hội theo con đường hội chủ nghĩa
Quy luật vận động của mọi quốc gia là phải luôn không ngừng cải cách để
phát triển, mục đích thích nghi với sự thay đổi của thời đại. Công cuộc cải cách,
đổi mới chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đòi hỏi tất yếu
trong suốt quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó là sự tự nhn thức lại về ch
nghĩa hội nhằm khắc phục những sai lầm, hạn chế đã mắc phải, m con đường
phát triển thích hợp với bối cnh của thời đại.
Sau khi thống nhất, đất nước ta rơi vào nghèo đói gặp vô vàn khó khăn
khi khắc phục hậu quả nặng nề mà chiến tranh để lại. Đầu những năm 1980, cơ
chế quản lý tập trung bao cấp bt đầu bộc lộ sự lạc hậu. Các quốc gia xã hội chủ
nghĩa trên thế giới y dựng kinh tế theo hướng chỉ duy trì quan hệ khép kín
trong Hội đồng Tương trợ kinh tế (Khối SEV). Điều này đi ngược xu thế quốc tế
hóa, toàn cầu hóa về kinh tế đang phát triển mạnh mẽ. Những sai lầm trong thực
ễn dần được phát hiện, những hậu quả không được khắc phục kịp thời, cùng
với sự phá hoại của chủ nghĩa đế quốc đã đẩy các nước xã hội chủ nghĩa rơi vào
khủng hoảng toàn diện, lòng n của người dân giảm sút nghiêm trọng. Thực ễn
đó đặt ra yêu cầu các nước chủ nghĩa trên thế gii, gồm cả Việt Nam phải cải
cách, đổi mới toàn diện.
Thực ễn cho thấy đếp tục giữ vững chế đ, n định đời sống của người
dân, Đảng Nhà ớc Việt Nam phải ến hành công cuộc đổi mới toàn diện.
Trong đó, đổi mới cơ chế quảnkinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đòi hỏi bức thiết của đất nước thời
đại. Quá trình này đầy khó khăn, phức tạp, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân không
ngừng m tòi, sáng tạo có nh cách mạng.
Cuối năm 1985, đầu 1986, những biến động chính trị thế giới, khủng
hoảng trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đã khiến Việt Nam rơi vào nh
huống nguy cấp. Đối mặt với hoàn cảnh đó, trong Nghị quyết số 31/NQ/TW ban
hành ngày 24/2/1986, BChính trị nhấn mạnh cần những biện pháp xử kiên
quyết, đúng đắn, nhanh chóng xoay chuyển nh thế, đưa hoạt động kinh tế - xã
hội đất nước theo đúng hướng các Nghị quyết 6, 7, 8 Ban Chấp hành Trung
ương đã đề ra. Tiếp đó, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986) của Đảng
đánh dấu bước ngoặt nh lịch svề đổi mới chế quản lý kinh tế Vit
Nam.

Preview text:

lOMoAR cPSD| 46342576 lOMoAR cPSD| 46342576 phần Hà Nội 2024 MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU........................................................................4
PHẦN NỘI DUNG.....................................................................5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ
HỖI VÀ SỰ TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA HÌNH THÁI KINH
TẾ XÃ HỘI CỘNG SẢN CHỦ NGHĨA.....................................5
1.1. Giới thiệu đề tài.........................................................5
1.2. Mục tiêu nghiên cứu.................................................9
1.3. Lý luận về hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ
nghĩa.................................................................................10
1.3.1. Khái niệm và các đặc điểm cơ bản của hình thái kinh tế xã hội cộng
sản chủ nghĩa.....................10
1.3.2. Tiền đề lịch sử và xã hội dẫn đến sự ra đời của hình thái kinh tế xã
hội cộng sản chủ nghĩa:............10
1.3.3. Phân tích sự tất yếu khách quan trong lịch sử và các yếu tố kinh
tế, xã hội, chính trị dẫn đến sự ra đời của hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa
........................................................................................11
CHƯƠNG 2: ỨNG DỤNG LÝ LUẬN VÀO NGHIÊN CỨU THỰC
TIỄN Ở VIỆT NAM...............................................................14
2.1. Phân tích quá trình hình thành và phát triển của nền kinh tế Việt Nam
trước khi giành độc lập và từ khi
giành được độc lập đến nay...........................................14
2.2. Chứng minh cho luận điểm “Nước ta lựa chọn con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội là tất yếu”...................16
2.3.Đánh giá vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc định hướng và
lãnh đạo đất nước trên con
đường phát triển xã hội chủ nghĩa...............................20
2. 4.Phân tích những thành tựu và thách thức mà Việt Nam đang đối mặt
trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã
hội.
...............................................................................25 lOMoAR cPSD| 46342576
2.4.1.................................................................Thành tựu 25
2.2. Thách thức................................................................27
CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN.......................................................29
3.1. Tổng kết lại các luận điểm chính:.........................29
3.1.1. Khẳng định sự tất yếu khách quan của sự ra đời hình thái kinh tế
xã hội cộng sản chủ nghĩa......29
3.1.2. Xác định lý do vì sao con đường phát triển xã hội chủ nghĩa là phù
hợp với bối cảnh và điều kiện
của Việt Nam.................................................................29
3.2. Một số đề xuất.........................................................31
3.2.1..Các chiến lược và chính sách cần thiết để tiếp tục thúc đẩy sự phát
triển bền vững theo hướng xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam............................................31
3.2.2....Gợi ý về việc nâng cao nhận thức và sự đồng thuận của người
dân trong quá trình xây dựng chủ
nghĩa xã hội...................................................................34
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................36 PHẦN MỞ ĐẦU
Chủ nghĩa xã hội và quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là khát vọng
của Nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng cộng sản Việt Nam và Chủ
tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử. Tuy nhiên, quá độ
lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta từ một nước phong kiến nghèo nàn, lạc hậu bỏ
qua việc xác lập quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã đang bị các thế lực thù
địch, cơ hội chính trị và ngay cả những cán bộ, đảng viên, những người nhận
thức chưa đầy đủ, hiểu chưa đúng đắn về bản chất, lý luận của chủ nghĩa Mác,
xuyên tạc, phủ nhận, hoài nghi. Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các
nước Đông Âu là cơ sở để họ rêu rao học thuyết lý luận của chủ nghĩa Mác đã lỗi
thời, không còn phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, họ cổ xúy cho tính ưu
việt của chủ nghĩa tư bản, họ phủ nhận học thuyết hình thái kinh tế xã hội của
Mác và cho rằng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là sai lầm.
Chính vì thế, nhóm 2 chúng em đã quyết định lựa chọn “Chứng minh sự
ra đời của hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa là một tất yếu khách quan.
Vận dụng lý luận này vào nghiên cứu thực tiễn ở Việt Nam để khẳng định nước
ta lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu” làm đề tài nghiên cứu. lOMoAR cPSD| 46342576
Trong bài thảo luận này, do trình độ kiến thức chưa sâu, trình độ kỹ năng
còn nhiều hạn chế nên không tránh khỏi những sai sót. Vì vậy, nhóm em kính
mong nhận được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của giảng viên.
Nhóm 2 chúng em xin chân thành cảm ơn! PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỖI VÀ SỰ TẤT YẾU
KHÁCH QUAN CỦA HÌNH THÁI KINH
TẾ XÃ HỘI CỘNG SẢN CHỦ NGHĨA
1.1. Giới thiệu đề tài
a) Khái quát về hình thái kinh tế xã hội chủ nghĩa:
Nói về giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản, C.Mác chỉ ra rằng, đó là một
xã hội mà về phương diện kinh tế, đạo đức, tinh thần còn mang những dấu vết
của xã hội cũ mà nó dã lọt lòng ra. Chính vì vậy, trong giai đoạn này còn có những
thiếu sót không thể tránh khỏi. Về mặt kinh tế, đó là sự thiếu sót trong khâu phân
phối. Trong giai đoạn này, việc phân phối được thực hiện theo nguyên tắc phân
- phối sản phẩm tiêu dùng theo số lượng và chất lượng lao động. Sự tiến bộ của
nguyên tắc này là ở chỗ nó không thừa nhận một sự phân biệt giai cấp nào cả,
bất cứ người lao động nào cũng như nhau. Sự cống hiến của mỗi người được đo
bằng một thước đo như nhau, tức là bằng hiệu quả lao động. Sự thiếu sót không
thể tránh khỏi của nguyên tắc này là mặc nhiên thừa nhận sự không ngang nhau
về thể chất, về tinh thần, năng khiếu, tóm lại, về năng lực lao động của những
người lao động. Do đó, "quyền ngang nhau ấy là một quyển không ngang nhau
dồi với một lao động không ngang nhau". Việc phân phối những vật phẩm tiêu
dùng vẫn phải tuân theo nguyên tắc trong việc trao đổi hàng hóa - vật ngang giá:
một số lượng lao động dưới một hình thức này được đổi lấy cùng một số lượng
lao động dưới một hình thức khác. Vì vậy, ở đây về nguyên tắc, cái quyền ngang
nhau cũng là cái quyền tư sản, tuy rằng ở dây, nguyên lý và thực tiễn không còn
mâu thuẫn với nhau nữa.
Đến một giai đoạn cao hơn của xã hội cộng sản chủ nghĩa, khi đã tạo ra
những tiền đề vật chất và tinh thần cần thiết, khi mà "cùng với sự phát triển toàn
diện của các cá nhân, sức sản xuất của họ cũng ngày càng tăng lên và tất cả các
nguồn của cải xã hội đều tuôn ra dồi dào, - chỉ khi đó người ta mới có thể vượt
hẳn ra khỏi giới hạn chật hẹp của pháp quyền tư sản và xã hội mới có thể ghi
trên lá cờ của mình: làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu".
b) Sự tất yếu của sự ra đời hình thái kinh tế xã hội cộng sảnchủ nghĩa:
C.Mác và Ph.Ăngghen đã vận đụng một cách triệt để quan điểm duy vật
về lịch sử để nghiên cứu xã hội loài người, từ đó đã xây dựng nên học thuyết lOMoAR cPSD| 46342576
hình thái kinh tế - xã hội, phân tích một cách khoa học sự chuyển biến từ hình
thái kinh tế - xã hội thấp lên hình thái kinh tế - xã hội cao hơn và coi đó là một
quá trình lịch sử - tự nhiên.
C.Mác và Ph.Ăngghen đã vận đụng một cách triệt để quan điểm duy vật
về lịch sử để nghiên cứu xã hội loài người, từ đó đã xây dựng nên học thuyết
hình thái kinh tế - xã hội, phân tích một cách khoa học sự chuyển biến từ hình
thái kinh tế - xã hội thấp lên hình thái kinh tế - xã hội cao hơn và coi đó là một
quá trình lịch sử - tự nhiên.
Trong nhiều tác phẩm của mình, đặc biệt là trong tác phẩm Tuyên ngôn
của Đảng Cộng sản và tác phẩm Chống Đuyrinh, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng
định sự ra đời của chủ nghĩa tư bản là một giai đoạn phát triển mới của nhân
loại, các ông viết: "Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy
một thế kỷ đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng
sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại". Nhưng mặt khác, C.Mác và
Ph.Ăngghen cũng chỉ ra rằng: trong xã hội đối kháng giai cấp đó, con người càng
chinh phục thiên nhiên, cải tạo tự nhiên thì tình trạng người áp bức, bóc lột
người càng được mở rộng.
Lực lượng sản xuất của chủ nghĩa tư bản càng phát triển đến trình độ xã
hội hóa cao thì càng làm cho mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển của lực lượng
sản xuất với sự kìm hãm của quan hệ sản xuất mang tính tư nhân tư bản chủ
nghĩa thêm sâu sắc. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. C.Mác và
Ph.Ăngghen đã nhận định: "Từ hàng chục năm nay. lịch sử công nghiệp và
thương nghiệp không phải là cái gì khác hơn là lịch sử cuộc nổi dậy của lực lượng
sản xuất hiện đại chống lại quan hệ sản xuất hiện đại".
Tính mâu thuẫn gay gắt trong lĩnh vực kinh tế của chủ nghĩa tư bản biểu
hiện trên lĩnh vực chính trị - xã hội là mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân, nhân
dân lao động với giai cấp tư sản ngày càng trở nên quyết liệt.
Cuộc đấu tranh giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản xuất hiện ngay
từ khi chủ nghĩa tư bản hình thành ngày càng trở nên sâu sắc. Qua thực tiễn cuộc
đấu tranh, giai cấp công nhân đã nhận thức được rằng, muôn giành thắng lợi
phải tiếp thu chủ nghĩa xã hội khoa học, hình thành chính đảng của giai cấp mình.
Khi đảng cộng sản ra đời, toàn bộ hoạt động của nghĩa đều hướng vào lật đổ nhà
nước của giai cấp tư sản, xác lập nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân
lao động. Việc thiết lập nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
là sự mở đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. lOMoAR cPSD| 46342576
Như vậy, sự xuất hiện của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa phải
có những điều kiện nhất định, đó là sự phát triển của lực lượng sản xuất dưới
chủ nghĩa tư bản đạt đến một mức độ nhất định, lực lượng giai cấp công nhân
trở nên đông đảo, mâu thuẫn gay gắt với giai cấp tư sản. Mặt khác, từ thực tiễn
cách mạng, giai cấp công nhân phải giác ngộ cách mạng, phải xây dựng được
chính đảng cách mạng, phải kiên quyết đấu tranh giành lấy chính quyền từ tay
giai cấp tư sản khi có thời cơ cách mạng. Cách mạng không tự diễn ra, chủ nghĩa
tư bản không tự sụp đổ
C.Mác và Ph.Ăngghen dự báo sự ra đời của hình thái kinh tế -xã hội cộng
sản chủ nghĩa từ những nước tư bản chủ nghĩa phát triển, sống trong thời đại
đế quốc chủ nghĩa, khi mà giai cấp tư sản đã trở thành lực lượng phản động, đã
tiến hành những cuộc chiến tranh xâm lược các nước lạc hậu, biến các nước đó
thành thuộc địa, khi mà lực lượng công nhân đã phát triển mạnh mẽ, V.I.Lênin
đã dự báo sự xuất hiện hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa ở các nước
tư bản chủ nghĩa có trình độ phát triển trung bình và những nước thuộc địa sau
khi được giải phóng do giai cấp công nhân lãnh đạo.
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ, lực lượng sản xuất của chủ nghĩa tư bản có tính xã hội hóa cao đã
mang tính chất toàn cầu ngày càng mâu thuẫn với quan hệ sản xuất tư nhân tư
bản chủ nghĩa. Ý thức được mâu thuẫn đó giai cấp tư sản dùng rất nhiều biện
pháp như tăng cường sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế, thành lập các tập
đoàn tư bản,... với mong muốn làm giảm những mâu thuẫn giữa tư sản và vô
sản. Song, sở hữu nhà nước trong chủ nghĩa tư bản, thực chất chỉ là giai cấp tư
sản lợi dụng nhà nước, nhân danh nhà nước để nắm tư liệu sản xuất. Do vậy,
mâu thuẫn đối kháng trong kinh tế và trong lĩnh vực chính trị xã hội không hề
suy giảm. Mâu thuẫn đó chỉ có thể giải quyết bằng một cuộc cách mạng xã hội
chủ nghĩa, thiết lập hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa với quan hệ sản
xuất xã hội chủ nghĩa nhằm mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển.
"Mác đặt vấn đề chủ nghĩa cộng sản giống như một nhà tự nhiên học đặt
chẳng hạn, vấn đề tiến hóa của một giống sinh vật mới, một khi đã biết nguồn
gốc của nó", nhưng cũng khẳng định hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa
ra đời là kết quả hoạt động tự giác của giai cấp công nhân, bằng hành động đấu
tranh cách mạng của giai cấp này, bởi vì chế độ tư bản chủ nghĩa không tự nó
sụp đổ. Ngày nay chủ nghĩa tư bản đã lỗi thời, nhưng giai cấp tư sản vẫn tìm mọi
biện pháp bảo vệ chế độ tư hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa.
Trong khi nhấn mạnh vai trò tích cực của nhân tố chủ quan trong tiến trình
cách mạng xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa xác lập chế độ mới xã hội chủ nghĩa, lOMoAR cPSD| 46342576
các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học cũng cương quyết đấu tranh chống
lại khuynh hướng cách mạng phiêu lưu, không tính đến trình độ phát triển của
hiện thực cách mạng, không xem xét tới trình độ giác ngộ của nhân dân, thiếu sự chuẩn bị chu đáo.
c) Tầm quan trọng của nghiên cứu lý luận này trong bối cảnh Việt Nam:
Khi nghiên cứu tiến trình phát triển của lịch sử loài người thì C.Mác phát
hiện lịch sử loài người là lịch sử thay thế các chế độ xã hội từ thấp đến cao: cụ
thể là chiếm hữu nô lệ ra đời thay thế cô Cộng sản nguyên thuỷ, phong kiến ra
đời thay thế cho chiếm hữu nô lệ, tư bản chủ nghĩa ra đời thay thế cho phong
kiến. Như vậy chủ nghĩa tư bản sẽ bị thay thế bởi xã hội khác đó là Cộng sản chủ
nghĩa. Việc thay thế này lặp đi lặp lại theo quy luật, Chủ Nghĩa cộng sản tất yếu
ra đời là để thay thế cho hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa.
Khi nghiên cứu C.Mác thấy rằng giai cấp công nhân là giai cấp có khả năng
để lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa. Mục tiêu, lý tưởng, khát vọng của phong trào
đấu tranh của giai cấp công nhân là muốn xây dựng chế độ xã hội mới, một chế
độ xã hội tốt đẹp k có áp bức bóc lột, tài sản của xã hội là của chung tất cả mọi người.
 Cơ sở lý luận vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc:
• Hướng dẫn đường lối: Lý luận Mác - Lênin về hình thái kinh tế - xã hội
cung cấp những nguyên tắc cơ bản, phương pháp luận khoa học để
Đảng ta xây dựng đường lối, chính sách phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước.
• Đoàn kết nhân dân: Nghiên cứu sâu sắc về tính tất yếu khách quan của
chủ nghĩa xã hội giúp tăng cường niềm tin của nhân dân vào sự lựa chọn
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, từ đó củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
• Đối phó với các quan điểm sai trái: Việc nắm vững lý luận giúp ta có đủ
cơ sở để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ
nền tảng tư tưởng của Đảng.
 Thúc đẩy quá trình đổi mới và phát triển:
• Đổi mới tư duy: Nghiên cứu lý luận giúp đổi mới tư duy, cách tiếp cận
vấn đề, từ đó tạo ra những đột phá trong quá trình đổi mới.
• Phát triển kinh tế - xã hội: Lý luận Mác - Lênin về hình thái kinh tế - xã
hội cung cấp những nguyên tắc cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội một
cách bền vững, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh. lOMoAR cPSD| 46342576
• Hội nhập quốc tế: Việc nắm vững lý luận giúp ta chủ động hơn trong
quá trình hội nhập quốc tế, vừa giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, vừa
học hỏi kinh nghiệm của các nước khác.
 Hoàn thiện hệ thống chính trị:
• Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Nghiên cứu lý luận
giúp hoàn thiện hệ thống chính trị, xây dựng nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
• Đảm bảo dân chủ: Lý luận Mác - Lênin về hình thái kinh tế - xã hội nhấn
mạnh vai trò của dân chủ, vì vậy nghiên cứu lý luận giúp ta xây dựng
một xã hội dân chủ, công bằng.
 Giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn:
• Vận dụng sáng tạọ: Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước,
chúng ta sẽ gặp phải nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn mới. Việc nghiên
cứu lý luận giúp ta vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản vào giải
quyết các vấn đề đó.
• Phát triển lý luận: Nghiên cứu lý luận cũng là quá trình phát triển lý luận,
làm phong phú thêm kho tàng lý luận của Đảng.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
 Cung cấp những kiến thức cơ bản về quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
về hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa.
 Chứng minh sự ra đời của hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa là
một tất yếu khách quan.
 Vận dụng lý luận vào điều kiện cụ thể Việt Nam để khẳng định lựa chọn
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là tất yếu.
 Về kiến thức: Bài thảo luận giúp cho người đọc nắm được kiến thức cơ
bản những quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về hình thái kinh tế xã hội
cộng sản chủ nghĩa, sự ra đời của hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ
nghĩa là một tất yếu khách quan. Đồng thời, bài nghiên cứu cũng vận dụng
những lý luận này vào điều kiện cụ thể Việt Nam để khẳng định lựa chọn
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là tất yếu.
 Về tư tưởng: Bài nghiên cứu giúp người đọc có niềm tin vào chế độ xã hội
chủ nghĩa, luôn tin và ủng hộ đường lối đổi mới theo định hướng xã hội
chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
1.3. Lý luận về hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa
1.3.1. Khái niệm và các đặc điểm cơ bản của hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa.
a) Khái niệm về hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa: lOMoAR cPSD| 46342576
Hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa được định nghĩa là giai đoạn
phát triển cao nhất của xã hội loài người, nơi các phương thức sản xuất được
công hữu và của cải được phân phối theo nhu cầu của mỗi cá nhân. Đây là giai
đoạn mà mọi sự phân biệt giai cấp, thành thị - nông thôn, hay giữa lao động trí
óc và lao động chân tay đều được xóa bỏ. Trong xã hội này, quyền lực không còn
nằm trong tay một nhóm nhỏ mà thuộc về toàn bộ nhân dân lao động. Theo lý
luận của C.Mác và Ph.Ăngghen, đây là giai đoạn cuối cùng của sự phát triển xã
hội, khi con người đạt đến mức độ tự do và bình đẳng cao nhất.
b) Các đặc điểm cơ bản của hình thái kinh tế xã hội cộng sảnchủ nghĩa:
Về kinh tế: Chủ nghĩa cộng sản dựa trên sự công hữu tư liệu sản xuất, tức
là tất cả các phương tiện sản xuất như đất đai, nhà máy, tài nguyên đều thuộc về
toàn xã hội. Không còn sự chiếm hữu tư nhân, điều này loại bỏ nguyên nhân
chính của sự bất công và xung đột giai cấp trong các hình thái kinh tế trước đó.
Của cải sản xuất ra sẽ được phân phối theo nguyên tắc “làm theo năng lực,
hưởng theo nhu cầu”, đảm bảo mọi người đều có thể tiếp cận các nhu cầu cơ bản của cuộc sống.
Về chính trị: Giai cấp công nhân nắm giữ quyền lực chính trị và không còn
sự tồn tại của nhà nước như một cơ quan đàn áp giai cấp. Các cơ chế chính trị
sẽ do nhân dân lao động trực tiếp tham gia quản lý. Nhà nước chỉ còn đóng vai
trò điều hành, và dần dần, khi xã hội phát triển đến giai đoạn cộng sản, nhà nước
sẽ tự tiêu vong do không còn mâu thuẫn giai cấp.
Về văn hóa - xã hội: Xã hội cộng sản thúc đẩy sự phát triển toàn diện của
mỗi cá nhân, loại bỏ mọi hình thức áp bức và bất công. Giáo dục, y tế, và các dịch
vụ công cộng sẽ hoàn toàn miễn phí, giúp tạo điều kiện cho mỗi người phát triển
tiềm năng của mình. Trong xã hội này, con người sẽ sống hòa hợp với nhau và
với tự nhiên, không còn sự bóc lột hay phân chia giàu nghèo.
1.3.2. Tiền đề lịch sử và xã hội dẫn đến sự ra đời của hình thái kinh tế xã hội
cộng sản chủ nghĩa:
Hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa không phải là một ý tưởng
ngẫu nhiên mà là kết quả của quá trình phát triển lịch sử, dựa trên sự phát triển
của lực lượng sản xuất và mâu thuẫn giữa giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột.
Lịch sử loài người đã trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau của hình thái
kinh tế xã hội: từ cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, đến chủ
nghĩa tư bản. Trong mỗi giai đoạn, mâu thuẫn giữa các giai cấp đã dẫn đến sự
thay đổi, và theo C.Mác, chủ nghĩa tư bản cuối cùng sẽ nhường chỗ cho chủ
nghĩa xã hội và sau đó là chủ nghĩa cộng sản.
Khi lực lượng sản xuất phát triển đến mức độ cao, mâu thuẫn giữa giai cấp
công nhân và tư sản trở nên không thể giải quyết trong khuôn khổ của chủ nghĩa
tư bản. Từ đó, giai cấp công nhân sẽ lãnh đạo cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, lOMoAR cPSD| 46342576
lật đổ chủ nghĩa tư bản, và thiết lập nền tảng cho xã hội cộng sản. Quá trình này
là kết quả tất yếu của sự phát triển lịch sử và là một giai đoạn không thể tránh khỏi.
1.3.3. Phân tích sự tất yếu khách quan trong lịch sử và các yếu tố kinh tế, xã
hội, chính trị dẫn đến sự ra đời của hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa
a) Sự tất yếu khách quan trong lịch sử
Theo quan điểm duy vật lịch sử của C. Mác và Ph. Ăngghen, sự phát triển
của các hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử mang tính quy luật. Trong
lịch sử loài người phát triển qua nhiều giai đoạn kinh tế xã hội khác nhau như:
Cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và cuối
cùng là cộng sản chủ nghĩa. Mỗi hình thái kinh tế xã hội đều có cơ sở kinh tế (hạ
tầng) và cấu trúc thượng tầng (chính trị, luật pháp, tư tưởng) khác nhau để phù
hợp với từng loại hình thái kinh tế. C. Mác cho rằng mâu thuẫn giai cấp giữa
những người sở hữu tư liệu sản xuất và những người lao động trong xã hội tư
bản chủ nghĩa là nguồn gốc sâu xa dẫn đến sự thay đổi hình thái kinh tế xã hội.
Khi mâu thuẫn này trở nên gay gắt, sẽ tạo nên một cuộc cách mạng xã hội sẽ nổ
ra, giai cấp công nhân đứng lên đấu tranh để nắm quyền, phá vỡ hệ thống tư
bản và xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa, nơi không còn sự bất bình đẳng giữa các giai cấp.
Một số đặc điểm quan trọng của quy luật lịch sử này đó là mâu thuẫn giữa
lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất: Khi lực lượng sản xuất (công nghệ, tư
liệu sản xuất, lao động) phát triển đến mức độ nào đó, nó trở nên không tương
thích với quan hệ sản xuất hiện hành (tư hữu, quyền sở hữu tài sản). Sự mâu
thuẫn này đòi hỏi phải thay đổi quan hệ sản xuất để phù hợp với lực lượng sản
xuất mới. Nếu không mâu thuẫn sẽ bị đẩy lên cao trào. Trong hệ thống tư bản
chủ nghĩa, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản (người sở hữu tư liệu sản xuất) và giai
cấp vô sản (người lao động) không ngừng gia tăng. Giai cấp công nhân phải chịu
bóc lột, dẫn đến ý thức cách mạng và đấu tranh lật đổ chế độ tư bản.
b) Yếu tố kinh tế dẫn đến sự ra đời của hình thái cộng sảnchủ nghĩa
Sự phát triển của lực lượng sản xuất và công nghiệp hóa: Cuộc cách mạng
công nghiệp trong thế kỷ XVIII và XIX đã làm tăng mạnh lực lượng sản xuất thông
qua việc áp dụng máy móc và công nghệ hiện đại. Tư bản chủ nghĩa, với động lực
là lợi nhuận, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, nhưng cũng tạo ra sự tập trung
tư bản và sự phân hóa giai cấp giàu nghèo sâu sắc .Tầng lớp lao động là công
nhân và nông dân bị bóc lột. Sự phát triển của công nghiệp đã làm gia tăng số
lượng công nhân làm thuê lên một con số lớn. Tuy nhiên điều kiện làm việc khắc
nghiệt và thời gian lao động kéo dài mà mức lương lại thấp, giai cấp vô sản đặc
biệt là công nhân trong nhà máy bị bóc lột nặng nề, dẫn đến bất mãn xã hội. lOMoAR cPSD| 46342576
Ngoài ra, các nhà Tư bản chủ nghĩa cũng gặp phải các cuộc khủng hoảng
kinh tế định kỳ do mâu thuẫn nội tại trong hệ thống. Những cuộc khủng hoảng
này thường bắt nguồn từ sản xuất thừa, khi hàng hóa sản xuất ra nhiều hơn khả
năng tiêu thụ, dẫn đến phá sản, thất nghiệp, và suy thoái kinh tế. Điều này làm
tăng thêm sự bất ổn xã hội và thúc đẩy quá trình tìm kiếm một hệ thống kinh tế xã hội mới.
c) Yếu tố xã hội dẫn đến sự ra đời của hình thái kinh tế cộngsản chủ nghĩa
Trong xã hội tư bản, tư liệu sản xuất nằm trong tay một số ít cá nhân
giàu có đó là tư sản , còn lại đa số người lao động không có quyền sở hữu và phải
làm thuê để kiếm sống họ được gọi là vô sản . Điều này dẫn đến sự bất bình đẳng
kinh tế, tạo ra mâu thuẫn sâu sắc và sự phân chia rõ ràng giữa giai cấp tư sản và
giai cấp vô sản. Sự phân hóa xã hội rõ rệt và tình trạng bóc lột công nhân đã kích
thích các phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân đòi cải thiện điều kiện lao
động, lương bổng và quyền lợi xã hội. Những phong trào này đã tạo tiền đề cho
các cuộc cách mạng xã hội, trong đó điển hình là Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917.
Theo C.Mác, sự bất mãn của công nhân với hệ thống tư bản chủ nghĩa đã
tạo ra ý thức cách mạng, tức là nhận thức về việc họ có quyền lật đổ hệ thống
bất công và xây dựng xã hội mới. Giai cấp công nhân sẽ đi từ việc đấu tranh tự
phát sang đấu tranh tự giác, với mục tiêu lật đổ chế độ tư bản. Dưới sự hướng
dẫn của C.Mác và Ph.Ăngghen, Đảng Cộng sản đã ra đời như là lực lượng tiên
phong của giai cấp vô sản, đóng vai trò lãnh đạo trong việc tổ chức các phong
trào cách mạng nhằm lật đổ chế độ tư bản và xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa.
d) Yếu tố chính trị dẫn đến sự ra đời của hình thái cộng sảnchủ nghĩa
Trong hệ thống tư bản, nhà nước được coi là công cụ để bảo vệ lợi ích của
giai cấp tư sản. Hệ thống pháp luật, quân đội, cảnh sát và hệ thống quản lý nhà
nước được sử dụng để bảo vệ quyền sở hữu tài sản của tư sản và đàn áp các
phong trào đòi quyền lợi của công nhân. Nhiều cải cách chính trị xã hội được đưa
ra để giảm bớt sự bất mãn trong giai cấp lao động, như cải cách lương bổng,
quyền lợi lao động. Tuy nhiên, những cải cách này thường chỉ là những biện pháp
tạm thời và không thể giải quyết tận gốc vấn đề mâu thuẫn giai cấp.
C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định rằng chỉ có cách mạng chính trị do giai
cấp vô sản lãnh đạo mới có thể lật đổ nhà nước tư sản và thiết lập nhà nước
chuyên chính vô sản. Trong giai đoạn này, nhà nước vô sản sẽ tịch thu tư liệu sản
xuất của giai cấp tư sản, tiến tới xóa bỏ chế độ tư hữu và xây dựng xã hội công
bằng, không còn sự bóc lột giai cấp. lOMoAR cPSD| 46342576
Sự ra đời của hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa là kết quả tất yếu
khách quan của các yếu tố kinh tế, xã hội và chính trị trong quá trình phát triển
lịch sử. Mâu thuẫn giai cấp trong xã hội tư bản chủ nghĩa, sự phát triển của lực
lượng sản xuất và ý thức cách mạng vô sản đã dẫn đến sự hình thành của một
trật tự xã hội mới. C. Mác cho rằng xã hội cộng sản chủ nghĩa sẽ là đỉnh cao của
sự phát triển lịch sử loài người, nơi không còn bóc lột giai cấp và con người sẽ
được giải phóng hoàn toàn khỏi sự áp bức kinh tế và chính trị.
CHƯƠNG 2: ỨNG DỤNG LÝ LUẬN VÀO NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM
2.1. Phân tích quá trình hình thành và phát triển của nền kinh tế Việt Nam
trước khi giành độc lập và từ khi giành được độc lập đến nay.
a) Giai đoạn trước khi giành độc lập
Trước khi giành độc lập nền kinh tế Việt Nam chủ yếu dựa vào nông
nghiệp, với một xã hội nông thôn chiếm ưu thế. Vào cuối thế kỷ 19, Việt Nam trở
thành thuộc địa của Pháp, và nền kinh tế bắt đầu chuyển mình dưới sự kiểm soát
của thực dân. Trong thời kỳ này, Việt Nam chịu sự thống trị của thực dân Pháp,
kinh tế Việt Nam bị biến đổi mạnh mẽ. Điều này đã ảnh hưởng sâu sắc đến cấu
trúc kinh tế và xã hội của nước ta. Thực dân Pháp đã thiết lập một hệ thống kinh
tế thuộc địa trong đó nông nghiệp vẫn chiếm ưu thế nhưng bị chi phối bởi các
lợi ích của thực dân Pháp. Trong đó họ khai thác tài nguyên thiên nhiên và lao
động của người dân Việt Nam để phục vụ cho lợi ích của mình, nền kinh tế nông
nghiệp truyền thống bị bóp nghẹt bởi các chính sách thuế nặng nề và sự cạnh
tranh không công bằng từ hàng hóa nhập khẩu.
Trong giai đoạn này, một số ngành công nghiệp nhẹ bắt đầu hình thành,
nhưng chủ yếu phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng nội địa và không phát triển mạnh
mẽ. Sự phát triển kinh tế bị hạn chế bởi các yếu tố như thiếu vốn đầu tư, công
nghệ lạc hậu và sự phân chia giai cấp rõ rệt trong xã hội. Nền kinh tế Việt Nam
trong thời kỳ này có thể được mô tả là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, bị
lệ thuộc vào Pháp, các nước phương Tây và các yếu tố bên ngoài với cấu trúc
kinh tế chủ yếu là nông nghiệp nhưng bị khai thác cạn kiệt và không có sự phát triển bền vững.
b) Giai đoạn từ khi giành độc lập đến nay
Thời kỳ 1945-1954 là thời kỳ đầu tiên xây dựng chế độ kinh tế mới ở Việt
Nam và là giai đoạn khó khăn nhất, gian khổ nhất vì vừa phải kháng chiến chống
giặc, vừa phát triển kinh tế trong điều kiện nghèo nàn đói kém và sự thiếu hụt nguồn lực. lOMoAR cPSD| 46342576
Đặc trưng của nền kinh tế Việt Nam thời kỳ này là nền kinh tế nông thôn, quy
mô kinh tế rất thấp, tiềm lực yếu kém. Chính phủ đã thực hiện nhiều biện pháp
khẩn cấp để khôi phục nền kinh tế, trong đó có việc cải cách ruộng đất nhằm
phân phối lại đất đai cho nông dân. Tuy nhiên, cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp (1946-1954) đã làm cho nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, sản xuất nông
nghiệp và công nghiệp bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Từ sau khi đất nước giành độc lập, Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn
phát triển kinh tế khác nhau, đặc biệt là thời kỳ 1986-2000 nước ta thực hiện
đường lối đổi mới nền kinh tế do nhận ra những bất cập của cơ chế kinh tế hiện
hành, Nhà nước bắt đầu có một số thay đổi trong chính sách quản lý kinh tế.
Trong thời kỳ này, nước ta đã thực hiện đường lối đổi mới, đánh dấu một bước
ngoặt quan trọng trong phát triển kinh tế. Chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch
hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hoạt động
theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước và định hướng xã hội chủ
nghĩa. Các cải cách này bao gồm việc khuyến khích đầu tư tư nhân, mở cửa thị
trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Nền kinh tế đã chuyển mình từ một nền kinh
tế nông nghiệp sang một nền kinh tế đa dạng hơn, với sự phát triển mạnh mẽ
của các ngành công nghiệp chế biến, công nghệ thông tin và dịch vụ. Đặc biệt,
Việt Nam đã thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài, trở thành một điểm
đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư quốc tế. Đường lối đổi mới của Đảng nhanh
chóng được sự hưởng ứng rộng rãi của quần chúng nhân dân, khơi dậy tiềm
năng và sức sáng tạo của các loại hình kinh tế để phát triển sản xuất, tạo thêm
nhiều việc làm cho người lao động, tăng sản phẩm cho xã hội. Kết quả là nền
kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, với tốc độ tăng trưởng
GDP cao. Cùng với phát triển kinh tế, hoạt động giáo dục cũng đạt được những
thành tựu to lớn, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân cũng nâng lên.
Thời kỳ 2001 đến nay - thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng. Trong thời kỳ
này, đất nước ta thực hiện hai chiến lược phát triển kinh tế – xã hội là Chiến lược
2001-2010 và Chiến lược 2011-2020 nhằm xây dựng nước Việt Nam “dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” theo phương châm “Việt Nam
sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế
trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng
cùng có lợi, không can thiệp công việc nội bộ, cùng phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”.
Ngoài ra, việc Việt Nam tham gia vào nhiều tổ chức thương mại quốc tế,
như WTO, APEC…, giúp mở ra nhiều cơ hội thương mại và đầu tư quốc tế. Sự
phát triển của các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và dịch vụ đã đóng góp
lớn vào tăng trưởng kinh tế, đồng thời cải thiện đời sống của người dân. Chính lOMoAR cPSD| 46342576
phủ tiếp tục cải cách cơ cấu kinh tế, thúc đẩy các ngành công nghiệp, dịch vụ, và
công nghệ cao. Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế quan trọng, trở
thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh của khu vực Đông Nam Á.
Những dấu ấn trong sự phát triển kinh tế – xã hội của nước ta kể từ năm
1945 đến khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng, chính sách, đường lối nhất quán
của Nhà nước về phát triển kinh tế – xã hội. Vị thế của Việt Nam thay đổi đáng
kể trên thế giới và trong khu vực.
2.2. Chứng minh cho luận điểm “Nước ta lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội là tất yếu”.
a) Những đặc trưng thể hiện tính ưu việt của xã hội xã hội chủ nghĩa
Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử khó khăn, từ chiến tranh đến
tái thiết đất nước. Sự lựa chọn con đường chủ nghĩa xã hội không chỉ phản ánh
nguyện vọng của nhân dân mà còn là một sự lựa chọn phù hợp với bối cảnh lịch
sử và xã hội của đất nước. Sau khi giành độc lập, Việt Nam cần một mô hình phát
triển có thể đáp ứng nhu cầu cơ bản của người dân, đồng thời xây dựng một xã
hội công bằng và bình đẳng.
Chủ nghĩa xã hội theo quan điểm của chủ nghĩa Mác -
Lênin là giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Chủ nghĩa
xã hội tiến bộ, ưu việt hơn tất cả các xã hội trước đó về các đặc trưng chính trị,
kinh tế, văn hoá, xã hội nhằm giải phóng con người khỏi mọi tình trạng áp bức,
bóc lột, bất công. Để xây dựng chủ nghĩa xã hội, những người cộng sản phải hình
dung ra được những đường nét cơ bản nhất của mô hình chủ nghĩa xã hội (mà
chúng ta gọi đó là những “đặc trưng”). Hơn nữa, những đặc trưng thể hiện mô
hình đó phải phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử xã hội loài người, phản
ánh được nét đặc sắc của truyền thống dân tộc và xu thế phát triển của thời đại.
Đây là đòi hỏi tất yếu nhưng rất khó khăn đối với các Đảng Cộng sản trong quá
trình lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Công cuộc đổi mới đất nước đã và đang thu được những thành tựu to lớn,
có ý nghĩa lịch sử. Những đặc trưng có thể kể đến của chủ nghĩa xã hội mà nhân
dân ta đang xây dựng đã thể hiện tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội Việt Nam so
với chủ nghĩa tư bản là:
Một là, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Đây là đặc trưng tổng quát nhất chi phối các đặc trưng khác, bởi nó thể hiện mục
tiêu của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Ở nước ta, tính ưu việt của chủ nghĩa xã
hội phải được biểu hiện cụ thể thiết thực, trên cơ sở kế thừa quan điểm Mác -
Lênin về mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, đồng thời vận dụng sáng tạo quan điểm lOMoAR cPSD| 46342576
của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu, nước
mạnh..., là công bằng, hợp lý, mọi người đều được hưởng quyền tự do, dân chủ
được sống cuộc đời hạnh phúc… Đối với dân tộc Việt Nam, chỉ có chủ nghĩa xã
hội mới bảo đảm cho dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh thật
sự. Đây là khát vọng tha thiết của toàn thể nhân dân Việt Nam sau khi đất nước
giành được độc lập và thống nhất Tổ quốc.
Nói đến tính ưu việt của đặc trưng này, không thể không so sánh về mặt bản chất
của xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng với các xã hội đã từng tồn
tại trước đây ở Việt Nam nói riêng và với chủ nghĩa tư bản nói chung. Trước năm
1945, ở Việt Nam chưa hề có và chưa thể có các giá trị dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh. Đó là một thực tế hiển nhiên mà mỗi người đều nhận
biết. Trong Dự thảo Cương lĩnh (bổ sung và phát triển), Đảng ta đã có đánh giá
đúng đắn, khách quan về chủ nghĩa tư bản: “Hiện tại, chủ nghĩa tư bản còn tiềm
năng phát triển, nhưng về bản chất vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công”.
Nhân dân ta đã từng chứng kiến bản chất áp bức, bóc lột, bất công, tàn bạo của
chủ nghĩa tư bản trong thời gian dài bị chủ nghĩa thực dân, đế quốc xâm lăng,
đô hộ. Chủ nghĩa xã hội phải xóa bỏ nghèo nàn, lạc hậu, khuyến khích mọi người
dân làm giàu chính đáng để tất cả cùng giàu có. Đó cũng là tiền đề để đất nước
giàu mạnh thật sự trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh,
quốc phòng. Chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đang xây dựng là quá trình dân
chủ hóa, phát huy mọi quyền dân chủ của nhân dân, đồng thời hướng tới những
giá trị công bằng cho mọi tầng lớp, mọi người dân, xây dựng xã hội Việt Nam
thành một xã hội văn minh, hiện đại. Chúng ta đang xây dựng chủ nghĩa xã hội là
đang từng bước hiện thực hoá tính ưu việt của đặc trưng thứ nhất vừa nêu.
Hai là, có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại
là chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu.
Đây là đặc trưng thể hiện tính ưu việt trên lĩnh vực kinh tế của chủ nghĩa xã hội
mà nhân dân ta đang xây dựng so với các chế độ xã hội khác.
Về lực lượng sản xuất của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng
không thể là cái gì khác ngoài lực lượng sản xuất hiện đại với khoa học kỹ thuật
và công nghệ tiên tiến, gắn với phát triển kinh tế tri thức. Về quan hệ sản xuất
không thể không tính đến yếu tố quan trọng hàng đầu là chế độ sở hữu. Trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội việc xác định chế độ công hữu về các tư liệu
sản xuất chủ yếu thể hiện tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đang xây
dựng (đã khắc phục được tư duy cũ, giáo điều về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
đồng nghĩa với chế độ công hữu là duy nhất ngay trong thời kỳ quá độ). lOMoAR cPSD| 46342576
Trong xã hội tư bản, chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa giữ vai trò thống
trị của quan hệ sản xuất; là cơ sở nảy sinh những bất bình đẳng về kinh tế và áp
bức về xã hội. Bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất tư bản chủ
nghĩa, từng bước xây dựng mối quan hệ sản xuất mới dựa trên cơ sở của chế độ
công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu thể hiện rõ tính ưu việt của chủ nghĩa
xã hội mà nhân dân ta đang xây dựng so với chế độ tư bản chủ nghĩa.
b) “Nước ta lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu”
Thứ nhất, ta có thể thấy, năm 1858, khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược
nước ta, từ cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX đã xuất hiện những phong trào yêu
nước chống thực dân Pháp, theo những khuynh hướng khác nhau: Phong trào
yêu nước theo khuynh hướng phong kiến, tiêu biểu là phong trào Cần Vương
(1885 – 1896) và phong trào khởi nghĩa nông dân Yên Thế; phong trào yêu nước
theo khuynh hướng dân chủ tư sản, tiêu biểu là xu hướng bạo động do Phan Bội
Châu tổ chức, lãnh đạo; xu hướng cải cách do Phan Châu Trinh đề xướng và tổ
chức, khởi nghĩa của Việt Nam Quốc dân Đảng do Nguyễn Thái Học đứng đầu.
Nhưng tất cả những phong trào này đều bị thất bại, nguyên nhân chủ yếu là do
thiếu một đường lối cứu nước đúng đắn. Trong khi đó, Hồ Chí Minh vào tháng 7
năm 1920, sau khi đọc Sơ thảo Lần thứ nhất Luận cương về các vấn đề dân tộc
và thuộc địa của Lênin đã đi đến kết luận quan trọng: Muốn cứu nước và giải
phóng dân tộc không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô
sản. Sau đó, qua thực hiện Cương lĩnh của Đảng, cách mạng nước ta đã giành
những thắng lợi vĩ đại: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan
ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược, mà đỉnh cao là chiến
thắng lịch sử Điện Biên
Phủ năm 1954, đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất
đất nước. Điều này chứng minh sự lựa chọn của Đảng và nhân dân ta là đúng
đắn, phù hợp với thực tế Việt Nam.
Thứ hai, sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công
nghệ làm cho lực lượng sản xuất thế giới phát triển đã đạt đến trình độ cao, đã
mở đầu giai đoạn mới của quá trình xã hội hóa sản xuất, tạo ra cuộc cách mạng
trong lĩnh vực kinh tế, tạo điều kiện hiện thực để nước ta có thể tranh thủ vốn,
cơ sở vật chất - kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý của thế giới cho sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước. Trong điều kiện kinh tế thế giới
có bước nhảy vọt về cơ sở vật chất - kỹ thuật, xã hội loài người đòi hỏi phát triển
lên một xã hội mới của nền văn minh cao hơn - đó là nền văn minh của kinh tế
tri thức. Do đó, quá độ lên chủ nghĩa xã hội là con đường phát triển hợp quy luật
khách quan. Sau chủ nghĩa tư bản nhất định phải là một chế độ xã hội tốt đẹp lOMoAR cPSD| 46342576
hơn - chế độ xã hội chủ nghĩa mà sự lựa chọn của Việt Nam là hoàn toàn đúng
đắn. Nước ta là nước đã giành được độc lập dân tộc, có chính quyền dân chủ do
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Với những thắng lợi đã giành được trong hơn
80 năm qua, đặc biệt là những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử của hơn 30
năm đổi mới, đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, bước
vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế quốc tế ngày
càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Đây là điều kiện tiên quyết, quyết
định con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Thứ ba, sự lựa chọn xu hướng phát triển. Sau khi giải phóng miền Nam,
thống nhất đất nước, từ nền nông nghiệp lạc hậu, mang nặng tính chất tự cung
tự cấp, nền kinh tế nước ta này sinh một yêu cầu khách quan là: chuyển kinh tế
tự nhiên lên kinh tế hàng hóa và thúc đẩy sản xuất hàng hóa nhỏ phát triển lên
thành sản xuất lớn dựa trên cơ sở kỹ thuật, công nghệ hiện đại. Nếu để nền kinh
tế phát triển tự phát chuyển thành nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, trên cơ sở phân
hóa những người sản xuất hàng hóa nhỏ, do tác động của quy luật giá trị thì sẽ
hình thành chủ nghĩa tư bản, dẫn đến những hậu quả như: Chính quyền do chính
nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ bị mất và chỉnh
nhân dân lao động lại rơi xuống địa vị người làm thuê, bị bóc lột và khó có thể
thực hiện được mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng con người, hướng tới
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Chúng ta không
đi theo con đường tư bản chủ nghĩa vì thời đại ngày nay không phải là thời đại
của chủ nghĩa tư bản, mặc dù chủ nghĩa tư bản đang có động lực chủ yếu để phát
triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với
nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập
thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế,
của toàn xã hội..." điều chỉnh để thích nghi với cuộc cách mạng khoa học - công
nghệ, nhưng chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn,
bất công xã hội thuộc về bản chất của chế độ tư bản chủ nghĩa. Theo quy luật
phát triển của lịch sử thì chủ nghĩa tư bản không thể không bị phủ định. Vì thế,
Đảng ta nên lựa chọn hướng đi phù hợp với lịch sử cụ thể của Việt Nam là thực
hiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa dựa trên cơ sở
củng cố chính quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Thứ tư, những thành tựu đã đạt được qua hơn 30 năm đổi mới đã chứng
tỏ sự lựa chọn đó là đúng hướng, phù hợp với lợi ích của cả dân tộc và hoàn cảnh
lịch sử cụ thể của nước ta, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Toàn bộ
lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh: quy luật của cách mạng Việt Nam là
độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ lOMoAR cPSD| 46342576
rõ: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con
đường cách mạng vô sản. Và trong thực tiễn, chủ nghĩa xã hội không những đã
trở thành động lực tinh thần, mà còn là sức mạnh vật chất to lớn góp phần đưa
sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở nước ta đến thắng lợi. Quá
trình cách mạng do Đảng ta lãnh đạo đã tạo những tiền đề cả vật chất và tinh
thần để có thể “rút ngắn” tiến trình phát triển lịch sử - tự nhiên của xã hội. Vì
thế, dân tộc ta hoàn toàn phù hợp để chọn con đường quá độ lên chủ nghĩa xã
hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Đó là con đường phù hợp cả về lý luận và
thực tiễn, cả về đặc điểm lịch sử - cụ thể trong nước và hoàn cảnh quốc tế.
Thứ năm, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, gọi là Thời kì quá
độ với ý nghĩa là đất nước ta phải trải qua một trạng thái xã hội mang tính trung
gian, chuyển tiếp giữa hình thái kinh tế xã hội cũ và hình thái kinh tế xã hội mới,
trong đó nền kinh tế là nền kinh tế quá độ gồm nhiều thành phần kinh tế. Những
thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, sự hợp tác kinh tế
quốc tế đa phương, đa dạng cho phép chúng ta tận dụng đại công nghiệp của cả
thế giới để có thể "rút ngắn" quá trình phát triển kinh tế đất nước.
2.3. Đánh giá vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc định hướng và
lãnh đạo đất nước trên con đường phát triển xã hội chủ nghĩa.
Đảng ta ra đời là sự kết hợp của chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công
nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Từ khi xuất hiện trên vũ đài chính trị,
Đảng Cộng sản Việt Nam đã tỏ rõ là một đảng cách mạng chân chính nhất, có
sức hội tụ lớn nhất mọi sức mạnh của dân tộc, của giai cấp, sớm trở thành đội
tiên phong của giai cấp và của dân tộc trong cuộc đấu tranh chống đế quốc, phong kiến.

Vai trò lãnh đạo của Đảng – Nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam
-Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam-
Đảng Cộng sản Việt Nam đóng vai trò then chốt trong công cuộc định
hướng và lãnh đạo đất nước trên con đường phát triển xã hội chủ nghĩa. Vai trò
của Đảng thể hiện rõ qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, từ khi diễn ra cuộc
cách mạng giải phóng dân tộc đến xây dựng và phát triển đất nước trong thời bình hiện nay.
a) Lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa
Đảng Cộng sản Việt Nam là chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam
ra đời trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và giai cấp. Ngay từ đầu, lOMoAR cPSD| 46342576
Đảng đã nhận sứ mệnh lịch sử to lớn mà nhân dân giao phó: Lãnh đạo các tầng
lớp nhân dân Việt Nam đấu tranh chống thực dân, phong kiến, giành độc lập dân
tộc, dân chủ cho nhân dân.
Mỗi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều gắn chặt với vai trò của Đảng
và sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các cuộc kháng chiến chống Pháp
và Mỹ, từ đó tiến lên giải phóng dân tộc. Nhờ xác định đúng đắn, sáng tạo đường
lối, chiến lược, nhân dân ta đã được soi đường tiến tới những chiến thắng vang
dội liên tiếp của các cuộc cách mạng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã tìm thấy con đường
cứu nước, đường lối cách mạng đúng đắn ở chủ nghĩa Mác - Lênin, dẫn dắt dân
tộc ta bước vào kỷ nguyên độc lập gắn với chủ nghĩa xã hội.
Trước năm 1930, đất nước ta chìm trong màu u tối của ách thống trị, áp
bức từ chủ nghĩa thực dân Pháp suốt 80 năm và chịu đựng hàng trăm năm chế
độ phong kiến thối nát. Trong quá khứ có không ít cuộc khởi nghĩa chống lại áp
bức, bóc lột, tuy nhiên những ngọn cờ này đều thất bại do đường lối không đúng
đắn: Phong trào Cần Vương cùng khởi nghĩa nông dân mang tư tưởng phong
kiến lỗi thời; đấu tranh của giai cấp tư sản lộ ra khuyết điểm yếu hèn, không gánh
vác được nhiệm vụ lịch sử;... Chỉ đến khi phong trào đấu tranh cách mạng của
giai cấp công nhân liên minh các tầng lớp lao động khác dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin
làm nền tảng và kim chỉ nam trong các hoạt động, mục tiêu cho cách mạng, lúc
này đất nước ta mới hoàn toàn được thắp sáng ngọn đuốc của chiến thắng, tiến
lên chủ nghĩa xã hội là giành được những thắng lợi vẻ vang.
Hoàn toàn có thể khẳng định rằng việc lựa chọn đúng con đường cách
mạng là dấu mốc lớn giúp nước ta thành công giải phóng dân tộc. Ngay từ những
năm đầu thập niên 20, thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã có sự lựa chọn đúng đắn khẳng
định con đường đi đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam: "không có con đường
nào khác con đường cách mạng vô sản
"[1]. Trải qua thực tiễn cuộc sống, hoạt
động cách mạng phong phú và tiếp thu chân lý khoa học, Người đã đi đến kết
luận chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu được nhân loại, đem lại cho mọi người
không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết,
ấm no trên trái đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hoà bình, hạnh phúc.
Cách mạng tháng 8 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời
(2/9/1945) tạo ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội. Đảng đã huy động toàn bộ sức mạnh của dân tộc, kết hợp đấu tranh lOMoAR cPSD| 46342576
quân sự với đấu tranh chính trị, ngoại giao, đưa đất nước đến thắng lợi cuối
cùng, thống nhất đất nước vào năm 1975.
b) Định hướng phát triển kinh tế, xã hội theo con đường xã hội chủ nghĩa
Quy luật vận động của mọi quốc gia là phải luôn không ngừng cải cách để
phát triển, mục đích là thích nghi với sự thay đổi của thời đại. Công cuộc cải cách,
đổi mới chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là đòi hỏi tất yếu
trong suốt quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó là sự tự nhận thức lại về chủ
nghĩa xã hội nhằm khắc phục những sai lầm, hạn chế đã mắc phải, tìm con đường
phát triển thích hợp với bối cảnh của thời đại.
Sau khi thống nhất, đất nước ta rơi vào nghèo đói và gặp vô vàn khó khăn
khi khắc phục hậu quả nặng nề mà chiến tranh để lại. Đầu những năm 1980, cơ
chế quản lý tập trung bao cấp bắt đầu bộc lộ sự lạc hậu. Các quốc gia xã hội chủ
nghĩa trên thế giới xây dựng kinh tế theo hướng chỉ duy trì quan hệ khép kín
trong Hội đồng Tương trợ kinh tế (Khối SEV). Điều này đi ngược xu thế quốc tế
hóa, toàn cầu hóa về kinh tế đang phát triển mạnh mẽ. Những sai lầm trong thực
tiễn dần được phát hiện, những hậu quả không được khắc phục kịp thời, cùng
với sự phá hoại của chủ nghĩa đế quốc đã đẩy các nước xã hội chủ nghĩa rơi vào
khủng hoảng toàn diện, lòng tin của người dân giảm sút nghiêm trọng. Thực tiễn
đó đặt ra yêu cầu các nước chủ nghĩa trên thế giới, gồm cả Việt Nam phải cải
cách, đổi mới toàn diện.
Thực tiễn cho thấy để tiếp tục giữ vững chế độ, ổn định đời sống của người
dân, Đảng và Nhà nước Việt Nam phải tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện.
Trong đó, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đòi hỏi bức thiết của đất nước và thời
đại. Quá trình này đầy khó khăn, phức tạp, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân không
ngừng tìm tòi, sáng tạo có tính cách mạng.
Cuối năm 1985, đầu 1986, những biến động chính trị thế giới, khủng
hoảng trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đã khiến Việt Nam rơi vào tình
huống nguy cấp. Đối mặt với hoàn cảnh đó, trong Nghị quyết số 31/NQ/TW ban
hành ngày 24/2/1986, Bộ Chính trị nhấn mạnh cần có những biện pháp xử lý kiên
quyết, đúng đắn, nhanh chóng xoay chuyển tình thế, đưa hoạt động kinh tế - xã
hội đất nước theo đúng hướng mà các Nghị quyết 6, 7, 8 Ban Chấp hành Trung
ương đã đề ra. Tiếp đó, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986) của Đảng
đánh dấu bước ngoặt có tính lịch sử về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ở Việt Nam.