



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 59054137
Chương 1: Tổng quan về logistics
1.1 Nội dung cơ bản của logistics -
“Logistics là qtrinh tối ưu hóa về vị trí và thời điểm , vận chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của
chuỗi c.ứng qa các khâu sx, phân phối cho đến tay ng tiêu dùng cuối cùng , thông qa hàng loạt các hđ kte. -
Logistics network là nhóm các cách tiếp cận đc sd để lk các nhà cung cấp,nhà sx,kho,cửa hàng 1 cách hiệu quả
để hàng hóa đc sx và phân phối đúng slg ,đúng địa điểm và đúng thời điểm nhằm mục đích giảm thiểu chi phí
trên hệ thống đồng thời đáp ứng đc các yêu cầu về mức độ phục vụ .
-Dịch vụ logistics:là hđ thg mại,theo đó thương nhân tổ chức đc thực hiện 1 hoawcjnh cv bao gồm nhận hàng,vận
chuyển,lưu kho,lưu bãi,lm thủ tục hải qan,các thủ tục giấy tờ khác,tư vấn khách hàng,đóng gói bao bì,ghi kí mã
hiệu,giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên qan đến hàng hóa theo thỏa thuận của khách hàng để kiếm cù lao. lOMoAR cPSD| 59054137 1.2 Vai trò của logistics -
Logistics là công cụ liên kết các hoạt động kinh tế trong một quốc gia và toàn cầu qua việc cung cấp nguyên liệu,
sản xuất, lưu thông phân phối, mở rộng thị trg -
Tối ưu hóa chu trình lưu chuyển của sản xuất, kinh doanh từ khâu đầu vào đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng. -
Tiết kiệm và giảm chi phi phí trong lưu thông phân phối. -
Mở rộng thị trường trong buôn bán quốc tế, góp phần giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa chứng từ trong
kinh doanh đặc biệt trong buôn bán và vận tải qte -
Mối quan hệ giữa logistics-marketing ,sx và tài chính lOMoAR cPSD| 59054137
Phân loại logictics theo các hình thức lOMoAR cPSD| 59054137 Phân loại theo qtrinh -
logistics đầu vào ( inbound logistics ) toàn bộ các hđ hỗ trợ dòng nguyên liệu đầu vào từ nguồn cung cấp trực tiếp cho tới các tổ chức . -
logistics đầu ra ( outbound lg ) toàn bộ các hđ hỗ trợ dòng sp đầu ra cho tới tay khách hàng tại các tổ chức . lOMoAR cPSD| 59054137 -
log ngược (log reverse ) bao gồm các dòng sp ,hàng hóa hư hỏng,kém chất lượng , dòng chu chuyển ngược của
baobì đi ngược chiều trong log.
Phân loại Theo đối tượng hàng hóa -
Logistic hàng tiêu dùng ngắn ngày - Logistic ngành ô tô - Logistic ngành hóa chất -
Logistic hàng đi tử- Logistic ngành dầu khí - vv.... 1.4 chức năng của log
1.4.1 chức năng xử lí đơn hàng
Xử lý đơn hàng là một nhiệm vụ quan trọng trong các chức năng của hoạt động Logistics. Đơn đặt hàng do người mua
đặt nhà cung cấp là chứng từ pháp lý quan trọng của giao dịch mua bán giữa hai bên. Tài liệu này bao gồm mô tả hoặc
chi tiết kỹ thuật của sản phẩm cung cấp, giá cả, thời hạn giao hàng, điều khoản thanh toán, thuế và các điều khoản
thương mại khác theo thỏa thuận.
Việc xử lý tài liệu này rất quan trọng vì nó có mối quan hệ trực tiếp với việc giao nhận hàng hoặc thời gian của chu
kỳ thực hiện, nó cho biết thời gian nhận được đơn đặt hàng và khi khách hàng nhận được tài liệu.
Các Hoạt động trong xử lý đơn hàng bao gồm các bước sau: -
Chuẩn bị đơn hàng Yêu cầu sp/dvu - Truyền đơn hàng
Truyền thông tin đơn hàng - Nhập lệnh
+ kiểm tra số lượng hàng hóa
+ kiểm tra tính chính xác + kiểm tra tín dụng
+ đặt lại hàng / hủy đơn + truyền đơn + tạo hóa đơn - Thực hiện đơn hàng
+ thu hồi sx hoặc thu mua sp +đóng gói vận chuyển
+lên lịch trình để vận chuyển + cbi chứng từ giao hàng -
Báo cáo tình trạng đơn hàng + ktra và tdoi
+ liên hệ vs k.hang về tình trạng đơn hàng . 1.4.2 Xếp dỡ hàng hóa
-Xếp dỡ llaf việc di chuyển hàng hóa trong phạm vi kho,nó liên hàng đến việc xếp dỡ hàng hóa theo cách mà
nhà kho có thể xử lý các đơ đặt hàng một cách hiệu quả .
-Các nhà kho của các công ty lớn đôi khi kích thức rất lớn.nếu ng qli kho ko bt nguyên vật liệu đc lưu trữ ở
đâu và lm thế nào để đư nó đến trung tâm điều phối của kho , thì sẽ gặp rắc rối lớn và năng suất hqua của nó
sẽ bị ảnh hưởng lớn .đó là lí do tại s xếp dỡ h.hóa là một chức năng qtrong của log. 1.4.3 Kho bãi lOMoAR cPSD| 59054137
Kho bãi Lưu kho là việc lưu trữ các sản phẩm cho đến khi chúng được bán. Nó đóng một vai trò quan trọng
trong hoạt động Logistics của một công ty.
Trong bối cảnh ngày nay, kho bãi được coi như là phương tiện chuyển đổi vì thể nó được coi là khu vực
quyết định quan trọng trong Logistics. Các quyết định chính trong việc nhập kho là: -Vị trí kho bãi -Số lượng nhà kho
-Kích thước của nhà kho -Bố trí nhà kho -Thiết kế của nhà kho -Quyền sở hữu nhà kho
1.4.4 Kiểm soát hàng tồn kho
Quản lý hàng tồn kho là giữ đủ hàng tồn kho để đáp ứng yêu cầu của khách hàng và chi phí quản lý phải thấp
nhất. Về cơ bản, nó là một bài tập yêu cầu phải đạt được sự cân bằng giữa dịch vụ khách hàng để không đánh
mất cơ hội thị trường và chi phí để đáp ứng điều đó.
Hàng tồn kho là "thủ phạm" lớn nhất ảnh hướng đến chuỗi cung ứng tổng thể của một công ty vì chi phí vận
hành quá lớn, gián tiếp "ăn mòn" lợi nhuận. Nó bao gồm chi phí tài trợ cho việc kiểm kê, bảo hiểm, lưu kho,
tổn thất, thiệt hại và ăn cắp vặt. Bên cạnh đó, chi phí vận chuyển hàng tồn kho trung bình thay đổi từ 10 đến
25% tổng số hàng tồn kho mỗi năm tùy thuộc vào sản phẩm.
1.4.5 Vận tải vận tải trong logistics là sự di chuyển hàng hóa từ vị trí này đến vị trí khác bằng sức người hay
phương tiện vận chuyển nhằm thực hiện các mục đích thương mại như mua – bán, lưu kho, dự trữ trong quá
trình sản xuất – kinh doanh.
Quản lý chuỗi cung ứng
SCM là việc quản lý dòng hàng hóa và dịch vụ và bao gồm tất cả các quy trình từ biến đổi nguyên liệu thô thành sản
phẩm cuối cùng. SCM liên quan đến việc tổ chức hợp lý các hoạt động phía nguồn cung của doanh nghiệp để tối đa
hóa giá trị khách hàng và đạt được lợi thế cạnh tranh trên thị trường.
Quản lý chuỗi cung ứng – SCM là sự kết hợp nhiều thủ pháp nghệ thuật và khoa học nhằm cải thiện cách thức các
công ty tìm kiếm những nguồn nguyên liệu thô cấu thành sản phẩm, dịch vụ, sau đó sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ đó
và phân phối tới các khách hàng.
Trong hệ thống quản trị chuỗi cung ứng, người ta cũng quy định theo cấu trúc nhất định như sau:
Supplier - nhà cung ứng: Trong đó sẽ có những doanh nghiệp tập trung buôn bán vào các nguyên vật liệu chủ yếu là
những sản phẩm, dịch vụ phục vụ chủ yếu cho quá trình sản xuất cũng như kinh doanh của khách hàng
Producer - đơn vị sản xuất : Đơn vị này sẽ tiến hành tiếp nhận nguyên vật liệu mà nhà cung cấp mang đến. Sau đó sẽ
tiến hành hoạt động đưa kết quả thành phẩm ở bước cuối cùng đến với khách hàng mục tiêu.
Customer - khách hàng: Là đối tượng doanh nghiệp hướng đến.
Tầm quan trọng của Quản lý Chuỗi cung ứng là gì?
Việc quản lý chuỗi cung ứng SCM (Supply chain management) đóng vai trò quan trọng trong các doanh nghiệp như
sản xuất, kinh doanh, xây dựng. Và tầm quan trọng đó càng được thể hiện trong tình hình thị trường cạnh tranh ngày
càng cao, giá bán cũng như giá thu mua ngày càng bị quản lý chặt chẽ hơn.
Hoạt động quản trị chuỗi cung ứng tác động rất lớn đến khả năng vươn xa của doanh nghiệp, khả năng chiếm lĩnh thị
trường, cũng như sự tín nhiệm của khách hàng. Nếu quản lý chuỗi cung ứng tốt thì doanh nghiệp không những có thể
thu được lợi nhuận cao mà còn có thể vượt xa các đối thủ cạnh tranh trong ngành.
Ví dụ điển hình mà ta có thể thấy đó là sự thành công của Wal-Mart. Wal-Mart đã vượt mặt Kmart và trở thành nhà
bán lẻ lớn nhất thế giới. Tổng Giám đốc của Kmart đã phải thừa nhận rằng chính chuỗi cung ứng là yếu tố ảnh hưởng
đến sự thất bại của Kmart. lOMoAR cPSD| 59054137
Quản trị Logistics được hiểu là một phần của quản trị chuỗi cung ứng bao gồm việc hoạch định, thực hiện, kiểm soát
việc vận chuyển và dự trữ hiệu quả hàng hóa, dịch vụ cũng như những thông tin liên quan từ nơi xuất phát đến nơi
tiêu thụ để đáp ứng yêu cầu của k.hàng.
Inbound Logistics (Logistics đầu vào) là giai đoạn khởi đầu trong hệ thống chuỗi các giá trị Logistics và cũng là quá
trình hoạt động kiểm soát nguồn nguyên liệu thô hoặc bán thành phẩm từ nhà sản xuất hoặc nhà cung ứng trước khi đưa vào sản xuất.
Theo đó, quá trình này phụ trách nhiều hoạt động như xử lý nguyên liệu thô, kiểm soát, phân phối cho đến kiểm soát
hàng tồn kho và lưu trữ hàng hóa.
Về cơ bản, đây là giai đoạn quan trọng nhất, quyết định và ảnh hưởng trực tiếp đến các giai đoạn sau để tạo ra sản
phẩm hoàn chỉnh cuối cùng trước khi mang đi tiêu thụ. Cụ thể hơn, nguồn đầu vào được đảm bảo sẽ giúp doanh nghiệp
tăng doanh thu, giảm chi phí và đảm bảo thành phẩm cuối cùng đạt chất lượng tốt nhất, nâng cao sự hài lòng của
khách hàng khi sử dụng sản phẩm. Nếu Logistics đầu vào hoạt động kém hiệu quả, không đảm bảo thì có thể khiến
doanh nghiệp tăng chi phí sản xuất, giảm nguồn doanh thu và lãng phí nguồn nguyên vật liệu đầu vào. Vì thế, Inbound
Logistics là giai đoạn rất phức tạp và đòi hỏi các bên liên quan khi thực hiện phải chỉn chu, chính xác ngay từ đầu.
Nếu như Inbound Logistics đảm nhận khâu đầu tiên của chuỗi cung ứng thì Outbound Logistics sẽ đảm nhận khâu sau
sản xuất để đưa sản phẩm đến người tiêu dùng cuối cùng. Nói cách khác, Outbound Logistics (Logistics đầu ra) là quá
trình vận chuyển, lưu trữ và phân phối hàng hóa đến cửa hàng, người tiêu dùng cuối cùng.
Outbound Logistics đòi hỏi các doanh nghiệp khi thực hiện phải thật tỉ mỉ, cẩn thận. Bởi lẽ, quá trình này bao gồm
nhiều bước khác nhau. Do đó, để đảm bảo được Outbound Logistics luôn diễn ra thuận lợi, các doanh nghiệp cần đảm
bảo được 3 yếu tố sau:
Thứ nhất: Lựa chọn kênh phân phối phù hợp.
Các kênh phân phối có vai trò lưu trữ, quảng bá sản phẩm và sắp xếp để bán cho khách hàng thay cho doanh nghiệp. lOMoAR cPSD| 59054137
Vì vậy, để tối ưu hóa doanh thu, chi phí thì doanh nghiệp cần chọn kênh phân phối phù hợp, có hệ thống Logistics tốt
và phục vụ đúng khách hàng mục tiêu.
Thứ hai: Có hệ thống lưu trữ, quản lý hàng tồn kho
Để đảm bảo quá trình Outbound Logistics diễn ra trơn tru, doanh nghiệp cần phải có hệ thống kho lưu trữ và quản lý
hàng tồn kho phù hợp để tránh các rủi ro sau:
° Lượng hàng dự trữ quá nhiều mà không bán hết thì sản phẩm có thể bị hư hỏng và lỗi thời.
° Lượng hàng dự trữ quá ít thì sẽ không đáp ứng được nhu cầu khách hàng.
Vì vậy, để đảm bảo lượng lưu trữ hàng hóa, các doanh nghiệp có thể sử dụng dữ liệu lịch sử để dự đoán nhu cầu và
thông báo cho kênh phân phối. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng có thể sử dụng hệ thống “just in time” (JIT), luôn sẵn
sàng cho các đơn hàng, bắt tay vào sản xuất, đặt hàng nguyên vật liệu và cung cấp sản phẩm đúng, đủ và kịp thời.
Thứ ba: Tối ưu hoá hoạt động giao hàng.
Vận chuyển, giao hàng là một phần quan trọng của Outbound Logistics. Vì vậy, việc tối ưu được hoạt động vận chuyển
sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm được thêm nhiều chi phí. Theo đó, doanh nghiệp cần phải lựa chọn cách giao hàng phù
hợp với sản phẩm và yêu cầu của đơn hàng. Hoạt động vận chuyển đảm bảo tiết kiệm chi phí, giao nhận an toàn và
hàng được chuyển đến đúng địa điểm trong thời gian quy định.
Quy trình từng bước của Inbound Logistics và Outbound Logistics diễn ra như thế nào?
Quy trình của Inbound Logistics:
B1: Tìm kiếm nguồn cung ứng và mua sắm (Purchasing and Sourcing): doanh nghiệp xác định, đánh giá nhà cung
cấp, đàm phán giá cả và mua nguyên vật liệu.
B2: Ghi nhận đơn hàng (Recording and Receipts): doanh nghiệp ghi nhận đơn đặt hàng và nhận biên lai sau khi thanh toán.
B3: Thông báo (Notification): khi vận chuyển nguyên vật liệu, nhà cung cấp sẽ tiến hành khai báo điện tử thông tin
theo dõi của lô hàng cho doanh nghiệp.
B4: Hàng đến (Load Arrival): di chuyển hàng hóa đã nhận về sân/ kho hoặc bên nhận hàng theo chỉ định của doanh nghiệp.
B5: Tiếp nhận (Receiving): nhân viên bốc dỡ hàng, quét mã vạch và kiểm kê hàng đảm bảo đúng với đơn đặt hàng.
Sau đó, hàng hóa sẽ được chuyển đến kho sản xuất tại nhà máy, hoặc cơ sở sản xuất để tiếp tục thực hiện hoạt động sản xuất.
B6: Logistics ngược (Reverse Logistics): đội ngũ tiếp nhận, vận chuyển các đơn từ khách hàng trả lại do hàng bị
lỗi, vấn đề trong khâu giao hàng, sửa chữa,… Quy trình của Outbound Logistics:
B1: Đơn đặt hàng (Customer Order): khách hàng đặt hàng qua các kênh bán hàng của doanh nghiệp.
B2: Xử lý đơn hàng (Order Processing): doanh nghiệp xác nhận đơn hàng, nhận số lượng yêu cầu, kiểm tra nguồn
hàng tồn kho có đủ để đáp ứng được đơn hàng hay không.
B3: Doanh nghiệp xác nhận đơn đặt hàng, nhận số lượng sản phẩm được yêu cầu. Bổ sung đơn hàng
(Replenishment): ở giai đoạn này, hàng tồn kho dự trữ sẽ chuyển sang kho lưu trữ chính, thay thế sản phẩm khách
hàng đã mua. Quá trình này có thể kích hoạt sản xuất nhiều hàng hóa hơn hoặc phải đặt hàng nguyên liệu thô từ nhà
cung cấp để duy trì mức tồn kho ổn định.
B4: Chọn hàng (Picking): nhân viên kho lựa chọn hàng hóa từ kho dự trữ để hoàn tất đơn hàng. lOMoAR cPSD| 59054137
B5: Đóng gói, tải và chất hàng (Packing, Staging & Loading): nhân viên đóng gói, dán nhãn và lập hồ sơ theo yêu cầu
nội bộ và khách hàng. Sau đó, nhân viên tiến hành chất hàng lên xe tải.
B6: Vận chuyển và chứng từ (Shipping & Documenting): Đơn hàng rời kho được vận chuyển cho các nhà phân phối
hoặc đối tác. Lúc này, hệ thống của công ty sẽ ghi lại lô hàng và gửi thông tin chi tiết cho khách hàng theo dõi.
B7: Giao hàng chặng cuối (Last Mile Delivery): đơn đặt hàng vận chuyển từ nhà phân phối cho người tiêu dùng cuối cùng.
Inbound Logistics và Outbound giống và khác nhau ở điểm nào?
Giống nhau: đều là thuật ngữ thường được sử dụng song hành trong chuỗi cung ứng. Đây là hai khâu quan trọng, có
mối liên kết chặt chẽ với nhau.
1.4Supply chain chuỗi cung ứng
-Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các doanh nghiệp tham gia,1 cách trực tiếp hay gián tiếp,trog việc đáp ứng ứng nhu cầu khách hàng.
-Chuỗicung ứng là sự liên kết các công ty nhằm đưa sp hay dvụ vào thị trg
-Chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên qan trực tiếp hay gián tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu của khách
hàng.Chuỗi cung ứng ko chỉ gồm nhà sx và nhà cung cấp mà còn nhà vận chuyển,kho,ngbán lẻ và bản thân k.hàng lOMoAR cPSD| 59054137 1.5Chi phí logistics
Chi phí logistics thấp sẽ góp phần qtrong vào việc thuận lợi hóa thg mại,tạo giá trị gia tăng và nâng cao năng
lực cạnh tranh của hàng hóa XNK lOMoAR cPSD| 59054137 Câu hỏi ôn tập sgk . lOMoAR cPSD| 59054137
Sự khác nhau giữa Quản trị Logistics và Quản trị chuỗi cung ứng Thuật ngữ “quản trị chuỗi cung ứng” xuất hiện cuối
những năm 80 và trở nên phổ biến trong những năm 90. Trước đó khá lâu, đã xuất hiện thuật ngữ như ‘hậu cần” (logistics).
Về quy mô: Logistics là những hoạt động xảy ra trong ranh giới một công ty vừa và nhỏ còn chuỗi cung ứng là
mạng lưới các công ty cùng làm việc và hợp tác để phân phối sản phẩm đến thị trường.
Logistics truyền thống chỉ tập trung chú ý vào các hoạt động như thu mua, phân phối, bảo trì và quản lý tồn kho.
Trong khi đó Quản trị chuỗi cung ứng không chỉ gồm Logistics truyền thống mà còn bao gồm các hoạt động như
tiếp thị, phát triển sản phẩm mới, tài chính, và dịch vụ khách hàng.
Về mục tiêu: Logistics mong muốn đạt được là giảm chi phí và tăng được chất lượng dịch vụ còn quản lý chuỗi
cung ứng lại đặt mục tiêu ở giảm được chi phí toàn thể dựa trên tăng cường khả năng cộng tác và phối hợp, do
đó tăng hiệu quả trên toàn bộ hoạt động Logistics.
Về công việc: Quản trị Logistics quản lý các hoạt động bao gồm vận tải, kho bãi, dự báo, đơn hàng, giao nhận,
dịch vụ khách hàng… còn quản lý chuỗi cung ứng bao gồm cả quản trị Logistics và quản trị nguồn cung cấp, sản
xuất, hợp tác và phối hợp của các đối tác, khách hàng…
Tầm quan trọng của dịch vụ khách hàng
Đối với doanh nghiệp, họ phải coi dịch vụ khách hàng trong logistics như là một hoạt động gắn liền với những gì
mà họ cung cấp. Do đó Logistics cũng được xem là một phần quan trọng của doanh nghiệp
Các công ty về logistics thường có khách hàng là doanh nghiệp. Đặc điểm mua hàng của họ là xu hướng gắn bó
lâu dài. Nếu làm tốt, hoàn toàn có thể giành được niềm tin khách hàng và có được một hợp đồng lâu dài. Gắn bó
lâu dài là một yếu tố cực kì quan trọng để công việc kinh doanh thuận lợi và bền vững.
Nhờ việc gắn bó đó, bạn sẽ giữ được khách hàng trung thành và có cơ hội có các đối tác lớn. Sau đó bạn có thể
tìm kiếm các khách hàng mới, rồi làm điều tương tự với họ. Cứ như vậy, việc kinh doanh có thể ngày càng phát triển và mở rộng.
5 tiêu chí đánh giá dịch vụ khách hàng
2.1 Những lời phàn nàn. Những lời phàn nàn, góp ý của khách hàng luôn là chìa khoá thành công. ...
2.2 Mức độ giới thiệu đến người khác của khách hàng. ...
2.3 Tiêu chí đánh giá dịch vụ khách hàng thứ 3: Khảo sát khách hàng. ...
2.4 Thời gian giải quyết khiếu nại. ...
2.5 Mức độ biến động nhân sự lOMoAR cPSD| 59054137
Chương 2 Vận tải trong logistics
2.1.1 Khái niệm,vai trò,vị trí của vận tải
Vận tải là hđ kinh tế có mục đích của con ng nhằm thay đổi vị trí của hàng hóa và con ng từ nơi này đến nơi khác
thông qa các phương tiện vận tải. lOMoAR cPSD| 59054137
-Người gửi hàng (shipper, còn gọi là chủ hàng): là người yêu cầu vận chuyển hàng hoá đến địa điểm nhất định trong
khoảng thời gian cho phép. Thành phần này thực hiện các hoạt động như tập hợp lô hàng, đảm bảo thời gian cung
ứng, không để xẩy ra hao hụt và các sự cố, trao đổi thông tin kịp thời và chính xác,…. Mục tiêu của người gửi hàng
là sử dụng dịch vụ vận chuyển sao cho có thể tối thiểu hoá tổng chi phí logistics (gồm chi phí vận chuyển, dự trữ,
thông tin, và mạng lưới) trong khi đáp ứng tốt mức dịch vụ khách hàng yêu cầu.
Bởi vậy, người gửi cần hiểu biết về những cơ hội và khó khăn của các phương án vận chuyển khác nhau, đồng thời
cần có kĩ năng đàm phán và thương lượng để có được chất lượng vận chuyển cao với các điều khoản hợp lí. Người
gửi và đơn vị vận tải cần xây dựng được mối quan hệ hợp tác, gắn bó trên cơ sở hai bên cùng có lợi và phát triển bền vững.
-Người nhận hàng (consignee, còn gọi là khách hàng): là người yêu cầu được chuyển hàng hoá đến đúng địa điểm,
đúng thời gian, đúng số lượng, chất lượng và cơ cấu với mức giá thoả thuận như theo đơn đặt hàng đã thông báo với
người gửi. Người nhận hàng quan tâm tới chất lượng dịch vụ trong mối tương quan với giá cả.
-Đơn vị vận tải (carrier): là chủ sở hữu và vận hành các phương tiện vận tải (ô tô, máy bay, tàu hoả, tàu thuỷ,…) vì
mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận và nhanh chóng hoàn trả vốn đầu tư. Mức độ cạnh tranh trên thị trường dịch vụ vận tải
sẽ quyết định giá cả, tính đa dạng và chất lượng dịch vụ của từng loại hình vận chuyển hàng hoá. Đơn vị vận tải phải
đạt được tính chuyên nghiệp cao trong việc nhận biết nhu cầu của người gửi và người nhận, hỗ trợ ra quyết định về
phương án và lộ trình vận chuyển tối ưu, quản lí tốt nguồn lực và nâng cao hiệu quả chuyên trở hàng hoá.
Đơn vị vận tải và người gửi hàng phải trao đổi kĩ lưỡng với nhau về các phương án để nâng cao năng lực vận chuyển.
Trong đó cần rút ngắn thời gian vận chuyển bình quân, tăng hệ số sử dụng trọng tải của phương tiện, nâng cao hệ số lOMoAR cPSD| 59054137
sử dụng phương tiện theo thời gian, nâng cao hệ số sử dụng quãng đường xe chạy có hàng, tăng vòng quay của xe, cải
tiến thủ tục giấy tờ và lề lối làm việc, v.v.
-Chính phủ: thường là người đầu tư và quản lí hệ thống hạ tầng cơ sở giao thông cho con đường vận chuyển (đường
sắt, đường bộ, đường ống) và các điểm dừng đỗ phương tiện vận chuyển (sân bay, bến cảng, bến xe, nhà ga, trạm bơm
và kiểm soát,…). Với mục tiêu phục vụ phát triển kinh tế-xã hội quốc gia và hội nhập kinh tế thế giới, chính phủ xây
dựng và qui hoạch các chiến lược giao thông dài hạn cùng các chính sách và luật lệ nhằm cân đối tổng thể và hài hoà
giữa các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường.
Dịch vụ vận chuyển hàng hoá có nhiều ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế quốc dân, môi trường xã hội, môi trường
sinh thái và chất lượng cuộc sống của cộng đồng, bởi vậy chính quyền thường can thiệp và kiểm soát ở nhiều mức độ
khác nhau. Sự can thiệp của chính phủ thể hiện dưới nhiều hình thức trực tiếp và gián tiếp như: luật và các văn bản
dưới luật; chính sách khuyến khích hoặc giới hạn quyền sở hữu các phương tiện vận tải; giới hạn hoặc mở rộng thị
trường; qui định giá; hỗ trợ phát triển ngành GTVT, v.v.
Chính sách đổi mới kinh tế của Việt Nam từ 1986 đến nay đã có tác động rất lớn đến sự phát triển của ngành GTVT.
Có sự thay đổi cơ bản về cơ cấu hàng hoá vận chuyển giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân theo xu hướng khu
vực kinh tế vận tải tư nhân ngày càng phát triển. Mặc dù còn rất nhiều hạn chế, nhưng ngành GTVT nói chung và vận
chuyển hàng hoá nói riêng đang phát triển theo hướng tích cực, góp phần quan trọng trong công cuộc công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
-Công chúng: Là thành phần rất quan tâm đến hoạt động vận chuyển hàng hoá nói riêng và giao thông vận tải nói
chung vì vận chuyển liên quan đến chi phí, môi trường và an toàn xã hội. Công chúng tạo nên dư luận xã hội và gây
sức ép để chính phủ và chính quyền các cấp ra các quyết định vì mục tiêu an sinh của địa phương và quốc gia. 2.3
Phân loại phg thức vận tải
- Vận tải đg bộ: Ưu điểm
+Ưu điểm lớn nhất của vận tải đường bộ chính là sự linh hoạt trong quá trình vận chuyển. Vận chuyển theo phương
thức đường bộ thì bạn sẽ không bị phụ thuộc và giờ giấc và lịch trình cố định. Thời gian giao hàng và địa điểm giao
có thể thương lượng được giữa bên mua và bên bán.
+Bạn có thể tự lựa chọn phương tiện vận chuyển, tuyến đường vận chuyển hoặc số lượng hàng hóa vận chuyển theo
yêu cầu. Hàng hóa được vận chuyển bằng đường bộ đa phần sẽ tiết kiệm thời gian hơn so với các phương thức vận chuyển khác.
+Vận chuyển hàng hóa theo đường bộ sẽ rất hiệu quả ở cự li vận chuyển ngắn và trung bình.
+Trong quá trình vận chuyển, hàng hóa sẽ không đi qua bất kì trung gian vận chuyển nào. Vậy nên sẽ không có trường
hợp bốc dỡ hàng hóa gây độn chi phí. Nhược điểm
+Đối với phương thức vận chuyển đường bộ, bạn sẽ tổn thêm chi phí trả tại các trạm thu phí đường dài.
+Vẫn tiềm ẩn nguy cơ tắc đường, tai nạn giao thông trong quá trình vận chuyển
+Không vận chuyển được hàng hóa cỡ lớn +Phụ
thuộc khá nhiều vào yếu tố thời tiết.
-Vận tải đường sắt: Ưu điểm lOMoAR cPSD| 59054137
+Giá cước rẻ hơn so với các loại hình vận chuyển theo đường bộ. Khối lượng cũng như kích thước hàng hóa vận
chuyển bằng đường sắt sẽ lớn hơn.
+Giá cước vận tải đường sẵn không bị điều chỉnh khi giá xăng dầu biến động.
+Hàng hóa được bảo đảm an toàn trong quá trình di chuyển. Từng loại hàng hóa sẽ được xếp vào từng toa hàng khác
nhau như toa hàng lạnh, toa siêu trường siêu trọng...
+Hàng hóa trong quá trình vận chuyển ít bị ảnh hưởng bởi yếu tố thời tiết
Nhược điểm :Phương thức vận tải đường sắt chỉ hoạt động trên những tuyến được ray có sẵn.
Vậy nên hàng hóa vẫn phải kết hợp với phương thức vận tải khác (thông thường là đường bộ) để vận chuyển hàng
hóa đến tay người mua hàng
-Vận tải đg thủy :ưu điểm
+Có thể vận chuyển hàng hóa với khối lượng cực lớn. Tổng lượng hàng mà tàu biển có thể vận chuyển gấp hàng trăm
đến hàng nghìn lần so với cá phương thức vận chuyển khác
+Chi phí vận chuyển thấp do khối lượng hàng vận chuyển rất lớn. Đó là lý do tại sao đây là phương thức vận tải được
ưu tiên sử dụng để vận chuyển hàng hóa giữa các quốc gia
+Thúc đẩy giao lưu kinh tế giữa các nước, bởi tàu chở hàng muốn vận chuyển hàng đến quốc gia nào đó cần phải
được sự cho phép trên vùng biển của họ. Nhược điểm
+Thời gian giao hàng chậm, hàng hóa sau khi được giao đến cần phải kết hợp với các phương thức vận tải khác để
hàng hóa đến tay người mua.
+Hàng hóa khi lưu thông trên biển sẽ gặp rủi ro về cướp biển và những vùng biển nóng, liên quan đến chính trị.
-Vận tải đường hàng không : Ưu điểm
Thời gian vận chuyển nhanh nhất trong các phương thức vận chuyển hàng hóa ngày nay.
Đảm bảo an toàn trong quá trình vận chuyển hàng hóa do tỉ lệ tai nạn máy bay rất thấp. Nhược điểm
Cước phí vận tải rất cao. đặc biệt là các tuyến vận tải quốc tế.
Hạn chế về khối lượng khi vận chuyển hàng hóa. Những loại hàng hóa có kích cỡ lớn thường sẽ không được vận
chuyển bằng đường hàng không.
Thủ tục vận chuyển phức tạp, đóng gói hàng hóa luôn được chú trọng hàng đầu khi vận chuyển hàng bằng đường hàng không. Vận tải đường ống
Đây là hình thức vận tải đặc thù, sử dụng các đường ống lớn nối liền từ quốc gia này sang quốc gia khác. Ưu điểm
của phương phúc vận tải này là tốc độ cao, ít bị ảnh hưởng bởi yếu tố bên ngoài.Tuy nhiên vận tải đường ống ngày
nay chỉ sử dụng cho các sản phẩm như dầu thô, khí đốt tự nhiên. Những mặt hàng này sử dụng vận chuyển đường ống
là tốt nhất bởi vì nó sẽ bảo đảm an toàn cho các loại dầu khí cũng như không bị thất thoát trong quá trình vận
chuyển.Tuy nhiên với loại hình vận chuyển này bạn sẽ phải xây dựng thêm các trạm bơm ở các đầu ống. Rất tốn kém chi phí.
Chương 3 Kho bãi và kiểm soát .Tồn kho trog lg lOMoAR cPSD| 59054137
3.1 Khái niệm,phân loại,mô hình của qtri dự trữ lOMoAR cPSD| 59054137
Kho bãi là 1 bộ phận của hệ thống log,là nơi cất giữu nguyên nhiên vật liệu , bán thành phẩm,thành phẩm...trong suốt
quá trình chu chuyển từ điểm đầu đến điểm cuối của dây chuyền cung ứng ,,đồng thời cung cấp các thông tin về tình
trạng,đk lưu giữ và vị trí của các hàng hóa đc lưu kho
Quản trị kho bãi trong lg tốt giúp doanh nghiệp -
Giảm thiểu chi phí sx,vận chuyển ,phân phối hàng hóa . -
Chủ động trong việc sắp xếp ,vận chuyển các lô hàng có cùng kích thức , cùng lộ trình vận tải , từ đó giúp
giảm giá thanhf trên mỗi đơn vị sp -
Duy trì nguồn cung ổn định,sẵn sàng giao bất kì lúc nào cho khách hàng có nhu cầu. -
Góp phần giúp giao hàng đúng tg,địa điểm. -
Tạo sự khác biệt,tăng vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp
Trung tâm phân phối DC-distribution center
Được định nghĩa như cơ sở mà ở đó các đơn hàng bán buôn và bán lẻ đc hoàn thiện và thuật ngữ này để mô
tả hđ vs 1 tốc độ cao , trái ngược với 1 kho lưu trữ tĩnh thông thường . Chức năng chính của DC
-Nếu như nhà kho là nơi chứa tất cả các loại sp thì ttam pphoi chỉ duy trì mức dự trữ tối thiểu và chỉ tập trung
cho những mặt hàng có nhu cầu lớn
-hầu hết hàng hóa khi qa các kho đều qa 4 khâu : nhập kho , lưu trữ ,chọn lọc,phân loại và xuất kho –giao
hàng.còn hàng đi qa các ttam phân phối thường qa 2 khâu nhập hàng và xuất hàng-lưu chuyển. -
Nhà kho chú trọng vào việc bảo quản dự trữ ..thì ttam phân phối là nơi tổ chức tốt các dvu giá trị tăng nhưphân
loại , bao gói,dán nhãn ,ghi ký mã hiệu,lắp ráp đồng bộ,hoàn thiện sp theo yc của khách hàng. - Nhà kho tập
trung vào các pphap tối ưu hóa chi phí lưu trữ thì nhiệm vụ của ttam pphoi là cung cấp các dvu tốt nhất cho khách hàng. -
Ttam phân phối đc định hượng bởi cnghe .các ttam pphoi ngày nay phải có kvuc xử lí đơn hàng ,hệ thống qli
vận tải & qli kho hiện đại tiên tiến để thực hiện các hđ như : tiếp nhận hàng , quét mã vạch,xđ vị trí và lưu
trữ sp các sp 1 cách hqua ,bốc dỡ và bốc xếp , xử lí đơn hàng và lên kế hoạch xếp dở -
Về thông tin : nhà kho thu thập và cung cấp dữ liệu theo từng đợt còn các ttam phân phối thu nhập ,cập nhật
theo từng thời điểm . Vai trò của kho hàng -
Giusp các tổ chức tkiem đc cphi vận tải - Tiết kiệm cphi trog sx -
Tổ chức đc hưởng lợi từ các khoản giảm giá do mua slg lớn và mua theo hạn lOMoAR cPSD| 59054137 -
Giúp duy trì nguồn cung ứng ổn định -
Hỗ trợ cho chính sách dvu k.hàng của tổ chức -
Giúp vượt qa những khác biệt về ko gian&tgian giữa ng sx và ng tiu dùng -
Giúp thỏa mãn đc nhu cầu của k.hàng vs chi phí log thấp nhất -
Hỗ trợ cho các ctrinh JIT của các nhà cung cấp và của k.hàng -
Cung cấp cho k.hàng những sp đồng bộ,chứ k phải chỉ là những sp đơn lẻ,giúp phục vụ tốt những nhu cầu của k.hàng -
Giúp tổ chức có thể đương đầu vs những thay đổi của thị trg (do tính thời vụ , nhu cầu thay đổi ,cạnh tranh...) -
Kho là nơi tập hợp,lưu trữ các phế liệu,phế phẩm,các bộ phận,spham thừa ..trên cơ sở đó tiến hành phân loại
,xử lý,tái chế.kho là 1 bộ phận qtrong giúp hđ*log ngược*thực hiện thành công - Dòng logistics ngược -
Hoạt động logistics gắn liền với sự vận động của các dòng cung ứng vật chất, các dòng này phần lớn đều bắt
đầu từ sản xuất đi tới tiêu dùng. Quản trị logistics trong chuỗi cung cấp là để đảm bảo cho quá trình vận động
này liên tục và hiệu quả, vì vậy dòng logistics thuận chiều cũng được nhìn theo chiều của dòng các sản phẩm
từ sản xuất đến tiêu dùng.( From downstreams to upstreams) -
Trong thực tế, ở nhiều khâu của quá trình logistics thuận có thể xuất hiện những sản phẩm không đạt yêu cầu
cần phải hoàn trả lại, những sản phẩm hư hỏng, khiếm khuyết, đòi hỏi phải tái chế, bao bì dán nhãn lại, sản
phẩm lạc mốt, lỗi thời không tiêu thu được ( dead stocks), hoặc dòng khứ hồi của một số loại bao bì vận
chuyển. Từ đó dẫn đến yêu cầu phải tổ chức các hoạt động để đưa các đối tượng này về các điểm sửa chữa,
tái chế, thu hồi, tái sử dụng.. phát sinh một loạt các hoạt động logistics ngược (reverse logistics) để hỗ trợ
dòng vận động ngược này -
Logistics ngược là quá trình thu hồi các phụ phẩm, phế liệu, phế phẩm, các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường
phát sinh từ quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng trở về để tái chế hoặc xử lý bằng các giải pháp phù hợp. -
Về nguyên tắc, để đạt hiệu quả trong quản trị dòng logistics thuận các công ty cần kết hợp thực hiện các hoạt
động logistics ngược này nhằm tiết kiệm chi phí và tạo sự thông suốt cho dòng thuận. -
Thí dụ: Với các công ty kinh doanh nước giải khát sử dụng loại vỏ chai thủy tinh có số lần tái sử dụng lên
đến 7 lần thì việc thu hồi vỏ chai để đưa vào các vòng chu chuyển kế tiếp ảnh hưởng rất lớn đến không chỉ
chi phí bao bì và sản phẩm mà còn tác động trực tiếp đến quá trình thực hiện các đơn hàng cung cấp. Điều
này đòi hỏi nhà sản xuất cần tổ chức rất hợp lý quá trình thu hồi bao bì để tham gia kịp thời, bảo đảm phối
hợp nhịp nhàng với các chu trình sản xuất. -
Tuy nhiên các loại sản phẩm ít hư hỏng, có năng lực cạnh tranh cao, ít lỗi thời, không sử dụng bao bì tái sử
dụng.. lại không đòi hỏi quá nhiều về hoạt động này. Các doanh nghiệp loại này có thể phó thác cho một số
công ty chuyên làm công tác logistics ngược thực hiện để tập trung cho hoạt động chính yếu của mình -
Mối liên hệ của kho với các hoạt động logistics khác. lOMoAR cPSD| 59054137
-Mối liên hệ giữa kho với vận chuyển: Nhờ cả hai hệ thống kho ở đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất, doanh
nghiệp có thể tiết kiệm được chi phí vận tải. Người ta có thể lập những kho thu gom, tổng hợp hàng hóa gần nguồn
cung cấp, để tiết kiệm chi phí vận chuyển vật tư phục vụ đầu vào. Cụ thể, vật tư từ các nhà cung cấp, với từng lô hàng
nhỏ sẽ được vận chuyển bằng phương tiện vận tải nhỏ đến tập trung ở kho. Tại đó sẽ tiến hành gom thành các lô lớn,
rồi dùng phương tiện đủ lớn thích hợp để vận chuyển. Tương tự, có thể xây dựng những kho thành phẩm gần thị
trường tiêu thụ. Sản phẩm sẽ được tập trung ở các kho, tại đây chúng được phân thành những lô hàng phù hợp với yêu
cầu của khách hàng trên địa bàn kho được phân công phụ trách, rồi được vận chuyển bằng những phương tiện có trọng
tải thích hợp đến cho khách hàng. Như vậy, nhờ bố trí hệ thống kho hợp lý ta có thể tiết kiệm được chi phí vận chuyển.
-Mối liên hệ giữa kho với sản xuất: Giữa kho, chi phí quản lý kho và chi phí sản xuất có mối liên hệ rất mật thiết, đòi
hỏi phải quan tâm nghiên cứu để tìm ra lời giải tối ưu. Nếu nghiên cứu kỹ nhu cầu thị trường, bám sát những thay đổi
của thị trường, tổ chức sản xuất từng lô hàng nhỏ, thì sẽ không có hàng tồn kho. Nhờ đó chi phí quản lý kho sẽ giảm,
nhưng ngược lại chi phí sản xuất sẽ tăng, do phải thay đổi trang thiết bị cùng các yếu tố đầu vào khác. Nói chung, chi
phí sản xuất 1đơn vị sản phẩm luôn tỷ lệ nghịch với quy mô sản xuất. Chưa kể đến trường hợp, hàng không đủ đáp
ứng nhu cầu của khách hàng, khách sẽ chuyển sang mua sản phẩm khác có tính năng tương đương, mất khách là thiệt
hại lớn nhất đối với nhà cung cấp. Còn nếu sản xuất với quy mô quá lớn thì có thể dẫn đến tình trạng hàng không bán
hết, lượng hàng tồn kho lớn, quay vòng vốn chậm, làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của đơn vị.
-Mối quan hệ giữa kho với các dịch vụ khách hàng: Nhờ có các kho hàng dự trữ mới có thể đáp ứng kịp thời được nhu
cầu của khách. Con người không thể dự báo hết được những tìn huống bất trắc, chính vì vậy, để phục vụ khách hàng
tốt nhất thì cần có hệ thống kho để lưu trữ hàng hoá.
-Mối liên hệ giữa kho và tổng chi phí logistics: Chi phí quản lý kho và chi phí dự trữ có mối quan hệ chặt chẽ với các
khoản chi phí khác của hoạt động logistics, nên không thể tuỳ tiện tăng lên và cắt giảm. Cần xác định số lượng kho,
bố trí mạng lưới kho sao cho phục vụ khách hàng được tốt nhất với tổng chi phí log thấp nhất. Phân loại kho hàng
Phân loại theo đối tượng phục vụ
-Kho định hướng thị trường: Kho đáp ứng yêu cầu của khách hàng trên thị trường mục tiêu. Loại hình kho này còn
được gọi là kho phân phối hay kho cung ứng. Kho này có chức năng chủ yếu là dịch vụ khách hàng: tổng hợp các lô
hàng và cung ứng thoả mãn các nhu cầu của khách hàng. Về mặt địa lý, kho gần khách hàng để tập trung vận chuyển
lô hàng lớn, cự ly dài từ nhà máy kết hợp cung ứng lô hàng nhỏ từ kho cho khách hàng. Phạm vị hoạt động của kho
được căn cứ vào yêu cầu tốc độ cung ứng, qui mô đơn hàng trung bình, chi phí/đơn vị cung ứng.
-Kho định hướng nguồn hàng: Kho có vị trí ở các khu vực sản xuất, đáp ứng các yêu cầu cung cấp nguyên liệu, phụ
tùng, và các yếu tố đầu vào khác của các nhà sản xuất và do đó chức năng chủ yếu là thu nhận và tập trung vận chuyển,
tiếp tục quá trình sản xuất và dự trữ thời vụ.
Phân loại theo quyền sở hữu
-Kho riêng (private warehouse): thuộc quyền sở hữu và sử dụng của riêng từng doanh nghiệp (thương mại ) có quyền
sở hữu hàng hoá dự trữ và bảo quản tại kho. Loại hình kho này thích hợp với những doanh nghiệp có khả năng về
nguồn lực tài chính, đồng thời các loại hình kho khác không đáp ứng yêu cầu dự trữ, bảo quản hàng và cung ứng hoá
của doanh nghiệp (vị trí quá xa, điều kiện thiết kế và thiết bị không phù hợp).
Lợi ích chủ yếu của kho riêng là khả năng kiểm soát, tính linh hoạt nghiệp vụ, và các lợi ích vô hình khác. Tuy nhiên
nếu dùng kho riêng thì chi phí hệ thống logistics sẽ tăng, và tính linh hoạt về vị trí sẽ có thể không đạt điểm tối ưu khi
doanh nghiệp mở rộng thị trường mục tiêu.
-Kho công cộng (public warehouse): Khác với kho dùng riêng, kho công cộng hoạt động như một đơn vị kinh doanh
độc lập cung cấp một loạt các dịch vụ như dự trữ, bảo quản, và vận chuyển trên cơ sở tiền thù lao cố định hoặc biến
đổi. Kho công cộng cung cấp các dịch vụ tiêu chuẩn cho mọi khách hàng.