






Preview text:
Chương II: QUẢN LÝ KINH TẾ VÀ VẬN DỤNG QUY LUẬT
Chương I đã giúp chúng ta các kiến thức mang tính phương pháp luận để lý giải và
nghiên cứu các vấn đề kinh tế.Chương này làm rõ khái niệm thế nào là quản lý? Quản lý kinh
tế là gì? thực chất, bản chất của quản lý kinh tế và việc vận dụng các quy luật trong lĩnh vực này.
I.Tổng quan về quản lý và quản lý kinh tế 1. Quản lý
Về nội dung, thuật ngữ quản lý có nhiều cách hiểu không hẳn như nhau.
Có người cho quản lý là các loại hoạt động được thực hiện nhằm đảm bảo sự hoàn thành công
việc qua những nổ lực của người khác.
Có tác giả lại cho quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người
cộng sự khác cùng chung một tổ chức.
Cũng có tác giả cho quản lý là một hoạt động thiết yếu bảo đảm phối hợp những nổ lực cá
nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm.
Có tác giả đơn giản hơn cho quản lý là có trách nhiệm gì đó.v.v...
Từ những điểm chung của các định nghĩa trên có thể hiểu: Quản lý là sự tác động của chủ thể
quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường.
Với các định nghĩa này, quản lý phải bao gồm các yếu tố (các điều kiện) sau:
- Phải có một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động, và một đối tượng bị quản lý phải
tiếp nhận các tác động của chủ thể quản lý tạo ra. Tác động có thể chỉ là một lần mà cũng có
thể là liên tục nhiều lần. Chủ thể quản lý Mục tiêu Khách thể Đối tượng bị quản lý
Sơ đồ 13. Sơ đồ lôgic của khái niệm quản lý
- Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo cho cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu
này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động.
- Chủ thể phải thực hành việc tác động.
Chủ thể có thể là một người, nhiều người, một thiết bị. Còn đối tượng có thể là con
người ( một hoặc nhiều người) hoặc giới vô sinh (máy móc, thiết bị, đất đai, thông tin, hầm
mỏ.v.v...) hoặc giới sinh vật (vật nuôi, cây trồng).
2.Quản lý và lãnh đạo
Đây là hai thuật ngữ sử dụng cho các hệ thống có con người ở trong, chúng không đồng
nhất và được giải thích tuỳ thuộc lĩnh vực nghiên cứu; cả hai thuật ngữ đều hàm ý tác động và
điều khiển, nhưng khác nhau về mức độ và phương pháp tiến hành. Lãnh đạo (hướng dẫn) là
quá trình định hướng dài hạn cho chuỗi các tác động của chủ thể quản lý; còn quản lý là quá
trình chủ thể tổ chức liên kết và tác động lên đối tượng bị quản lý để thực hiện các định hướng
tác động dài hạn. Lãnh đạo là quản lý những mục tiêu rộng hơn, xa hơn, khái quát hơn. Còn
quản lý là lãnh đạo trong trường hợp mục tiêu cụ thể hơn và chuẩn xác hơn. Người lãnh đạo là
người tạo ra một viễn cảnh để có thể tập hợp được mọi người; còn người quản lý là người tập
hợp nhân tài vật lực để biến viễn cảnh thành hiện thực. Cũng có lúc người quản lý cần phải làm
người lãnh đao và ngược lại. Việc lãnh đạo và quản lý do chủ thể quản lý tiến hành; chủ thể có
thể là duy nhất (một phân hệ, một lực lượng, một người.v.v...) mà cũng có thể là không duy
nhất (gồm từ hai phân hệ trở lên); nhưng để đảm bảo cho quá trình quản lý hiệu quả cao, việc
lãnh đạo và quản lý phải thống nhất hữu cơ với nhau, hoà nhập vào nhau. Điều này trong thực
tế không phải lúc nào cũng được thực hiện một cách trót lọt và trọn vẹn.
3. Các dạng: Quản lý có nhiều dạng, nhưng có thể gộp thành 3 dạng chính:
- Quản lý giới vô sinh (nhà xưởng, ruộng đất, hầm mỏ, thiết bị, máy móc.v.v...sản phẩm)
- Quản lý giới sinh vật (vật nuôi, cây trồng).
- Quản lý xã hội con người (Đảng, Đoàn thể, Nhà nước, kinh tế.v.v...).
4. Dấu hiệu chung của các dạng quản lý
a) Quản lý bao giờ cũng chia thành chủ thể và đối tượng.
b) Quản lý bao giờ cũng có liên quan đến việc trao đổi thông tin và đều có mối liên hệ ngược.
c) Quản lý bao giờ cũng có khả năng thích nghi.
Việc thích nghi diễn ra theo hai hướng. Hướng thứ nhất nếu chủ thể cấp trên ra các lệnh
điều khiển vô lý thì không phải mọi cấp dưới đều bó tay mà sẽ có những phần tử tìm mọi cách
để thích nghi bằng cách tự biến đổi cơ cấu của mình, hoặc gây sức ép buộc chủ thể phải thấy
sai và tự sữa. Hướng thứ hai có sự thích nghi là khi số đối tượng cấp dưới tăng lên về số lượng,
phức tạp về quan hệ, thì không phải chủ thể bó tay, mà họ vẫn có thể quản lý được bằng việc
cải tiến phương pháp quản lý và bộ máy của mình. 5.Kinh tế
Kinh tế là một phạm trù đặc biệt quan trọng đối với đời sống xã hội của con người ngày
nay. Có nhiều cách hiểu về khái niệm này, tuỳ theo chính kiến của mỗi người.
Có người cho kinh tế là tài sản (tiền, ngoại tê, vàng bạc, đá quý, bất động sản, vật dụng
có giá trị quý hiếm tằn tiện, là tiết kiệm của cải.v.v...).
Có người cho kinh tế = kinh bang (trị nước) + tế thế (cứu đời)
Có người lại hiểu kinh tế là toàn bộ các công tác buôn bán, sản xuất, phân phối và tiêu
dùng hàng hoá. Một cách hiểu được nhiều người tán đồng cho rằng kinh tế là tổng thể (hoặc
một phần) những yếu tố sản xuất và những quan hệ vật chất của con người phát sinh trong quá
trình sản xuất trực tiếp, phân phối, lưu thông trao đổi, tiêu dùng của cải vật chất ở những giai
đoạn phát triển nhất định của xã hội loài người, mà mấu chốt là vấn đề sở hữu và lợi ích.
Nói đến kinh tế là nói đến tiền bạc, của cải, nguồn thu nhập, dân số, việc làm và thất
nghiệp, giàu nghèo, phúc lợi, điều kiện sống, tự do hay nô dịch, môi trường và môi sinh, tiết
kiệm và lãng phí, cũng như các hoạt động xã hội nhằm thu và sử dụng của cải cho việc tạo ra
hạnh phúc và sức khoẻ của con người.v.v... 6. Quản lý kinh tế
Từ những cách tiếp cận vấn đề quản lý đã nêu và từ khái niệm kinh tế đã xét, có thể
hiểu: Quản lý kinh tế là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên
tập thể những người quản lý trong hệ thống, sử dụng một cách tốt nhất tiềm năng và cơ hội
nhằm đạt được mục tiêu quản lý đề ra theo đúng luật định và thông lệ hiện hành.
Sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý chính là việc tổ
chức thực hiện các chức năng của quản lý nhằm phối hợp các mục tiêu và các động lực hoạt
động của mọi người lao động trong hệ thống để đạt tới mục tiêu chung của hệ thống.
Việc sử dụng tốt nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống là việc sử dụng có hiệu
quả nhất các yếu tố bên trong và bên ngoài của hệ thống trong điều kiện chấp nhận cạnh tranh
với các hệ thống khác, chấp nhận các rủi ro có thể xảy ra cho hệ thống.
Việc tuân thủ đúng luật và thông lệ hiện hành là việc tiến hành các hoạt động kinh tế
theo đúng những điều mà luật pháp trong nước và quốc tế không cấm, những quy ước mà thị trường chấp nhận.
7. Thực chất của quản lý kinh tế
Xét về mặt tổ chức và kỹ thuật của hoạt động quản lý, quản lý chính là sự kết hợp được
mọi sự nỗ lực chung của con người trong hệ thống và việc sử dụng tốt các của cải vật chất
thuộc phạm vi sở hữu của hệ thống để đạt tới mục tiêu chung của hệ thống và mục tiêu riêng
của mỗi người một cách khôn khéo và có hiệu quả nhất. Quản lý kinh tế phải trả lời câu hỏi
"phải sản xuất ra cái gì?", "phải sản xuất cái đó như thế nào?", " phải bán cái đó cho ai và bán
như thế nào?", "phải cạnh tranh với ai và cạnh tranh như thế nào?", "rủi ro nào có thể xảy ra và
cách xử lý?" và trong một chừng mực nào đó phải trả lời cả câu hỏi "sản xuất cái đó để làm gì?".
Quản lý ra đời chính là để tạo ra một hiệu quả hoạt động cao hơn hẳn so với lao động
của từng cá nhân riêng rẽ, của một nhóm người khi họ tiến hành các hoạt động lao động chung.
Nói cách khác, thực chất của quản lý kinh tế là quản lý con người trong hoạt động kinh tế,
thông qua đó sử dụng có hiệu quả nhất mọi tiềm năng và cơ hội của hệ thống.
8. Bản chất của quản lý kinh tế
Xét về mặt kinh tế xã hội của quản lý, quản lý kinh tế là các hoạt động chủ quan của
chủ thể quản lý vì mục tiêu lợi ích của hệ thống, bảo đảm cho hệ thống tồn tại, phát triển lâu
dài, trang trải vốn và lao động, bảo đảm tính độc lập và cho phép thoả mãn những đòi hỏi xã
hội của chủ thể quản lý và của mọi cá nhân khác trong hệ thống. Mục tiêu của hệ thống do chủ
thể quản lý đảm nhận, họ là chủ sở hữu của hệ thống và là người nắm giữ quyền lực của hệ
thống. Nói một cách khác, bản chất của quản lý kinh tế tuỳ thuộc vào chủ sở hữu của hệ thống.
Đây là sự khác biệt về chất giữa quản lý xã hội chủ nghĩa và quản lý tư bản chủ nghĩa. Đây
cũng là một vấn đề mà chủ nghĩa xã hội còn phải đang tiếp tục tìm cách giải đáp cho thoả đáng.
Từ khi hình thành xã hội, lúc con người có của thừa, thì vấn đề sở hữu cũng được đặt ra
và trở thành tâm điểm của mọi sự tranh chấp và xung đột giữa cá nhân, nhóm người, cộng đồng
và xã hội. Sở hữu, nhất là sở hữu tư liệu sản xuẩt trở thành thước đo trình độ phát triển của các chế độ và xã hội.
8.1 Dưới chế độ chiếm hữu nô lệ, quyền sở hữu, sử dụng và chuyển nhượng tư liệu sản
xuất thuộc quyền các tù trưởng và các thủ lĩnh trong các bộ tộc; con người cũng được xem như
là một thứ tư liệu sản xuất mà chủ sở hữu có toàn quyền sử dụng và chuyển nhượng. Sở hữu
mang tính thiểu số của các chủ sở hữu nhằm chi phối toàn xã hội dẫn đến nhiều bất công
(người lao động chỉ là nô lệ và bị chà đạp hết sức da man) và tất yếu dẫn đến sự tan rã của chế
độ chiếm hữu nô lệ, trong đó mục tiêu chính của nó là phải xem xét lại chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất của xã hội.
8.2. Trong chế độ phong kiến, giai cấp phong kiến là kẻ làm chủ các tư liệu sản xuất,
quyền sở hữu tư liệu sản xuất dành cho các tập đoàn phong kiến với số lượng đông hơn các thủ
lĩnh dưới thời chiếm hữu nô lệ, còn người lao động về cơ bản vị thế xã hội không được thay
đổi, họ vẫn là một thứ tài sản thuộc quyền sở hữu của chúa phong kiến. Các mâu thuẩn dưới
thời chiếm hữu nô lệ vẫn không được cải thiện, mà chỉ thay đổi ở số lượng các nhà chiếm hữu
tăng lên, tạo ra sưc mạnh, đối trọng đối với người lao động lớn hơn. Lịch sử đã diễn ra sự tiêu
diệt tất yếu của chế độ phong kiến, một chế độ, nếu xét dưới góc độ sở hữu vẫn là sở hữu của
nhóm nhỏ và các chủ sở hữu, và con người thuộc vào phạm trù sở hữu.
8.3. Chế độ tư bản chủ nghĩa
- Giai đoạn trước độc quyền (trước hiện đại): quyền sở hữu của cải xã hội được chuyển
sang tay một giai cấp mới là giai cấp tư sản và con người không thuộc phạm trù sở hữu nữa, nó
được tách thành hai phạm trù: con người và sức lao động của con người. Và trong sức lao động
nó cũng được tách thành hai phạm trù nhỏ nữa là quyền sở hữu và quyền sử dụng.
Chủ nghĩa tư bản với tất cả sự thâm độc theo kiểu văn minh công nghệ mới đã hết sức
hô hào cho nền dân chủ xã hội tư bản. Chúng cho rằng chỉ có dưới chế độ tư bản, con người
mới được tự do, dân chủ và bình đẳng: Ai có của thì cứ việc làm giàu, ai không có của, không
có tư liệu sản xuất thì được quyền tự do đem bán sức lao động của mình. Sức lao động trở
thành hàng hoá cùng với nền kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa. Mặc dù còn đầy rẫy bất công,
nhưng dù sao chế độ tư bản chủ nghĩa cũng đã có bước điều chỉnh trong việc giải quyết vấn đề
sở hữu. Con người đã không còn là một thứ sở hữu trực tiếp của nhà tư bản nữa.
- Giai đoạn chủ nghĩa tư bản hiện đại: Để dung hoà mâu thuẩn đối kháng giữa tư bản và
vô sản, giữa chính quyền và tư sản, Nhà nước tư bản đã thực hiện chủ thuyết đa dạng hoá các
quyền sở hữu, bao gồm: sở hữu cá nhân, sở hữu Nhà nước, sở hữu cộng đồng và sở hữu chung.
Ở hình thức sở hữu cá nhân, các nhà tư bản đã tiến hành các bước điều chỉnh cần thiết để mị
dân, để né tránh mũi nhọn đấu tranh, và vì thế hiện nay nó đang thu được những thành công
nhất thời. Các hoat động vì lợi ích công cộng (thuộc sở hữu Nhà nước, cộng đồng chung) được
thực hiện với một tỷ lệ nhất định nhằm không đẩy con người tới cái ngưỡng quá tải bị bóc lột,
và đẩy tới chỗ chết để khỏi buộc họ làm cách mạng lật đổ xã hội tư bản.
8.4. Ở các nước xã hội chủ nghĩa
Trong thời kỳ trước khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, chế độ sở hữu được thực
hiện cho toàn xã hội dưới dạng sở hữu toàn dân (công hữu và xã hội); nó đã giải thoát người lao
động, tạo ra một bước ngoặc to lớn của một xã hội mới. Chủ nghĩa xã hội đã được lịch sử ghi nhận và tôn trọng.
Khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, từ trạng thái cực đoan sở hữu công cộng, các
nước Đông Âu đã chuyển sang một trạng thái cực đoan khác là tư hữu hoá và trung hữu hoá
toàn bộ nền kinh tế quốc dân, phân chia nhỏ tài sản của đất nước giao lại cho từng người để họ
tuỳ nghi xử lý tư nhân hoá liên doanh, liên kết; việc làm này chỉ sau một thời gian lập tức làm
cho xã hội phân cực thành kẻ giàu và người nghèo, người nghèo phải bán của cải do làm ăn cơ
nhỡ thua thiệt cho kẻ giàu và lại trở thành trắng tay.
- Ở nước ta hiện nay, theo quan điểm mới của Đảng, chúng ta chủ trương đa dạng hoá
các thành phần kinh tế tương ứng với việc đa dạng hoá các hình thức sở hữu; nhờ đó, một mặt
phát huy được sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm của mỗi cá nhân, tập thể,công đồng, mặt khác lại
phát huy được vai trò điều tiết vĩ mô tập trung của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Điều 17 Hiến pháp 1992 ghi: "Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng
đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư
vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học kỹ
thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà
nước, đều thuộc sở hữu toàn dân"; Điều 23 Hiến pháp cũng ghi: " tài sản hợp pháp của cá nhân,
tổ chức không bị quốc hữu hoá..." Thực tế vừa qua bước đầu cho thấy, việc đa dạng hoá các
hình thức về tư liệu sản xuất là hợp lý, nhưng các hình thức sở hữu toàn dân phải từng bước
chiếm địa vị là nền tảng và phát huy vai trò chủ đạo của nó trong cơ chế thị trường, chấp nhận
cạnh tranh, chấp nhận mở cửa.
9. Quản lý kinh tế là một khoa học
Quản lý kinh tế là một khoa học vì có đối tượng nghiên cứu riêng là các quan hệ quản
lý. Các quan hệ quản lý là một hình thức của quan hệ sản xuất (quan hệ sản xuất như vẫn hiểu
bao gồm: 1)quan hệ sở hữu, 2) quan hệ quản lý và 3) quan hệ phân phối), thể hiện mối quan hệ
giữa con người với con người trong quá trình tiến hành các hoạt động kinh tế, bao gồm: 1) quan
hệ giữa hệ thống cấp trên với hệ thống cấp dưới, 2) quan hệ giữa hai hệ thống ngang cấp, 3)
quan hệ giữa người lãnh đạo và người thực hiện, 4) quan hệ giữa những cá nhân lãnh đạo
ngang cấp và 5) quan hệ giữa hệ này với hệ kia.
10. Quản lý kinh tế là một nhệ thuật
Điều này lệ thuộc vào tài năng, nhân cách, thủ đoạn, có mang vận rủi của người lãnh
đạo. Nếu dung lượng của quản lý là 100%, thì tính khoa học của quản lý chiếm 90%, còn lại là
của nghệ thuật quản lý.
11. Quản lý kinh tế là một nghề
Nghề quản lý (The profession of management) ai cũng có thể đi học để tham gia các
hoạt động kinh tế. Nhưng học có thành công hay không? Có học giỏi nghề hay không? Điều đó
còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố khác; Học nghề ở đâu? Ai dạy nghề? Cách học nghề ra sao?
Chương trình thế nào? Người dạy có thực tâm truyền hết nghề hay không? Năng khiếu nghề
nghiệp, ý chí làm giàu, lương tâm nghề nghiệp của người học ra sao? Các tiền đề tối thiểu về
vật chất ban đầu cho sự hành nghề được bao nhiêu?.v.v...Như vậy, muốn điều hành các hoạt
động kinh tế có kết quả một cách chắc chắn, thì trước tiên các nhà quản lý phải được đào tạo về
nghề nghiệp (kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm) một cách chu đáo để phát hiện một cách chuẩn
xác và đầy đủ các quy luật khách quan xuất hiện trong quá trình kinh doanh đồng thời có
phương pháp nghệ thuật thích hợp nhằm tuân thủ đúng các đòi hỏi của các quy luật đó.
12. Khả năng quản lý kinh tế một cách khoa học
Quản lý tuy là một trong những hoạt động lâu đời của con người, nhưng trong một thời
gian dài người ta đã phủ nhận khả năng quản lý theo những nguyên tắc khoa học,và cho rằng,
yếu tố quyết định trong quản lý là tài năng của người quản lý. Khả năng quản lý một cách khoa học là một thực tế.
Trước hết, trong quản lý có những nguyên tắc ổn định và bền vững mà người lãnh đạo
cần phải nghiên cứu và vận dụng. Thứ hai, quản lý có liên quan tới con người. Ở nơi nào có sự
tham gia của con người thì ở đó không chỉ có những quy luật khách quan không thôi, mà còn
phải biết những con người ở đó có thể nhận thức và vận dụng những quy luật khách quan hay không.
Tính khoa học của quản lý trong kinh tế trước hết đòi hỏi việc quản lý kinh tế phải dựa
trên sự hiểu biết sâu sắc quy luật khách quan, nghiên cứu những hình thức biểu hiện cụ thể của
các quy luật, chứ không phải chỉ dựa trên kinh nghiệm cá nhân và trực giác của người lãnh đạo.
Tính khoa học của quản ký kinh tế đòi hỏi phải nghiên cứu toàn diện, đồng bộ các hoạt
động kinh tế, không chỉ giới hạn ở mặt kinh tế kỹ thuật mà còn phải suy tính đến các mặt xã hội
và tâm lý của quá trình đó.
Tính khoa học cuả quản lý kinh tế còn biểu hiện ở chỗ, nó dựa vào những phương pháp
đo lường, định lượng hiện đại, sự đánh giá khách quan, việc mô hình toán học va sự phân tích
toán - thống kê các quá trình bị quản lý.
13. Nội dung của quản lý kinh tế
Quản lý kinh tế có các nội dung chủ yếu sau:
13.1. Cơ sở lý luận và phương pháp luận của quản lý kinh tế - Lý thuyết hệ thống
- Thực chất, bản chất, đối tượng, nội dung quản lý
- Vận dụng các quy luật trong quản lý
- Các nguyên tắc quản lý
- Các phương pháp quản lý
- Đường lối, chủ trương, chiến lược phát triển.v.v...
- Quan hệ giữa quản lý macro, mejo và micro.
13.2. Cơ sở tổ chức quản lý kinh tế - Chức năng quản lý
- Cán bộ tổ chức bộ máy - Cán bộ quản lý
13.3. Tổ chức quá trình quản lý kinh tế - Mục tiêu quản lý - Thông tin kinh tê - Quyết định quản lý
- Tổ chức khoa học của người lãnh đạo
- Phương tiện quản lý, quản lý tự động hoá.v.v...
13.4. Cải tiến và đổi mới quản lý kinh tế - Hiệu quả quản lý - Hiệu quả kinh tế - Phân tích quản lý
- Cải tiến và đổi mới quản lý - Thời cơ - Rủi ro.v.v...
II. Tổng quan về quy luật 1. Quy luật
1.1. Khái niệm: Quy luật là mối liên hệ bản chất, tất nhiên, phổ biến, bền vững, lặp đi
lặp lại của các sự vật và hiện tượng trong những điều kiện nhất định.
Chẳng hạn, trong kinh tế thi trường tất yếu phải có các quy luật cạnh tranh, cung cầu,
giá trị.v.v...hoạt động. Hoặc ở các nước nhiệt đới không thể nào có tuyết (nếu không có diễn
biến đột xuất của thời tiết.v.v...).
Khi xem xét quy luật, điều quan trọng là phải tính đến điều kiện của nó. Chẳng hạn đun
nước 100 olà sôi, đó là ở điều kiện dưới mặt đất (áp suất 760 cm 3thuỷ ngân), còn đưa lên cao,
cứ 1 km so với mặt đất thì nhiệt độ sôi lại giảm đi 1 .o Cũng như vậy các nhà kinh điển nói chủ
nghĩa xã hội có một quy luật kinh tế cơ bản là "không ngừng năng cao đới sống nhân dân trên
cơ sở phát triển sản xuất khi đã ở chặng cuối của chủ nghĩa xã hội ", nhưng do quên mất điều
kiện đó, do chủ quan thiếu suy xét, nhiều người cho quy luật đó có ngay từ khi bắt đầu đi vào
xây dựng chủ nghĩa xã hội và họ đã bị thất bại; họ đã lẫn lộn giữa mục tiêu và quy luật. Hoặc
trong vấn đề tham nhũng khi ý thức cách mạng của con người còn cao và khi đời sống kinh tế
còn chưa phát triển lắm, thì chưa trở thành vấn đề; nhưng khi đã có cuộc sống vật chất đầy đủ
tiện nghi, nhiều tiền bạc, vị thế chính quyền lớn mà phẩm chất suy thoái, thì tham nhũng mới
có đất để hoành hành và mới trở thành vấn đề.
1.2. Đặc điểm của các quy luật: Quy luật do con người gọi tên ra, nhưng không phải do
con người tạo ra; nó có đặc điểm khách quan của nó.
a) Con người không thể tạo ra quy luật nếu điều kiện của quy luật chưa có, ngược lại,
khi điều kiện xuất hiện của quy luật vẫn còn tồn tại thì con người không thể xoá bỏ được quy luật.
b) Các quy luật tồn tại và hoạt động không lệ thuộc vào việc con người có nhận biết
được nó hay không, ưa thích nó hay là ghét bỏ nó.
Chẳng hạn, người lao động ở các nước tư bản chủ nghĩa đã hàng thế kỷ đấu tranh với
chủ nghĩa tư bản vì bị bóc lột quá tàn nhẫn; chính quyền tư bản càng đàn áp thì đấu tranh càng
phát triển. Nhưng từ khi nhà tư bản nắm được quy luật "con giun xéo mãi cũng quằn" đã điều
chỉnh sự bóc lột dưới mức "ngưỡng" mà con người lao động chịu đựng, thì họ đã hạn chế được
phần nào. Vì vậy, hiện tại ở nhiều nước tư bản chủ nghĩa mức lương hàng tháng từ 600 - 3000
USD cho một lao động kỹ thuật và phổ cập làm cho người lao động cảm thấy "hợp lý" so với
nhiều nước mà mức lương mói chỉ là 20 - 60 USD mỗi tháng mỗi người.
c) Các quy luật đan xen vào nhau tạo thành một hệ thống thống nhất, nhưng khi xử lý
các quy luật thì thường chỉ do một số quy luật chi phối (tuỳ điều kiện cụ thể của môi trường).
d) Đối với con người, chỉ có các quy luật chưa biết, chứ không có các quy luật không biết.
1.3. Cơ chế sử dụng các quy luật
a) Phải nhận biết được quy luật. Quá trình nhận thức quy luật bao gồm hai giai đoạn:
nhận biết qua các hiện tượng thực tiễn và qua các phân tích bằng khoa học và lý luận. Đây là
một quá trình tuỳ thuộc vào trình độ mẫn cảm, nhạy bén của con người.
b) Tổ chức các điều kiện chủ quan của hệ thống để cho hệ thống xuất hiện các điều kiện
khách quan mà nhờ đó quy luật phát sinh tác dụng.
Chẳng hạn, để cho các quy luật của thị trường như cạnh tranh, giá trị, cung cầu.v.v...
phát huy tác dụng các cơ quan quản lý vĩ mô của nhà nước phải soát xét lại các chức năng của
mình để tạo điều kiện môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp phát huy tác dụng.
c) Tổ chức thu thập các thông tin sai phạm ách tắc do việc không tuân thủ các đòi hỏi
của các quy luật khách quan gây ra.
2. Các quy luật kinh tế
2.1. Khái niệm: Các quy luật kinh tế là các mối liên hệ bản chất, tất nhiên, phổ biến,
bền vững, lặp đi lặp lại của các hiện tượng kinh tế trong những điều kiện nhất định.
2.2. Đặc điểm của các quy luật kinh tế
a) Các quy luật kinh tế tồn tại và hoạt động thông qua các hoạt động của con người.
b) Các quy luật kinh tế có độ bền vững kém hơn các quy luật khác.
2.3. Tiền đề vận dụng các quy luật kinh tế
a) Phải nhận thức được quy luật kinh tế (bằng thực tế và lý luận).
b) Phải giải quyết đúng vấn đề sở hữu và vấn đề lợi ích cho con người và xã hội.
c) Phải phát huy vai trò điều hành, quản lý của nhà nước (cơ chế quản lý kinh tế).
2.4. Cơ chế quản lý kinh tế
a) Định nghĩa: Cơ chế quản lý kinh tế là phương thức điều hành có kế hoạch nền kinh
tế, dựa trên cơ sở các đòi hỏi của quy luật khách quan của sự phát triển xã hội, bao gồm tổng
thể các phương pháp, các hình thức, các thủ thuật để thực hiện yêu cầu của các quy luật khách quan ấy.
b) Nội dung: Cơ chế quản lý bao gồm các nội dung sau:
- Xác định phương thức trao đổi giữa sản xuất và tiêu thụ.
- Tổ chức sản xuất phù hợp với đường lối, chủ trương phát triển (bộ máy và cán bộ của bộ máy).
- Sử dụng đúng đắn các lợi ích kinh tế, các đòn bẫy kinh tế ( bao gồm: giá, lương, tiền,
thuế, thủ tục vay mượn tài chính, ngân hàng, hợp đồng kinh tế, việc hình thành và sử dụng các
loại quỹ, tỷ giá hối đoái, các biện pháp kích thích vật chất và tinh thần.v.v...).
- Hoạch toán, hiệu quả kinh tế (sản xuất phải bù được chi phí và phải thu được lãi).
c) Khuyết tật của cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp:
- Quản lý bằng mệnh lệnh, áp đặt chủ quan, nôn nóng, bất chấp mọi quy luật.
- Các cơ quan cấp trên can thiệp thô bạo vào các cơ quan cấp dưới, nhưng lại không
chịu trách nhiệm về mặt vật chất của cấp dưới.
- Bộ máy quản lý thì cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian, kém hiệu lực và hiệu quả.
- Cán bộ quản lý phần lớn không thạo kinh doanh, tác phong cửa quyền, thu vén.
- Xem nhẹ các quy luật của nền kinh tế hàng hoá thị trường (cung cầu, cạnh tranh, giá trị.v.v...).
- Không tạo được động lực mạnh cho hệ thống kinh tế quốc dân hoạt động. 3.Tâm lý
3.1. Tâm lý cá nhân: là sự phản ánh thế giới khách quan bên ngoài vào bộ óc con
người, được lưu trữ và được thể hiện thành các hành vi, lối sống, cử chỉ, niềm tin, đạo đức.v.v...
3.2. Vai trò: tâm lý là một tiềm năng to lớn của quản lý.
3.3. Các quy luật tâm ký cần lưu ý trong quản lý kinh tế.
- Đặc điểm tâm lý cá nhân (tính khí, tính cách, năng lực, xu hướng).
- Các quy luật tâm lý đám đông, tập thể, xã hội.
- Các quy luật cạnh tranh kinh tế.v.v...