



















Preview text:
CHƢƠNG 2 CUNG VÀ CẦU
Cung cầu là lý thuyết nền tảng của kinh tế học nói chung và Kinh tế học vi mô nói riêng.
Phân tích cung cầu là một công cụ hữu ích để giải thích và dự đoán các hiện tượng kinh tế phát
sinh trên thị trường và trong đời sống kinh tế của chúng ta. Trước hết, mô hình cung cầu giải
thích cơ chế hình thành giá cả hàng hoá, dịch vụ thông qua sự tương tác giữa những người mua
và những người bán trên thị trường. Từ đó, lý thuyết cung cầu giúp người đọc hiểu và dự đoán
ảnh hưởng của việc thay đổi các điều kiện kinh tế đến giá cả, tình hình sản xuất và tiêu dùng
hàng hóa, dịch vụ, đánh giá tác độn
g của chính sách can thiệp của chính phủ thông qua kiểm soát
giá, thuế, trợ cấp, vv..Tiếp theo, việc xác định ảnh hưởng của các chính sách này đến sản xuất và
tiêu dùng ra sao cũng phải thông qua phân tích cung cầu.
2.1. LÝ THUYẾT CUNG CẦU 2.1.1. Cầu (Demand) Khái niệm cầu
Cầu là lượng hàng hóa, dịch vụ mà người mua sẵn sàng (Willing) và có khả năng mua
(Able to buy) tại các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian
nhất định với giả thiết các
yếu tố khác không đổi (Ceteris Paribus).
Chú ý phân biệt sự khác nhau giữa cầu (Demand) và nhu cầu (Needs, Wants), cầu
(Demand) và lượng cầu (Quantity Demanded). Trong nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng là
người có quyền lực tối cao vì họ chính là người quyết định loại hàng hoá, dịch vụ nào sẽ được
sản xuất. Nhưng người tiêu dùng quyết định điều đó trên cơ sở cầu của họ chứ không phải dựa
vào nhu cầu của họ, tức là trên cơ sở những mong muốn, nguyện vọng được đáp ứng bởi khả
năng thanh toán của người tiêu dùng. Như vậy, cầu khác nhu cầu ở chỗ, cầu là những nhu cầu,
mong muốn có khả năng thanh toán của người tiêu dùng, còn nhu cầu lại là những mong muốn,
khát vọng vô cùng, vô tận của con người.
Người mua (Buyer) hay người tiêu dùng (Consumer) chỉ có cầu về một hàng hoá nào đó
khi anh ta có đủ khả năng tài chính để trả cho việc mua hàng. Cũng chính vì thế, cầu không chỉ
biểu hiện ở một yếu tố là lượng hàng hoá mà người mua mua được, mà còn ở yếu tố thứ hai là giá của hàng hoá
đó. Điều này dẫn đến sự khác nhau thứ hai, cầu và lượng cầu. Sự khác nhau
này là ở chỗ cầu là cả mối quan hệ giữa lượng cầu (Quantity Demanded) và giá (Price), thể hiện
hành vi hoặc sự phản ứng của người mua đối với sự thay đổi của giá cả, còn lượng cầu chỉ là một
lượng cụ thể về cầu tại một mức giá nhất định, nó không phản ánh được hành vi của người tiêu dùng.
Cầu là một bức ảnh chụp nhanh của thị trường tại một thời điểm nhất định vì trong
khoảng thời gian rất ngắn đó, các yếu tố ảnh hưởng đến cầu còn chưa kịp thay đổi để có thể phá
vỡ mối quan hệ giữa giá và lượng cầu. Do đó, khi khái niệm cầu, chúng ta phải có giả thiết là các
yếu tố khác giữ nguyên (Ceteris Paribus). Chỉ cần một trong các yếu tố ảnh hưởng đến cầu thay
đổi sẽ làm thay đổi mối quan hệ ban đầu giữa giá và lượng, tức là với các mức giá đó sẽ có
những lượng cầu mới tương ứng với nó và cầu mới sẽ được hình thành.
Ví dụ về biểu cầu và đồ thị đường cầu (Demand Curve) được trình bày ở hình 1:
Hình 1: Biểu cầu và đường cầu than Giá P Lƣợng cầu ($/tấn) (triệu tấn/năm) 46 665 45 45 670 42 44 680 D 40 43 690 42 700 41 710 40 730 0 670 700 730 Q
Hình trên cho thấy đồ thị đường cầu có dạng chung nghiêng xuống từ trái qua phải, tức là
đường cầu có độ dốc âm (Negative Slope), phản ánh mối quan hệ nghịch biến (Inverse
Relationship) giữa giá và lượng cầu. Sự nghiêng xuống của đường cầu phản ánh một quy luật tất
yếu trong hành vi của người mua là giá cao lên, người mua sẽ mua ít đi, ngược lại, khi giá thấp
xuống, họ sẽ mua nhiều lên. Cơ sở của mối quan hệ trên là do ảnh hưởng thu nhập (Income
Effect) và ảnh hưởng thay thế (Substitution Effect). Ảnh hưởng thu nhập là khi giá hàng hoá tăng
lên, với một lượng thu nhập nhất định, họ không đủ khả năng mua lượng hàng hoá như cũ mà
phải giảm bớt lượng mua đi. Do đó, khi giá tăng, lượng cầu sẽ giảm. Ảnh hưởng thay thế là khi
giá một hàng hoá tăng lên, người tiêu dùng sẽ sử dụng hàng hoá khác thay thế nó, làm lượng cầu
của hàng hoá ban đầu giảm đi. Mối quan hệ nghịch biến giữa giá và lượng cầu được thể hiện thông qua luật cầu.
Luật cầu (Law of Demand): Với giả thiết các yếu tố khác không đổi, khi giá một hàng
hóa hoặc dịch vụ tăng lên thì lượng cầu hàng hóa hoặc dịch vụ đó giảm đi và ngược lại.
Luật về cầu chỉ nói lên chiều biến thiên của mối quan hệ giữa giá và lượng, còn độ dốc
hay mức độ nghiêng xuống của đường cầu sẽ phản ánh cụ thể mức độ phản ứng trong hành vi
của người tiêu dùng khi giá hàng hoá, dịch vụ thay đổi.
Hàm cầu: Cầu phản ảnh toàn bộ mối quan hệ giữa giá cả và lượng cầu vì thế cầu được
trình bày như một hàm số của giá và nó được biểu diễn qua hàm số Qd = f(P).
Nếu đường cầu có dạng tuyến tính thì dạng tổng quát của hàm cầu (hàm cầu ngược) là: P
=a-bQd trong đó a là hệ số chặn của đường cầu trên trục tung, b là độ dốc của đường cầu (b =- P/Q)
Cầu thị trƣờng và cầu cá nhân: Cầu thị trường là cầu của toàn bộ các cá nhân trên thị
trường. Cầu thị trường bằng tổng các cầu cá nhân có nghĩa là lượng cầu thị trường bằng tổng các
lượng cầu cá nhân tại từng mức giá. Như vậy, muốn xác định cầu thị trường, ta cộng theo chiều
ngang các lượng cầu cá nhân.
Các nhân tố ảnh hƣởng đến cầu (Determinants of Demand): Có một số yếu tố cơ bản mà
khi cho một trong các yếu tố này thay đổi, cầu về hàng hóa, dịch vụ sẽ thay đổi theo.
- Thu nhập của người tiêu dùng (Income): Thu nhập ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thanh
toán của người tiêu dùng. Đối với đa số các hàng hóa thông thường (Normal Goods), thu
nhập có ảnh hưởng cùng chiều với cầu về hàng hóa đó, tức là khi thu nhập tăng lên, cầu về
hàng hóa thông thường cũng tăng lên và ngược lại. Nhà thống kê người Đức đã công bố mối
quan hệ này thông qua đường Engel là đường phản ánh quan hệ tỷ lệ thuận giữa thu nhập và
cầu về hàng hóa. Với một số các hàng hóa đặc biệt hoặc hàng thứ cấp (Inferior Goods), thu
nhập có ảnh hưởng ngược chiều với cầu, ví dụ sắn, ngô vv..khi thu nhập tăng người tiêu dùng sẽ mua ít đi.
- Giá cả của hàng hóa có liên quan (Price of Related Goods): Hàng hóa có liên quan bao gồm
hai loại là hàng bổ sung (Complementary Goods) và hàng thay thế (Substitute Goods). Đối
với các hàng hóa bổ sung cho nhau (những hàng hóa sử dụng đồng thời với nhau) thì giá
hàng hóa này tăng làm giảm cầu hàng hóa kia. Ngược lại, đối với các hàng hóa thay thế nhau
(những hàng hóa có thể sử dụng thay thế hoàn toàn hàng hóa khác) thì giá hàng hóa này tăng
làm tăng cầu hàng hóa kia. Ví dụ: xe máy và xăng là hai hàng hóa bổ sung cho nhau, giá
xăng tăng lên làm giảm cầu xe máy. Ngược lại, điện và than là hai hàng hóa thay thế nhau
trong việc dùng làm chất đốt, giá điện tăng làm tăng cầu về than.
- Sở thích, thị hiếu của người tiêu dùng (Tastes and Preferences) : Sở thích thị hiếu có ảnh
hưởng lớn đến cầu của người tiêu dùng vì nó phản ảnh sự ưu tiên của người tiêu dùng cho
việc mua hàng hóa. Ví dụ thị hiếu của người tiêu dùng Việt nam đối với món ăn tàu còn thấp
nên cầu về nó chưa cao.
- Quy mô thị trường (Market Size): Quy mô thị trường đựơc phản ảnh qua số lượng người tiêu
dùng cũng ảnh hưởng đến cầu về hàng hóa theo hướng cầu tăng nếu lượng người mua tăng và ngược lại.
- Kỳ vọng (Expectations): Đây là những sự dự đoán về thay đổi của các yếu tố giá cả, thu
nhập, thị hiếu vv.., cũng có ảnh hưởng làm thay đổi cầu trong hiện tại. Ví dụ, người tiêu dùng
hy vọng giả cả hàng hóa sẽ giảm xuống, họ sẽ giảm cầu trong hiện tại, vv.
Sự tăng hoặc giảm trong cầu do ảnh hưởng của một trong các yếu tố ở trên được minh họa qua đồ thị hình 2.
Hình 2: Sự tăng và giảm cầu P D1 P D2 D Q Q2 Q Q1
Theo đồ thị trên, giả sử đây là hàng hoá thông thường có đường cầu ban đầu là D1 tại
mức giá P1 lượng cầu ban đầu là Q. Khi thu nhập của người tiêu dùng tăng lên, anh ta có khả
năng mua được nhiều hàng hoá hơn và lượng cầu mới là Q1. Như vậy, thu nhập thay đổi hình
thành mối quan hệ mới giữa giá và lượng cầu và gây ra sự tăng cầu. Đường cầu mới là D1 sẽ
nằm ở bên phải đường cầu ban đầu. Tương tự, đường cầu D2 là đường cầu mới sẽ nằm ở bên trái
đường cầu ban đầu sau khi có sự giảm cầu.
Sự vận động dọc theo đƣờng cầu (Movement Along) và sự dịch chuyển của đƣờng cầu (Shift).
Vận động phản ánh thay đổi của lượng cầu do giá của hàng hóa đang xét thay đổi (các
yếu tố khác giữ nguyên). Khi đó có sự vận động của các điểm trên một đường cầu ban đầu (hình 3).
Dịch chuyển phản ánh sự thay đổi trong cầu, do một trong các yếu tố ảnh hưởng đến cầu thay
đổi (giá của chính hàng hoá đó không đổi). Khi đó có sự dịch chuyển của đường cầu ban đầu
sang một đường cầu mới về phải hoặc trái (hình 4)
Phân biệt giữa sự vận động và dịch chuyển rất quan trọng trong phân tích kinh tế vì nó cho
biết nguyên nhân và kết quả của những sự thay đổi trên thị trường tác động như thế nào đến giá
và lượng cầu, từ đó giúp chúng ta có được sự hiểu biết đúng đắn về hoạt động của thị trường
cũng như có các quyết định lựa chọn đúng đắn và hiệu quả.
Hình 3: Sự vận động dọc theo đƣờng cầu Hình 4: Sự dịch chuyển của đƣờng cầu P P B PB A P P A ! D2 C D PC D1 D 0 Q QA QB QC Q Q1 Q2 Q3 2.1.2. Cung (Supply) Khái niệm cung
Mặc dù kiến thức về cầu là rất quan trọng để giải thích cơ chế hình thành giá car nhưng
nó chỉ là một nửa của thị trường. Nửa kia không kém phần quan trọng là cung. Nếu cầu phản ánh
hành vi của người mua (hay người tiêu dùng), thì cung phản ánh hành vi của người bán (Sellers)
(hay người sản xuất - Producers). Tương tự như cầu, cung cũng bao gồm đầy đủ hai yếu tố là sự
sẵn sàng và khả năng cung cấp hàng hoá dịch vụ. Như vậy, cung được khái niệm một cách đầy
đủ là: Cung là lượng hàng hóa (dịch vụ) mà người bán có khả năng và sẵn sàng bán tại các mức
giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định với giả thiết các yếu tố khác không đổi (Ceteris Paribus)
Chúng ta cũng cần chú ý phân
biệt sự khác nhau giữa cung (Supply) và lượng cung
(Quantity Supplied). Cung khác lượng cung ở chỗ cung là cả mối quan hệ giữa lượng cung và
giá, thể hiện hành vi hoặc sự phản ứng của người bán đối với sự thay đổi của giá cả, còn lượng
cung chỉ là một lượng cụ thể về cung tại một mức giá nhất định, nó không phản ánh được hành vi của người bán.
Cung là một bức ảnh chụp nhanh của thị trường tại một thời điểm nhất định vì trong
khoảng thời gian rất ngắn đó, các yếu tố ảnh hưởng đến cung còn chưa kịp thay đổi đ ể có thể phá
vỡ mối quan hệ giữa giá và lượng cung. Do đó, khi khái niệm cung, chúng ta cũng phải có giả
thiết là các yếu tố khác giữ nguyên (Ceteris Paribus). Chỉ cần một trong các yếu tố ảnh hưởng
đến cung thay đổi sẽ làm thay đổi mối quan hệ ban đầu giữa giá và lượng, tức là với các mức giá
đó sẽ có những lượng cung mới tương ứng với nó và cung mới sẽ được hình thành. Biểu cung và
đồ thị đường cung (Supply Curve) được trình bày qua hình 5
Hình 5 cho thấy đồ thị đường cung có dạng chung dốc lên trên từ trái qua phải, tức là
đường cung có độ dốc dương (Positive Slope), phản ánh mối quan hệ thuận chiều giữa giá và
lượng cung (Direct Relationship). Sự dốc lên của đường cung phản ánh một quy luật tất yếu
trong hành vi của người bán là giá cao lên, người bán muốn bán nhiều lên, ngược lại giá thấp
xuống, người bán muốn bán ít đi. Lý do của mối quan hệ trên là khi các yếu tố khác giữ nguyên,
nếu giá tăng lên người bán sẽ thu được lợi nhuận nhiều hơn và họ muốn tăng lượng bán để tăng
lợi nhuận, làm cung cá nhân tăng lên. Mặt khác, sự hấp dẫn lợi nhuận thu hút nhiều người bán
khác tham gia thị trường làm cung thị trường tăng lên. Mối quan hệ thuận chiều giữa giá và
lượng cung được thể hiện thông qua luật cung.
Hình 5: Biểu cung và đường cung than Giá Lƣợng cung ($ P
/tấn) (triệu tấn/năm) 40 600 S 45 41 650 42 700 42 40 43 750 44 775 45 800 0 46 825 Q Q 600 700 800
Luật cung (Law of Supply): Với giả thiết các yếu tố khác không đổi, khi giá một hàng
hóa hoặc dịch vụ tăng lên thì lượng cung hàng hóa hoặc dịch vụ đó cũng tăng lên và ngược lại.
Luật về cung chỉ nói lên chiều biến thiên của mối quan hệ giữa giá và lượng cung, còn độ
dốc hay mức độ dốc lên của đường cung sẽ phản ánh cụ thể mức độ phản ứng trong hành vi của
người bán khi giá hàng hoá, dịch vụ thay đổi.
Hàm cung: Cung là toàn bộ mối quan hệ giữa giá và lượng cung do đó cung được biểu
diễn như một hàm số của giá theo hàm số Qs = f(P).
Nếu đường cung có dạng tuyến tính thì phương trình cung có dạng (hàm cung ngược):
P = c+dQs Trong đó c là hệ số chặn của đường cung với trục tung còn d là độ dốc của
đường cung (d = P/Q)
Cung thị trƣờng và cung cá nhân: Cung thị trường là cung của toàn bộ các cá nhân trên
thị trường. Cung thị trường bằng tổng các cung cá nhân có nghĩa là lượng cung thị trường bằng
tổng các lượng cung cá nhân tại từng mức giá. Như vậy, muốn xác định cung thị trường, ta cộng
theo chiều ngang các lượng cung cá nhân.
Các nhân tố ảnh hƣởng đến cung (Determinants of Supply): Có một số các yếu tố cơ bản
sau đây làm cung thay đổi:
- Giá cả các đầu vào (đất đai, lao động, nguyên liệu...): Giá đầu vào ảnh hưởng theo hướng
nếu giá đầu vào tăng làm giảm cung và ngược lại
- Công nghệ và kỹ thuật sản xuất: Ảnh hưởng đến năng suất và chi phí lao động. Công nghệ
được cải tiến làm tăng cung hàng hóa dịch vụ.
- Chính sách của nhà nước: Chính sách của chính phủ bao gồm thuế và trợ cấp sản xuất. Nhà
nước tăng thuế hoặc đánh thuế sẽ làm giảm cung, ngược lại trợ cấp sản xuất sẽ khuyến khích tăng cung.
- Số lượng người sản xuất: Nếu trên thị trường có càng nhiều số lượng người sản xuất một loại
hàng hoá, dịch vụ nhất định thì cung hàng hoá, dịch vụ đó càng lớn.
- Kỳ vọng: Kỳ vọng về sự thay đổi giá cả, công nghệ, chính sách...cũng ảnh hưởng đến cung
trong hiện trong hiện tại. Ví dụ, cung cà phê ở Việt nam sẽ chịu ảnh hưởng bởi giá cà phê thế
giới. Nếu các nhà đầu tư Việt nam dự đoán rằng giá cà phê thế giới sẽ tăng do một số nước
xuất khẩu cà phê bị mất mùa cà phê do điều kiện thời tiết xấu, có thể họ sẽ quyết định tăng
đầu tư cho cà phê để tăng cung cà phê. Đồ thị hình 6 minh họa sự tăng giảm trong cung.
Hình 6: Sự tăng giảm trong cung S’’ P S S’ P Q Q' Q Q'
Theo đồ thị trên, giả sử đường cung ban đầu là S, tại mức giá P, lượng cung ban đầu là
Q. Khi chính phủ đánh thuế hàng hoá bán ra, cung giảm đi và tại mức giá ban đầu P, lượng cung
mới sẽ giảm đi còn Q''. Như vậy, tác động của thuế hình thành mối quan hệ mới giữa giá và
lượng cung và gây ra sự giảm cung. Đường cung mới là S'' sẽ nằm ở bên trái đường cung ban
đầu. Tương tự, đường cung S' là đường cung mới sẽ nằm ở bên phải đường cung ban đầu sau khi có sự tăng cung.
Sự vận động dọc theo đƣờng cung và dịch chuyển của đƣờng cung
Vận động phản ánh thay đổi của lượng cung do giá của hàng hóa đang xét thay đổi (các
yếu tố khác giữ nguyên). Khi đó có sự vận động của các điểm trên một đường cung ban đầu.
Dịch chuyển phản ánh sự thay đổi trong cung do một trong các yếu tố ảnh hưởng đến cung
thay đổi (giá của chính hàng hoá đó không đổi). Khi đó có sự dịch chuyển của đường cung ban
đầu sang một đường cung mới về phải hoặc trái.
Hình 7: Vận động dọc theo đƣờng cung Hình 8: Dịch chuyển của đƣờng cung P S S' S C S' PC PA P * A P B B Q Q Q' Q Q' QB QA QC
2.1.3. Cân bằng cung cầu
Trạng thái cân bằng (Equilibrium)
Cân bằng cung cầu xuất hiện khi lượng cung vừa đủ để thỏa mãn lượng cầu trong một
khoảng thời gian nhất định. Tại đây có giá cân bằng (Equilibrium Price) và lượng cân bằng
(Equilibrium Quantity). Đặc điểm quan trọng của mức giá cân bằng là nó được hình thành một
cách hoàn toàn khách quan do quy luật cung cầu, tức là dựa trên hoạt động tập thể của toàn bộ
những người mua và bán trên thị trường chứ không theo ý muốn chủ quan của bất kỳ ai. Nhà
kinh tế học nổi tiếng Adam Smith trong cuốn sách của mình (của cải của các dân tộc, 1776) đã ví
cơ chế hình thành giá khách quan này là cơ chế “bàn tay vô hình” (Invisible Hands) của nền kinh tế thị trường.
Đồ thị hình 9 phản ánh cân bằng cung cầu của thị trường than tại mức giá cân bằng 42 $
và lượng cân bằng 700 triệu tấn. Tại mức giá cân bằng, lượng cung bằng lượng cầu. Khi đó,
lượng hàng hoá, dịch vụ mà người mua muốn mua và lượng hàng hoá, dịch vụ mà người bán cần
bán là cân bằng với nhau. Khi đó, giá cân bằng đã thực hiện được hai chức năng quan trọng của
nó là: Thứ nhất, phân bổ khẩu phần hợp lý lượng than trong số những người mua cần mua, tại
giá 42$ có 700 triệu tấn than
được mua- đó là số lượng chính xác cần được cung cấp bởi nhà sản
xuất. Thứ hai, mức giá 42$ kích thích người sản xuất cung cấp một số lượng hàng hoá chính xác
mà người mua sẵn sàng mua tại mức giá đó.
Cân bằng ngụ ý một trạng thái ổn định, một khi được thiết lập, giá cân bằng sẽ được duy trì
cho đến khi các yếu tố tác động đến cung và cầu thay đổi để thiết lập trạng thái cân bằng mới,
với giá và lượng cân bằng mới.
Dƣ thừa (Surplus) và thiếu hụt (Shortage)
Do một yếu tố chủ quan nào đó (ví dụ chính phủ can thiệp đặt giá trần hoặc giá sàn) làm
giá cả chệch khỏi mức giá cân bằng, trên thị trường sẽ xuất hiện dư thừa hoặc thiếu hụt.
Dư thừa của thị trường xuất hiện tại mọi mức giá lớn hơn giá cân bằng. Dư thừa còn gọi
là thặng dư của cung, tức là lượng cung lớn hơn lượng cầu tại một mức giá mà mức giá đó lớn hơn giá cân bằng.
Thiếu hụt của thị trường xuất hiện tại mọi mức giá nhỏ hơn giá cân bằng. Thiếu hụt còn
gọi là thặng dư của cầu, tức là lượng cầu lớn hơn lượng cung tại một mức giá mà mức giá đó nhỏ
hơn giá cân bằng. Trạng thái dư thừa và thiếu hụt của thị trường được mô tả qua đồ thị hình 9.
Phân tích dư thừa thiếu hụt là phân tích thị trường ở trạng thái tĩnh, tức là khi các yếu tố
ảnh hưởng đến cung hoặc cầu không thay đổi, và đường cung và cầu đứng tại vị trí ban đầu, chỉ
có giá cả hàng hoá, dịch vụ thay đổi tạo ra những sự vận động dọc theo các đường cung hoặc
cầu. Tuy nhiên, bản chất của thị trường tự do là sự tự phát điều tiét của quy luật cung cầu, cho
nên bất cứ khi nào thị trường không ở trạng thái cân bằng, tức là có sự không cân bằng giữa
lượng cung và lượng cầu thì các lực lượng của thị trường (cung và cầu) sẽ tự động điều tiết để
xác lập lại trạng thái cân bằng. Xu hướng chung cảu thị trường là dư thừa kéo giá xuống, thiếu hụt đẩy giá lên.
Phân tích cơ chế điều chỉnh giá trở về trạng thái cân bằng trong trường hợp dư thừa sẽ
giải thích rõ hơn xu hướng dư thừa kéo giá xuống như thế nào: Khi dư thừa, người bán tự động
giảm giá để giải phóng số hàng ế thừa. Khi giá giảm, theo luật cầu, lượng cầu tăng, đồng thời
theo luật cung, lượng cung giảm. Từ hai phía, lượng cầu tăng và lượng cung giảm cho đến khi
chúng gặp nhau. Lúc đó, lượng cầu bằng lượng cung và không còn sức mạnh kéo giá giảm
xuống hơn nữa. Giá sẽ dừng lại ở vị trí cân bằng. Như vậy, xu hướng chung của thị trường là dư thừa kéo giá xuống.
Ngược lại, khi thiếu hụt, người bán tự động tăng giá. Khi giá tăng, theo luật cầu, lượng
cầu giảm, đồng thời theo luật cung, lượng cung tăng. Từ hai phía, lượng cầu giảm và lượng cung
tăng cho đến khi chúng gặp nhau. Lúc đó, lượng cầu bằng lượng cung và không còn sức mạnh
đẩy giá lên hơn nữa. Giá sẽ dừng lại ở vị trí cân bằng. Như vậy, xu hướng chung của thị trường
là thiếu hụt đẩy giá lên.
Điều cần chú ý trong phân tích kinh tế là nhận biết sự dư thừa, thiếu hụt hình thành do kết
quả của sự thay đổi trong giá của chính hành hoá đang xét, trong điều kiện các yếu tố khác giữ
nguyên, gây ra sự vận động dọc theo đường cầu hoặc đường cung đã cho. Ví dụ rõ nhất của
trường hợp này mà chúng ta thường thấy trên thực tế là sự can thiệp của chính phủ thông qua
hình thức đặt giá trần hoặc giá sàn, gây ra hiện tượng dự thừa hoặc thiếu hụt. Chúng ta sẽ xem
xét kỹ hơn hiện tượng này ở phần sau.
Hình 9: Trạng thái cân bằng và trạng thái dư thừa, thiếu hụt P Dư thừa 45 S 42 E 40 Thiếu hụt D 35 Q 600 700 800
Nếu sự vận động dọc theo đường cầu hoặc cung cho ta hiểu về trạng thái dư thừa hoặc
thiếu hụt thì sự dịch chuyển của đường cầu hoặc cung cho ta hiểu về sự thay đổi trạng thái cân
bằng. Chúng ta biết rằng, trạng thái cân bằng của thị trường không phải là vĩnh cửu bởi vì trên
thực tế, các nhân tố ảnh hưởng luôn luôn biến động. Chỉ cần một trong các yếu tố ảnh hưởng
thay đổi (ví dụ thu nhập, thuế..) sẽ làm các đường cầu hoặc cung dịch chuyển và khi đó điểm
cân bằng sẽ thay đổi theo. Kết quả của sự thay đổi này là giá cân bằng và l
ượng cân bằng trên thị
trường sẽ thay đổi so với trạng thái ban đầu. Ví dụ chính phủ đánh thuế vào xe máy nhập khẩu
làm cung xe máy trên thị trường giảm, kết quả là giá xe máy tăng lên. Hình 10:
Sự thay đổi trạng thái cân bằng P P S S E S’ E’ PE’ P E E PE’ E’ PE D’ D D Q Q QE QE’ QE QE’ (a) (b)
Đồ thị hình 10 minh họa hai trong nhiều trường hợp thay đổi trạng thái cân bằng. Trường
hợp thứ nhất (a) do cung tăng, kết quả là giá giảm và lượng tăng, trường hợp thứ hai (b) do cầu
tăng, kết quả là giá tăng và lượng tăng.
2.1.4. Sự co dãn của cầu (hoặc cung) (Elasticity )
Sự co dãn của cầu (hoặc cung) phản ánh sự thay đổi của lượng cầu (hoặc lượng cung) khi các
nhân tố ảnh hưởng đến cầu (hoặc cung) thay đổi. Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến cầu
(hoặc cung) trên đây cho thấy mối quan hệ về mặt định tính giữa
các nhân tố ảnh hưởng và
lượng cầu (hoặc lượng cung) của hàng hoá. Ví dụ, khi giá hàng hoá tăng lên thì lượng cầu hàng
hoá đó giảm đi, hoặc khi giá hàng hoá thay thế tăng lên thì lượng cầu hàng hoá tăng lên, hoặc khi
thu nhập tăng lên thì lượng cầu đối với hàng hoá thông thường cũng tăng lên (trong điều kiện các
yếu tố khác không đổi). Tuy nhiên, mối quan hệ định tính đó chưa lượng hoá được mức độ thay
đổi trong lượng cầu. Để biết được cụ thể mức độ thay đổi trong lượng cầu là bao nhiêu, tức là để
lượng hoá mức độ phản ứng trong hành vi của người tiêu dùng, người ta dùng khái niệm hệ số co
dãn của cầu. Tương tự như vậy, để lượng hoá được mức độ phản ứng trong hành vi của người
sản xuất khi các nhân tố ảnh hưởng thay đổi, người ta dùng khái niệm hệ số co dãn của cung.
Hệ số co dãn của cầu (hoặc cung) là phần trăm thay đổi của lượng cầu (hoặc cung) được gây
ra bởi phần trăm thay đổi trong các yếu tố ảnh hưởng trong điều kiện các yếu tố khác không đổi.
Hệ số co dãn của cầu (hoặc cung) là thước đo độ
nhạy cảm (sự phản ứng) của người tiêu dùng
hoặc người sản xuất đối với sự thay đổi của các nhân tố ảnh hưởng đến cầu (hoặc cung). Nó cho
biết khi nhân tố ảnh hưởng thay đổi 1% thì lượng cầu (hoặc lượng cung) thay đổi bao nhiêu phần trăm.
Như trên ta đã biết có một số yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến cầu (hoặc cung), và có thể tóm tắt
mối quan hệ dưới dạng hàm số như sau: Qxd = f(Px, Py,I...)
Qxs = f(P, Pđv, công nghệ, chính sách..)
Sau đây, chúng ta chỉ xem xét trường hợp hệ số co dãn của cầu và sau đó suy ra cho
cung. Căn cứ vào ba yếu tố ảnh hưởng đến lượng cầu như giá của chính nó Px, giá hàng hóa liên
quan Py và thu nhập I, có ba loại hệ số co dãn của cầu thường gặp là co dãn của cầu theo giá
(Price Elasticity of Demand), co dãn của cầu theo giá chéo (Cross Elasticity of Demand) và co
dãn của cầu theo thu nhập (Income Elasticity of Demand).
Công thức xác định hệ số co dãn
- Hệ số co dãn của cầu theo giá (Ep): là phần trăm thay đổi của lượng cầu được gây ra bởi
một phần trăm thay đổi của giá (các yếu tố khác giữ nguyên). E x % Q %/ Q Q Q d d d P P p P P /P Q
- Hệ số co dãn của cầu theo giá chéo: Hệ số co dãn của cầu theo giá chéo là phần trăm
thay đổi của lượng cầu của một hàng hóa được gây ra bởi một phần trăm thay đổi trong giá hàng E Q % xy Px % y
hóa khác (hàng hoá bổ sung hoặc thay thế) trong điều kiện các yếu tố khác giữ nguyên. Nó là
thước đo sự phản ứng của lượng cầu đối với sự thay đổi của giá cả hàng hoá có liên quan. Nếu hệ
số co dãn của cầu theo giá chéo có giá trị dương thì hai hàng hoá đang xét là hai hàng hoá thay
thế cho nhau, ngược lại nếu có giá trị âm thì chúng là hai hàng hoá bổ sung cho nhau.
Hệ số co dãn của cầu theo thu nhập: Hệ số co dãn của cầu theo thu nhập là phần trăm thay
đổi trong lượng cầu được gây ra bởi một phần trăm thay đổi trong thu nhập trong điều kiện các
yếu tố khác giữ nguyên. Nó là thước đo sự phản ứng của lượng cầu đối với sự thay đổi của thu
nhập. Nếu hệ số co dãn của cầu theo
thu nhập có giá trị dương thì hàng hoá đang xét là hàng hoá
thông thường, nếu mang giá trị âm thì đó là hàng hoá thứ cấp.
EAB Q Q21 P1 P 2
p x P2P 1 Q1 Q 2
Phƣơng pháp tính hệ số co dãn: Các loại co dãn trình bày trên đây có thể được tính theo hai
trường hợp: co dãn khoảng và co dãn điểm
Co dãn khoảng là sự co dãn trên khoảng hữu hạn nào đó của đường cầu, khi có sự thay
đổi lớn và dời dạc của lượng cầu và yếu tố ảnh hưởng.
Ta có các công thức tính co dãn khoảng cho loại co dãn của cầu theo giá như sau:
Trong đó AB là khoảng tại đó xác định hệ số co dãn, P1 và P2 là giá tại các điểm A và B,
Q1 và Q2 là lượng tại các điểm A và B. EApP p '( Q ) x Qd
Ngược lại co dãn điểm là độ co dãn trên một điểm nào đó của đường cầu, khi có sự thay
đổi vô cùng bé của lượng cầu và yếu tố ảnh hưởng.
Công thức tính co dãn điểm cho loại co dãn của cầu theo giá như sau: E Q % I % I Hay E xAdQ dPd P p Qd
Trong đó: A là điểm tại đó xác định hệ số co dãn, Q'(p) là đạo hàm của hàm cầu theo giá,
tỷ số P/Qd là tỷ số giữa giá và lượng
được xác định tại điểm A.
Phân loại co dãn của cầu theo giá
Căn cứ vào mối quan hệ giữa phần trăm thay đổi của lượng cầu và phần trăm thay đổi của giá
cả, có ba loại co dãn tương đối và hai loại co dãn đặc biệt của cầu như sau:
- E>1 : Cầu co dãn tương đối theo giá trong miền giá cả hiện thời
- E<1 : Cầu không co dãn tương đối theo giá trong miền giá cả hiện thời
- E=1 : Cầu co dãn đơn vị
- E= 0 : Cầu hoàn toàn không co dãn
- E= : Cầu hoàn toàn co dãn
(Các giá trị của E ở đây được hiểu là giá trị tuyệt đối ).
Mối quan hệ giữa co dãn của cầu đối với giá cả và tổng doanh thu Nếu cầu là:
Giá tăng, tổng Giá giảm, tổng Quyết định về giá nhằm doanh thu sẽ: doanh thu sẽ: tăng tổng doanh thu: Co dãn (E>1) Giảm Tăng Giảm giá Không co dãn (E<1) Tăng Giảm Tăng giá Co dãn đơn vị (E=1) Không đổi Không đổi Giữ nguyên giá
Chú ý tổng doanh thu ở đây là tổng số tiền thu được do bán hàng hóa, được tính bằng tích
số của giá bán và lượng bán, ký hiệu là TR (Total Revenue): TR= P.Q.
Hình 11: Hệ số co dãn và đường cầu P E = E>1 E=1 P1 E<1 TR MA X E= 0 Q Q 1
Điều đáng chú ý khi nghiên cứu mối quan hệ tr
ên là giúp người bán quyết định được nên
tăng hay giảm giá để nhằm tăng tổng doanh thu nếu như biết được hệ số co dãn của cầu theo giá
của hàng hoá đó. Ví dụ các hàng hoá có cầu co dãn tương đối theo giá (ô tô, máy điều hoà..), giá
giảm 1% làm tăng lượng bán nhiều hơn 1%, do đó làm tăng tổng doanh thu. Ngược lại, các hàng
hoá có cầu không co dãn tương đối theo giá (xăng dầu, thuốc chữa bệnh..), giảm giá 1% làm tăng
lượng bán ít hơn 1%, do đó sẽ làm giảm tổng doanh thu chứ không làm tăng tổng doanh thu.
Trên một đường cầu nhất định, hệ số co dãn cũng thay đổi tùy theo từng đoạn. Độ có dãn
của cầu phụ thuộc không chỉ vào dộ dốc của đường cầu mà còn phụ thuộc vào giá và lượng cầu.
Đối với đường cầu tuyến tính, độ dốc không đổi. Tuy nhiên tại những điểm phía trên đường cầu,
giá cao và lượng cầu thấp làm cho hệ số co dãn của cầu có trị số lớn. Ngược lại, tại những điểm
phía dưới đường cầu, giá thấp và lượng cầu cao làm cho hệ số co dãn của cầu có trị số nhỏ. Tại
điểm giữa đường cầu, hệ số co dãn của cầu bằng 1 và tổng doanh thu lớn nhất tại đây (hình 11).
2.2. CÁC ỨNG DỤNG TRONG HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH KINH TẾ
2.2.1 Ứng dụng của hệ số co dãn
Nghiên cứu hệ số co dãn của cầu có nhiều ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn. Đối
với hệ số co dãn của cầu theo giá, có một số ý nghĩa như sau:
- Như trên đã phân tích, ý nghĩa rất quan trọng của nghiên cứu mối quan hệ giữa hệ số co
dãn, giá cả và tổng doanh thu TR là cho phép người bán điều chỉnh giá cả theo chiều
thích hợp nhằm làm tăng tổng doanh thu.
- Hệ số co dãn cảu cầu theo giá được sử dụng trong việc phân tích và giải thích tác động
của thuế hoặc trợ cấp đối với người sản xuất và người tiêu dùng, để từ đó có các chính
sách thuế hợp lý đối với tong loại hàng hoá có cầu và cung co dãn khác nhau, nhằm đạt
được mục tiêu của chính phủ
và tránh được tổn thương cho các thành viên tham gia thị trường.
- Ý nghĩa tiếp theo là sử dụng hệ số co dãn của cầu theo giá chúng ta có thể tính toán mức
tăng giá cần thiết nhằm loại bỏ thiếu hụt hoặc mức giảm giá cần thiết nhằm loại bỏ sự dư
thừa. Dư thừa và thiếu hụt thường hình thành khi chính phủ đặt giá sàn hoặc giá trần đối
với hàng hoá. Các đường cầu và cung càng co dãn thì dư thừa và thiếu hụt càng lớn. Căn
cứ vào hệ số co dãn của cầu hoặc cung chúng ta có thể tính toán được mức độ thay đổi
giá cả theo ý muốn để kiểm soát mức độ dư thừa hoặc thiếu hụt.
- Hệ số co dãn của cầu theo giá còn được vận dụng trong chính sách về tỷ giá hối đoái
nhằm cải thiện cán cân thương mại thông qua việc phá giá đồng tiền (giảm thấp tỷ giá hối
đoái). Việc phá giá sẽ chỉ có ý nghĩa cải thiện cán cân thương mại, làm tăng lượng xuất
khẩu ròng khi mà nó thỏa mãn điều kiện Marshall- Lerner: EMP+ EXP>1. Trong dài hạn
khi mà cầu về hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu là co dãn, thì phá giá sẽ làm tăng lớn hàng xuất khẩu và g
iảm lớn hàng nhập khẩu dẫn đến xuất khẩu ròng tăng lên.
- Ngoài ra hệ số co dãn của cầu theo giá còn được vận dụng trong chính sách thương mại:
Đối với những hàng trong nước không sản xuất được, cầu của nó thường không co dãn,
nếu đánh thuế cao sẽ không có
ý nghĩa bảo hộ mà có thể dẫn tới lạm phát. Do đó khi đưa
ra chính sách thuế nhằm mục đích bảo hộ sản xuất trong nước cũng cần lưu ý hậu quả dễ
xảy ra đối với các hàng hoá có cầu không co dãn theo giá.
2.2.2. Ảnh hƣởng của thuế đối với giá cả và việc phân chia gánh nặng thuế đối với
ngƣời sản xuất và ngƣời tiêu dùng
Lý thuyết cung cầu còn có một ứng dụng quan trọng trong việc phân tích ảnh hưởng của
các chính sách của nhà nước như thuế hoặc trợ cấp. Hình 12 minh họa ảnh hưởng của thuế lên
giá cả và việc phân chia gánh nặng thuế đối với người mua và người bán:
Giả sử mức giá ban đầu khi chưa có thuế là 140 $, chính phủ đánh thuế hoặc tăng thuế
một hàng hoá nào đó lên 20 $, giá mới sẽ là 150 $. Khi đó gánh nặng thuế phân chia cho cả
người sản xuất và người tiêu dùng. Người tiêu dùng chịu 10$ và người sản xuất chịu 10$. Tuy
nhiên không phải lúc nào gánh nặng thuế cũng chia đều cho người sản xuất và người tiêu dùng.
Mức độ chịu thuế của họ như thế nào là phụ thuộc vào hệ số co dãn của cung và cầu theo giá. Ta
có công thức xác định mức độ chịu thuế của mỗi bên như sau:
Khi thuế thay đổi một lượng là t thì:
Doanh nghiệp chịu một lượng thuế là: D P E x p s t E E Sp D p
Người tiêu dùng chịu một lượng thuế là: S P E x p D t E E Sp D p Hình 12:
Sự phân chia gánh nặng thuế giữa người mua và người bán P S’ E’ S 150 Người tiêu
dùng chịu PD 140 E t =20
Người sản xu t
ấ chịu PS 130 D Q’E QE Q
Mức độ chịu thuế của người bán và người mua khác nhau phụ thuộc vào tính chất co dãn
theo giá của cầu và cung. Ta có các trường hợp cụ thể sau đây:
- Nếu cầu và cung đều là co dãn tương đối hoặc không co dãn tương đối theo giá thì cả người
sản xuất và người tiêu dùng đều phải gánh chịu sự tăng thuế. Mức độ gánh chịu nhiều hay ít
sẽ được xác định bởi các công thức tính PD và PS trê n đây.
- Nếu cầu là hoàn toàn không co dãn theo giá, và cung là hoàn toàn co dãn hoặc hoàn toàn
không co dãn theo giá thì người tiêu dùng phải chịu toàn bộ sự tăng thuế.
- Nếu cầu là hoàn toàn co dãn theo giá thì khi đánh thuế giá cả không đổi.
2.2.3. Kiểm soát giá cả (Price control)
Trong nhiều trường hợp, giá cân bằng được hình thành do quy luật cung cầu có thể quá
cao đối với người tiêu dùng, hoặc quá thấp đối với người sản xuất. Ví dụ như giá tiền thuê nhà,
hoặc giá của các sản phẩm thiết yếu như thực phẩm, xăng dầu.. có thể lên cao làm cho cuộc sống
của những người tiêu dùng có thu nhập thấp rất khó khăn, hoặc khi giá lương thực, lúa
gạo…xuống thấp sẽ làm giảm doanh thu của người nông dân. Để bảo vệ lợi ích của họ, chính
phủ dùng biện pháp kiểm soát giá cả bằng cách định giá trần (Ceiling Price) hoặc giá sàn (Floor
Price). Việc định giá trần hoặc giá sàn nhằm vào các mục tiêu nhất định như bảo hộ cho người
tiêu dùng (trần giá tiền thuê nhà, trần giá xăng dầu...) hoặc bảo hộ người sản xuất, người lao
động (sàn giá lương thực, sàn giá tiền công lao động tối thiểu). Việc làm này dựa trên hai chức
năng tự nhiên của giá là: phân bổ lượng cầu hạn chế trong số những người mua có khả năng, và
khuyến khích các nhà sản xuất cung cấp đúng lượng cung được mong muốn.
Vì đây là biện pháp cưỡng bức của chính phủ, can thiệp vào quá
trình hình thành giá của
thị trường tự do nên bên cạnh việc đạt được mục tiêu mong muốn là bảo vệ lợi ích cho các lực
lượng tham gia thị trường, nó cũng gây ra nhiều vấn đề, nhiều khi vi phạm mục tiêu ổn định giá
cả của nền kinh tế. Điều này nhìn chung không phù hợp với hoạt động khách quan của quy luật
cung cầu và làm giảm tính hiệu quả của thị trường (giảm lợi ích ròng xã hội). Đây không phải là
một giải pháp tối ưu cho việc phân bổ tài nguyên.
Hình 13 minh họa hai trường hợp giá trần (a) và giá sàn (b)
và các vấn đề phát sinh trong các trường hợp đó.
Giá trần là mức giá tối đa không được phép cao hơn. Trong hình (a), giá trần là mức giá
P1 được chính phủ đặt ra trong trường hợp mức giá cân bằng của thị trường quá cao, gây khó
khăn cho người tiêu dùng, nhất là những người thu nhập thấp. Nhằm mục đích tăng thặng dư cho
người tiêu dùng, chính phủ áp đặt một mức giá thấp hơn giá cân bằng và buộc các tổ chức kinh
doanh bán theo mức giá quy định này. Tuy nhiên, vận dụng lý thuyết về dư thừa và thiếu hụt
chúng ta thấy ngay rằng bất cứ lúc nào giá bị đặt thấp hơn giá cân bằng đều gây ra hiện tượng
thiếu hụt hàng hoá bởi vì khi đó lượng cầu (QB) lớn hơn lượng cung (QA). Khi hàng hoá khan
hiếm, người tiêu dùng lại sẵn sàng trả một mức giá cao hơn giá trần P1 để mua được hàng hoá.
Lợi dụng tình hình này, nhiều tổ chức kinh doanh đã giữ hàng hoá lại hoặc bán cho những nhà
đầu cơ để tung ra thị trường tự do bán với giá cao hơn giá cân bằng ban đầu, mà chúng ta thường
gọi là "giá chợ đen" (Black Market). Hiện tượng giá trần gây ra sốt giá là kết quả của việc kiểm
soát giá chưa có hiệu quả của chính phủ. Kết quả này cho thấy chính phủ cần hết sức thận trọng
khi can thiệp vào nền kinh tế thị trường, mặt khác chính phủ cần nhận thức đúng đắn và vận
dụng hợp lý các quy luật khách quan của thị trường tự do. P
Hình 13: Giá trần và giá sàn S P S Dư thừa P1 PE E PE E P1 D Thiếu hụt D Q Q Q A QB QM QN (a) (b)
Ngoài ra, giá trần còn có một số mặt trái khác của nó như hiện tượng thiếu hụt hàng hoá
gây ra việc sản xuất ẩu, chất lượng tồi, hoặc buộc chính phủ phải tìm các giải pháp khắc phục
bằng cách tung lượng hàng hoá dự trữ (nếu có) ra bán, người mua phải xếp hàng hoặc mua theo
phân phối định suất...Những giải pháp này lại có thể là các nguyên nhân của nhiều tiêu cực trong nền kinh tế.
Giá sàn là mức giá tối thiểu không được phép thấp hơn. Trong hình (b), giá sàn là mức
giá P1 được chính phủ đặt ra trong trường hợp mức giá cân bằng của thị trường quá thấp, gây khó
khăn cho người sản xuất hoặc người lao động nhất là những lĩnh vực sản xuất nhỏ, năng suất và
thu nhập thấp (ví dụ nông dân sản xuất nông nghiệp). Nhằm mục đích tăng thặng dư cho người
sản xuất, chính phủ áp đặt một mức giá cao hơn giá cân bằng và buộc các nhà cung cấp phải bán
hàng hoá, dịch vụ của mình theo mức giá quy định này. Cũng vận dụng lý thuyết về dư thừa và
thiếu hụt chúng ta thấy ngay rằng bất cứ lúc nào giá bị đặt cao hơn giá cân bằng đều gây ra hiện
tượng dư thừa hàng hoá bởi vì khi đó lượng cung (QN) lớn hơn lượng cầu (QM). Trên thị trường
lao động, hiện tượng dư thừa hàng hoá cũng có thể được coi giống với hiện tượng thất nghiệp.
Đối với các hàng hoá, dịch vụ đầu ra, khi hàng hoá ế thừa, chính phủ lại phải cân nhắc tới những
giải pháp tiếp theo để giải quyết số hàng hoá đó, tuỳ theo loại hàng hoá và từng trường hợp cụ
thể, chính phủ có thể là mua vào làm dự trữ hoặc các giải pháp khác .
Tóm lại, kiểm soát giá thông qua việc đặt giá trần và giá sàn là biện pháp cưỡng bức của
chính phủ, can thiệp vào cơ chế định giá khách quan của thị trường tự do, nên bên cạnh ưu điểm
là bảo vệ lợi ích cho người tiêu dùng và người sản xuất, nó cũng có nhiều mặt trái như đã phân
tích ở trên. Điều này cho thấy các chính phủ cần hết sức thận trọng khi can thiệp vào nền kinh tế
thị trường, và cần nhận thức đúng đắn để vận dụng hợp lý các quy luật khách quan của thị trường tự do. TÓM TẮT CHƢƠNG
Trong nền kinh tế thị trường, giá cả hàng hoá dịch vụ được xác định thông qua sự tương
tác giữa cầu và cung. Cầu phản
ánh lượng hàng hoá, dịch vụ mà người tiêu dùng sẵn sàng và có
khả năng mua tại các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định, trong điều kiện
các yếu tố khác không đổi. Cầu có thể được biểu diễn bằng đồ thị đường cầu, có độ dốc âm và
dốc từ trái qua phải bởi vì luật cầu chỉ
ra rằng người tiêu dùng sẽ mua một số lượng nhiều hơn
các hàng hoá, dịch vụ tại một mức giá thấp hơn. Cung phản
ánh lượng hàng hoá, dịch vụ mà
người sản xuất sẵn sàng và có khả năng cung cấp tại các mức giá khác nhau trong một khoảng
thời gian nhất định với điều kiện các yếu tố khác không đổi. Cung có thể được biểu diễn bằng đồ
thị đường cung, có độ dốc dương và dốc từ trái qua phải bởi vì luật cung chỉ ra rằng giá và lượn g
cung là hai đại lượng tỷ lệ thuận, số lượng hàng hoá, dịch vụ lớn hơn sẽ được cung ứng tại mức giá cao hơn.
Đường cầu sẽ dịch chuyển tới một vị trí mới nếu như có bất kỳ một sự thay đổi trong các
yếu tố xác định cầu: thu nhập của người tiêu ding, sở thích, thị hiếu, giá hàng hoá có liên quan,
quy mô thị trường và kỳ vọng. Tương tự, đường cung sẽ dịch chuyển tới một vị trí mới nếu như
có bất kỳ một sự thay đổi trong các yếu tố xác định cung:giá cả yếu tố đầu vào, công nghệ, số
lượng người sản xuất, các chính sách của nhà nước và kỳ vọng.
Các nhà kinh tế học đã rất chú ý đến việc phân biệt giữa sự vận động và dịch chuyển đối
với cầu cũng như đối với cung. Sự thay đổi trong lượng cầu hàng hoá, dịch vụ tạo nên do thay
đổi trong giá hàng hoá, dịch vụ (khi các nhân tố khác giữ nguyên) được gọi là vận động dọc theo
đường cầu (hoặc lượng cầu thay đổi). Sự thay đổi của một trong các nhân tố xác định cầu khi giá
của hàng hoá, dịch vụ không đổi sẽ làm cho người tiêu dùng mua nhiều hoặc ít hàng hoá, dịch vụ
hơn tại mỗi mức giá. Hiện tượng này được mô tả
bằng sự dịch chuyển của đường cầu ban đầu
sang một đường cầu mới về phải hoặc trái (hoặc cầu thay đổi). Tương tự, sự thay đổi trong lượng
cung hàng hoá, dịch vụ tạo nên do thay đổi trong giá hàng hoá, dịch vụ (khi các nhân tố khác giữ
nguyên) được gọi là vận động dọc theo đường cung (hoặc lượng cung thay đổi). Sự thay đổi của
một trong các nhân tố xác định cung khi giá của hàng hoá, dịch vụ không đổi sẽ làm cho người
sản xuất cung cấp nhiều hoặc ít hàng hoá, dịch vụ hơn tại mỗi mức giá. Hiện tượng này được mô
tả bằng sự dịch chuyển của đường cung ban đầu sang một đường cung mới về phải hoặc trái (hoặc cung thay đổi).
Giá cân bằng là giá mà tại đó lượng cầu bằng lượng cung, hoặc tại giá mà thị trường
được “dọn sạch”, được xác định bởi giao điểm của đường cung và đường cầu. Nếu giá thị trường
đang ở trên mức giá cân bằng sẽ xuất hiện sự dư thừa hay
dư cung (lượng cung lớn hơn lượng
cầu) và người bán sẽ bị sức ép giảm giá để loại trừ dư thừa. Nếu giá thị trường đang ở dưới mức
giá cân bằng sẽ xuất hiện sự thiếu hụt hay dư cầu (lượng cầu lớn hơn lượng cung) và người mua
sẽ đấu giá để nâng giá lên trong quá trình cạnh tranh để mua sản phẩm. Chỉ khi giá thị trường ở
mức giá cân bằng sẽ không có dư thừa hoặc thiếu hụt và không có sức ép thay đổi giá.
Để lượng hoá sự phản ứng của lượng cầu khi các nhân tố ảnh hưởng thay đổi, người ta
dùng công cụ hệ số co dãn của cầu. Có các loại hệ số co dãn của cầu theo giá, co dãn của cầu
theo thu nhập và co dãn của cầu theo giá chéo.
Hệ số co dãn của cầu theo giá là thước đo sự phản ứng của lượng cầu đối với sự thay đổi
của giá cả. Cầu là co dãn theo giá khi một sự thay đổi 1% của giá tạo nên sự thay đổi lớn hơn 1%
trong lượng cầu. Cầu là không co dãn theo
giá khi một sự thay đổi 1% của giá tạo nên thay đổi
nhỏ hơn 1% trong lượng cầu. Nếu thay đổi 1% trong giá tạo nên thay đổi cũng 1% trong lượng
cầu thì cầu được gọi là co dãn đơn vị. Ngoài ra, còn có các loại co dãn đặc biệt là cầu hoàn toàn
co dãn, khi đường cầu nằm ngang, và cầu hoàn toàn không co dãn, khi đường cầu thẳng đứng.
Hệ số co dãn của cầu theo thu nhập là thước đo sự phản ứng của lượng cầu đối với sự
thay đổi của thu nhập. Nếu hệ số co dãn của cầu theo thu nhập có giá trị dương thì hàng hoá đang
xét là hàng hoá thông thường, nếu mang giá trị âm thì đó là hàng hoá thứ cấp.
Hệ số co dãn của cầu theo giá chéo là thước đo sự phản ứng của lượng cầu đối với sự
thay đổi của giá cả hàng hoá có liên quan. Nếu hệ số co dãn của cầu theo giá chéo có giá trị
dương thì hai hàng hoá đang xét là hai hàng hoá thay thế cho nhau, ngược lại nếu có giá trị âm
thì chúng là hai hàng hoá bổ sung cho nhau.
Hệ số co dãn của cầu theo giá có ý nghĩa quan trọng đối với việc ra các quyết định kinh
doanh của doanh nghiệp, bởi vì nó xác định điều gì sẽ xảy ra đối với tổng doanh thu, khi doanh
nghiệp lựa chọn mức giá bán cho sản phẩm. Nếu cầu là co dãn, giảm giá sẽ làm tăng tổng doanh
thu và ngược lại. Nếu cầu là không co dãn, giảm giá sẽ làm giảm tổng doanh thu và ngược lại.
Nếu cầu co dãn đơn vị, mọi sự thay đổi trong giá sẽ được bù đắp đầy đủ bởi sự thay đổi trong
lượng cầu, và tổng doanh thu sẽ không đổi.
Ngoài ra, sử dụng hệ số co dãn của cầu theo giá có thể phân tích được tác động ảnh
hưởng của chính sách thuế hoặc trợ cấp của chính phủ đến người sản xuất và người tiêu dùng,
tính toán mức tăng giá cần thiết nhằm loại bỏ thiếu hụt hoặc mức giảm giá cần thiết nhằm loại bỏ
sự dư thừa. Ngoài ra, hệ số co dãn còn được vận dụng trong các chính sách kinh tế vĩ mô khác
như chính sách về tỷ giá hối đoái, chính sách thương mại…
Hệ số co dãn của cung theo giá là thước đo sự phản ứng của lượng cung đối với sự thay
đổi của giá cả. Nghiên cứu các loại hệ số co dãn của cung cũng tương tự giống trường hợp về
cầu với các loại cung co dãn, không co dãn và co dãn đơn vị.
Nghiên cứu ảnh hưởng của thuế và việc phân chia gánh nặng thuế đối với người sản xuất
và người tiêu dùng đối với từng loại hàng hoá nhất định qua đó thực hiện được các mục tiêu điều
tiết thu nhập, tăng thu ngân sách, khuyến khích phát triển sản xuất và hạn chế những ảnh hưởng
bất lợi đối với người tiêu dùng, đặc biết đối với những người nghèo.
Chính phủ thực hiện chức năng kiểm soát giá thông qua điều tiết giá trần và giá sàn.
Việc làm này dựa trên hai chức năng tự nhiên của giá là: phân bổ lượng cầu hạn chế trong số
những người mua có khả năng, và khuyến
khích các nhà sản xuất cung cấp đúng lượng cung
được mong muốn. Khi chính phủ không can thiệp, giá sẽ tăng giảm theo sự thay đổi của cung và
cầu. Khi chính phủ can thiệp bằng cách đặt giá trần (giá tối đa không được phép cao hơn) nhằm
mục đích bảo vệ những người mua khó khăn, hoặc giá sàn (giá tối thiểu không được phép thấp
hơn) nhằm mục đích trợ giá cho người sản xuất, các chức năng tự nhiên của giá bị vi phạm, dẫn
tới hiện tượng thiếu hụt hoặc dư thừa trên thị trường. Ngoài ra, kiểm soát giá cũng có một số mặt
trái khác, đôi khi vượt quá sự kiểm soát của chính phủ, đòi hỏi các chính phủ phải hết sức thận trọng khi can thiệp.
DANH MỤC CÁC TỪ KHOÁ (KEY TERMS) Demand: Cầu
Sellers/ Producers: Người bán, người sản xuất
Quantity Demanded: Lượng cầu
Quantity Supplied: Lượng cung
Buyers/ Consumers: Người mua, người Positive Slope: Độ dốc dương tiêu dùng
Direct Relationship: Quan hệ đồng biến Demand Curve: Đường cầu Law of Supply: Luật cung