Chương 1: Một số vấn đề chung về logistics trong thương mại điện tử (TMĐT)
1.1. Lịch sử ra đời của logistics logistics trong TMĐT
1.1.1. Lịch sử ra đời của logistics
1.1.1.1. Nguồn gốc ra đời của logistics
Về mặt nguồn gốc, các hoạt động logistics đã xuất hiện từ rất sớm đồng hành
trong lịch sử phát triển của hội loài người, để lại nhiều dấu ấn quan trọng trong hoạt
động xây dựng giao thương.
- Thuật ngữ logistics được bắt đầu sử dụng từ thời chiến tranh cổ đại của các đế
chế La Hy Lạp với nhiệm vụ phân phối cung cấp khí nhu yếu phẩm, đảm
bảo điều kiện tốt nhất cho binh lính di chuyển an toàn từ bản doanh đến một nơi khác.
“Logistics hoạt động để duy trì lực lượng quân đội” Napoleon cũng từng nói: “Kẻ
nghiệp bàn về chiến thuật, người chuyên nghiệp bàn về Logistics”.
- Trải qua quá trình phát triển, logistics trong thuật ngữ quân sự được hiểu quản
quá trình vận chuyển, triển khai quân sự cung ứng logistics phát triển mạnh mẽ
trong thế chiến thứ 2. Đặc biệt cuộc đổ bộ thành công của quân đồng minh vào vùng
Normandie tháng 6/1944 sự góp phần quan trọng của công tác Logistics bởi logistics
được các quốc gia ứng dụng di chuyển lực lượng lớn khí đảm bảo hậu cần cho lực
lượng tham chiến.
- Trong lịch sử Việt Nam, hai người đầu tiên ứng dụng thành công Logistics trong
hoạt động quân sự chính là:
+ Vua Quang Trung - Nguyễn Huệ trong cuộc hành quân thần tốc ra miền Bắc đại
phá quân Thanh (1789).
+ Đại tướng Nguyên Giáp trong chiến dịch Điện Biên Phủ (1954).
+ Chiến dịch giải phóng miền Nam thống nhất đất nước - trên tuyến đường mòn
Hồ Chí Minh lịch sử.
1.1.1.2. Các giai đoạn phát triển
- Theo Ủy ban Kinh tế hội Châu Á - Thái Bình Dương ESCAP, logistics bao
gồm 3 giai đoạn phát triển:
+ Giai đoạn 1 (những năm 50, 70 của thế kỷ 20): Phân phối vật chất: hay còn gọi
kho, đóng gói,..
+ Giai đoạn 2 (những năm 80, 90) Hệ thống logistics: sự kết hợp cả 2 mặt đầu vào
(cung ứng vật tư) đầu ra (phân phối vật chất). Đối với một số công ty, hoạt động này
thể quan trọng hơn hoạt động kia nhưng đối với một số công ty khác thì hai hoạt động
thể vai trò như nhau (phụ thuộc vào tính chất của ngành công nghiệp hoạt động
chính của công ty đó).
+ Giai đoạn 3: Quản trị dây chuyền cung ứng: giai đoạn phát triển cao nhất của
logistics, đòi hỏi nhà quản trị phải hiểu quản được chuỗi các hoạt động trên, giám
việc phát triển các quan hệ đối tác, kết hợp chặt chẽ giữa người cung cấp, người tiêu dùng
các bên liên quan.
1.1.2. Logistics trong TMĐT
1.1.2.1. Khái niệm TMĐT
Hiện nay, TMĐT (E-commerce hay Electronic Commerce) được hiểu theo 2 cách chủ
yếu sau:
- Theo nghĩa hẹp:
hóa dịch vụ được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử. Theo đó, TMĐT các
mua bán hàng hóa dịch vụ, các giao dịch thể diễn ra giữa doanh nghiệp với doanh
nghiệp (B2B) hoặc giữa doanh nghiệp với khách hàng nhân (B2C) hoặc giữa các
nhân với nhau (C2C).
=> Từ khái niệm này, thì thương mại điện tử được hiểu đơn giản sự mua bán sản phẩm
hay dịch vụ trên các hệ thống điện tử như Internet các mạng máy tính.
- Theo nghĩa rộng:
+ Theo UNCITRAL, 1996: Thương mại điện tử việc trao đổi thông tin thương mại
thông qua các phương tiện điện tử, không cần phải in ra giấy bất cứ công đoạn nào của
toàn bộ quá trình giao dịch.
TMĐT gián tiếp (trao đổi hàng hóa hữu hình) TMĐT trực tiếp (trao đổi hàng hóa
hình).
+ Theo UNCTAD, 2005, nhìn từ góc độ doanh nghiệp, TMĐT việc thực hiện một phần
hay toàn bộ hoạt động kinh doanh bao gồm marketing, bán hàng, phân phối thanh toán
thông qua các phương tiện điện tử.
=> TMĐT luôn được hiểu hoạt động xảy ra trong môi trường kinh doanh mạng
nhau thông qua các công cụ, kỹ thuật các công nghệ điện tử.
1.1.2.2. Các hình TMĐT
Hiện nay, nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại hình TMĐT. Tuy nhiên,
cách phân loại phổ biến nhất theo đối tượng tham gia. Theo đó, 3 chủ thể chính
tham gia bao gồm Chính phủ (G), doanh nghiệp (B) khách hàng nhân ( C).
hình TMĐT phổ biến nhất B2B, B2C C2C, B2G, G2C.
Thứ nhất, B2B (Business-to-Business) - TMĐT giữa doanh nghiệp với doanh
tổ chức với nhau, thể bao gồm: mua sắm nguyên liệu, sản xuất, phân phối, tồn kho
thanh toán. Trong hình B2B, doanh nghiệp thể thực hiện giao dịch với các doanh
nghiệp khác với thời gian ít hơn thể cải thiện hiệu quả cũng như năng suất
Ưu điểm: Giảm chi phí nghiên cứu thị trường, marketing, đàm phán. Tăng cường các
hội kinh doanh.
mua sắm điện tử trong đó một công ty đại mua thể mua từ các nhà cung cấp thông
qua một đơn hàng cung cấp hoặc đấu thầu để mua hàng hóa, dịch vụ một mức giá mong
muốn. Sự phát triển cao của hình B2B thể hiện qua các giao dịch thương mại thể
diễn ra một cách tự động như Alibaba.
Thứ hai, B2C (Business-to-Customer) - TMĐT giữa doanh nghiệp với người
tiêu dùng nhân: Các doanh nghiệp sử dụng các phương tiện điện tử để bán sản phẩm
dịch vụ tới người tiêu dùng, người tiêu dùng thông qua các phương tiện điện tử để lựa
chọn, mặc cả, đặt hàng, thanh toán nhận hàng. Do đó, hình B2C còn được gọi
hình bán lẻ trực tuyến (e-tailing).
dụ: Các doanh nghiệp thiết lập các trang bán lẻ qua mạng như Necx, Amazon,... theo
khách hàng, tiến hành các quy trình tiếp thị, quảng cáo phân phối trực tiếp dịch vụ
sau bán hàng trực tuyến tới người tiêu dùng.
Thứ ba, C2C (Customer-to-Customer) - TMĐT giữa người dùng nhân với
người dùng nhân: hình TMĐT giữa các nhân với nhau trong đó, các nhân
tham gia với vai trò người mua hoặc người bán.
dụ: Thực hiện đấu giá mua bán các hàng hóa trên các trang web như eBay nơi người
gửi nhận tiền trực tuyến một cách dễ dàng. Các nhân mở các tài khoản nhân trên
các trang mạng hội như Facebook, Twitter,... để giao tiếp kết hợp quảng mua bán
sản phẩm, hàng hóa cung ứng dịch vụ.
Thứ tư, B2G (Business-to-Government) - TMĐT giữa doanh nghiệp quan
nhà nước: trong hình này, Nhà nước đóng vai trò như khách hàng quá trình trao
đổi thông tin được tiến hành qua các phương tiện điện tử.
dụ: đấu thầu điện tử, mua bán trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc, trao đổi thông
tin cũng được tiến hành qua các phương tiện điện tử.
Thứ năm, G2C (Government-to-Customer) - TMĐT giữa quan nhà nước
quan nhà nước nhân nhưng vẫn thể mang những yếu tố của TMĐT như các hoạt
động đóng thuế nhân qua môi trường mạng,…
dụ: các hoạt động cung cấp dịch vụ công tại ủy ban nhân dân trực tuyến các
nhân phải trả lệ phí hoặc phí như phí đăng hồ hoặc đối với các quan thuế thì
nhân đóng thuế thu nhập nhân, thuế tài sản qua thanh toán điện tử.
1.2. Khái niệm đặc điểm của logistics phục vụ TMĐT
1.2.1. Khái niệm logistics trong TMĐT
Khái niệm Logistics trong TMĐT hay còn gọi e-logistics
1.2.2. Đặc điểm của logistics trong TMĐT
- Quy đơn hàng nhỏ nhưng tần suất giao hàng lớn độ phủ của dịch vụ rộng
khắp các tỉnh thành: đặc điểm này do khả năng bán hàng bao phủ rộng khắp twf đô
thị đến các vùng nông thôn miền núi nơi kết nối mạng Internet.
- Đáp ứng năng lực xử từ hàng trăm đến hàng triệu đơn hàng mỗi ngày: đặc điểm
này do tính năng thuận tiện với kho lưu trữ khổng lồ của ngành thương mại điện tử nên
logistics trong TMĐT thể đáp ứng năng lực xử khổng lồ mỗi ngày (Ví dụ: Amazon,
Alibaba,...)
- Tái cấu trúc các chuỗi cung ứng logistics: thương mại điện tử phát triển đã thúc
đẩy các công ty thương mại chuyển sang hoạt động đa kênh (omni-channel) để thể
giữa thương mại truyền thống thương mại điện tử mờ dần. Khi kinh doanh đa kênh trở
thành một phương thức thương mại mới thì việc giao hàng trong ngày trở thành tiêu chí
công ty thương mại truyền thống. Điều này thúc đẩy sự thích nghi của các hệ thống
logistics. dụ, Amazon đã tái cấu trúc hệ thống logistics từ các tổng kho thành những
trung tâm hoàn tất đơn hàng (FC - fulfillment centers) trung tâm phân phối (DC -
truyền thống hệ thống phân phối thương mại điện tử. Nhà bán lẻ khổng lồ này đang
khẩn trương tái cấu trúc các cửa hàng theo hướng gọn nhẹ hơn, thể thực hiện nhiều
chức năng của một trung tâm phân phối. Họ đang mở rộng những giải pháp để bổ sung
thêm nhiều tùy chọn về mua hàng cho khách hàng.
thông tin về hàng hóa kết nối giao dịch thông qua mọi thiết bị di động như máy tính
cầm tay, sách điện tử, điện thoại di động,…. Nhà bán lẻ thể liên hệ trực tiếp với khách
hàng, đồng thời đáp ứng mong muốn mua hàng của khách ngay lập tức, đồng thời tạo ưu
thế về giá chi phí từ việc sản xuất, lưu kho, phân phối mức chi phí thấp hơn.
1.3. Mối quan hệ giữa logistics TMĐT
- Mối quan hệ giữa logistics thương mại điện tử được thể hiện qua vai trò của
logistics trong thương mại điện tử
- Vai trò của logistics trong thương mại điện tử được thể hiện qua các khía cạnh sau:
+ Logistics sẽ hỗ trợ tối ưu hóa con đường dịch chuyển của hàng hóa dịch vụ từ
nhà cung cấp tới các khách hàng đặt hàng online, đảm bảo đúng đủ số lượng sản phẩm
theo yêu cầu.
+ Logistics sẽ hỗ trợ tối ưu hóa dòng thông tin giao nhận đơn hàng, theo dõi quá trình
chuyển dịch của hàng hóa chứng từ giữa người gửi người nhận.
+ Logistics cũng hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động phân phối trực tuyến. (Đây hình thức
phân phối không phụ thuộc vào thời gian địa điểm cung cấp, do khách hàng thể
truy cập các thông tin về hàng hóa kết nối giao dịch thông qua mọi thiết bị di động
khả năng truy cập Internet)
* Mở rộng: Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, bên cạnh đại dịch Covid-19 (một nhân tố
tác động mạnh vào TMĐT theo hướng đi lên - thương mại dần được toàn cầu hóa, công
nghệ cao ngày được phát triển, các hình TMĐT ngày càng phát triển đổi mới),
kinh tế số yếu tố quan trọng tác động đến mọi mặt của đời sống hội. kinh tế số
phát triển, các doanh nghiệp TMĐT không thể ảo hóa được các sản phẩm hữu hình, dòng
chảy sản phẩm vẫn phải chảy qua các kênh phân phối vật do đó hệ thống logistics
trong TMĐT đảm nhận vai trò quan trọng, giúp thực hiện các đơn hàng giúp doanh
nghiệp đạt được mục tiêu cuối cùng, giúp mang đến cho doanh nghiệp lợi thế cạnh tranh
trên thị trường.
1.4. Phân loại logistics trong TMĐT
1.4.1. Theo quá trình thực hiện
Theo quá trình thực hiện, thể phân biệt các loại hình logistics thương mại điện
tử thành:
- Logistics đầu vào (Inbound Logistics): bao gồm các hoạt động nhằm đảm mua
sắm, cung ứng trực tuyến một cách tối ưu (cả về vị trí, thời gian chi phí) các đầu vào
cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm: Mua nguyên liệu trực
tuyến (sản xuất ô tô, máy bay...); Đấu thầu trực tuyến để mua nguyên liệu; Kết nối ERP
giữa các công ty các nhà cung cấp; Chia sẻ thông tin nguyên liệu sản xuất cho nhà
cung cấp thông qua hình B2B.
- Logistics đâu ra (Outbound Logistics): bao gồm các hoạt động đảm bảo cung
dịch thương mại điện tử một cách tối ưu cả về vị trí, thời gian chi phí nhằm đáp ứng
các mục tiêu của doanh nghiệp, bao gồm các hoạt động chủ yếu: Quản trị đặt hàng trực
sản phẩm, hàng hóa mới thời hạn giao hàng; Quản trị quá trình thực hiện hợp đồng.
- Logistics ngược (Reverse logistics) dịch vụ sau bán hàng: quá trình thu hồi
từ quá trình sản xuất, phân phối tiêu dùng thể ảnh hưởng đến môi trường để xử
hoặc tái chế. Bên cạnh đó, dịch vụ sau bán hàng đối với khách hàng, bao gồm: Theo dõi
bán hàng trực tuyến; Hỗ trợ khách hàng trực tuyến; Quản trị quan hệ khách hàng trực
tuyến các trang web; Quản trị bán phụ kiện/hàng hóa thay thế định kỳ trực tuyến.
1.4.2. Theo phương thức khai thác hoạt động Logistics
- Logistics bên thứ nhất (1PL: First Party Logistics): Các công ty tự thực hiện các hoạt
thiết bị xếp dỡ các nguồn lực khác bao gồm cả con người để thực hiện các hoạt động
logistics của công ty.
- Logistics bên thứ hai (2PL: Second-party logistics : việc quản các hoạt động
logistics truyền thống, như: vận tải, thuê kho hàng, giao nhận… Công ty không sở hữu
hoặc không đủ phương tiện sở hạ tầng thì thể thuê các dịch vụ Logistics bên
thứ hai chuyên cung cấp phương tiện vận chuyển chuyên dụng hay dịch vụ bản trong
chuỗi logistics trên sở công ty tham gia trực tuyến vào hình B2B thông qua các
trang Web bán hàng sàn giao dịch vận tải đơn phương thức hay đa phương thức.
- Logistics bên thứ ba (3PL hoặc TPL: Third party logistics) hay còn được gọi
Logistics theo hợp đồng. Phương thức này nghĩa sử dụng các công ty bên ngoài
quá trình quản logistics hoặc chỉ một số hoạt động dịch vụ, hướng về khách hàng
linh hoạt hơn. 3PL quản thực hiện các hoạt động logistics phức hợp, như: quản
tích hợp các hoạt động của logistics thương mại điện tử. 3PL được xem một điểm
chức năng của logistics bên thứ ba trong suốt chuỗi phân phối để vươn tới thị trường toàn
cầu, với lợi thế chiến lược các mối quan hệ lâu bền thông qua các sàn giao dịch vận
tải, sàn giao dịch thương mại điện tử. Đây được coi như một liên minh chặt chẽ giữa một
doanh nghiệp nhà cung cấp dịch vụ logistics trong thương mại điện tử, không chỉ
nhằm thực hiện các hoạt động logistics còn chia sẻ thông tin, rủi ro các lợi ích theo
một hợp đồng dài hạn (thông thường trên 3 năm), dụ như: các công ty 3PL trong giao
hàng nhanh, chuyển phát nhanh.
- Logistics bên thứ (4PL hay FPL: Fourth party logistics) hay còn được gọi logistics
chuỗi phân phối. FPL một khái niệm phát triển trên nền tảng cùa TPL nhằm tạo ra sự
đáp ứng cho hoạt động logistics phức tạp. Trong hình thức FPL, công ty hoặc tổ chức đại
diện cung cấp dịch vụ logistics sẽ được ủy quyền của khách hàng với vai trò quản lý, tập
mại điện tử của khách hàng.
- Logistics bên thứ năm (5PL hay FPL: Fifth party logistics) hay còn gọi logistics dành
chuyên sâu trong thương mại điện tử. Trong đó, FPL quản điều phối hoạt động của
các hình thức 3PL, 4PL thông qua các giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin, công
nghệ truyền thông, mạng internet vào bên cung cầu trên thị trường dịch vụ giao hàng
(OMS: Order management system), Hệ thống quản kho hàng (WMS: Warehouse
management system) Hệ thống quản vận tải (TMS: Transportation management
quản các thành tựu của công nghiệp 4.0. Ba hệ thống này mối quan hệ chặt chẽ
với nhau trong một hệ thống thống nhất ứng dụng công nghệ thông tin internet mức
độ cao.
1.4.3. Theo hình kinh doanh TMĐT
- Logistics phục vụ các giao dịch thương mại điện tử giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp
(inbound logistics), logistics đầu ra (outbound logistics), logistics ngược (reverse
logistics) dịch vụ sau bán hàng trực tuyến.
- Logistics phục vụ các giao dịch thương mại điện tử giữa doanh nghiệp người tiêu
dùng (B2C). Trong đó, các hoạt động chủ yếu hỗ trợ trong chia tách, đóng gói, dán nhãn
hàng đối với các kiện hàng đơn hàng, kiểm tra chất lượng, vận chuyển, giao hàng
nhanh các kiện hàng tới người tiêu dùng cuối cùng đảm bảo các yêu cầu tối ưu về thời
gian giao hàng, đúng sản phẩm chất lượng hàng, đúng địa điểm đúng khách hàng
thanh toán điện tử.
- Logistics phục vụ các giao dịch thương mại điện tử giữa doanh nghiệp với quan quản
gói, lưu kho hàng, kiểm tra chất lượng, vận chuyển, giao nhận hàng từ doanh nghiệp đến
quan quản nhà nước.
- Logistics phục vụ giao dịch thương mại điện tử giữa khách hàng nhân với quan
quản nhà nước (C2G).
nghiệp (C2B).
1.4.4. Tính chuyên môn hóa của các doanh nghiệp Logistics
- Các công ty cung cấp dịch vụ vận tải trong thương mại điện tử: (1) Các công ty cung
vụ khai thác cảng cho các giao dịch điện tử; (4) Các công ty môi giới vận tải cho các giao
dịch điện tử.
- Các công ty cung cấp dịch vụ phân phối: bao gồm các công ty cung cấp dịch vụ kho bãi
phục vụ cho các giao dịch điện tử; Các công ty cung cấp dịch vụ phân phối, bán buôn bán
lẻ trong các giao dịch điện tử; Các công ty dịch vụ chia tách, đóng gói chuyển phát
nhanh cho các giao dịch điện tử.
tin chuyên cung cấp thiết bị phần mềm quản trong logistics; Các công ty viễn thông
chuyên cung cấp hạ tầng mạng di động, định vị GPS các phần mềm phục vụ
m-logistics (mobile logistics); Các công ty cung cấp giải pháp tài chính, bảo hiểm thông
qua phần mềm thanh toán trực tuyến; Các công ty cung cấp dịch vụ giáo dục đào tạo
về logistics thông qua giảng dạy trực tuyến.
1.4.5. Theo đối tượng hàng hóa
- Logistics phục vụ giao dịch thương mại điện tử đối với hàng tiêu dùng thời hạn sử
dụng ngắn (Fast Moving Consumer Goods Logistics): loại hình logistics áp dụng đối
với những mặt hàng này thì yêu cầu quan trọng nhất đảm bảo đúng thời gian giao hàng,
đúng sản phẩm chất lượng hàng.
- Logistics phục vụ giao dịch thương mại điện tử đối với ngành ôtô (Automotive
logistics): Đảm bảo sự liên kết, phối hợp nhịp nhàng giữa các nhà máy, bộ phận sản xuất,
các chi tiết, phụ tùng riêng lẻ sao cho thời điểm cuối của công đoạn này thời điểm đầu
của công đoạn tiếp theo. Một khâu đặc biệt quan trọng trong loại hình logistics này
dịch vụ sau bán hàng như: dự trữ phân phối phụ tùng thay thế.
- Ngoài ra, còn logistics phục vụ giao dịch thương mại điện tử đối với của nhiều ngành
khác, như: Logistics ngành hóa chất (Chemical logistics); Logistics hàng điện tử
(Electronic logistics); Logistics ngành dầu khí (Petroleum logistics); Logistics hàng
liệu sản xuất; Logistics hàng nông sản phẩm; Logistics hàng công nghiệp tiêu dùng...
- Ngoài các tiêu thức phân loại nói trên, các nhà nghiên cứu còn thể phân chia logistics
commerce logistics), Logistics thương mại điện tử quốc gia (National logistics and e
commerce) Logistics thương mại điện tử thành phố (City logistics and e commerce);
căn cứ vào phạm vi hoạt động kinh tế gồm: Logistics tổng thể Logistics chuyên ngành
hẹp.
Chương 2: Logistics trong thương mại điện tử
2.1. sở hạ tầng công nghệ thông tin
TMĐT những giao dịch thương mại được thực hiện chủ yếu thông qua máy tính
thông tin truyền thông không thể thiếu. Các yếu tố trong hạ tầng CNTT truyền
thông bao gồm:
- Ngành công nghiệp thiết bị ICT (máy tính, thiết bị mạng, ...). Đây các yếu tố
thuộc về “phần cứng” trong đầu cho TMĐT.
- Ngành công nghiệp phần mềm
- Ngành viễn thông (các hệ thống dịch vụ viễn thông cố định, di động,...)
- Internet các dịch vụ gia tăng dựa trên nền internet
- Bảo mật, an toàn an ninh mạng
Xây dựng hạ tầng CNTT truyền thông để TMĐT phát triển phải đạt được những mục
tiêu sau:
- Cho phép người dân các tổ chức, doanh nghiệp thể sử dụng các thiết bị
CNTT truyền thông như máy tính các thiết bị xử lý.
- Cho phép người dân các tổ chức, doanh nghiệp tiếp cận sử dụng dịch vụ
viễn thông bản internet với giá rẻ. Ngoài ra, mọi doanh nghiệp, cộng đồng
công dân đều được kết nối tiếp cận tới sở hạ tầng băng rộng mobile
- Thiết lập được các hệ thống mạng viễn thông cố định không dây mạnh. Nâng
cao năng lực đường truyền với hệ thống băng thông rộng, cho phép các tổ chức
doanh nghiệp thể sử dụng các dịch vụ chất lượng cao vào các ứng dụng TMĐT
của mình với chi phí chấp nhận được.
Ngoài việc đầu mới cho các thiết bị, việc nâng cấp các hệ thống thiết bị hiện thời
điều không thể thiếu, các ứng dụng TMĐT ngày càng phức tạp hơn, dung lượng dữ
liệu cần truyền tải ngày càng lớn hơn, do đó, yêu cầu về mặt thiết bị công nghệ cũng
cao hơn.
Khi xem xét hạ tầng kỹ thuật cho thương mại điện tử thì cần xem xét năm loại hình kỹ
thuật sau đây:
- Điện thoại: Số lượng chất lượng dịch vụ, các địa bàn phủ sóng.
- Ti vi: Truyền hình số lượng cũng như chất lượng các đài truyền hình.
- Thiết bị thanh toán điện tử: Các loại hình thanh toán điện tử, hệ thống kết nối,
năng lực thanh toán
- Mạng cục bộ mạng nội bộ doanh nghiệp (LAN & IntraNet)
- Internet Web site: Số lượng Website doanh nghiệp, chất lượng dịch vụ tốc độ
đường truyền công cộng, dụ đến 12/12/06 1.076.203.987 người sử dụng
Internet
2.2. sở hạ tầng pháp
Sự phát triển TMĐT trên thế giới đã làm thay đổi cách thức kinh doanh, giao dịch
một sở phát lý. Đồng thời hệ thống logistics trong TMĐT cũng được phát triển
chưa hệ thống pháp hoàn chỉnh.
2.2.1. Nguyên tắc bản
Việc xây dựng khuôn khổ pháp logistics trong TMĐT phải dựa trên 2 nguyên
tắc bản:
+ sở nền tảng của các khuôn khổ pháp điều chỉnh giao dịch thương mại, logistics
truyền thống.
+ Xóa bỏ các rào cản kiềm chế sự phát triển của logistics trong TMĐT.
2.2.2. sở pháp
+ Thừa nhận tính pháp của các văn bản điện tử, chữ điện tử các thiết chế pháp
lý, các quan pháp thích hợp cho việc xác thực, chứng nhận chữ điện tử chữ
số.
+ Bảo vệ về mặt pháp các thanh toán điện tử
+ Bảo vệ pháp đối với vấn đề sở hữu trí tuệ liên quan đến mọi hình thức giao dịch điện
tử
+ Bảo vệ mật riêng một cách thích đáng nhằm ngăn cản các mật đời bị đưa lên
mạng một cách phi pháp
+ Bảo vệ pháp với mạng thông tin, chống tội phạm thâm nhập với các mục đích bất
hợp pháp như thu thập tin mật, thay đổi thông tin trên các trang web,...
nên người mua không thể chạm vào, sờ vào nên các sản phẩm cần phải được tiêu chuẩn
hóa theo tiêu chuẩn quốc tế.
tuyên bố môi trường phi thuế quan khi được sử dụng để phân phối sản phẩm
hoặc dịch vụ. Nguyên tắc này thể được thiết lập nhanh chóng trước khi các nước đánh
thuế đó.
2.3. sở hạ tầng thanh toán
Trong số doanh nghiệp sở hữu website cung cấp dịch vụ TMĐT được khảo sát, khoảng
toán qua thẻ Visa, Master Card, 25% qua đơn vị thanh toán trung gian 10% tin nhắn
SMS. 45% website hỗ trợ dịch vụ giao hàng thu tiền sau (Cash on delivery - COD).
Hình thức chấp nhận thanh toán khi mua hàng trực tiếp tại công ty phổ biến, chiếm
75%. Trong khi đó, hình thức thanh toán bằng chuyển khoản vẫn được nhiều doanh
nghiệp triển khai với tỷ lệ 77%.
Nguồn: Báo cáo thương mại điện tử Việt Nam 2014
(34%), Bảo Kim (24%), One Pay (18%) Payoo (18%). Các cổng thanh toán trung gian
khác chiếm 18%, bao gồm Paypal, Smartlink, Fibo, VNPT ePay, Banknet….
Nguồn: Báo cáo thương mại điện tử Việt Nam 2014
2.4. sở hạ tầng logistics trong TMĐT
Để TMĐT thể phát huy hết tác dụng thì cần xây dựng một hệ thống logistics.
hay thuê ngoài hoặc liên kết kinh doanh.
Hệ thống sở hạ tầng logistics phục vụ cho TMĐT bao gồm: kho hàng, hệ thống
giao hàng, công nghệ ứng dụng trong logistics.
2.4. Kho hàng
Từng chi tiết hơn về phần kho hàng trong hệ thống sở hạ tầng logistics phục vụ cho
Thương mại Điện tử (TMĐT):
1. Vị trí thiết kế kho hàng:
- Vị trí của kho hàng rất quan trọng để đảm bảo hiệu quả trong việc phân phối hàng
hóa đến khách hàng. Kho hàng nên được đặt các vị trí chiến lược gần các khu
vực dân cư, khu công nghiệp, cảng biển hoặc sân bay để thuận tiện trong quá trình
vận chuyển.
- Thiết kế kho hàng cần phù hợp với quy tính chất của hoạt động TMĐT.
Việc sử dụng các kệ chứa hàng, hệ thống giá đỡ hệ thống lưu trữ thông minh sẽ
giúp tối ưu hóa không gian lưu trữ giảm thiểu thời gian tìm kiếm hàng hóa.
2. Quản hàng tồn kho:
- Quản hàng tồn kho một khía cạnh quan trọng trong hoạt động kho hàng. Hệ
thống quản kho (WMS) được sử dụng để theo dõi số lượng hàng tồn kho, quản
vị trí lưu trữ của từng mặt hàng đảm bảo các sản phẩm được lưu trữ một cách
hiệu quả.
- Theo dõi hàng tồn kho giúp giảm thiểu rủi ro mất mát, hỏng hoặc hàng tồn
không cần thiết. cũng giúp xác định lượng hàng tồn kho cần tái đặt hàng để
không bị thiếu hàng trong quá trình giao hàng.
3. Quy trình xử hàng hóa:
- Quy trình xử hàng hóa trong kho hàng bao gồm các hoạt động như nhận hàng từ
nhà cung cấp, kiểm tra chất lượng số lượng, đóng gói, lưu trữ chuẩn bị hàng
hóa cho việc giao hàng.
- Quy trình này cần được thực hiện một cách nhanh chóng chính xác để đảm bảo
hàng hóa được giao cho khách hàng kịp thời trong tình trạng tốt nhất.
4. Quản đơn hàng khách hàng:
- Hệ thống quản đơn hàng (OMS) liên kết quan trọng giữa kho hàng quá
trình đặt hàng của khách hàng. Khi khách hàng đặt hàng trực tuyến, OMS sẽ nhận
xử đơn hàng, kiểm tra tính khả dụng của hàng tồn kho trong kho lập kế
hoạch vận chuyển hàng hóa.
- Hệ thống này cũng giúp theo dõi tình trạng đơn hàng, từ lúc được xử đến khi
được giao hàng thành công, cung cấp thông tin cụ thể cho khách hàng về tình
trạng đơn hàng của họ.
5. An ninh kho hàng:
An ninh yếu tố quan trọng trong kho hàng, đặc biệt khi lưu trữ các mặt hàng
giá trị cao. Hệ thống an ninh như camera giám sát, hệ thống kiểm soát truy cập bảo vệ
an ninh giúp bảo vệ hàng hóa khỏi mất mát đảm bảo an toàn cho kho hàng.
Kho hàng một phần quan trọng trong hệ thống sở hạ tầng logistics phục vụ cho
TMĐT. Quản tối ưu hóa quy trình trong kho hàng giúp đảm bảo việc vận chuyển
giao nhận hàng hóa diễn ra hiệu quả, đáng tin cậy đáp ứng nhu cầu của khách hàng
một cách tốt nhất.
2.4.1. Chức năng vai trò của kho hàng
- Chức năng: Gom hàng, phối hợp hàng hóa, bảo quản lưu trữ.
- Vai trò:
+ Đảm bảo tính liên tục của quá trình phân phối hàng hóa
+ Giảm chi phí sản xuất vận chuyển
+ Nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng thông qua việc đảm bảo hàng hóa sẵn về số
lượng, chất lượng,...
2.4.2. Phân loại kho hàng
* Theo đối tượng phục vụ:
+ Kho định hướng thị trường
+ Kho định hướng nguồn hàng
* Theo đặc điểm kiến trúc:
+ Kho kín
+ Kho nửa kín
+ Kho lộ thiên (Bãi chứa hàng)
* Theo quyền sở hữu:
+ Kho riêng
+ Kho công cộng
+ Kho hợp đồng
* Theo điều kiện thiết kế, trang thiết bị
+ Kho thông thường
+ Kho đặc biệt (kho lạnh,...)
2.4.3. Hệ thống giao hàng
2.4.4. Công nghệ ứng dụng trong logistics
- Hệ thống Thông quan tự động (VNACCS): với tính năng tự động hóa cao, VNACCS
khác để thực hiện chế một cửa quốc gia.
- Định vị toàn cầu bằng vệ tinh (GPS): cùng với dịch vụ truyền thông di động gửi tin
trí xe chính xác, chống trộm cho ứng dụng thuê xe tự lái,...
- Truy xuất trực tuyến tình trạng hàng hóa (E-tracking/Tracking): giúp nhà cung cấp
dịch vụ hệ thống thông tin đảm bảo cung cấp dịch vụ hỗ trợ khách hàng gồm 2 chức
năng: truy xuất qua vận đơn hoặc số container, tình trạng hàng tồn kho,...
ty 3PL gồm: tiếp nhận yêu cầu, xử đơn hàng, quản hoạt động trong kho, quản dự
- hóa đơn,...
- Hệ thống quản vận tải (TMS): đảm bảo các vai trò chính sau: lựa chọn phương thức
trả hàng, xử yêu cầu trả hàng, hỗ trợ truy xuất tình trạng hàng, thanh toán cước phí.
- Hệ thống quản cảng/bến thủy (TOS): đại diện cho nhóm hệ thống quản cảng.
- Hệ thống quản nguồn lực doanh nghiệp (ERP): công cụ quản hữu hiệu của
các nhà sản xuất để quản toàn bộ hoạt động trong đó toàn bộ chuỗi cung ứng, gồm
có: quản bán hàng, kế hoạch sản xuất, mua hàng, dự trữ,...
- Sàn giao dịch logistics: nơi trao đổi dịch vụ hàng hóa như một dịch vụ trực tuyến
cho các nhà cung cấp dịch vụ logistics 3PL, các nhà giao nhận vận tải các công ty vận
tải, cho phép các công ty vận tải tìm kiếm trên sở dữ liệu về nhu cầu vận chuyển cần
được thực hiện quảng cáo khả năng của họ.
- Thực tế ảo: công nghệ tích hợp những thông tin vào như video, âm thanh, đồ họa,...
AR đang nhanh chóng trở thành công nghệ quan trọng, giúp kết nối thế giới thực ảo.
2.5. sở hạ tầng kinh tế - hội
sở hạ tầng kinh tế - hội phải được phát triển một cách đồng bộ cần lưu ý,
giải quyết một số vấn đề quan trọng:

Preview text:

Chương 1: Một số vấn đề chung về logistics trong thương mại điện tử (TMĐT)
1.1. Lịch sử ra đời của logistics và logistics trong TMĐT
1.1.1. Lịch sử ra đời của logistics
1.1.1.1. Nguồn gốc ra đời của logistics
Về mặt nguồn gốc, các hoạt động logistics đã xuất hiện từ rất sớm và đồng hành
trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, để lại nhiều dấu ấn quan trọng trong hoạt
động xây dựng và giao thương.
- Thuật ngữ logistics được bắt đầu sử dụng từ thời chiến tranh cổ đại của các đế
chế La Mã và Hy Lạp với nhiệm vụ phân phối và cung cấp vũ khí và nhu yếu phẩm, đảm
bảo điều kiện tốt nhất cho binh lính di chuyển an toàn từ bản doanh đến một nơi khác.
Người làm chức năng đó được gọi là “Logistikas”. Napoleon đã từng định nghĩa:
“Logistics là hoạt động để duy trì lực lượng quân đội” và Napoleon cũng từng nói: “Kẻ
nghiệp dư bàn về chiến thuật, người chuyên nghiệp bàn về Logistics”.
- Trải qua quá trình phát triển, logistics trong thuật ngữ quân sự được hiểu là quản
lý quá trình vận chuyển, triển khai quân sự cung ứng và logistics phát triển mạnh mẽ
trong thế chiến thứ 2. Đặc biệt cuộc đổ bộ thành công của quân đồng minh vào vùng
Normandie tháng 6/1944 có sự góp phần quan trọng của công tác Logistics bởi logistics
được các quốc gia ứng dụng di chuyển lực lượng lớn vũ khí và đảm bảo hậu cần cho lực lượng tham chiến.
- Trong lịch sử Việt Nam, hai người đầu tiên ứng dụng thành công Logistics trong
hoạt động quân sự chính là:
+ Vua Quang Trung - Nguyễn Huệ trong cuộc hành quân thần tốc ra miền Bắc đại phá quân Thanh (1789).
+ Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong chiến dịch Điện Biên Phủ (1954).
+ Chiến dịch giải phóng miền Nam thống nhất đất nước - trên tuyến đường mòn Hồ Chí Minh lịch sử.
1.1.1.2. Các giai đoạn phát triển
- Theo Ủy ban Kinh tế và Xã hội Châu Á - Thái Bình Dương ESCAP, logistics bao
gồm 3 giai đoạn phát triển:
+ Giai đoạn 1 (những năm 50, 70 của thế kỷ 20): Phân phối vật chất: hay còn gọi là
logistics đầu ra, bao gồm các hoạt động như: vận tải, phân phối, bảo quản hàng hóa tồn kho, đóng gói,..
+ Giai đoạn 2 (những năm 80, 90) Hệ thống logistics: là sự kết hợp cả 2 mặt đầu vào
(cung ứng vật tư) và đầu ra (phân phối vật chất). Đối với một số công ty, hoạt động này
có thể quan trọng hơn hoạt động kia nhưng đối với một số công ty khác thì hai hoạt động
có thể có vai trò như nhau (phụ thuộc vào tính chất của ngành công nghiệp và hoạt động chính của công ty đó).
+ Giai đoạn 3: Quản trị dây chuyền cung ứng: là giai đoạn phát triển cao nhất của
logistics, đòi hỏi nhà quản trị phải hiểu và quản lý được chuỗi các hoạt động trên, giám
sát và điều hành cả hệ thống để có thể tăng giá trị cho sản phẩm. Giai đoạn này coi trọng
việc phát triển các quan hệ đối tác, kết hợp chặt chẽ giữa người cung cấp, người tiêu dùng và các bên liên quan. 1.1.2. Logistics trong TMĐT 1.1.2.1. Khái niệm TMĐT
Hiện nay, TMĐT (E-commerce hay Electronic Commerce) được hiểu theo 2 cách chủ yếu sau: - Theo nghĩa hẹp:
+ Theo Nguyễn Văn Hồng, 2011: TMĐT được hiểu là các giao dịch thương mại về hàng
hóa và dịch vụ được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử. Theo đó, TMĐT là các
hoạt động mà các doanh nghiệp sử dụng các phương tiện điện tử và mạng Internet để
mua bán hàng hóa và dịch vụ, các giao dịch có thể diễn ra giữa doanh nghiệp với doanh
nghiệp (B2B) hoặc giữa doanh nghiệp với khách hàng cá nhân (B2C) hoặc giữa các cá nhân với nhau (C2C).
=> Từ khái niệm này, thì thương mại điện tử được hiểu đơn giản là sự mua bán sản phẩm
hay dịch vụ trên các hệ thống điện tử như Internet và các mạng máy tính. - Theo nghĩa rộng:
+ Theo UNCITRAL, 1996: Thương mại điện tử là việc trao đổi thông tin thương mại
thông qua các phương tiện điện tử, không cần phải in ra giấy bất cứ công đoạn nào của
toàn bộ quá trình giao dịch.
+ Theo Liên minh Châu Âu (EU), 2018, cho rằng: TMĐT bao gồm các giao dịch thương
mại thông qua các mạng viễn thông và sử dụng các phương tiện điện tử, bao gồm 2
TMĐT gián tiếp (trao đổi hàng hóa hữu hình) và TMĐT trực tiếp (trao đổi hàng hóa vô hình).
+ Theo UNCTAD, 2005, nhìn từ góc độ doanh nghiệp, TMĐT là việc thực hiện một phần
hay toàn bộ hoạt động kinh doanh bao gồm marketing, bán hàng, phân phối và thanh toán
thông qua các phương tiện điện tử.
=> TMĐT luôn được hiểu là hoạt động xảy ra trong môi trường kinh doanh mạng
Internet và các phương tiện điện tử giữa các nhóm (cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức) với
nhau thông qua các công cụ, kỹ thuật và các công nghệ điện tử. 1.1.2.2. Các mô hình TMĐT
Hiện nay, có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại mô hình TMĐT. Tuy nhiên,
cách phân loại phổ biến nhất là theo đối tượng tham gia. Theo đó, có 3 chủ thể chính
tham gia bao gồm Chính phủ (G), doanh nghiệp (B) và khách hàng cá nhân ( C).
Qua việc kết hợp các chủ thể với nhau sẽ tạo ra các mô hình TMĐT khác nhau. Một số
mô hình TMĐT phổ biến nhất là B2B, B2C và C2C, B2G, G2C.
Thứ nhất, B2B (Business-to-Business) - TMĐT giữa doanh nghiệp với doanh
nghiệp: là loại hình giao dịch kinh doanh qua phương tiện điện tử giữa các doanh nghiệp,
tổ chức với nhau, có thể bao gồm: mua sắm nguyên liệu, sản xuất, phân phối, tồn kho và
thanh toán. Trong mô hình B2B, doanh nghiệp có thể thực hiện giao dịch với các doanh
nghiệp khác với thời gian ít hơn và có thể cải thiện hiệu quả cũng như năng suất
Ưu điểm: Giảm chi phí nghiên cứu thị trường, marketing, đàm phán. Tăng cường các cơ hội kinh doanh.
Ví dụ: Một ví dụ mô hình thương mại điện tử B2B dưới hình thức thiết lập các trang web
mua sắm điện tử trong đó một công ty đại lý mua có thể mua từ các nhà cung cấp thông
qua một đơn hàng cung cấp hoặc đấu thầu để mua hàng hóa, dịch vụ ở một mức giá mong
muốn. Sự phát triển cao của mô hình B2B thể hiện qua các giao dịch thương mại có thể
diễn ra một cách tự động như Alibaba.
Thứ hai, B2C (Business-to-Customer) - TMĐT giữa doanh nghiệp với người
tiêu dùng cá nhân: Các doanh nghiệp sử dụng các phương tiện điện tử để bán sản phẩm
và dịch vụ tới người tiêu dùng, người tiêu dùng thông qua các phương tiện điện tử để lựa
chọn, mặc cả, đặt hàng, thanh toán và nhận hàng. Do đó, mô hình B2C còn được gọi là
mô hình bán lẻ trực tuyến (e-tailing).
Ví dụ: Các doanh nghiệp thiết lập các trang bán lẻ qua mạng như Necx, Amazon,... theo
đó, doanh nghiệp thường thiết lập website, hình thành cơ sở dữ liệu về hàng hóa, dịch vụ,
khách hàng, tiến hành các quy trình tiếp thị, quảng cáo và phân phối trực tiếp và dịch vụ
sau bán hàng trực tuyến tới người tiêu dùng.
Thứ ba, C2C (Customer-to-Customer) - TMĐT giữa người dùng cá nhân với
người dùng cá nhân: Mô hình TMĐT giữa các cá nhân với nhau trong đó, các cá nhân
tham gia với vai trò là người mua hoặc người bán.
Ví dụ: Thực hiện đấu giá mua bán các hàng hóa trên các trang web như eBay nơi người
tiêu dùng cá nhân có thể mua và bán bằng hệ thống thanh toán trực tuyến như Paypal cho
gửi và nhận tiền trực tuyến một cách dễ dàng. Các cá nhân mở các tài khoản cá nhân trên
các trang mạng xã hội như Facebook, Twitter,... để giao tiếp và kết hợp quảng bá mua bán
sản phẩm, hàng hóa và cung ứng dịch vụ.
Thứ tư, B2G (Business-to-Government) - TMĐT giữa doanh nghiệp và cơ quan
nhà nước: trong mô hình này, Nhà nước đóng vai trò như khách hàng và quá trình trao
đổi thông tin được tiến hành qua các phương tiện điện tử.
Ví dụ: đấu thầu điện tử, mua bán trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc, trao đổi thông
tin cũng được tiến hành qua các phương tiện điện tử.
Thứ năm, G2C (Government-to-Customer) - TMĐT giữa cơ quan nhà nước và
cá nhân: mô hình này chủ yếu đề cập đến những giao dịch mang tính hành chính giữa cơ
quan nhà nước và cá nhân nhưng vẫn có thể mang những yếu tố của TMĐT như các hoạt
động đóng thuế cá nhân qua môi trường mạng,…
Ví dụ: các hoạt động cung cấp dịch vụ công tại ủy ban nhân dân trực tuyến và các cá
nhân phải trả lệ phí hoặc phí như phí đăng ký hồ sơ hoặc đối với các cơ quan thuế thì cá
nhân đóng thuế thu nhập cá nhân, thuế tài sản qua thanh toán điện tử.
1.2. Khái niệm và đặc điểm của logistics phục vụ TMĐT
1.2.1. Khái niệm logistics trong TMĐT
Khái niệm Logistics trong TMĐT hay còn gọi là e-logistics
1.2.2. Đặc điểm của logistics trong TMĐT
- Quy mô đơn hàng nhỏ nhưng tần suất giao hàng lớn và độ phủ của dịch vụ rộng
khắp các tỉnh thành: đặc điểm này là do khả năng bán hàng bao phủ rộng khắp twf đô
thị đến các vùng nông thôn và miền núi nơi có kết nối mạng Internet.
- Đáp ứng năng lực xử lý từ hàng trăm đến hàng triệu đơn hàng mỗi ngày: đặc điểm
này là do tính năng thuận tiện với kho lưu trữ khổng lồ của ngành thương mại điện tử nên
logistics trong TMĐT có thể đáp ứng năng lực xử lý khổng lồ mỗi ngày (Ví dụ: Amazon, Alibaba,...)
- Tái cấu trúc các chuỗi cung ứng và logistics: thương mại điện tử phát triển đã thúc
đẩy các công ty thương mại chuyển sang hoạt động đa kênh (omni-channel) để có thể
hiện diện mọi nơi mọi lúc trên các thiết bị mà người tiêu dùng đang sử dụng. Ranh giới
giữa thương mại truyền thống và thương mại điện tử mờ dần. Khi kinh doanh đa kênh trở
thành một phương thức thương mại mới thì việc giao hàng trong ngày trở thành tiêu chí
về chất lượng dịch vụ của các công ty bán lẻ, bất kể đó là công ty thương mại điện tử hay
công ty thương mại truyền thống. Điều này thúc đẩy sự thích nghi của các hệ thống
logistics. Ví dụ, Amazon đã tái cấu trúc hệ thống logistics từ các tổng kho thành những
trung tâm hoàn tất đơn hàng (FC - fulfillment centers) và trung tâm phân phối (DC -
distribution centre). Target đang nỗ lực xóa dần ranh giới giữa các cửa hàng bách hóa
truyền thống và hệ thống phân phối thương mại điện tử. Nhà bán lẻ khổng lồ này đang
khẩn trương tái cấu trúc các cửa hàng theo hướng gọn nhẹ hơn, và có thể thực hiện nhiều
chức năng của một trung tâm phân phối. Họ đang mở rộng những giải pháp để bổ sung
thêm nhiều tùy chọn về mua hàng cho khách hàng.
- Không phụ thuộc vào thời gian, địa điểm cung cấp: khách hàng có thể truy cập các
thông tin về hàng hóa và kết nối giao dịch thông qua mọi thiết bị di động như máy tính
cầm tay, sách điện tử, điện thoại di động,…. Nhà bán lẻ có thể liên hệ trực tiếp với khách
hàng, đồng thời đáp ứng mong muốn mua hàng của khách ngay lập tức, đồng thời tạo ưu
thế về giá và chi phí từ việc sản xuất, lưu kho, và phân phối ở mức chi phí thấp hơn.
1.3. Mối quan hệ giữa logistics và TMĐT
- Mối quan hệ giữa logistics và thương mại điện tử được thể hiện qua vai trò của
logistics trong thương mại điện tử
- Vai trò của logistics trong thương mại điện tử được thể hiện qua các khía cạnh sau:
+ Logistics sẽ hỗ trợ và tối ưu hóa con đường dịch chuyển của hàng hóa và dịch vụ từ
nhà cung cấp tới các khách hàng đặt hàng online, đảm bảo đúng và đủ số lượng sản phẩm theo yêu cầu.
+ Logistics sẽ hỗ trợ và tối ưu hóa dòng thông tin giao nhận đơn hàng, theo dõi quá trình
chuyển dịch của hàng hóa và chứng từ giữa người gửi và người nhận.
+ Logistics cũng hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động phân phối trực tuyến. (Đây là hình thức
phân phối không phụ thuộc vào thời gian và địa điểm cung cấp, do khách hàng có thể
truy cập các thông tin về hàng hóa và kết nối giao dịch thông qua mọi thiết bị di động có
khả năng truy cập Internet)
* Mở rộng: Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, bên cạnh đại dịch Covid-19 (một nhân tố
tác động mạnh vào TMĐT theo hướng đi lên - thương mại dần được toàn cầu hóa, công
nghệ cao ngày được phát triển, các mô hình TMĐT ngày càng phát triển và đổi mới),
kinh tế số là yếu tố quan trọng tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội. Dù kinh tế số
phát triển, các doanh nghiệp TMĐT không thể ảo hóa được các sản phẩm hữu hình, dòng
chảy sản phẩm vẫn phải chảy qua các kênh phân phối vật lý do đó hệ thống logistics
trong TMĐT đảm nhận vai trò quan trọng, giúp thực hiện các đơn hàng và giúp doanh
nghiệp đạt được mục tiêu cuối cùng, giúp mang đến cho doanh nghiệp lợi thế cạnh tranh trên thị trường.
1.4. Phân loại logistics trong TMĐT
1.4.1. Theo quá trình thực hiện
Theo quá trình thực hiện, có thể phân biệt các loại hình logistics thương mại điện tử thành:
- Logistics đầu vào (Inbound Logistics): bao gồm các hoạt động nhằm đảm mua
sắm, cung ứng trực tuyến một cách tối ưu (cả về vị trí, thời gian và chi phí) các đầu vào
cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm: Mua nguyên liệu trực
tuyến (sản xuất ô tô, máy bay...); Đấu thầu trực tuyến để mua nguyên liệu; Kết nối ERP
giữa các công ty và các nhà cung cấp; Chia sẻ thông tin nguyên liệu sản xuất cho nhà
cung cấp thông qua mô hình B2B.
- Logistics đâu ra (Outbound Logistics): bao gồm các hoạt động đảm bảo cung
ứng sản phẩm, hàng hóa đến tay khách hàng thông qua các trang web bán hàng, sàn giao
dịch thương mại điện tử một cách tối ưu cả về vị trí, thời gian và chi phí nhằm đáp ứng
các mục tiêu của doanh nghiệp, bao gồm các hoạt động chủ yếu: Quản trị đặt hàng trực
tuyến; Ký kết hợp đồng tự động qua mạng; Cho phép khách hàng truy xuất tới danh mục
sản phẩm, hàng hóa mới và thời hạn giao hàng; Quản trị quá trình thực hiện hợp đồng.
- Logistics ngược (Reverse logistics) và dịch vụ sau bán hàng: quá trình thu hồi
các hàng hóa bị trả lại, phế liệu, phế phẩm, phụ phẩm và tất cả các yếu tố khác phát sinh
từ quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng có thể ảnh hưởng đến môi trường để xử lý
hoặc tái chế. Bên cạnh đó, dịch vụ sau bán hàng đối với khách hàng, bao gồm: Theo dõi
bán hàng trực tuyến; Hỗ trợ khách hàng trực tuyến; Quản trị quan hệ khách hàng trực
tuyến các trang web; Quản trị bán phụ kiện/hàng hóa thay thế định kỳ trực tuyến.
1.4.2. Theo phương thức khai thác hoạt động Logistics
- Logistics bên thứ nhất (1PL: First Party Logistics): Các công ty tự thực hiện các hoạt
động logistics của chính công ty. Công ty sở hữu các phương tiện vận tải, nhà xưởng,
thiết bị xếp dỡ và các nguồn lực khác bao gồm cả con người để thực hiện các hoạt động logistics của công ty.
- Logistics bên thứ hai (2PL: Second-party logistics : Là việc quản lý các hoạt động
logistics truyền thống, như: vận tải, thuê kho hàng, giao nhận… Công ty không sở hữu
hoặc không có đủ phương tiện và cơ sở hạ tầng thì có thể thuê các dịch vụ Logistics bên
thứ hai chuyên cung cấp phương tiện vận chuyển chuyên dụng hay dịch vụ cơ bản trong
chuỗi logistics trên cơ sở công ty tham gia trực tuyến vào mô hình B2B thông qua các
trang Web bán hàng và sàn giao dịch vận tải đơn phương thức hay đa phương thức.
- Logistics bên thứ ba (3PL hoặc TPL: Third party logistics) hay còn được gọi là
Logistics theo hợp đồng. Phương thức này có nghĩa là sử dụng các công ty bên ngoài
(bên thứ ba) để thực hiện các hoạt động logistics thương mại điện tử, có thể là toàn bộ
quá trình quản lý logistics hoặc chỉ một số hoạt động dịch vụ, hướng về khách hàng và
linh hoạt hơn. 3PL quản lý và thực hiện các hoạt động logistics phức hợp, như: quản lý
trung tâm điều phối phương tiện vận tải, hàng hóa, kiểm soát và các chức năng kiến trúc
và tích hợp các hoạt động của logistics thương mại điện tử. 3PL được xem là một điểm
liên lạc duy nhất, nơi thực hiện việc quản lý, tổng hợp các nguồn lực và giám sát các
chức năng của logistics bên thứ ba trong suốt chuỗi phân phối để vươn tới thị trường toàn
cầu, với lợi thế chiến lược và các mối quan hệ lâu bền thông qua các sàn giao dịch vận
tải, sàn giao dịch thương mại điện tử. Đây được coi như một liên minh chặt chẽ giữa một
doanh nghiệp và nhà cung cấp dịch vụ logistics trong thương mại điện tử, nó không chỉ
nhằm thực hiện các hoạt động logistics mà còn chia sẻ thông tin, rủi ro và các lợi ích theo
một hợp đồng dài hạn (thông thường trên 3 năm), ví dụ như: các công ty 3PL trong giao
hàng nhanh, chuyển phát nhanh.
- Logistics bên thứ tư (4PL hay FPL: Fourth party logistics) hay còn được gọi là logistics
chuỗi phân phối. FPL là một khái niệm phát triển trên nền tảng cùa TPL nhằm tạo ra sự
đáp ứng cho hoạt động logistics phức tạp. Trong hình thức FPL, công ty hoặc tổ chức đại
diện cung cấp dịch vụ logistics sẽ được ủy quyền của khách hàng với vai trò quản lý, tập
trung cải tiến hiệu quả quy trình và thực hiện toàn bộ chuỗi cung ứng và logistics thương
mại điện tử của khách hàng.
- Logistics bên thứ năm (5PL hay FPL: Fifth party logistics) hay còn gọi là logistics dành
chuyên sâu trong thương mại điện tử. Trong đó, FPL quản lý và điều phối hoạt động của
các hình thức 3PL, 4PL thông qua các giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin, công
nghệ truyền thông, mạng internet vào bên cung và cầu trên thị trường dịch vụ giao hàng
thương mại điện tử. Đặc trưng cơ bản của hình thức 5PL là ứng dụng các hệ thống quản
lý điện tử và tự động trong các chức năng logistics: Hệ thống quản lý đơn hàng trực tuyến
(OMS: Order management system), Hệ thống quản lý kho hàng (WMS: Warehouse
management system) và Hệ thống quản lý vận tải (TMS: Transportation management
system). Đặc trưng của ba hệ thống này là kết nối internet và ứng dụng các phần mềm
quản lý và các thành tựu của công nghiệp 4.0. Ba hệ thống này có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau trong một hệ thống thống nhất ứng dụng công nghệ thông tin và internet ở mức độ cao.
1.4.3. Theo mô hình kinh doanh TMĐT
- Logistics phục vụ các giao dịch thương mại điện tử giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp
(B2B). Trong đó logistics tham gia trực tuyến vào các hoạt động logistics đầu vào
(inbound logistics), logistics đầu ra (outbound logistics), logistics ngược (reverse
logistics) và dịch vụ sau bán hàng trực tuyến.
- Logistics phục vụ các giao dịch thương mại điện tử giữa doanh nghiệp và người tiêu
dùng (B2C). Trong đó, các hoạt động chủ yếu hỗ trợ trong chia tách, đóng gói, dán nhãn
hàng đối với các kiện hàng và đơn hàng, kiểm tra chất lượng, vận chuyển, giao hàng
nhanh các kiện hàng tới người tiêu dùng cuối cùng đảm bảo các yêu cầu tối ưu về thời
gian giao hàng, đúng sản phẩm chất lượng hàng, đúng địa điểm và đúng khách hàng và thanh toán điện tử.
- Logistics phục vụ các giao dịch thương mại điện tử giữa doanh nghiệp với cơ quan quản
lý nhà nước (B2G). Trong đó cung cấp các dịch vụ logistics liên quan đến chia tách đóng
gói, lưu kho hàng, kiểm tra chất lượng, vận chuyển, giao nhận hàng từ doanh nghiệp đến
cơ quan quản lý nhà nước.
- Logistics phục vụ giao dịch thương mại điện tử giữa khách hàng cá nhân với cơ quan quản lý nhà nước (C2G).
- Logistics phục vụ giao dịch thương mại điện tử giữa khách hàng cá nhân với doanh nghiệp (C2B).
1.4.4. Tính chuyên môn hóa của các doanh nghiệp Logistics
- Các công ty cung cấp dịch vụ vận tải trong thương mại điện tử: (1) Các công ty cung
cấp dịch vụ vận tải đơn phương thức cho các giao dịch điện tử; (2) Các công ty cung cấp
dịch vụ vận tải đa phương thức cho các giao dịch điện tử; (3) Các công ty cung cấp dịch
vụ khai thác cảng cho các giao dịch điện tử; (4) Các công ty môi giới vận tải cho các giao dịch điện tử.
- Các công ty cung cấp dịch vụ phân phối: bao gồm các công ty cung cấp dịch vụ kho bãi
phục vụ cho các giao dịch điện tử; Các công ty cung cấp dịch vụ phân phối, bán buôn bán
lẻ trong các giao dịch điện tử; Các công ty dịch vụ chia tách, đóng gói và chuyển phát
nhanh cho các giao dịch điện tử.
- Các công ty cung cấp dịch vụ logistics chuyên ngành; gồm các công ty công nghệ thông
tin chuyên cung cấp thiết bị và phần mềm quản lý trong logistics; Các công ty viễn thông
chuyên cung cấp hạ tầng mạng di động, định vị GPS và các phần mềm phục vụ
m-logistics (mobile logistics); Các công ty cung cấp giải pháp tài chính, bảo hiểm thông
qua phần mềm thanh toán trực tuyến; Các công ty cung cấp dịch vụ giáo dục và đào tạo
về logistics thông qua giảng dạy trực tuyến.
1.4.5. Theo đối tượng hàng hóa
- Logistics phục vụ giao dịch thương mại điện tử đối với hàng tiêu dùng có thời hạn sử
dụng ngắn (Fast Moving Consumer Goods Logistics): Là loại hình logistics áp dụng đối
với những mặt hàng có thời hạn sử dụng ngắn, như: thực phẩm, quần áo, giày dép. Đối
với những mặt hàng này thì yêu cầu quan trọng nhất là đảm bảo đúng thời gian giao hàng,
đúng sản phẩm và chất lượng hàng.
- Logistics phục vụ giao dịch thương mại điện tử đối với ngành ôtô (Automotive
logistics): Đảm bảo sự liên kết, phối hợp nhịp nhàng giữa các nhà máy, bộ phận sản xuất,
các chi tiết, phụ tùng riêng lẻ sao cho thời điểm cuối của công đoạn này là thời điểm đầu
của công đoạn tiếp theo. Một khâu đặc biệt quan trọng trong loại hình logistics này là
dịch vụ sau bán hàng như: dự trữ và phân phối phụ tùng thay thế.
- Ngoài ra, còn có logistics phục vụ giao dịch thương mại điện tử đối với của nhiều ngành
khác, như: Logistics ngành hóa chất (Chemical logistics); Logistics hàng điện tử
(Electronic logistics); Logistics ngành dầu khí (Petroleum logistics); Logistics hàng tư
liệu sản xuất; Logistics hàng nông sản phẩm; Logistics hàng công nghiệp tiêu dùng...
- Ngoài các tiêu thức phân loại nói trên, các nhà nghiên cứu còn có thể phân chia logistics
thương mại điện tử dựa vào phạm vi không gian, gồm: Logistics toàn cầu (Global e
commerce logistics), Logistics thương mại điện tử quốc gia (National logistics and e
commerce) và Logistics thương mại điện tử thành phố (City logistics and e commerce);
căn cứ vào phạm vi hoạt động kinh tế gồm: Logistics tổng thể và Logistics chuyên ngành hẹp.
Chương 2: Logistics trong thương mại điện tử
2.1. Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin
TMĐT là những giao dịch thương mại được thực hiện chủ yếu thông qua máy tính và
mạng internet. Do đó, để TMĐT có thể phát triển được, yêu cầu về hạ tầng công nghệ
thông tin và truyền thông là không thể thiếu. Các yếu tố trong hạ tầng CNTT và truyền thông bao gồm:
- Ngành công nghiệp thiết bị ICT (máy tính, thiết bị mạng, ...). Đây là các yếu tố
thuộc về “phần cứng” trong đầu tư cho TMĐT.
- Ngành công nghiệp phần mềm
- Ngành viễn thông (các hệ thống dịch vụ viễn thông cố định, di động,...)
- Internet và các dịch vụ gia tăng dựa trên nền internet -
Bảo mật, an toàn và an ninh mạng
Xây dựng hạ tầng CNTT và truyền thông để TMĐT phát triển phải đạt được những mục tiêu sau:
- Cho phép người dân và các tổ chức, doanh nghiệp có thể sử dụng các thiết bị
CNTT và truyền thông như máy tính và các thiết bị xử lý.
- Cho phép người dân và các tổ chức, doanh nghiệp tiếp cận và sử dụng dịch vụ
viễn thông cơ bản và internet với giá rẻ. Ngoài ra, mọi doanh nghiệp, cộng đồng
và công dân đều được kết nối và tiếp cận tới cơ sở hạ tầng băng rộng và mobile -
Thiết lập được các hệ thống mạng viễn thông cố định và không dây mạnh. Nâng
cao năng lực đường truyền với hệ thống băng thông rộng, cho phép các tổ chức và
doanh nghiệp có thể sử dụng các dịch vụ chất lượng cao vào các ứng dụng TMĐT
của mình với chi phí chấp nhận được.
Ngoài việc đầu tư mới cho các thiết bị, việc nâng cấp các hệ thống thiết bị hiện thời là
điều không thể thiếu, vì các ứng dụng TMĐT ngày càng phức tạp hơn, dung lượng dữ
liệu cần truyền tải ngày càng lớn hơn, do đó, yêu cầu về mặt thiết bị và công nghệ cũng cao hơn.
Khi xem xét hạ tầng kỹ thuật cho thương mại điện tử thì cần xem xét năm loại hình kỹ thuật sau đây:
- Điện thoại: Số lượng và chất lượng dịch vụ, các địa bàn phủ sóng.
- Ti vi: Truyền hình và số lượng cũng như chất lượng các đài truyền hình.
- Thiết bị thanh toán điện tử: Các loại hình thanh toán điện tử, hệ thống kết nối, năng lực thanh toán
- Mạng cục bộ và mạng nội bộ doanh nghiệp (LAN & IntraNet)
- Internet và Web site: Số lượng Website doanh nghiệp, chất lượng dịch vụ và tốc độ
đường truyền công cộng, ví dụ đến 12/12/06 có 1.076.203.987 người sử dụng Internet
2.2. Cơ sở hạ tầng pháp lý
Sự phát triển TMĐT trên thế giới đã làm thay đổi cách thức kinh doanh, giao dịch
truyền thống và đem lại những lợi ích to lớn cho xã hội, nhưng cũng tiềm ẩn những rủi ro
trong quá trình giao dịch, kinh doanh trên môi trường mạng. Do vậy TMĐT đòi hỏi phải
cơ một cơ sở phát lý. Đồng thời hệ thống logistics trong TMĐT cũng được phát triển mà
chưa có hệ thống pháp lý hoàn chỉnh. 2.2.1. Nguyên tắc cơ bản
Việc xây dựng khuôn khổ pháp lý logistics trong TMĐT phải dựa trên 2 nguyên tắc cơ bản:
+ Cơ sở nền tảng của các khuôn khổ pháp lý điều chỉnh giao dịch thương mại, logistics truyền thống.
+ Xóa bỏ các rào cản kiềm chế sự phát triển của logistics trong TMĐT. 2.2.2. Cơ sở pháp lý
+ Thừa nhận tính pháp lý của các văn bản điện tử, chữ ký điện tử và có các thiết chế pháp
lý, các cơ quan pháp lý thích hợp cho việc xác thực, chứng nhận chữ ký điện tử và chữ ký số.
+ Bảo vệ về mặt pháp lý các thanh toán điện tử
+ Bảo vệ pháp lý đối với vấn đề sở hữu trí tuệ liên quan đến mọi hình thức giao dịch điện tử
+ Bảo vệ bí mật riêng tư một cách thích đáng nhằm ngăn cản các bí mật đời tư bị đưa lên mạng một cách phi pháp
+ Bảo vệ pháp lý với mạng thông tin, chống tội phạm thâm nhập với các mục đích bất
hợp pháp như thu thập tin mật, thay đổi thông tin trên các trang web,...
+ Tiêu chuẩn hóa công nghiệp và thương mại: vì giao dịch mua bán diễn ra trên mạng
nên người mua không thể chạm vào, sờ vào nên các sản phẩm cần phải được tiêu chuẩn
hóa theo tiêu chuẩn quốc tế.
+ Các quy định về thuế quan và hệ thống thuế trên mạng. Trong tương lai, Internet được
tuyên bố là môi trường phi thuế quan khi mà nó được sử dụng để phân phối sản phẩm
hoặc dịch vụ. Nguyên tắc này có thể được thiết lập nhanh chóng trước khi các nước đánh
các khoản thuế và trước khi các hình thái quyền lợi được bảo đảm để bảo vệ các khoản thuế đó.
2.3. Cơ sở hạ tầng thanh toán
Trong số doanh nghiệp sở hữu website cung cấp dịch vụ TMĐT được khảo sát, khoảng
30% website đã hỗ trợ và tích hợp chức năng thanh toán trực tuyến. 27% chấp nhận thanh
toán qua thẻ Visa, Master Card, 25% qua đơn vị thanh toán trung gian và 10% tin nhắn
SMS. 45% website hỗ trợ dịch vụ giao hàng và thu tiền sau (Cash on delivery - COD).
Hình thức chấp nhận thanh toán khi mua hàng trực tiếp tại công ty là phổ biến, chiếm
75%. Trong khi đó, hình thức thanh toán bằng chuyển khoản vẫn được nhiều doanh
nghiệp triển khai với tỷ lệ là 77%.
Nguồn: Báo cáo thương mại điện tử Việt Nam 2014
Giải pháp thanh toán trực tuyến được doanh nghiệp lựa chọn sử dụng là Ngân Lượng
(34%), Bảo Kim (24%), One Pay (18%) và Payoo (18%). Các cổng thanh toán trung gian
khác chiếm 18%, bao gồm Paypal, Smartlink, Fibo, VNPT ePay, Banknet….
Nguồn: Báo cáo thương mại điện tử Việt Nam 2014
2.4. Cơ sở hạ tầng logistics trong TMĐT
Để TMĐT có thể phát huy hết tác dụng thì cần xây dựng một hệ thống logistics.
Các doanh nghiệp khi kinh doanh TMĐT cần phải xem xét việc đầu tư hệ thống logistics
hay thuê ngoài hoặc liên kết kinh doanh.
Hệ thống cơ sở hạ tầng logistics phục vụ cho TMĐT bao gồm: kho hàng, hệ thống
giao hàng, công nghệ ứng dụng trong logistics. 2.4. Kho hàng
Từng chi tiết hơn về phần kho hàng trong hệ thống cơ sở hạ tầng logistics phục vụ cho
Thương mại Điện tử (TMĐT):
1. Vị trí và thiết kế kho hàng:
- Vị trí của kho hàng rất quan trọng để đảm bảo hiệu quả trong việc phân phối hàng
hóa đến khách hàng. Kho hàng nên được đặt ở các vị trí chiến lược gần các khu
vực dân cư, khu công nghiệp, cảng biển hoặc sân bay để thuận tiện trong quá trình vận chuyển.
- Thiết kế kho hàng cần phù hợp với quy mô và tính chất của hoạt động TMĐT.
Việc sử dụng các kệ chứa hàng, hệ thống giá đỡ và hệ thống lưu trữ thông minh sẽ
giúp tối ưu hóa không gian lưu trữ và giảm thiểu thời gian tìm kiếm hàng hóa. 2. Quản lý hàng tồn kho:
- Quản lý hàng tồn kho là một khía cạnh quan trọng trong hoạt động kho hàng. Hệ
thống quản lý kho (WMS) được sử dụng để theo dõi số lượng hàng tồn kho, quản
lý vị trí lưu trữ của từng mặt hàng và đảm bảo các sản phẩm được lưu trữ một cách hiệu quả.
- Theo dõi hàng tồn kho giúp giảm thiểu rủi ro mất mát, hư hỏng hoặc hàng tồn
không cần thiết. Nó cũng giúp xác định lượng hàng tồn kho cần tái đặt hàng để
không bị thiếu hàng trong quá trình giao hàng.
3. Quy trình xử lý hàng hóa:
- Quy trình xử lý hàng hóa trong kho hàng bao gồm các hoạt động như nhận hàng từ
nhà cung cấp, kiểm tra chất lượng và số lượng, đóng gói, lưu trữ và chuẩn bị hàng hóa cho việc giao hàng.
- Quy trình này cần được thực hiện một cách nhanh chóng và chính xác để đảm bảo
hàng hóa được giao cho khách hàng kịp thời và trong tình trạng tốt nhất.
4. Quản lý đơn hàng và khách hàng:
- Hệ thống quản lý đơn hàng (OMS) là liên kết quan trọng giữa kho hàng và quá
trình đặt hàng của khách hàng. Khi khách hàng đặt hàng trực tuyến, OMS sẽ nhận
và xử lý đơn hàng, kiểm tra tính khả dụng của hàng tồn kho trong kho và lập kế
hoạch vận chuyển hàng hóa.
- Hệ thống này cũng giúp theo dõi tình trạng đơn hàng, từ lúc được xử lý đến khi
được giao hàng thành công, và cung cấp thông tin cụ thể cho khách hàng về tình
trạng đơn hàng của họ. 5. An ninh kho hàng:
An ninh là yếu tố quan trọng trong kho hàng, đặc biệt khi lưu trữ các mặt hàng có
giá trị cao. Hệ thống an ninh như camera giám sát, hệ thống kiểm soát truy cập và bảo vệ
an ninh giúp bảo vệ hàng hóa khỏi mất mát và đảm bảo an toàn cho kho hàng.
Kho hàng là một phần quan trọng trong hệ thống cơ sở hạ tầng logistics phục vụ cho
TMĐT. Quản lý và tối ưu hóa quy trình trong kho hàng giúp đảm bảo việc vận chuyển và
giao nhận hàng hóa diễn ra hiệu quả, đáng tin cậy và đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất.
2.4.1. Chức năng và vai trò của kho hàng
- Chức năng: Gom hàng, phối hợp hàng hóa, bảo quản và lưu trữ. - Vai trò:
+ Đảm bảo tính liên tục của quá trình phân phối hàng hóa
+ Giảm chi phí sản xuất và vận chuyển
+ Nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng thông qua việc đảm bảo hàng hóa sẵn có về số lượng, chất lượng,... 2.4.2. Phân loại kho hàng
* Theo đối tượng phục vụ:
+ Kho định hướng thị trường
+ Kho định hướng nguồn hàng
* Theo đặc điểm kiến trúc: + Kho kín + Kho nửa kín
+ Kho lộ thiên (Bãi chứa hàng) * Theo quyền sở hữu: + Kho riêng + Kho công cộng + Kho hợp đồng
* Theo điều kiện thiết kế, trang thiết bị + Kho thông thường
+ Kho đặc biệt (kho lạnh,...) 2.4.3. Hệ thống giao hàng
2.4.4. Công nghệ ứng dụng trong logistics
- Hệ thống Thông quan tự động (VNACCS): với tính năng tự động hóa cao, VNACCS
thay thế cho hệ thống hải quan điện tử cũ, cho phép kết nối với các cơ quan chức năng
khác để thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia.
- Định vị toàn cầu bằng vệ tinh (GPS): cùng với dịch vụ truyền thông di động gửi tin
nhắn (SMS), Internet và GPS đã giúp: định vị vị trí, quản lý và điều hành xe, xác định vị
trí xe chính xác, chống trộm cho ứng dụng thuê xe tự lái,...
- Truy xuất trực tuyến tình trạng hàng hóa (E-tracking/Tracking): giúp nhà cung cấp
dịch vụ có hệ thống thông tin đảm bảo cung cấp dịch vụ hỗ trợ khách hàng gồm 2 chức
năng: truy xuất qua vận đơn hoặc số container, tình trạng hàng tồn kho,...
- Hệ thống quản lý kho hàng (WMS): hệ thống quản lý kho hàng nhất là cho các công
ty 3PL gồm: tiếp nhận yêu cầu, xử lý đơn hàng, quản lý hoạt động trong kho, quản lý dự
trữ, bảo đảm chất lượng, bảo trì sản phẩm, kế hoạch vận tải, dịch vụ khách hàng, kế toán - hóa đơn,...
- Hệ thống quản lý vận tải (TMS): đảm bảo các vai trò chính sau: lựa chọn phương thức
vận tải, hỗ trợ hoạt động gom hàng, hoạch định tuyến và lịch vận chuyển, xử lý yêu cầu
trả hàng, xử lý yêu cầu trả hàng, hỗ trợ truy xuất tình trạng lô hàng, thanh toán cước phí.
- Hệ thống quản lý cảng/bến thủy (TOS): đại diện cho nhóm hệ thống quản lý cảng.
- Hệ thống quản lý nguồn lực doanh nghiệp (ERP): là công cụ quản lý hữu hiệu của
các nhà sản xuất để quản lý toàn bộ hoạt động trong đó có toàn bộ chuỗi cung ứng, gồm
có: quản lý bán hàng, kế hoạch sản xuất, mua hàng, dự trữ,...
- Sàn giao dịch logistics: là nơi trao đổi dịch vụ hàng hóa như một dịch vụ trực tuyến
cho các nhà cung cấp dịch vụ logistics 3PL, các nhà giao nhận vận tải và các công ty vận
tải, cho phép các công ty vận tải tìm kiếm trên cơ sở dữ liệu về nhu cầu vận chuyển cần
được thực hiện và quảng cáo khả năng của họ.
- Thực tế ảo: là công nghệ tích hợp những thông tin vào như video, âm thanh, đồ họa,...
AR đang nhanh chóng trở thành công nghệ quan trọng, giúp kết nối thế giới thực và ảo.
2.5. Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội
Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội phải được phát triển một cách đồng bộ và cần lưu ý,
giải quyết một số vấn đề quan trọng: