



















Preview text:
Chương 3
TÀI KHOẢN VÀ GHI KÉP
Như đã nêu ở chương 1, qui trình kế toán qua 3 giai đoạn: thu thập – ghi nhận -
cung cấp thông tin. Qua giai đoạn thu thập sẽ hình thành nên các chứng từ như là
những dữ liệu ban đầu của kế toán. Tiếp theo là giai đoạn ghi nhận. Đây là việc
ghi nhận của kế toán để hệ thống hóa dữ liệu ban đầu thành các thông tin kế toán,
do vậy việc ghi nhận phải theo phương pháp nhất định, đó chính là phương pháp tài khoản và ghi kép.
Sau khi học chương này, người học có thể:
-Hiểu được tài khoản với tư cách là một phương pháp trong quá trình ghi nhận
để hệ thống hóa dữ liệu ban đầu thành các thông tin kế toán.
-Giải thích được sự hình thành phương pháp ghi kép vào tài khoản và những
nguyên tắc của nó trong việc ghi nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào tài khoản.
-Hiểu được kết cấu của các loại tài khoản nói chung và những tài khoản có kết
cấu đặc biệt, trên cơ sở đó vận dụng được ghi kép vào tài khoản được đúng đắn.
-Vận dụng được các cân đối vốn có trong kế toán để thực hiện việc kiểm tra số
liệu ghi chép trên các tài khoản kế toán. 3.1. Tài khoản kế toán 3.1.1. Khái niệm
Ở giác độ là một phương pháp, tài khoản chính là phương pháp phân loại được
sử dụng phổ biến trong các ngành khoa học. Mỗi ngành khoa học với đặc tính
khác nhau sẽ vận dụng phương pháp phân loại khác nhau phù hợp với đặc tính
nghiên cứu của mình. Kế toán vận dụng phương pháp phân loại để thực hiện việc
phân chia đối tượng kế toán thành những đối tượng cụ thể nhằm phản ảnh một
cách thường xuyên, liên tục sự biến động của từng loại đối tượng. Quá trình ghi
nhận (phản ảnh) sự biến động của đối tượng kế toán (qua mỗi nghiệp vụ kinh tế
phát sinh) vào tài khoản chính là quá trình xử lý, hệ thống hóa dữ liệu ban đầu của
kế toán theo từng loại đối tượng, hình thành nên thông tin kế toán theo các yêu cầu của quản lý. 1
Như vậy, ở giác độ là một phương pháp thì tài khoản chính là phương pháp phân
loại được vận dụng phù hợp với đặc tính nghiên cứu của kế toán. Còn mỗi tài
khoản chính là mỗi đối tượng kế toán cụ thể được hình thành qua việc phân loại
đối tượng kế toán. Qua phân loại đối tượng kế toán ở chương 2 đã chia thành 5
yếu tố của đối tượng kế toán. Tiếp theo, các yếu tố còn được chia thành các đối
tượng cụ thể, như: yếu tố Tài sản còn được chia ra: Tiền mặt, Tiền gởi ngân hàng,
Nguyên vật liệu...; yếu tố Nợ phải trả còn được chia ra: Nợ phải trả người bán, Nợ
phải trả người lao động, ... Lúc này sẽ hình thành các tài khoản tương ứng: Tài
khoản Tiền mặt, Tài khoản Tiền gởi ngân hàng, Tài khoản Nguyên vật liệu, Tài
khoản Phải trả người bán, Tài khoản Phải trả người lao động.
Trên thực tế, để thực hiện việc ghi nhận sự biến động của đối tượng kế toán vào
tài khoản, tài khoản phải được thể hiện theo các mẫu nhất định gọi là sổ kế toán.
Cụ thể, mỗi tài khoản được thể hiện trên một cột sổ hoặc một trang sổ để ghi nhận
sự biến động của đối tượng kế toán thuộc tài khoản đó. Từ thực tế này, người ta
còn có thể nêu một cách cụ thể hơn về tài khoản: Tài khoản là những cột sổ hay
trang sổ dùng để ghi chép, phản ảnh một cách thường xuyên, liên tục sự biến động
của từng loại đối tượng kế toán. Chẳng hạn, đối với tiền mặt, kế toán sẽ dựa vào
các chứng từ có liên quan đến thu, chi tiền mặt để ghi vào cột hoặc trang sổ tiền
mặt; đối với nguyên vật liệu, kế toán sẽ dựa vào các chứng từ có liên quan đến
nhập, xuất nguyên vật liệu để ghi vào cột hoặc trang sổ nguyên vật liệu ... Qua đó,
kế toán sẽ tổng hợp được sự biến động và số hiện có của từng loại đối tượng, như:
tình hình biến động tăng (thu vào), biến động giảm (chi ra) và số hiện có của tiền
mặt; tình hình biến động tăng (nhập vào), biến động giảm (xuất ra) và số hiện có
của nguyên vật liệu, vv...
3.1.2. Các yếu tố của tài khoản
Mỗi tài khoản đều phải các yếu tố để bảo đảm thông tin cần thiết phục vụ cho
việc ghi nhận và tổng hợp số liệu trên các tài khoản. Trên tinh thần này, mỗi tài khoản phải có:
-Tên tài khoản: phản ảnh khái quát đối tượng được phản ảnh trên tài khoản.
-Số hiệu tài khoản: là ký hiệu bằng số của tài khoản, mỗi tài khoản có một số hiệu
riêng để thuận tiện cho việc sử dụng và tổng hợp số liệu từ tài khoản.
-Hai bên (hai phần) của tài khoản: Tài khoản phản ảnh sự biến động tăng, giảm
của đối tượng kế toán, nên tài khoản phải có 2 phần để phản ảnh sự biến động
tăng, giảm này. Mỗi phần cũng cần có tên riêng, cụ thể:
+Phần bên trái gọi là bên Nợ.
+Phần bên phải gọi là bên Có.
Ở 2 phần, nếu phần bên này phản ảnh số biến động tăng thì phần bên kia phản
ảnh số biến động giảm, và ngược lại. 2
-Số phát sinh trong kỳ: là số biến động của đối tượng kế toán ghi vào tài khoản
trong kỳ và cũng bao gồm: số phát sinh tăng (nếu ghi số biến động tăng) và số
phát sinh giảm (nếu ghi số biến động giảm).
-Số dư của tài khoản: là số hiện có (hiện còn) của đối tượng kế toán phản ảnh trên
tài khoản. Nếu là số hiện có đầu kỳ, gọi là số dư đầu kỳ; nếu là số hiện có cuối kỳ,
gọi là số dư cuối kỳ.
Có thể biểu hiện một cách khái quát các yếu tố của một tài khoản như sau:
Tên tài khoản..........................
Số hiệu:.................................... Nợ Có
Tài khoản được nêu trên là hình tượng rút gọn của tài khoản và được gọi là tài
khoản chữ “T”, thường được sử dụng trong nghiên cứu và học tập. Trên thực tế,
việc tổ chức thiết kế tài khoản để phản ảnh biến động của đối tượng kế toán sẽ bao
gồm các cột phức tạp hơn nhiều.
3.1.3. Kết cấu của các loại tài khoản
Kết cấu của tài khoản là việc xác định hai bên Nợ, Có của tài khoản sẽ phản ảnh
số phát sinh như thế nào (bên nào phản ảnh số phát sinh tăng, bên nào phản ảnh số
phát sinh giảm) và số dư của tài khoản (nếu có) ở bên nào.
Như đã trình bày ở chương 2, đối tượng kế toán gồm 5 yếu tố: tài sản, nợ phải
trả, vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí. Tài khoản với chức năng phản ảnh sự biến
động của các đối tượng kế toán, do vậy tài khoản cũng có 5 loại tương ứng để
phản ảnh, tổng hợp thông tin theo các loại đối tượng: Tài khoản phản ảnh tài sản,
Tài khoản phản ảnh nợ phải trả, Tài khoản phản ảnh vốn chủ sở hữu, Tài khoản
phản ảnh doanh thu, Tài khoản phản ảnh chi phí.
Mỗi loại tài khoản phản ảnh sự vận động của đối tượng kế toán có tính chất khác
nhau. Với sự vận động của tài sản, có tính chất: khi tăng thể hiện đơn vị được một
cái gì đó, và khi giảm thể hiện đơn vị mất một cái gì đó. Với sự vận động của nợ
phải trả: khi tăng thể hiện trách nhiệm nợ của đơn vị tăng lên và đơn vị sẽ dùng
nguồn lực của mình để thanh toán trách nhiệm nợ này, tức là đơn vị sẽ mất đi một
cái gì đó, và khi giảm thể hiện đơn vị bớt được trách nhiệm nợ, không còn phải
dùng nguồn lực để thanh toán nữa, điều này cũng có nghĩa là đơn vị đươc một cái 3
gì đó. Với sự vận động của vốn chủ sở hữu: phân tích kỹ cũng sẽ thấy nó giống
như sự vận động của nợ phải trả, vì với khái niệm thực thể kinh doanh, đơn vị
kinh doanh là một thực thể có pháp nhân riêng, độc lập với các chủ sở hữu, nên
quan hệ về trách nhiệm đối với vốn sử dụng ở đơn vị với chủ sở hữu suy cho cùng
cũng giống như quan hệ đối với chủ nợ mà đơn vị phải trả (vì cuối cùng khi đơn
vị không còn hoạt động thì vốn của chủ sở hữu phải được trả về cho chủ sở hữu).
Như vậy, sự vận động của nợ phải trả và của vốn chủ sở hữu có tính chất giống
nhau và nó ngược với tính chất vận động của tài sản.
Đối với doanh thu và chi phí: Sự vận động của doanh thu, với định nghĩa về
doanh thu nêu ở chương 2, có thể thấy sự vận động của doanh thu là cùng chiều
với sự vận động của vốn chủ sở hữu, khi doanh thu biến động tăng sẽ dẫn đến vốn
chủ sở hữu tăng, và ngược lại. Còn đối với sự vận động của chi phí, ta cần phải
phân biệt 2 loại: chi phí vốn hóa và chi phí thời kỳ. Với chi phí vốn hóa là chi phí
sẽ hình thành nên tài sản, nên khi chi phí này tăng lên thì cũng đồng nghĩa là tài
sản sẽ tăng lên và như vậy sự vận động của nó cũng được xem như là sự vận động
của tài sản. Với chi phí thời kỳ, theo định nghĩa về chi phí nêu ở chương 2, có thể
thấy sự vận động của chi phí này là ngược với sự vận động của vốn chủ sở hữu,
khi chi phí này biến động tăng sẽ dẫn đến vốn chủ sở hữu giảm, và ngược lại. Do
tính chất vận động của tài sản và vốn chủ sở hữu là ngược nhau, nên chi phí nói
chung (cả chi phí vốn hóa và chi phí thời kỳ) có tính chất vận động như nhau và
cùng ngược với sự vận động của vốn chủ sở hữu.
Phân tích tính chất vận động của các đối tượng kế toán như trên (cũng là các nội
dung phản ảnh ở các loại tài khoản tương ứng) sẽ giúp chúng ta giải thích được
qui định về kết cấu của các loại tài khoản. Nhất là tài khoản phản ảnh nợ phải trả
và tài khoản phản ảnh vốn chủ sở hữu phải ngược với tài khoản phản ảnh tài sản;
tài khoản phản ảnh doanh thu cùng chiều với tài khoản phản ảnh vốn chủ sở hữu,
nhưng tài khoản phản ảnh chi phí phải ngược với tài khoản phản ảnh vốn chủ sở
hữu. Cụ thể, qui định về kết cấu các loại tài khoản như dưới đây:
Trước hết, Tài khoản phản ảnh tài sản: qui định về kết cấu như sau:
Nợ Tài khoản phản ảnh tài sản Có
SD ĐK: Giá trị tài sản hiện có vào đầu kỳ
Số phát sinh tăng: Phản ảnh Số phát sinh giảm: Phản ảnh giá
giá trị tài sản tăng trong kỳ trị tài sản giảm trong kỳ
SDCK: Giá trị tài sản hiện có vào cuối kỳ 4
Tài khoản phản ảnh nợ phải trả: qui định kết cấu ngược lại với kết cấu của tài
khoản phản ảnh tài sản.
Nợ Tài khoản phản ảnh nợ phải trả Có
Số phát sinh giảm: Phản ảnh SD ĐK: Nợ còn phải trả vào đầu kỳ
Số phát sinh giảm: phản ánh nợ phải Số phát sinh tăng: Phản ảnh
trả giảm trong kỳ nợ phải trả tăng lên trong kỳ
SDCK: Nợ còn phải trảvào cuối kỳ
Tài khoản phản ảnh vốn chủ sở hữu: cũng qui định kết cấu ngược lại với kết cấu
tài khoản phản ảnh tài sản.
Nợ Tài khoản phản ảnh vốn chủ sở hữu Có
Số phát sinh giảm: Phản ảnh SDĐK: Vốn chủ sở hữu hiện có vào đầu kỳ
Số phát sinh giảm: phản vốn chủ sở
hữu Số phát sinh tăng : Phản ảnh vốn chủ tăng lên trong kỳ
SDCK : Vốn chủ sở hữu hiện có vào cuối kỳ 5
Tài khoản phản ảnh doanh thu: qui định kết cấu cùng chiều với kết cấu tài khoản
phản ảnh vốn chủ sở hữu.
Nợ Tài khoản phản ảnh doanh thu Có
Số phát sinh tăng: Phản ảnh doanh thu tăng lên trong kỳ
Số phát sinh giảm: Phản ảnh doanhthu tăng lên trong kỳ
Tài khoản phản ảnh chi phí: qui định kết cấu ngược lại với kết cấu tài khoản
phản ảnh vốn chủ sở hữu.
Nợ Tài khoản phản ảnh chi phí Có
Số phát sinh giảm: Phản ảnh
Số phát sinh tăng: phản ánh chi phí Số phát sinh giảm: Phản ảnh chi tăng lên trong kỳ
Trong 5 loại tài khoản trên, ta thấy chỉ có 3 loại tài khoản: tài khoản phản ảnh tài
sản, tài khoản phản ảnh nợ phải trả, tài khoản phản ảnh vốn chủ sở hữu là có số dư
(đầu kỳ và cuối kỳ). Các tài khoản này còn được gọi là tài khoản thực, phản ảnh
những đối tượng cần được thông tin theo những thời điểm nhất định, nhất là thời
điểm vào cuối kỳ. Số dư của những tài khoản này sẽ được trình bày trên báo cáo
tài chính (Bảng cân đối kế toán) và sẽ được mang sang thành số dư đầu kỳ của kỳ
kế toán sau. Còn tài khoản phản ảnh doanh thu và tài khoản phản ảnh chi phí là
không có số dư (đầu kỳ và cuối kỳ). Các tài khoản này còn được gọi là tài khoản
danh nghĩa, phản ảnh những đối tượng mà thông tin cần được lũy kế theo thời
gian, nhất là thời gian của một kỳ kế toán. Số phát sinh của những tài khoản này ở
kỳ kế toán nào thì chỉ liên quan đến kỳ kế toán đó, do vậy, cuối kỳ số phát sinh
của những tài khoản này phải được xử lý bằng các bút toán khóa sổ (sẽ trình bày ở
chương 6), đồng thời chúng cũng được trình bày thành các chỉ tiêu trên báo cáo
tài chính (Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh), ngoại trừ các tài khoản phản
ảnh chi phí vốn hóa sẽ được kết chuyển làm tăng giá trị tài sản. 6
Sau đây là minh họa về việc ghi vào tài khoản các nghiệp vụ kinh tế phát sinh ở Công ty A.
Công ty A đầu tháng 1/202N có tiền mặt tồn quĩ: 15.000. Trong tháng có các
nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến tiền mặt: (ĐVT: 1000đ)
1- Rút tiền gởi ngân hàng về nhập quĩ tiền mặt: 70.000
2- Chi tiền mặt mua nguyên vật liệu: 50.000
3- Thực hiện dịch vụ cho khách hàng đã thu bằng tiền mặt: 80.000
4- Khách hàng trả nợ bằng tiền mặt: 35.000
5- Chi tiền mặt trả nợ vay ngân hàng: 20.000
Các nghiệp vụ kinh tế trên có liên quan đến TK Tiền mặt: NV1 (tiền mặt tăng
70.000), NV2 (tiền mặt giảm 50.000), NV3 (tiền mặt tăng 80.000), NV4 (tiền mặt
tăng 35.000), NV5 (tiền mặt giảm 20.000). Các nghiệp vụ trên được ghi vào TK Tiền mặt như sau: Nợ TK Tiền mặt Có SDĐK: 15.000
SPS: 70.000 (1) SPS: 50.000 (2) 80.000 (4) 20.000 (7) 35.000 (6) SDCK: 130.000
Qua việc ghi vào tài khoản ta sẽ thấy được sự biến động và số hiện có của tiền
mặt trong tháng 1/202N của Công ty A như sau:
Tiền mặt: đầu tháng 1/202N tồn quĩ: 15.000, trong tháng biến động tăng (thu
vào): 185.000, biến động giảm (chi ra): 70.000, cuối tháng tồn quĩ: 130.000.
Tương tự, khi có những nghiệp vụ liên quan đến những tài khoản khác, ta cũng
ghi vào những tài khoản đó và cũng sẽ có được những thông tin tương tự về đối
tượng được ghi. Như vậy, qua phương pháp tài khoản, các nghiệp vụ kinh tế phát
sinh sẽ được hệ thống hóa theo từng loại đối tượng, tức là thành những thông tin
kế toán theo yêu cầu của quản lý. 7
3.2. Ghi kép vào tài khoản
3.2.1. Sự hình thành phương pháp ghi kép
Qua việc ghi vào tài khoản như trình bày trên đã hệ thống hóa được thông tin kế
toán đáp ứng các yêu cầu của quản lý. Và trong một thời kỳ dài của kế toán,
người ta chưa có suy nghĩ gì đến đặc điểm biến động của các đối tượng kế toán
qua mỗi nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Khi thấy có đối tượng nào biến động liên
quan đến tài khoản nào người ta ghi vào tài khoản đó, ghi theo trực quan thấy
được từ sự biến động riêng rẻ của từng đối tượng kế toán. Với cách ghi như vậy
được gọi là kế toán ghi đơn. Kế toán ghi đơn đã tồn tại trong thời gian lâu dài và
cũng bảo đảm được thông tin cho các yêu cầu của quản lý trong điều kiện nền
kinh tế chưa phát triển với những qui mô lớn, đối tượng kế toán chưa có nhiều
phức tạp. Tuy nhiên, qua phương pháp ghi đơn chưa phản ảnh được đặc điểm
biến động của đối tượng kế toán và như vậy chưa bảo đảm được tính khoa học,
chặt chẽ trong ghi chép kế toán cho đến khi phương pháp ghi kép được hình
thành. Vậy phương pháp ghi kép đã được hình thành như thế nào?
Để trả lời câu hỏi trên, cần trở lại cách đặt vấn đề nghiên cứu của kế toán. Như
đã nêu, với cách đặt vấn đề nghiên cứu của kế toán đã làm cho đối tượng kế toán
luôn có tính 2 mặt, từ đó mỗi nghiệp vụ kinh tế phát sinh bao giờ cũng ảnh hưởng
làm biến động đến ít nhất là 2 đối tượng kế toán và luôn có sự cân bằng nhau về
sự biến động này. Sự ảnh hưởng của nghiệp vụ kinh tế phát sinh đến đối tượng kế
toán như vậy sẽ tạo ra mối quan hệ, gọi là quan hệ đối ứng kế toán. Trong hoạt
động của đơn vị có rất nhiều nghiệp vụ kinh tế phát sinh, nên cũng sẽ có rất nhiều
quan hệ đối ứng kế toán. Tuy nhiên, khi khái quát lại, chỉ gồm 4 trường hợp (4
loại) sau: (như đã trình bày ở cuối chương 2)
(1) Tài sản – Tài sản, biến động tăng tài sản này giảm tài sản kia
(2) Nguồn vốn – Nguồn vốn, biến động tăng nguồn vốn này giảm nguồn vốn kia
(3) Tài sản – Nguồn vốn, cả tài sản và nguồn vốn cùng biến động tăng
(4) Tài sản – Nguồn vốn, cả tài sản và nguồn vốn cùng biến động giảm 8
Khi nhận thấy được ảnh hưởng của nghiệp vụ kinh tế phát sinh tạo thành các mối
quan hệ đối ứng kế toán như trên, đã hướng người làm kế toán suy nghĩ đến việc
ghi nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào tài khoản sao cho phản ảnh đúng được các
quan hệ đối ứng kế toán đó. Và trải qua một thời gian dài tiếp theo, cùng với việc
qui định kết cấu của các loại tài khoản đúng với đặc điểm biến động của các đối
tượng phản ảnh trên tài khoản (như đã trình bày ở mục kết cấu của các loại tài
khoản), những người làm kế toán đã tìm thấy được cách ghi nghiệp vụ kinh tế
phát sinh vào tài khoản phản ảnh đúng được quan hệ đối ứng kế toán được hình
thành qua mỗi nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Chẳng hạn, nghiệp vụ kinh tế: Chi
tiền mặt mua nguyên vật liệu nhập kho 30 triệu đồng. Nghiệp vụ kinh tế này hình
thành nên quan hệ đối ứng kế toán là: quan hệ biến động giữa nguyên vật liệu và
tiền mặt, trong đó nguyên vật liệu biến động tăng 30 triệu đồng, tiền mặt biến
động giảm 30 triệu đồng (biến động tăng, giảm luôn bằng nhau). Để phản ảnh
đúng được quan hệ đối ứng kế toán này, kế toán phải ghi vào TK Nguyên vật liệu
tăng 30 triệu đồng và ghi vào TK Tiền mặt giảm 30 triệu đồng. Việc ghi vào tài
khoản phản ảnh đúng được quan hệ đối ứng kế toán như vậy được gọi là ghi kép
vào tài khoản. Và lúc này phương pháp ghi kép được hình thành. Có thể nói,
phương pháp ghi kép là phương pháp đặc trưng riêng có của kế toán, làm cho kế
toán trở thành một ngành khoa học độc lập.
3.2.2. Khái niệm và nguyên tắc ghi kép
a-Khái niệm: Với sự hình thành phương pháp ghi kép như trên, có thể nêu khái
niệm: Phương pháp ghi kép là việc ghi nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào tài khoản
sao cho phản ảnh đúng quan hệ đối ứng kế toán được hình thành qua mỗi nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
Việc ghi nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào tài khoản phản ảnh đúng được quan hệ
đối ứng kế toán thì chắc chắn là phải ghi vào ít nhất 2 tài khoản, vì nếu chỉ ghi
vào 1 tài khoản thì không thể nào phản ảnh đúng được quan hệ đối ứng kế toán,
do vậy người ta gọi là phương pháp ghi kép vào tài khoản.
b-Nguyên tắc: Để bảo đảm ghi kép vào tài khoản được đúng đắn, tức là phản
ảnh đúng được quan hệ đối ứng kế toán, thì từ quá trình hình thành phương pháp
ghi kép cũng như thực tiễn của quá trình ghi kép vào tài khoản, người ta đã khái
quát thành các nguyên tắc sau:
- Mỗi nghiệp vụ kinh tế phát sinh phải ghi vào ít nhất là 2 tài khoản, trong đó
phải có tài khoản ghi Nợ và tài khoản ghi Có, không được chỉ ghi Nợ hoặc chỉ ghi Có các tài khoản. 9
-Số tiền ghi bên Nợ và số tiền ghi bên Có của các tài khoản phải luôn bằng
nhau. Hệ quả: Tổng số phát sinh bên Nợ và tổng số phát sinh bên Có của tất cả
các tài khoản phải bằng nhau.
Bất kỳ sự ghi chép nào không bảo đảm được đầy đủ các nguyên tắc trên đều sẽ
không thể đúng được trong ghi kép vào tài khoản. Có thể giải thích về những
nguyên tắc phải tuân thủ này như sau: Phải ghi vào ít nhất 2 tài khoản, vì nếu chỉ
ghi vào 1 tài khoản thì sẽ không thể nào phản ảnh đúng quan hệ đối ứng kế toán
được như đã nêu trên. Còn việc ghi: phải ghi Nợ tài khoản này ghi có tài khoản
kia, vì như trên đã nêu, các quan hệ đối ứng kế toán khi sắp xếp lại chỉ gồm 4
loại, ta phân tích sự biến động của đối tượng kế toán qua 4 loại này đều thấy
không có trường hợp nào dẫn đến chỉ ghi Nợ hoặc chỉ ghi Có các tài khoản.
Với 4 loại quan hệ đối ứng kế toán như sắp xếp ở trên: Ở loại 1, liên quan đến 2
đối tượng đều là tài san, thì trong đó phải là tài sản này tăng tài sản kia giảm, mà
theo kết cấu của tài khoản phản ảnh tài sản thì biến động tăng sẽ ghi bên Nợ, biến
động giảm sẽ ghi bên Có. Hoặc ở loại 3, liên quan đến 2 đối tượng: tài sản –
nguồn vốn, trong đó tài sản và nguồn vốn đều tăng, với kết cấu tài khoản phản
ảnh tài sản: biến động tăng ghi bên Nợ và kết cấu tài khoản phản ảnh nguồn vốn:
biến động tăng ghi bên Có. Phân tích tương tự như vậy ta sẽ thấy đối với 2 loại
quan hệ đối ứng kế toán còn lại: loại 2 và loại 4 cũng phải ghi bên Nợ và bên Có
như vậy, không thể có trường hợp nào chỉ ghi bên Nợ hoặc chỉ ghi bên Có các tài khoản.
Qua khái niệm và nguyên tắc nêu trên, ta cũng thấy được tính khoa học, chặt
chẽ của phương pháp ghi kép, thể hiện ở chỗ: Bất kỳ sự biến động của đối tượng
kế toán nào được ghi cũng đều chỉ ra đư ợc mối liên hệ với sự biến động của đối
tượng kế toán khác. Điều này có ý nghĩa rất lớn trong quản lý, giám sát tình hình
tài sản và các nguồn tài trợ ở đơn vị. Khi có một tài sản trong đơn vị tăng lên, đều
có sự lý giải về lý do của nó: có thể là từ một tài sản nào đó giảm hoặc từ một
nguồn tài trợ nào đó tăng lên. Khi có một tài sản nào đó giảm thì cũng được giải
thích về lý do: có thể là do một tài sản nào đó tăng lên hoặc trách nhiệm nợ nào
đó được giảm đi. Tương tự như vậy, khi có một nguồn tài trợ (trách nhiệm nợ)
tăng hoặc giảm, ta cũng sẽ giải thích được lý do của nó như vậy.
Chính qua ghi kép luôn thể hiện được mối liên hệ về sự biến động giữa các đối
tượng kế toán như vậy đã làm cho kế toán trở thành một khoa học có ý nghĩa rất
lớn trong quản lý tài sản, nguồn tài trợ và hoạt động nói chung của các đơn vị.
3.2.3. Định khoản trước khi ghi kép vào tài khoản 10
Định khoản: Là phân tích nghiệp vụ kinh tế phát sinh đã hình thành nên quan hệ
đối ứng kế toán với sự biến động của các đối tượng kế toán như thế nào, để từ đó
xác định cần được ghi vào bên Nợ tài khoản nào, ghi vào bên Có tài khoản nào và
số tiền là bao nhiêu cho nghiệp vụ kinh tế phát sinh đó. Định khoản thông thường
liên quan đến 2 đối tượng: đối tượng ghi bên Nợ tài khoản này và đối tượng ghi
bên Có tài khoản kia, nhưng cũng có thể liên quan đến 3, 4 ... đối tượng, đối
tượng ghi Nợ tài khoản này và một số đối tượng ghi Có các tài khoản kia, hoặc
ngược lại, đối tượng ghi Có tài khoản này và một số đối tượng ghi Nợ các tài
khoản kia. Các ví dụ sau đây sẽ minh họa về định khoản này.
Nghiệp vụ 1: Chủ sở hữu góp vốn bằng chuyển khoản qua ngân hàng: 200 triệu đồng.
Nghiệp vụ này hình thành nên quan hệ đối ứng kế toán với biến động của 2 đối
tượng: tiền gởi ngân hàng và vốn đầu tư của chủ sở hữu, đều tăng 200 triệu đồng.
Tiền gởi ngân hàng là tài sản nên khi tăng sẽ ghi vào bên Nợ TK Tiền gởi ngân
hàng, còn vốn do người chủ góp vào là vốn chủ sở hữu nên khi tăng sẽ ghi vào
bên Có TK Vốn đầu tư của chủ sở hữu, với số tiền phải ghi là 200 triệu đồng.
Qua phân tích, ta định khoản nghiệp vụ kinh tế trên như sau:
Nợ TK Tiền gởi ngân hàng: 200.000.000 đồng
Có TK Vốn đầu tư của chủ sở hữu: 200.000.000 đồng
Nghiệp vụ 2: Chuyển tiền gởi ngân hàng trả nợ người bán: 70 triệu đồng.
Nghiệp vụ này hình thành nên quan hệ đối ứng kế toán với biến động của 2 đối
tượng: tiền gởi ngân hàng và nợ phải trả người bán, đều giảm 70 triệu đồng. Tiền
gởi ngân hàng là tài sản nên khi giảm sẽ ghi vào bên Có TK Tiền gởi ngân hàng,
còn khoản nợ phải trả người bán là nợ phải trả nên khi giảm sẽ ghi vào bên Nợ
TK Phải trả cho người bán, với số tiền phải ghi là 70 triệu đồng. Qua phân tích, ta
định khoản nghiệp vụ kinh tế trên như sau:
Nợ TK Phải trả cho người bán: 70.000.000 đồng
Có TK Tiền gởi ngân hàng: 70.000.000 đồng
Nghiệp vụ 3: Mua nguyên vật liệu 50 triệu đồng và công cụ dụng cụ 15 triệu
đồng đẫ được nhập kho, nhưng chưa trả tiền cho người bán. 11
Nghiệp vụ này hình thành nên quan hệ đối ứng kế toán với biến động của 3 đối
tượng: nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ và nợ phải trả người bán. Trong đó,
nguyên vật liệu tăng 50 triệu đồng, công cụ dụng cụ tăng 15 triệu đồng và nợ phải
trả người bán tăng 65 triệu đồng. Nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ là tài sản
nên khi tăng sẽ ghi vào bên Nợ TK Nguyên vật liệu: 50 triệu đồng và bên Nợ TK
Công cụ dụng cụ 15 triệu đồng, còn khoản nợ phải trả người bán là nợ phải trả
nên khi tăng sẽ ghi vào bên Có TK Phải trả cho người bán: 65 triệu đồng. Qua
phân tích, ta định khoản nghiệp vụ kinh tế trên như sau:
Nợ TK Nguyên vật liệu: 50.000.000 đồng
Nợ TK Công cụ dụng cụ: 15.000.000 đồng
Có TK Phải trả cho người bán: 65.000.000 đồng
Chú ý: Đã trở thành thông lệ là khi định khoản, tài khoản ghi Nợ phải được nêu
trước, sau đó mới đến tài khoản ghi Có và tài khoản ghi Có phải dịch vào trong
một tí so với tài khoản ghi Nợ.
Dựa vào định khoản trên, kế toán sẽ ghi vào tài khoản, với tài khoản ghi Nợ, tài
khoản ghi Có và số tiền được ghi như đã nêu ở định khoản. Cụ thể, kế toán ghi
vào các tài khoản có liên quan như sau:
Nợ TK Tiền gởi ngân hàng Có
SPS: 200.000 (1) SPS: 70.000 (2)
Nợ TK Vốn đầu tư của chủ sở hữu Có
Số phát sinh giảm: Phản SPS: 200.000 (1) 12
Nợ TK Phải trả cho người bán Có
Số phát sinh giảm: Phản ảnh
SPS: 70.000 (2) SPS: 65.000 (3)
Nợ TK Nguyên liệu, vật liệu Có Số phát sinh gi SPS: 50.000 (3)
Nợ TK Công cụ dụng cụ Có Số phát sinh gi SPS: 15.000 (3) 13
Định khoản là thể hiện sự cẩn thận, xem xét kỹ trước khi ghi kép vào tài khoản,
bảo đảm cho việc ghi kép vào tài khoản được đúng đắn, tránh những sai sót nhầm
lẫn phải chỉnh sửa phức tạp. Trong thực tế, định khoản về nghiệp vụ kinh tế phát
sinh thường được kết hợp ghi ở sổ Nhật ký để được kiểm tra cẩn thận trước khi
ghi nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào tài khoản (sổ Cái các tài khoản)
3.3. Hệ thống tài khoản kế toán và một số tài khoản có tính chất đặc biệt về
kết cấu (trong ghi kép vào tài khoản)
3.3.1. Hệ thống tài khoản kế toán
a-Khái quát về hệ thống tài khoản kế toán: Hệ thống tài khoản kế toán là tập
hợp tất cả các tài khoản sử dụng trong kế toán, được sắp xếp theo một trình tự
nhất định, bảo đảm tính khoa học và phản ảnh đầy đủ được các đối tượng kế toán.
Hệ thống tài khoản kế toán có thể là do Nhà nước xây dựng và ban hành thống
nhất hoặc có thể là do các doanh nghiệp tự xây dựng và đăng ký sử dụng. Ở các
nước theo trường phái kế toán Anh – Mỹ, do vai trò của nghề nghiệp kế toán
được đề cao, nên hệ thống tài khoản kế toán thường là do doanh nghiệp tự xây
dựng phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh của mình, rồi đăng ký với cơ
quan quản lý nhà nước để sử dụng. Còn phổ biến ở nhiều nước khác, Nhà nước
thông qua hiệp hội nghề nghiệp kế toán, xây dựng hệ thống tài khoản kế toán và
ban hành để sử dụng thống nhất cho tất cả các đơn vị trong những lĩnh vực nhất định trong nền kinh tế.
Mỗi cách tiếp cận trong việc xây dựng hệ thống tài khoản kế toán đều có những
ưu, nhược điểm nhất định. Với cách doanh nghiệp tự xây dựng, có ưu điểm là bảo
đảm tính linh hoạt, phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, nhưng sẽ có những bất tiện nhất định trong quản lý của các cơ quan quản
lý nhà nước đối với doanh nghiệp. Còn với cách Nhà nước xây dựng và ban hành
thống nhất, có ưu điểm là bảo đảm sự thống nhất trong quản lý của Nhà nước,
thuận tiện trong việc thanh tra, kiểm tra thông qua số liệu kế toán của các cơ quan
quản lý nhà nước, nhưng tính linh hoạt sẽ không cao, những doanh nghiệp có
nhiều đặc thù sẽ rất khó để vận dụng được một hệ thống tài khoản kế toán thật sự
phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh của mình. 14
Ở nước ta, hệ thống tài khoản kế toán được Nhà nước ban hành thống nhất cho
những lĩnh vực nhất định, như: Hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp, trong
đó có riêng Hệ thống tài khoản kế toán cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, và Hệ
thống tài khoản kế toán cho các đơn vị hành chính sự nghiệp. Hệ thống tài khoản
kế toán thống nhất là bộ phận quan trọng trong chế độ kế toán ở nước ta, trong đó
qui định: số lượng và các loại tài khoản, tên gọi và số hiệu tài khoản, nội dung
ghi chép của từng tài khoản. Mỗi đơn vị tùy thuộc vào đặc điểm hoạt động của
đơn vị mình, lựa chọn những tài khoản phù hợp để vận dụng vào công tác kế toán
của đơn vị và gọi là Hệ thống tài khoản kế toán của đơn vị. Trong đó, đơn vị
không được tự ý đặt ra những tài khoản mới ngoài Hệ thống tài khoản hoặc sửa
đổi nội dung đã qui định trên tài khoản. Tuy nhiên, trong những trường hợp cần
thiết, đơn vị có thể mở thêm tài khoản chi tiết để chi tiết thêm số liệu của một tài
khoản nào đó nhằm bảo đảm số liệu được đầy đủ hơn cho quản lý.
b-Hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp hiện hành: Hệ thống tài khoản này
được ban hành theo Thông tư số 200/2014/TT-BTC, ngày 22-12-2014 của Bộ Tài
chính (Danh mục tài khoản, xem Phụ lục).
-Về số lượng và loại tài khoản: Hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp hiện
hành bao gồm 76 tài khoản, sắp xếp theo nội dung kinh tế phản ảnh trên tài khoản như sau:
Loại 1 và 2 - Loại tài khoản tài sản
Loại 3 - Loại tài khoản nợ phải trả
Loại 4 - Loại tài khoản vốn chủ sở hữu
Loại 5 - Loại tài khoản doanh thu
Loại 6 - Loại tài khoản chi phí sản xuất, kinh doanh
Loại 7 - Loại tài khoản thu nhập khác
Loại 8 - Loại tài khoản chi phí khác
Loại 9 - Loại tài khoản xác định kết quả
Trong 9 loại trên, từ loại 1 đến loại 4 là những tài khoản phản ảnh tài sản, nợ phải
trả và vốn chủ sở hữu, là những tài khoản có số dư và những số dư này được sử
dụng để lập Bảng cân đối kế toán. Như vậy, những tài khoản từ loại 1 đến loại 4 là
những tài khoản có liên hệ với Bảng cân đối kế toán: số dư của tài khoản trong 4
loại này về cơ bản là tương ứng với các chỉ tiêu trên Bảng cân đối kế toán. Các 15
loại tài khoản còn lại, từ loại 5 đến loại 9 là những tài khoản phản ảnh doanh thu,
chi phí và xác định kết quả, là những tài khoản không có số dư, chỉ có số phát sinh
và số phát sinh này được sử dụng để lập các báo cáo về chi phí, doanh thu và kết
quả hoạt động của đơn vị, trong đó quan trọng nhất là Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
-Về tên gọi và số hiệu tài khoản: Như đã trình bày ở mục 3.1.2. Ở đây giải thích
thêm về số hiệu tài khoản. Với tài khoản được thiết kế theo nhiều cấp, nên qui
định về các chữ số của số hiệu tài khoản ở mỗi cấp có khác nhau.
Đối với tài khoản cấp 1: có 3 chữ số. Chữ số thứ nhất phản ảnh loại tài khoản,
chữ số thứ 2 phản ảnh nhóm tài khoản trong loại, chữ số thứ 3 phản ảnh thứ tự tài khoản trong nhóm.
Ví dụ: TK Tiền gởi ngân hàng, số hiệu: 112. Số 1 ở đầu phản ảnh loại tài khoản:
loại 1, số 1 tiếp theo phản ảnh nhóm tài khoản: nhóm 1 trong loại 1, số 2 tiếp theo
phản ảnh thứ tự tài khoản: tài khoản thứ 2 trong nhóm 1 loại 1.
Đối với tài khoản cấp 2: có 4 chữ số. Trong đó, 3 chữ số đầu phản ảnh tài khoản
cấp 1, chữ số thứ 4 phản ảnh thứ tự tài khoản cấp 2 trong tài khoản cấp 1.
Ví dụ: TK 112 - Tiền gởi ngân hàng, có 3 tài khoản cấp 2 là: TK 1121 – Tiền Việt Nam TK 1122 – Ngoại tệ TK 1123 – Vàng tiền tệ
Tương tự, tài khoản cấp 3 có 5 chữ số, trong đó, 4 chữ số đầu phản ảnh tài khoản
cấp 2, chữ số thứ 5 phản ảnh thứ tự tài khoản cấp 3 trong tài khoản cấp 2 ...
Ví dụ: TK 333 – Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước có tài khoản cấp 2 là TK
3331 – Thuế giá trị gia tăng phải nộp. Tài khoản cấp 2 này có 2 tài khoản cấp 3 là:
TK 33311 – Thuế giá trị gia tăng đầu ra
TK 33311 – Thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu
Tài khoản ở mỗi cấp sẽ phản ảnh đối tượng kế toán ở mức độ khác nhau: Tài
khoản cấp 1, còn gọi là tài khoản tổng hợp, phản ảnh đối tượng kế toán ở mức độ
khái quát. Từ tài khoản cấp 2 trở đi được gọi là tài khoản chi tiết: tài khoản cấp 2
sẽ chi tiết đối tượng kế toán phản ảnh ở tài khoản cấp 1 (nếu thấy cần thiết), tài
khoản cấp 3 sẽ chi tiết đối tượng kế toán phản ảnh ở tài khoản cấp 2 (nếu thấy cần
thiết) … Sở dĩ tài khoản phải được thiết kế theo nhiều cấp như vậy là do đặc điểm
của đối tượng kế toán là rất đa dạng, bao gồm nhiều loại, thứ khác nhau. Nếu tài
khoản chỉ có một cấp, chẳng hạn chỉ có cấp 1, thì thông tin về đối tượng kế toán
mới chỉ ở giác độ khái quát, không đầy đủ cho các yêu cầu của quản lý. Còn nếu
tài khoản được chi tiết hết ở một cấp cuối cùng thì số lượng tài khoản sẽ rất nhiều,
mặt khác đối tượng kế toán ở mỗi đơn vị là rất khác nhau, số lượng được chi tiết 16
ra cũng sẽ rất khác nhau, lúc này sẽ không thể có một hệ thống tài khoản kế toán
thống nhất được. Chỉ có thiết kế tài khoản theo nhiều cấp như vậy thì mới phù hợp
với đặc điểm của đối tượng kế toán và mới bảo đảm được tính khoa học trong
phản ảnh đối tượng kế toán.
Ngoài ra, việc xây dựng số hiệu và sắp xếp tài khoản trong từng loại, nhóm đều
có tính đến những thay đổi trong tương lai gần (để những khoảng trống giữa các
loại, nhóm tài khoản). Khi có sự thay đổi về chế độ tài chính, về điều kiện thực
hành kế toán, dẫn đến những thay đổi phải bổ sung về tài khoản, thì chỉ cần bổ
sung tài khoản cần thiết vào chỗ trống, không làm xáo trộn hệ thống tài khoản.
Chỉ đến những giai đoạn nhất định có những thay đổi lớn thì mới có sự xáo trộn
thay đổi cả hệ thống tài khoản.
-Về nội dung ghi chép trên tài khoản: Mỗi tài khoản được qui định phản ảnh một
đối tượng kế toán với nội dung cụ thể của nó. Nội dung của đối tượng kế toán
được qui định phản ảnh ở tài khoản nào thì chỉ phản ảnh ở tài khoản đó, không có
sự trùng lặp giữa các tài khoản. Chẳng hạn, với đối tượng kế toán là tiền mặt thì
tất cả biến động về tiền mặt đều phản ảnh ở TK Tiền mặt, không được phản ảnh ở
bất kỳ tài khoản nào khác. Tương tự, với đối tượng kế toán là tiền gởi ngân hàng
thì tất cả những biến động về tiền gởi ngân hàng đều phản ảnh ở TK Tiền gởi
ngân hàng, vv… Nội dung của mỗi đối tượng kế toán phải phản ảnh ở một tài
khoản riêng biệt, không được có sự trùng lặp về nội dung của đối tượng kế toán
phản ảnh ở các tài khoản. 17
3.3.2. Một số tài khoản có kết cấu đặc biệt trong ghi kép
Đây là những tài khoản có kết cấu đặc biệt, khác với kết cấu được qui định
chung cho 5 loại tài khoản trình bày ở mục 3.1.3, cần phải nghiên cứu làm rõ để
bảo đảm việc sử dụng tài khoản trong ghi kép được đúng đắn. Cụ thể, những tài
khoản cần được nghiên cứu như sau.
a- Các tài khoản có tính chất lưỡng tính về kết cấu: Đây là những tài khoản
phản ảnh quan hệ thanh toán, có kết cấu vừa theo kết cấu của tài khoản phản ảnh
tài sản vừa theo kết cấu của tài khoản phản ảnh nợ phải trả, gồm các tài TK 13X,
như TK 131 – Phải thu của khách hàng và các TK 33X, như TK 331 – Phải trả
cho người bán. Do cách qui định nội dung phản ảnh trong các tài khoản này là
theo loại đối tượng trong quan hệ thanh toán, như đối tượng thanh toán là khách
hàng, hay đối tượng thanh toán là người bán ..., không qui định theo loại thanh
toán: loại thanh toán phải thu hay loại thanh toán phải trả. Trong khi đó, quan hệ
thanh toán giữa đơn vị với các đối tượng (khách hàng hay người bán) không phải
chỉ diễn ra một chiều, mà gồm cả 2 chiều. Như quan hệ thanh toán với khách
hàng, không chỉ là khách hàng mua chịu còn nợ đơn vị sau đó mới trả, mà còn có
thể là khách hàng ứng tiền trước, đơn vị nhận nợ sau đó mới trả cho khách hàng
thông qua việc chuyển hàng cho khách hàng và cũng có thể là trả lại tiền nếu
không giao được hàng. Chương 2 đã nêu: khoản khách hàng nợ đơn vị phải thu là
tài sản, còn khoản đơn vị nhận ứng trước của khách hàng là nợ phải trả. Do vậy,
khi trong quan hệ là khách hàng mua chịu còn nợ đơn vị thì tài khoản này có kết
cấu theo kết cấu của tài khoản phản ảnh tài sản, còn khi trong quan hệ là khách
hàng ứng tiền trước và đơn vị nợ khách hàng thì tài khoản này có kết cấu theo kết
cấu của tài khoản phản ảnh nợ phải trả. Có thể nêu khái quát kết cấu của TK 131
– Phải thu của khách hàng (từ đó suy ra kết cấu chung của các TK 13X) như sau:
Nợ TK Phải thu của khách hàng Có
SDĐK: Số tiền còn phải thu khách SDĐK: Số tiền khách hàng ứng hàng vào đầu kỳ trước còn ở đầu kỳ
SPS: - Số phải thu khách hàng tăng SPS: - Số đã thu khách hàng trong trong kỳ kỳ
-Trị giá hàng hóa...đã giao cho -Tiền đặt trước của khách
khách hàng từ số tiền đặt trước. hàng trong kỳ
SDCK: Số tiền còn phải thu khách SDCK: Số tiền khách hàng ứng hàng cuối kỳ trước còn ở cuối kỳ 18
Tương tự như phân tích trên, trường hợp thanh toán với người bán, không chỉ là
đơn vị mua chịu nợ người bán rồi sau đó mới trả, mà còn có thể là đơn vị ứng
trước tiền cho người bán, người bán nợ đơn vị rồi sau đó mới trả, thông qua việc
chuyển hàng cho đơn vị và cũng có thể là trả lại tiền nếu người bán không giao
được hàng. Chương 2 đã nêu: khoản đơn vị còn nợ người bán là nợ phải trả,
khoản đơn vị ứng trước cho người bán là tài sản. Do vậy, khi trong quan hệ là
đơn vị mua chịu còn nợ người bán thì tài khoản này có kết cấu theo kết cấu của
tài khoản phản ảnh nợ phải trả, còn khi trong quan hệ là đơn vị ứng trước tiền cho
người bán thì tài khoản này có kết cấu theo kết cấu của tài khoản phản ảnh tài
sản. Có thể nêu khái quát kết cấu của TK 331 – Phải trả cho người bán (từ đó suy
ra kết cấu chung của các TK 33X) như sau:
Nợ TK Phải trả cho người bán Có
SDĐK: Số tiền ứng trước cho SDĐK: Số tiền phải trả người bán
người bán còn ở đầu kỳ còn ở đầu kỳ
SPS:- Số đã trả cho người bán trong SPS: - Số phải trả cho người bán kỳ tăng trong kỳ
- Số tiền ứng trước cho người - Giá trị hàng hóa đã nhận từ bán trong kỳ số tiền ứng trước.
SDCK: Số tiền ứng trước người SDCK: Số còn phải trả người bán bán còn ở cuối kỳ còn ở cuối kỳ 19
b-Các tài khoản có tính chất điều chỉnh số liệu của tài khoản khác: Trong các
đối tượng kế toán, một số đối tượng có tính chất rất đặc biệt, ngoài tài khoản trực
tiếp phản ảnh đối tượng đó, còn phải được bổ sung thêm một tài khoản nữa thì
thông tin về đối tượng đó mới được đầy đủ cho quản lý. Tài khoản được bổ sung
thêm trong trường hợp này được gọi là tài khoản điều chỉnh và nó có tính chất
đặc biệt về kết cấu cần phải được nghiên cứu. Các tài khoản này được chia làm 2 nhóm:
-Nhóm các tài khoản có tính chất điều chỉnh số liệu của tài khoản phản ảnh tài
sản: Là những tài khoản điều chỉnh giảm cho một hoặc một số tài khoản phản
ảnh tài sản nào đó. Kết cấu của những tài khoản này là ngược với kết cấu của tài
khoản mà nó điều chỉnh. Tiêu biểu cho nhóm này có 2 tài khoản được trình bày sau:
+TK 214 – Hao mòn tài sản cố định: Là tài khoản điều chỉnh giảm cho các tài
khoản phản ảnh nguyên giá tài sản cố định (TK Tài sản cố định hữu hình, TK Tài
sản cố định thuê tài chinh, TK Tài sản cố định vô hình) và TK Bất động sản đầu
tư. TK 214 – Hao mòn tài sản cố định, có 4 tài khoản cấp 2: TK 2141 – Hao mòn
tài sản cố định hữu hình, TK 2142 – Hao mòn tài sản cố định thuê tài chính, TK
2143 – Hao mòn tài sản cố định vô hình, TK 2147 – Hao mòn bất động sản đầu
tư. Từng tài khoản cấp 2 này sẽ điều chỉnh giảm cho một tài khoản phản ảnh
nguyên giá tài sản cố định tương ứng như được nêu.
Sở dĩ các tài khoản nêu trên, chẳng hạn TK Tài sản cố định hữu hình, cần phải có
thêm tài khoản điều chỉnh này là vì tính chất đặc biệt của nó. Với tài sản cố định
hữu hình: khi hình thành cũng như khi không còn sử dụng nữa (thanh lý hoặc
nhượng bán) đều được phản ảnh trên TK Tài sản cố định hữu hình theo giá trị ban
đầu (nguyên giá), nhưng trong quá trình sử dụng nó sẽ hao mòn dần. Như vậy,
nếu không có thêm TK Hao mòn tài sản cố định hữu hình để phản ảnh giá trị hao
mòn thì sẽ không có được thông tin đầy đủ về tình hình tài sản cố định hữu hình
này, chỉ có được thông tin theo nguyên giá, không có được thông tin về giá trị hao
mòn, từ đó cũng không có được thông tin về giá trị còn lại (= nguyên giá – giá trị
hao mòn). Do vậy, việc có thêm TK Hao mòn tài sản cố định hữu hình để cùng
với TK Tài sản cố định hữu hình, phản ảnh tình hình tài sản cố định hữu hình là
sự đòi hỏi khách quan để thông tin kế toán được đầy đủ cho quản lý. Với tính
chất điều chỉnh như trên (phản ảnh phần hao mòn để trừ vào nguyên giá), nên
mặc dù xét về nội dung, TK Hao mòn tài sản cố định là tài khoản phản ảnh tài
sản, nhưng kết cấu của nó là ngược với kết cấu của tài khoản phản ảnh tài sản, cụ thể: 20