

















Preview text:
I.
TRANH CHẤP QUỐC TẾ VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUỐC TẾ VĂN BẢN
- Công ước Lahay năm 1907 về Hòa bình giải quyết xung đột quốc tế.
- Hiến chương Liên Hợp Quốc (Chương VI).
- Công ước về Luật biển liên quan đến việc giải quyết các tranh chấp, về giải thích áp
dụng thực hiện công ước (Phần 15 + các phụ lục 5,6,7,8).
1. I. Lý luận chung về tranh chấp và giải quyết tranh chấp quốc tế: 1. 1. Khái niệm: 1.1 Định nghĩa:
- Tranh chấp quốc tế: là hoàn cảnh thực tế, trong đó các chủ thể tham gia có những
quan điểm, đòi hỏi trái ngược nhau về những vấn đề liên quan tới lợi ích của họ.
- Tình thế tranh chấp: là một tình huống QHQT
vào một thời điểm và địa điểm cụ thể
đã xác định, xuất hiện mâu thuẫn lợi ích giữa các bên hữu quan, vẫn tạo ra sự căng thẳng
trong QHQT nhưng không kéo theo những yêu cầu hay đòi hỏi cụ thể của các bên hữu quan ( Nếu
kéo theo các yêu cầu hay đòi hỏi cụ thể giữa các bên đối lập nhau thì trở thành Tranh chấp).
VD: Đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Việt Nam và Trung quốc đều yêu cầu chủ
quyền của mình thì đây là một Tranh chấp; Còn tình thế tranh chấp có thể là một chuỗi sự
kiện gây căng thẳng giữa các bên ví dụ như tàu của hai nước đi trên biển đụng độ nhau,
các tàu hải quân tấn công lẫn nhau đây là tình thế rất nguy hiểm trong quan hệ quốc tế
nhưng các bên mới chỉ dừng lại ở việc lên án lẫn nhau chứ không đưa ra yêu cầu cụ thể
nào thì chỉ là Tình thế tranh chấp chứ chưa phải Tranh chấp.
(Tranh chấp có thể phát sinh từ tình thế tranh chấp. Đôi khi tranh chấp được giải quyết
bằng tình thế tranh chấp. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp Tranh chấp đã được giải quyết
nhưng Tình thế tranh chấp vẫn chưa được giải quyết bởi vì Tình thế tranh chấp liên quan
nhiều đến thái độ, quan điểm, tư tưởng. VD: Đền Preah Vihear. Năm 1904, Pháp đứng ra
ký kết một Điều ước quốc tế nhằm phân định biên giới giữa Campuchia và Thái Lan sau
đó, thành lập một Ủy ban phân giới thực địa gồm cả những kỹ sư người Pháp để phân
giới thực địa tại biên giới theo hiệp định các bên đã ký. Các kỹ sư người Pháp vẽ đường
biên giới theo kiểu đường phân cách theo dãy núi và theo cách vẽ đó, đền Preah Vihear
thuộc về lãnh thổ Campuchia, sau đó, các bên ký với nhau các hiệp định bổ sung, vẽ sơ
đồ và phía Thái Lan không có bất kỳ phản đối gì về việc này. Tuy nhiên, khi Campuchia
giành độc lập, đền Preah Vihear được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới thì
Thái Lan lật lại vấn đề và cho rằng đền này thuộc về lãnh thổ Thái Lan và đưa ra một số
bằng chứng lịch sử. Hai bên xảy ra tranh chấp và đưa ra trước Tòa án quốc tế, xem xét và
nhận định rằng Thái Lan hoàn toàn tự nguyện chấp nhận đường biên giới như vậy, do đó,
các Chính phủ sau này phải thừa kế và chấp nhận nghĩa vụ mà Chính phủ tiền nhiệm đã
ký kết. Tranh chấp được giải quyết nhưng Tình thế tranh chấp vẫn diễn ra căng thẳng
giữa các bên do giải quyết được vấn đề chủ quyền nhưng lại không giải quyết vấn đề lối
đi lên đền. Từ phái Campuchia muốn đi lên đền phải qua một sườn dốc núi hiểm trở và 1
mọi lối đi thuận lợi nhất thuộc về lãnh thổ Thái Lan, Thái Lan cản trở người dân
Campuchia đi lên đền rất nghiêm khắc thậm chí xảy ra nổ súng).
1.2 Đặc điểm tranh chấp quốc tế:
- Chủ thể tranh chấp: các chủ thể của LQT (QG, tổ chức quốc tế liên CP, các DT đang
đấu tranh giành quyền tự quyết và một số chủ thể đặc biệt, trong đó, tranh chấp giữa các
QG là tranh chấp phổ biến nhất. Hiện nay một số CQ tài phán được thành lập chủ yếu để
giải quyết các tranh chấp giữa các QG.
VD: Tòa án Công lý quốc tế trong thẩm quyền của mình thì chỉ giải quyết tranh chấp
giữa các QG mà thôi, tức là các tổ chức quốc tế có tranh chấp không đưa ra tòa được
nhưng chủ thể có thể yêu cầu tòa đưa ra kết luận tư vấn pháp lý về một vấn đề nào đó của
họ thì kết luận tư vấn pháp lý này không có giá trị bắt buộc giống như một phán quyết để
giải quyết tranh chấp nhưng có ý nghĩa tham khảo rất lớn → góp phần thúc đẩy giải quyết tranh chấp).
(Ngoài ra có một số TH tranh chấp quốc tế phát sinh từ tranh chấp giữa cá nhân với nhau
như các doanh nghiệp giữa hai nước ký kết hợp đồng làm ăn với nhau và phát sinh tranh
chấp về hợp đồng đó nhưng nếu chỉ dừng ở đó thì không phải tranh chấp quốc tế dù vấn
đề này thuộc về lĩnh vực TMQT nhưng lại là TMQT mang tính chất tư. Tuy nhiên, nếu 2
QG với danh nghĩa bảo hộ cho doanh nghiệp, cho pháp nhân của mình để đứng ra dàn
xếp và giải quyết thì có thể phát sinh tranh chấp giữa các QG, trở thành QH TMQT mang tính chất công).
VD: nạn nhân chất độc màu da cam do QĐ Mỹ SD trong chiến tranh VN đã ủy quyền
cho đội bảo vệ nạn nhân chất độc hóa học đứng đơn khởi kiện các công ty hóa chất Hoa
Kỳ đã cung cấp hóa chất cho Mỹ gây ra hậu quả - Tòa án của MỸ thụ lí và giải quyết, xét
xử cấp sơ thẩm: TA Newyork; Luật áp dụng: Luật QG – Mỹ: luật bồi thường DS
mặc dù có tính Quốc tế những phát sinh từ các chủ thể tư (cá nhân pháp nhân của Mỹ
và VN) CQ giải quyết và Luật áp dụng: QG (tr
anh chấp DS có yếu tố nước ngoài)
VD: CP Nước CHXHCNVN khởi kiện CP Mỹ về việc QĐ Mỹ SD chất độc trong ct VN
- tranh chấp quốc tế (CP có tư cách là người đại diện QG, QG kiện QG) LQT áp
dụng và CQ giải quyết tranh chấp: Tòa án quốc tế/ trọng tài quốc tế (dựa vào ĐƯQT và
tập quán quốc tế (ĐA PHƯƠNG)
Trọng tài dựa vào ĐƯQT có liên quan đến vụ tranh chấp để thụ lí
- Đối tượng: các QH PL thuộc đối tượng điều chỉnh của LQT
VD: Nước cử đại diện có thể thuê một trụ sở tại nước tiếp nhận để thành lập CQ đại diện
NG, nước tiếp nhận có thể ký một hợp đồng thuê với thời hạn tượng trưng là 99 năm
(mang tính tượng trưng nhưng vẫn có tính ràng buộc giữa các bên). LQT điều chỉnh vấn
đề về trụ sở CQ đại diện NG, đó là quyền bất khả xâm phạm tuyệt đối vì thế, nếu nước
tiếp nhận có những hành vi xâm phạm thì đó là hành vi VP LQT và đây là đối tượng điều
chỉnh của LQT. Cho nên sẽ phát sinh TCQT giữa nước cử và nước tiếp nhận. Nhưng nếu
các bên có những tranh chấp về vấn đề hợp đồng thuê trụ sở này như nước cử không trả 2
tiền cho nước tiếp nhận theo đúng hợp đồng hoặc các tranh chấp khác liên quan đến nội
dung của hợp đồng thì đây không phải là TCQT vì không thuộc đối tượng điều chỉnh của
LQT thì vấn đề này thuộc về nhóm tranh chấp DS dù là giữa 2 QG
- Nguồn luật về giải quyết TCQT: về CB là LQT, tức là ĐƯQT và TQQT nhưng trong
1 số TH thì các bên vẫn có thể thỏa thuận áp dụng nguồn luật nào đó để giải quyết mà
không nhất thiết phải từ hai nguồn kể trên.
(VD: Mỹ và Canada từng có tranh chấp liên quan đến vấn đề hoạt động của các nhà máy
của Mỹ sát biên giới Canada làm ÔNMT của Canada. 2 bên đã thỏa thuận giải quyết
tranh chấp này bằng con đường trọng tài và lựa chọn luật của Mỹ để giải quyết tranh
chấp. Như vậy việc giải quyết TCQT bằng cách áp dụng LQT là phổ biến nhưng không
hoàn toàn bắt buộc bởi vì bản chất của LQT là thỏa thuận, nếu các bên có thỏa thuận lựa
chọn một nguồn luật khác để giải quyết cũng không sao).
*NGUYÊN TẮC GIẢI QUYẾT TCQT: 7 nguyên tắc
- Giải quyết bằng PP HB: điều 33 HC LHQ
1.3 Phân loại tranh chấp:
● Căn cứ vào số lượng chủ thể tham gia: - Tranh chấp song phương.
- Tranh chấp đa phương (khu vực hoặc toàn cầu).
VD: Liên quan đến vấn đề chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thì chúng ta
có đủ cơ sở để khẳng định Việt Nam có chủ quyền đối với hai quần đảo này. Nhưng phía
Trung Quốc yêu sách và cho rằng hai quần đảo này là của họ, vì thế phát sinh tranh chấp
quốc tế. Đối với Hoàng Sa là tranh chấp song phương. Đối với Trường Sa thì ngoài Việt
Nam và Trung Quốc còn có Malaysia, Philippines, Brunei → Tranh chấp đa phương khu
vực. Còn tranh chấp đa phương toàn cầu là những tranh chấp liên quan đến hầu hết các
quốc gia trên thế giới hoặc hầu hết các quốc gia đều tham gia vào tranh chấp này ví dụ
như tranh chấp về biến đổi khí hậu, về nghĩa vụ của các quốc gia về cắt giảm khí thải nhà
kính. Vấn đề này ảnh hưởng đến toàn thế giới và đa phần thủ phạm phát thải quá nhiều
khí thải nhà kính là các nước phát triển nhưng hậu quả thì các nước đang và kém phát
triển phải chịu thiệt hại nặng nề hơn nhiều vì khả năng chống đỡ lại những biến đổi khí
hậu yếu kém hơn. Vì vậy, các nước đang và kém phát triển kêu gọi cắt giảm khí thải nhà
kính vì gây ra biến đổi khí hậu, tạo ra những hiện tượng khí hậu vô cùng nguy hiểm như
các cơn siêu bão tàn phá thành quả phát triển kinh tế xã hội của các nước đang và kém
phát triển. Các nước phát triển vẫn bị ảnh hưởng nhưng họ có sự xây dựng nền tảng cơ sở
hạ tầng vững chắc hơn, hệ thống dự báo hiện đại hơn, thêm vào đó, dù có thiệt hại xảy ra
nhưng khả năng kinh tế của các nước phát triển mạnh mẽ hơn nên có thể hồi phục nhanh
chóng. Bên cạnh đó, chính các nước phát triển cũng xung đột với nhau như các Điều ước
quốc tế - Nghị định thư Kyoto năm 1997 ràng buộc nghĩa vụ cho các nước phát triển
trong đó nêu tên 37 nước ràng buộc nghĩa vụ cắt giảm khí thải nhà kính đối với các quốc
gia một cách bắt buộc tương ứng với một tỷ lệ nhất định, trong đó, Mỹ cũng là một trong 3
các nước có nghĩa vụ nhưng nhận thấy Trung Quốc không chịu cắt giảm (không được
liệt kê trong số 37 nước này) trong khi Trung Quốc là quốc gia thải ra nhiều khí thải nhà
kính nhất. Mỹ cho rằng Trung Quốc không cắt giảm thì họ cũng không có nghĩa vụ cắt
giảm. Trung Quốc thì cho rằng họ vẫn là nước đang phát triển (ở thời điểm 1997) do
không có quy định rõ ràng phân định nước kém phát triển, đang phát triển và nước phát
triển. Đó là vấn đề gây ảnh hưởng đến toàn thế giới, một loạt các hội nghị quốc tế diễn ra
để ký kết các Điều ước quốc tế ràng buộc nghĩa vụ nhưng đều không thành công hoặc chỉ
ký được một số các công ước khung (các quy tắc chung khuyến khích, khuyến nghị chứ
không mang tính bắt buộc) hoặc điều ước quốc tế về mặt nguyên tắc.
● Căn cứ vào mức độ nguy hiểm đối với hoà bình và an ninh quốc tế:
- Tranh chấp nghiêm trọng (Là những tranh chấp đe dọa đến hòa bình và an ninh quốc tế
hoặc xâm phạm đến hoặc bình và an ninh quốc tế. Tranh chấp được xem là tranh chấp
nghiêm trọng phụ thuộc vào quyết định của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc vì trong
chương 6 của Hiến chương LHQ thì HĐBA LHQ có quyền điều tra bất kỳ tranh chấp
hoặc tình thế tranh chấp nào có nguy cơ đe dọa đến hòa bình an ninh quốc tế và yêu cầu
các bên giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình - về mặt hình thức thì tranh chấp
nghiêm trọng được định danh bởi Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc). VD: Tranh chấp
giữa Nga và Ukraine, tranh chấp giữa Nga và các nước phương Tây.
- Tranh chấp thông thường (Là những tranh chấp giữa các chủ thể với nhau mà chỉ ảnh
hưởng riêng đến mối quan hệ giữa các bên và không ảnh hưởng chung đến hòa bình an
ninh quốc tế hay mối quan hệ chung của cộng đồng quốc tế).
● Căn cứ và tính chất:
- Tranh chấp chính trị (Liên quan đến những vấn đề nhạy cảm hơn mà trong đó không chỉ
dựa vào Luật Quốc tế để giải quyết được mà các bên phải chú ý đến rất nhiều yếu tố khác
ngoài pháp luật để giải quyết như vị thế, đường lối, chính sách của các bên. Giải quyết
các tranh chấp chính trị phức tạp hơn rất nhiều: Về mặt pháp lý có thể có quy định rất rõ
ràng nhưng về mặt chính trị đấy lại là tranh chấp giữa hai nước với vị thế chính trị khác
nhau thì các nước phải cân nhắc rất nhiều đến mối quan hệ giữa hai bên để tìm ra giải
pháp phù hợp chứ không phải chỉ dựa theo luật).
- Tranh chấp pháp lý (Liên quan đến việc giải thích, áp dụng và thực hiện các quy định
của Luật quốc tế - ví dụ các Điều ước và Tập quán quốc tế hoặc tranh chấp liên quan đến
hành vi vi phạm pháp luật quốc tế. Chỉ cần dựa vào Luật Quốc tế).
VD: Liên quan đến chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, về mặt pháp lý căn cứ vào
nguyên tắc chiếm hữu thật sự thì dù đưa ra Tòa án Công lý quốc tế thì tòa cũng sẽ dựa
vào nguyên tắc trên và các bằng chứng cụ thể để khẳng định hai quần đảo này thuộc chủ
quyền Việt Nam. Nhưng về cơ bản chúng ta vẫn phải lựa chọn biện pháp đàm phán bởi vì
trong mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc phải chú ý đến rất nhiều yếu tố khác:
mối quan hệ khác giữa hai bên chi phối mạnh mẽ như về mặt kinh tế thì cung cấp nguyên
liệu, hàng hóa, sản phẩm hoặc các hoạt động kinh tế của chúng ta đều có những mối quan
hệ bị phụ thuộc. Do đó, nếu kiên quyết đấu tranh trên mọi lĩnh vực thì sự trừng phạt, trả
đũa kinh tế từ phía Trung Quốc sẽ đem lại hậu quả vô cùng nặng nề, mặt khác, về vị trí
địa lý nước ta giáp với Trung Quốc và có nhiều vấn đề chung phải phụ thuộc vào Trung 4
Quốc về mặt vị trí địa lý chẳng hạn như Sông Mê Kông: Kể từ năm 2016 thì việc bị hạn
hán và xâm mặn ở đồng bằng Sông Cửu Long phổ biến hơn, trong khi năm 2016 chúng ta
ủng hộ phán quyết của Tòa trọng tài quốc tế về Luật biển mà Philippines thắng kiện mà
đầu nguồn sông Mê Kông bắt nguồn từ Trung Quốc nên họ xây các con đập và đóng hết
cửa đập do đó nước chảy về sông Mê Kông chạy về đồng bằng Sông Cửu Long (suy
đoán, không có căn cứ).
(Khoản 1 Điều 38 Quy chế Tòa án: Tòa án sẽ xét xử dựa vào các quy định của Luật Quốc
tế. Có nghĩa là nếu một tranh chấp được đưa ra Tòa án Công lý quốc tế và chỉ dựa vào
luật để giải quyết vì thế tòa chỉ nhập các yếu tố pháp lý để giải quyết và không quan tâm
yếu tố chính trị => Nhận định: Tòa án Công lý quốc tế chỉ giải quyết các tranh chấp pháp
lý không giải quyết tranh chấp chính trị. Còn tranh chấp chính trị là vấn đề riêng của các
bên, tòa không can thiệp). ● Căn cứ vào nội dung: - Tranh chấp thương mại. - Tranh chấp lãnh thổ. -...
● Căn cứ vào quyền năng chủ thể:
- Tranh chấp giữa các quốc gia (phổ biến nhất).
- Tranh chấp giữa quốc gia với tổ chức quốc tế.
- Tranh chấp giữa các tổ chức quốc tế với nhau. -...
(Tùy vào đặc điểm của từng loại tranh chấp để tìm ra những giải pháp phù hợp. VD:
Tranh chấp về mặt pháp lý nhiều hơn thì giải quyết tại các cơ quan tài phán quốc tế dễ
dàng, nhanh chóng, hiệu quả hơn; Tranh chấp các bên đề cao yếu tố chính trị thì các bên
thường lựa chọn các biện pháp đàm phán trung gian).
2. 2. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp quốc tế:
2.1 Các chủ thể là các bên trong tranh chấp:
Bản chất của Luật quốc tế là sự thỏa thuận → nếu các bên hữu quan không yêu cầu thì
không một tòa án quốc tế, trọng tài quốc tế nào, hay tổ chức quốc tế bất kì nào có thẩm
quyền (thậm chí là cá nhân được tín nhiệm ví dụ như ông Nelson Mandela - tổng thống
da màu đầu tiên của Nam phi từng được yêu cầu là trung gian để giúp các bên giải quyết
những tranh chấp liên quan đến một sự cố hàng không giữa Mỹ và Libya; Tổng thư ký
LHQ với tư cách cá nhân, uy tín cá nhân đã giúp đứng ra dàn xếp để các bên đạt được
thỏa thuận ngừng gia tăng căng thẳng tại khu vực vịnh Mexico - khu vực vùng biển sát
với Mỹ trong khủng hoảng hạt nhân giữa Mỹ và Liên Xô năm 1962) giải quyết vụ tranh chấp đó.
(Khác với quan hệ dân sự thông thường: A và B tranh chấp về tài sản, không thỏa thuận
được và kiện ra tòa, dù một bên chủ thể không đồng ý Tòa án vẫn giải quyết; Nhưng đối
với tranh chấp quốc tế thì nếu hai quốc gia tranh chấp, trước hết họ phải tự giải quyết với
nhau, còn nếu không thể tự giải quyết và một bên đâm đơn kiện ra Tòa án quốc tế thì Tòa
cũng không thể giải quyết được và không có thẩm quyền giải quyết vì một bên chủ thể 5
không đồng ý. Như vậy, chỉ khi nào có sự đồng ý, thỏa thuận của các bên tranh chấp thì
một bên thứ ba mới có thẩm quyền đứng ra giải quyết tranh chấp).
2.2 Các cơ quan tài phán quốc tế:
● Khái niệm: Là những cơ quan hình thành trên cơ sở thỏa thuận hoặc thừa nhận của
các chủ thể nhằm thực hiện chức năng giải quyết bằng trình tự, thủ tục tư pháp (có
quan tòa, hội đồng xét xử, các bên tranh tụng, đương sự và các đại diện các bên;
tiến trình theo thủ tục tố tụng tư pháp có mở các phiên tòa diễn ra các hoạt động
tranh tụng, các thủ tục nghị án và cuối cùng sẽ ra phán quyết mang tính bắt buộc
đối với các bên) các tranh chấp nảy sinh giữa các chủ thể luật quốc tế với nhau.
● Thẩm quyền: Do các bên tranh chấp trao cho hoặc thừa nhận.
(Có hai trường hợp: chấp nhận trước và chấp nhận sau. Lấy thời hiệu xảy ra tranh chấp,
nếu trước khi xảy ra tranh chấp các bên đã đồng ý thẩm quyền của tòa thì gọi là chấp
nhận trước, còn nếu sau khi xảy ra tranh chấp mới chấp nhận thẩm quyền của tòa thì gọi
là chấp nhận sau. Mỗi trường hợp có hai cách thức để cải thiện sự chấp nhận: - Chấp nhận trước:
+ Các bên thỏa thuận trước với nhau, phát sinh tranh chấp thì sẽ đồng ý đưa tranh chấp ra tòa.
+ Các bên không có thỏa thuận nhưng có tuyên bố đơn phương chấp nhận thẩm quyền của tòa từ trước.
Lưu ý: Nếu các bên tuyên bố đơn phương chấp nhận trước thẩm quyền của tòa thì các
tuyên bố này phải có cùng phạm vi hiệu lực. VD: Nước A và nước B cùng tuyên bố đơn
phương chấp nhận thẩm quyền của tòa về lĩnh vực biên giới thì khi hai bên tranh chấp về
biên giới mới có thể đưa ra tòa. Trong trường hợp một bên đồng ý thẩm quyền của tòa về
lĩnh vực biên giới, một bên về lĩnh vực ngoại giao thì vẫn không thể đưa ra tòa giải quyết
vì tuyên bố của hai bên không cùng phạm vi hiệu lực.
- Chấp nhận sau: là trường hợp sau khi phát sinh tranh chấp mà các bên cùng đồng ý đưa
tranh chấp ra trước tòa thì có thể gọi là chấp nhận thẩm quyền của tòa thông qua một thỏa
thuận thỉnh cầu tòa giải quyết tranh chấp.
Nếu không có thỏa thuận từ trước và sau khi phát sinh tranh chấp cũng không thỏa thuận
được về việc đưa ra tòa thì một bên vẫn có thể khởi kiện bên kia ra tòa bằng cách gửi
đơn kiện nhưng tòa án phải có thủ tục để xem xét xem mình có thẩm quyền hay không
bằng cách cân nhắc tất cả các thỏa thuận văn bản hoặc những bằng chứng chứng minh
rằng bên kia đã chấp nhận thẩm quyền của tòa, nếu không có những bằng chứng này, tòa
án sẽ phải hỏi ý kiến của bên kia về việc có đồng ý thẩm quyền của tòa về việc giải quyết
tranh chấp này hay không. Nếu không đồng ý thì phải trả lại đơn kiện và không thể giải
quyết được tranh chấp).
● Bao gồm: Tòa án quốc tế và tòa trọng tài quốc tế.
- Tòa án quốc tế: Tòa án quốc tế là thuật ngữ pháp lý quốc tế chung để chỉ cơ quan xét xử
và giải quyết các loại hình tranh chấp quốc tế thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật quốc tế. Ví dụ:
+ Tòa án công lý quốc tế của Liên hợp quốc 6
+ Tòa án của Liên minh châu Âu
+ Tòa án luật biển quốc tế
Cơ cấu tổ chức, thẩm quyền, chức năng và phạm vi giải quyết tranh chấp quốc tế của tòa
án nào được quy định trong chính quy chế của tòa án quốc tế đó. - Trọng tài quốc tế:
+ Trọng tài quốc tế là cơ quan tài phán có mục đích giải quyết tranh chấp giữa các chủ
thể luật quốc tế bởi các quan tòa do các bên tham gia tranh chấp lựa chọn dựa trên cơ sở
tôn trọng luật quốc tế.
+ Cơ sở: được các bên ghi nhận trong một điều ước quốc tế chuyên biệt hoặc các điều khoản chuyên biệt.
+ Phân biệt trọng tài quốc tế với trọng tài thương mại quốc tế?
2.3 Các cơ quan của tổ chức quốc tế liên chính phủ: (Chỉ khi các bên yêu cầu thì mới
có thẩm quyền giải quyết chứ không có thẩm quyền đương nhiên)
- Hội đồng bảo an Liên hợp quốc
- Hội nghị bộ trưởng kinh tế ASEAN (AEM)
- Hội nghị các quan chức kinh tế cấp cao (SEOM) - …
3. 3. Nguồn luật điều chỉnh: (cô không giảng cái nài T.T chắc đọc thêm giáo trình)
● Điều ước quốc tế đa phương toàn cầu:
- Công ước về giải quyết hòa bình các xung đột quốc tế được thông qua tại hội nghị
Lahay lần thứ nhất vào năm 1899 và được bổ sung vào năm 1907 tại Hội nghị Lahay lần thứ hai.
- Tuyên bố chung về giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế được Hội quốc liên thông
qua ngày 26 tháng 9 năm 1928, sau đó được Liên hợp quốc chấp nhận bằng một nghị
quyết của Đại hội đồng ngày 28 tháng 4 năm 1949 (có bổ sung và chỉnh lý).
- Hiến Chương Liên hợp quốc.
- Các điều ước quốc tế về các lĩnh vực chuyên biệt cũng xây dựng cơ chế giải quyết tranh
chấp trong lĩnh vực của mình.
● Điều ước quốc tế đa phương khu vực
- Hiệp ước Liên Mỹ về giải quyết hòa bình các tranh chấp năm 1948 (Hiến chương Bogota).
- Công ước châu Âu về giải quyết hòa bình các tranh chấp được Hội đồng châu Âu thông qua vào năm 1957.
- Công ước về hòa giải và trọng tài trong khuôn khổ tổ chức an ninh và hợp tác châu Âu (OSCE) năm 1992.
- Hiến chương của các tổ chức quốc tế khu vực.
4. 4. Vai trò của Luật quốc tế trong việc giải quyết tranh chấp quốc tế: (cô không
giảng cái nài T.T chắc đọc thêm giáo trình)
- Luật quốc tế là công cụ xác định nghĩa vụ giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế cho các chủ thể.
- Luật quốc tế đảm bảo quyền tự do của các bên tranh chấp lựa chọn những biện pháp hòa
bình thích hợp để giải quyết tranh chấp quốc tế. 7
- Luật quốc tế đã xây dựng hệ thống các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế
(VD: Khoản 1 Điều 33 Hiến chương LHQ).
5. 5. Ý nghĩa của việc giải quyết tranh chấp quốc tế: (cô không giảng cái nài T.T chắc
đọc thêm giáo trình)
- Giải quyết TCQT góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên tranh chấp.
- Giải quyết TCQT sẽ góp phần thúc đẩy mạnh mẽ việc thực thi và tuân thủ LQT
- Việc giải quyết tốt đẹp các tranh chấp quốc tế sẽ góp phần hoàn thiện LQT
6. 6. Các đảm bảo ngăn ngừa và giải quyết tranh chấp theo LQT: (cô không giảng cái
nài T.T chắc đọc thêm giáo trình)
- Thực thi, tuân thủ nghiêm chỉnh có thiện chí các nguyên tắc và QP LQT
- Ký kết các ĐƯQT chuyên môn hoặc điều khoản đặc biệt về giải quyết TCQT
- Tự nguyện thực hiện các phán quyết giải quyết tranh chấp.
2. II. Các biện pháp hòa bình giải quyết TCQT :
1. Khái niệm các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế:
Là các phương tiện, cách thức, thủ tục mà các chủ thể của PL QT có nghĩa vụ phải dùng
để giải quyết các tranh chấp, bất đồng trên cơ sở nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp QT
Biện pháp Đàm phán/ thương lượng được áp dụng nhiều nhất
7. 2. Phân loại các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế:
●Căn cứ vào giá trị pháp lý của quyết định giải quyết tranh chấp:
- Các biện pháp có phán quyết bắt buộc.
- Các biện pháp có kết luận mang tính khuyến nghị.
● Căn cứ vào các bên tham gia giải quyết:
- Biện pháp giải quyết trực tiếp giữa các bên tranh chấp.
- Biện pháp giải quyết thông qua bên thứ ba.
● Căn cứ vào tính chất của các biện pháp:
- Biện pháp giải quyết bằng con đường ngoại giao.
- Biện pháp giải quyết bằng con đường tài phán. - Các biện pháp khác.
8. 3. Các biện pháp giải quyết tranh chấp:
Khoản 1 Điều 33 Hiến chương LHQ (Nhưng bên cạnh những biện pháp này, nếu như các
bên không thể thỏa thuận để tìm ra một biện pháp chung bằng các biện pháp cụ thể đó thì
họ hoàn toàn có thể áp dụng các biện pháp HB khác tùy theo sự lựa chọn của mình miễn là không SD vũ lực)
(Biện pháp mang tính ngoại giao và biện pháp mang tính tài phán đặc trưng nhất là trình
tự thủ tục giải quyết và phán quyết cuối cùng.
Các biện pháp mang tính ngoại giao - đàm phán, trung gian và hòa giải, điều tra: Các kết
luận giải quyết tranh chấp thì các bên tự nguyện thực hiện, mang tính khuyến nghị và
không có quy định nào bắt buộc các bên phải tuân theo các kết luận giải quyết tranh chấp.
Trình tự giải quyết biện pháp ngoại giao là thông qua con đường chính trị - ngoại giao,
đấu tranh thương lượng. 8
Đối với các biện pháp mang tính tài phán - thông qua cơ quan tài phán quốc tế, thông qua
các tổ chức quốc tế: Đưa ra phán quyết mang tính bắt buộc đối với các bên. Trình tự giải
quyết bằng con đường tài phán là thông qua các trình tự, thủ tục tố tụng tư pháp.
Việc giải quyết tranh chấp tại các tổ chức quốc tế có thể tùy theo quy chế của từng tổ
chức mà có những thủ tục giải quyết bằng con đường ngoại giao nhưng kết luận giải
quyết lại mang tính bắt buộc với các quốc gia thành viên phát sinh tranh chấp. Như vậy,
tùy vào từng tổ chức khác nhau, có các quy chế khác nhau mà có thể đưa ra những biện
pháp lai giữa ngoại giao và tài phán hoặc chỉ đơn thuần là biện pháp ngoại giao. VD: Giải
quyết tranh chấp giữa các nước ASEAN thì thông qua các hội nghị Bộ trưởng Kinh tế,
hội nghị các quan chức cao cấp của ASEAN giải quyết tranh chấp cũng chỉ mang tính
khuyến nghị, không mang tính bắt buộc, quy trình thủ tục cũng chỉ là đàm phán ngoại
giao. Còn đối với giải quyết tranh chấp của WTO thì quy trình giải quyết hầu hết là dựa
trên sự thỏa thuận đàm phán, thương lượng được điều hành bởi những hội đồng nhưng
kết luận giải quyết tranh chấp là bắt buộc đối với những thành viên WTO). 3.1 Đàm phán:
Đàm phán giải quyết TCQT là sự tiếp xúc trực tiếp giữa các chủ thể LQT phát sinh tranh
chấp để tìm ra cách thức giải quyết tranh chấp đó một cách hiệu quả, trong khuôn khổ các
thông lệ được thừa nhận. (trên tinh thần nhân nhượng lẫn nhau)
VD: Một tranh chấp phát sinh thì hai nước sẽ tổ chức đàm phán trực tiếp với nhau, cử các
phái đoàn đại diện để gặp mặt, tiếp xúc trực tiếp, trao đổi quan điểm của mình, tìm hiểu,
xem xét quan điểm của đối phương, đấu tranh thương lượng lẫn nhau để tìm ra một giải pháp giải quyết TCQT
ĐÀM PHÁN ĐƯỢC ÁP DỤNG PHỔ BIẾN LÀ VÌ:
- Đàm phán là biện pháp được coi là hiệu quả nhất và trong tất cả các ĐƯQT quy định
các biện pháp HB giải quyết TCQT thì Đàm phán luôn là biện pháp được quy định đầu
tiên. – - Bởi vì đàm phán là sự giải quyết tranh chấp trực tiếp bởi chính các bên trong vụ
tranh chấp; là việc các bên trong tranh chấp cùng đối thoại trực tiếp với nhau để giải
quyết tranh chấp phát sinh, trao đổi về ý chí, lập trường, mong muốn và được tiếp thu
trực tiếp vởi bên còn lại
- Đàm phán thành công: các bên sẽ ký kết 1 ĐƯQT ghi nhận lại kết quả đạt được – căn
cứ pháp lí quốc tế (tuân thủ thực hiện theo Luật ĐƯQT)
- Đàm phán có tính linh hoạt: có thể thỏa thuận với nhau về thời gian, địa điểm đàm phán
- Duy trì QH hữu nghị bình thường giữa các bên tranh chấp trong các QH ở những lĩnh vực khác
● Cần phân biệt đàm phán giải quyết tranh chấp và các hình thức đàm phán nhằm mục đích khác.
● Nguyên tắc đàm phán:
- Tôn trọng sự bình đẳng và chủ quyền của nhau.
- Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau
(Đảm bảo rằng quá trình đàm phán tập trung vào vấn đề đang tranh chấp và tìm ra giải
pháp chứ không phải đưa ra những cáo buộc hoặc thực hiện những hành động can thiệp 9
vào công việc nội bộ của nhau. Vì như vậy không những tranh chấp không được giải
quyết mà MQH giữa các bên sẽ còn nghiêm trọng hơn, căng thẳng hơn).
VD: Nước A và B từng ký hiệp định dẫn độ tội phạm quy định những TH các bên cam
kết sẽ dẫn độ cho nhau. Giả sử một người phạm tội từ A trốn chạy sang nước B, nước A
yêu cầu dẫn độ nhưng nước A từ chối làm phát sinh tranh chấp. Hai bên đàm phán giải
quyết tranh chấp này thì chỉ nên căn cứ vào hiệp định dẫn độ đó để xác định TH này có
phải trường hợp bắt buộc dẫn độ theo nghị định hay không. Nếu đúng thì yêu cầu các bên
thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của hiệp định đó. Nước B không thể can
thiệp đến vấn đề nội bộ như PL của nước A, cáo buộc PL nước A VP quyền con người cơ
bản đối với người này nên nước B bảo vệ cho người này.
- Tận tâm, thiện chí giải quyết các TCQT
VD: Vấn đề tranh chấp trên biển Đông, trước đây ASEAN và TQ với những hiện trạng
tranh chấp trên biển Đông rất căng thẳng nên đã ký kết VB tuyên bố ứng xử biển Đông
(DOC), VB này chỉ là văn bản mang tính chất chính trị - ngoại giao chứ không phải
ĐƯQT, không có giá trị ràng buộc với các bên. Do đó, TQ ký nhưng không thực hiện.
Tranh chấp chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa là tranh chấp cốt lõi trong khu vực biển
Đông. TQ tiếp tục đưa ra những tuyên bố về chiếm hữu các vùng biển trong khu vực biển
Đông cụ thể là năm 2009, TQ đưa ra tuyên bố về đường lưỡi bò chiếm hơn 80% diện tích
biển Đông và chồng lấn sang vùng biển của một loạt các nước trong khu vực. Trước đây
chưa có tuyên bố này thì những vùng biển này không phải vùng tranh chấp, tuyên bố này
biến vùng không có tranh chấp thành vùng tranh chấp. Các nước ASEAN đề nghị ký kết
Bộ quy tắc ứng xử biển Đông (COC) trở thành một ĐƯQT có hiệu lực bắt buộc đối với
các bên. TQ về mặt ngoại giao tuyên bố sẵn sàng đàm phán để ký kết nhưng trong quá
trình đàm phán thì phái đoàn của TQ luôn tỏ ra thiếu thiện chí trong quá trình giải quyết
tranh chấp mà luôn muốn áp dụng luật riêng của họ, gây sức ép để thể hiện sự bành
trướng ví dụ như mặc dù đây là tranh chấp đa phương nhưng TQ luôn muốn biến thành
tranh chấp song phương để giải quyết với từng QG, gây sức ép lên từng QG để dễ dàng
hơn so với giải quyết với một khối, một tập thể các QG ASEAN.
● Thể thức (thông thường là tổ chức hội nghị cử phái đoàn tham gia hội nghị và tiến
hành đàm phán trên bàn đàm phán, đây là thể thức phổ biến, truyền thống; nhưng
hiện nay để tiết kiệm thời gian và chi phí người ta còn tiến hành đàm phán theo
CQ đại diện NG của nước mình tại nước hữu quan, CQ đại diện NG có thẩm
quyền, có chức năng thay mặt cho nước cử đại diện và đàm phán với CP nước tiếp
nhận; hoặc thậm chí là gửi các công hàm cho nhau), thủ tục (tùy vào tính chất của
tranh chấp: đơn giản - tổ chức các phiên họp, phức tạp đan xen nhiều vấn đề - tổ chức các vòng đàm phán.
VD: Tranh chấp vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên: tiến hành các vòng đàm
phán bao gồm 6 bên là Mỹ, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Triều Tiên để
giải quyết tranh chấp vấn đề phát triển vũ khí hạt nhân. Tranh chấp này đan xen
nhiều vấn đề: Thứ nhất, đe dọa hòa bình, an ninh cho các nước trong khu vực và
quốc tế nói chung; Thứ hai, tranh chấp liên quan đến việc áp dụng các biện pháp
trừng phạt của các nước đối với Triều Tiên, áp dụng các chế tài của LHQ với 10
Triều Tiên, gây ra những tổn hại nghiêm trọng về mặt kinh tế - xã hội và mối quan
hệ ngoại giao giữa Triều Tiên với các nước), thời gian và cấp đàm phán (quyết
định đàm phán giải quyết được tranh chấp hay chưa hay chỉ đang thăm dò quan
điểm, ý kiến của nhau: cấp chuyên viên mang tính thăm dò ý kiến sau đó mới tiến
đến các cấp cao hơn như cấp Thứ trưởng, cấp Bộ trưởng và đặc biệt là cấp Thượng
đỉnh, tức là cấp chính phủ hay cấp nhà nước thì những người đại diện là những
người cấp cao nhất của mỗi bên thì có thể thống nhất được biện phải giải quyết
tranh chấp ngay): do các bên hữu quan tự thoả thuận. ● Ưu điểm:
- Thông qua đàm phán, các bên tranh chấp có cơ hội trực tiếp trình bày quan điểm của
mình và xem xét ý chí, quan điểm của bên đối thoại (Đàm phán kết hợp với quy tắc Lễ
tân ngoại giao để tạo ra bầu không khí thuận lợi cho các bên dễ đạt được sự thấu hiểu, sự giải quyết tranh chấp).
- Giúp các bên chủ động và tiết kiệm thời gian, giảm tối đa chi phí tốn kém.
- Đàm phán không chỉ giải quyết được tranh chấp mà còn góp phần củng cố và thúc đẩy
quan hệ giữa các bên hữu quan.
- Là biện pháp đơn giản và quan trọng nhất.
- Được áp dụng phổ biến nhất.
- Có mối liên hệ mật thiết với các biện pháp hòa bình khác.
3.2 Trung gian và hòa giải:
- Là những biện pháp có sự tham gia của bên thứ ba.
- Bên thứ ba: có thể là quốc gia hoặc các cá nhân nổi tiếng, có uy tín trên thế giới. VD:
Tổng thư ký LHQ những năm 1950 giúp giải quyết tranh chấp liên quan đến khủng
hoảng hạt nhân giữa Mỹ và Liên Xô, Nelson Mandela giúp giải quyết tranh chấp liên
quan đến vụ khủng bố hàng không giữa Mỹ và Libya, Cựu Tổng thống Sarkozy của Pháp
năm 2008 đã giúp đứng ra dàn xếp thỏa thuận ngừng bắn của nước Nga và Gruzia; Tranh
chấp khu vực Kashmir giữa Pakistan và Ấn Độ thì năm 1947 Hội đồng Bảo an được mời làm trung gian.
- Vai trò của bên thứ ba: dung hoà lợi ích của các bên đưa ra lời khuyên chỉ dẫn để giúp
các bên đạt được thỏa thuận giải quyết tranh chấp.
VD: Liên quan đến vụ khủng bố hàng không Lockerbie năm 1989: Máy bay của Mỹ bay
từ Đức sang Anh, tiếp nhận hành khách, hàng hóa từ Anh để bay sang Mỹ nhưng khi rời
khỏi sân bay của Anh và đang bay trên bầu trời Lockerbie của Scotland thì bị phát nổ làm
thiệt mạng toàn bộ hành khách, phi hành đoàn và 15 người dưới mặt đất gây chấn động
trên toàn thế giới. Sau khi điều tra kết luận rằng hai công nhân của Libya đã cài bom trên
máy bay, phía Mỹ yêu cầu Libya phải dẫn độ hai công dân này nhưng Libya từ chối,
điều này gây căng thẳng rất lớn và Mỹ đã đưa ra các biện pháp trừng phạt đối với Libya,
tuyên bố sẵn sàng tấn công Libya. Lúc này Nelson Mandela đã được đề nghị làm trung
gian để giải quyết vụ tranh chấp, ông đưa ra giải pháp cho phía Mỹ như sau: Vì Libya đã
tuyên bố thẳng thừng không dẫn độ sang Mỹ mà trong ngoại giao không ai nói hai lời nên
để bảo toàn danh dự cho Libya thì không nên kiên quyết đòi dẫn độ sang Mỹ mà hãy dẫn 11
độ sang Anh, bởi vì hành vi phạm tội và hậu quả của hành vi xảy ra ở Anh vì thế dẫn độ
sang Anh là hợp lý theo các quy định của luật hình sự quốc tế. Mặt khác, Anh và Mỹ là
đồng minh thân cận của nhau, hoàn toàn có thể tin tưởng vào nhau nên sẽ có những biện
pháp trừng phạt nghiêm khắc, đảm bảo xét xử công bằng. Về phía Libya, ông diễn giải
rằng chỉ vì hai người này mà đất nước đứng trước nguy cơ rất lớn là bị tấn công, chiến
tranh xảy ra hoặc không bị tấn công thì trừng phạt về kinh tế và các vấn đề khác cũng để
lại những hậu quả rất lớn. Và thêm vào đó, ở Anh đã xóa bỏ hình phạt tử hình nên vẫn
đảm bảo được mạng sống và nếu cải tạo tốt thì có thể được ân xá. Nhưng phía Libya nghi
ngờ nếu đưa sang Anh thì Anh sẽ đưa sang Mỹ nên đề nghị đưa sang một nước khác -
Đức. Vì quan hệ giữa Đức và Mỹ có sự độc lập với những quan điểm riêng chứ không
hoàn toàn thống nhất như Anh và Mỹ nên để đảm bảo khách quan, công bằng thì Libya
muốn dẫn độ sang Đức nhưng xét xử bằng luật của Anh. Cuối cùng thì các bên không
chấp nhận và đi đến kết luận dẫn độ sang Hà Lan và xét xử bằng luật của Anh.
- Kết luận giải quyết tranh chấp chỉ mang tính khuyến nghị
- CSPL: CƯ Lahay 1907, Khoản 1 Điều 33 của Hiến chương LHQ, CƯ về Luật biển 1982.
● Trung gian: Bên thứ ba tạo ĐK thuận lợi cho các bên tham gia tranh chấp xúc tiến
các hoạt động đàm phán, đưa ra các lời khuyên hoặc chỉ dẫn cho các bên trong vụ
tranh chấp, nhằm mục đích giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận giải quyết tranh chấp.
● Trung gian và môi giới:
- Nguyên tắc, cách thức, vai trò của trung gian và môi giới về cơ bản là giống nhau.
- Khác nhau: mức độ tham gia của bên thứ ba vào quá trình đàm phán của các bên tranh
chấp. Bên thứ ba trong mối giới không tham gia trực tiếp vào quá trình đưa ra lời khuyên,
chỉ dẫn mà họ chỉ tạo điều kiện cho các bên trực tiếp gặp nhau.
VD: Pháp trong quá trình tổ chức hội nghị Paris để lập lại hòa bình ở Việt Nam năm 1972
là bên môi giới, không tham gia trực tiếp vào quá trình đàm phán nhưng đảm bảo các
điều kiện để các bên gặp gỡ nhau. Cũng có trường hợp ban đầu đề nghị là môi giới nhưng
sau đó biến thành trung gian và giúp các bên đạt được thỏa thuận giải quyết tranh chấp,
đó là tranh chấp liên quan đến Kashmir giữa Ấn Độ và Pakistan, Liên Xô đề nghị đứng ra
làm môi giới, hai bên cử đại diện đến một thành phố thuộc Liên Xô - Tashkent và Liên
Xô sẽ tài trợ toàn bộ tiến trình tổ chức hội nghị này. Nhưng khi cử phái đoàn ngồi lại với
nhau thì hai bên rất căng thẳng và không tìm ra được giải pháp nên đề nghị Liên Xô làm
trung gian và cuối cùng đã giúp các bên đạt được thỏa thuận về việc ký hiệp ước
Tashkent về việc phân chia Kashmir.
● Hòa giải: Bên thứ ba trong biện pháp hòa giải là một Ủy ban hòa giải thường trực
hoặc Ủy ban hòa giải lâm thời (ad hoc), thành phần bao gồm số lẻ các thành viên
với tư cách cá nhân do các bên tranh chấp thỏa thuận lựa chọn (thể hiện tính chủ
động của các bên trong việc tranh chấp hơn so với trung gian).
(- Cách thức để lựa chọn các thành viên:
+ Mỗi bên trong vụ tranh chấp có thể lựa chọn một số lượng thành viên bằng nhau có thể
là công dân của chính các bên hoặc là công dân của bên thứ ba. rồi sau đó các bên cử 12
thêm một số lượng người nhất định là công dân của nước thứ ba và sẽ lựa chọn Chủ tịch
Ủy ban hòa giải trong số các công dân của nước thứ ba. Đây là Ủy ban hòa giải lâm thời (ad hoc).
+ Ủy ban hòa giải thường trực thì một số tổ chức quốc tế có thể thành lập một cơ chế hòa
giải thường trực và nếu các bên trong vụ tranh chấp có thể viện dẫn cơ chế này thì một ủy
ban hòa giải thường trực có thể tham gia vào tiến trình giải quyết tranh chấp).
- Nhiệm vụ của UB hòa giải:
+ Làm sáng tỏ và xác định những yếu tố tạo nên tranh chấp, có quyền thu nhận thông tin
theo con đường điều tra hoặc bằng các cách thức khác.
+ UB hòa giải có quyền đề đạt những giải pháp, phương thức giải quyết tranh chấp, có
quyền dự thảo nghị quyết và đưa ra kết luận giải quyết tranh chấp.
- Quyết định và kết luận của UB hòa giải chỉ có tính khuyến nghị, không có giá trị ràng
buộc các bên tranh chấp và chỉ tạo cơ sở thuận lợi cho việc giải quyết tranh chấp. 3.3 Điều tra:
- Thường được thực hiện thông qua ủy ban điều tra (do chính các bên thỏa thuận và cách
thức thành lập tương tự như thành lập ủy ban hòa giải).
- Nhiệm vụ của UB điều tra là xác định các sự kiện còn gây tranh cãi, không có cách hiểu
thống nhất giữa các bên tham gia tranh chấp (không đưa ra lời khuyên, chỉ dẫn hay giải
pháp giải quyết tranh chấp, có nghĩa là thực chất Ủy ban điều tra không trực tiếp giải
quyết tranh chấp cho các bên mà chỉ tạo ĐK thuận lợi, cung cấp các thông tin, bằng
chứng để các bên có cơ sở để giải quyết với nhau). ● Ủy ban điều tra:
- Gồm 2 loại: UB thường trực và UB lâm thời (ad hoc)
- Thành phần (số lẻ), thời hạn và thẩm quyền của UB, về do các bên liên quan thỏa thuận quy định.
- UB điều tra thường kết thúc hoạt động khi thông qua được báo cáo (kết luận) điều tra.
- Báo cáo hay kết luận của ủy ban điều tra không có hiệu lực ràng buộc các bên tranh chấp.
3.4 Thông qua các cơ quan tài phán quốc tế:
● CQ tài phán quốc tế là những CQ do các bên tranh chấp thành lập hoặc thừa nhận
(thẩm quyền không đương nhiên) để trao cho chúng thẩm quyền giải quyết tranh
chấp giữa họ với nhau bằng trình tự, thủ tục tố tụng tư pháp.
● Các phán quyết của CQ tài phán có giá trị bắt buộc đối với các bên tranh chấp. ● CQ tài phán bao gồm: - Tòa án quốc tế:
- Quy chế Tòa án công lí quốc tế 1945 (tổ chức thành lập)
+ Được thành lập trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế (tòa án Công lý quốc tế, tòa án của
Liên minh châu Âu) hoặc các ĐƯQT (Tòa án quốc tế về luật Biển).
+ Tòa án quốc tế chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa các QG khi các nước này
chấp thuận thẩm quyền xét xử của tòa án quốc tế. 13
+ Ngoài chức năng xét xử (chính), tòa án quốc tế còn có thể có chức năng đưa ra các kết
luận tư vấn pháp lý (kết luận này chỉ mang tính tư vấn và có tính khuyến nghị và các QG
có thắc mắc về vấn đề PL Qte thì cũng không thể yêu cầu tòa tư vấn mà phải thông qua
các CQ của LHQ. Vì vậy, chức năng này không dành cho các QG).
(Trụ sở của Tòa án Công lý quốc tế đặt tại tòa lâu đài hòa bình Lahay - Hà Lan trong khi
trụ sở và các CQ khác của LHQ đều đặt tại NewYork - Mỹ: Điều này để đảm bảo rằng
các tòa án thuộc cơ chế của LHQ nhưng xét xử độc lập chứ không phục thuộc vào các
quy định chung của tổ chức, CQ khác của LHQ).
+ Mỗi tòa án quốc tế đều hoạt động theo quy chế riêng.
VD: Tòa án Công lý quốc tế của LHQ có quy chế riêng là một phần của Hiến chương
LHQ, Tòa án quốc tế về luật Biển có quy chế được quy định tại Phụ lục VI - bộ phận cấu
thành Công ước luật biển 1982.
+ Thành phần xét xử của tòa án quốc tế là cố định, nghĩa là các bên không có quyền lựa chọn thẩm phán.
VD: Tòa án công lý quốc tế (mô hình ra đời đầu tiên): bao gồm 15 vị thẩm phán, các vị
thẩm phán được bầu bởi hai vòng bỏ phiếu độc lập tại đại hội đồng và hội đồng bảo an, là
các cá nhân là CD của các QG đến từ các vùng địa lý chủ yếu trên TG, đại diện cho các
hệ thống PL chủ yếu trên TG, là những người có uy tín về mặt chuyên môn, nổi tiếng về
sự công bằng, nghiêm minh.
Và nếu đã giữ vị trí thẩm phán của tòa án họ sẽ phải từ bỏ tất cả các chức vụ hành chính,
chức vụ nghề nghiệp bên ngoài, họ được hưởng đầy đủ các quyền ưu đãi và miễn trừ
dành cho các đại diện cao cấp nhất của LHQ và được hưởng mức lương bổng vô cùng
cao để có thể đảm bảo tính độc lập xét xử.
Những thẩm phán này buộc phải SD được hai ngôn ngữ: tiếng Anh và tiếng Pháp. Một
phiên tòa sẽ được tổ chức khi có tối thiểu là 9/15 vị thẩm phán.
Quy chế của tòa có quy định trong các TH một bên tham gia tranh chấp không có một
thẩm phán nào là CD của mình trong hội đồng xét xử thì có quyền đề nghị bổ sung một vị
thẩm phán khác (thẩm phán lâm thời, mang quốc tịch nước mình) để tham gia xét xử, đây là TH đặc biệt.
Ngoài thẩm phán thì còn có các ban thư ký (những công việc hành chính, ngoại giao) và
các phụ thẩm (là những người có kiến thức chuyên môn về lĩnh vực nhất định và họ
thường không phải thành phần cố định của tòa mà là chuyên gia về những lĩnh vực khác
nhau, khi cần thiết có thể trưng cầu ý kiến của họ).
+ Các quy tắc, thủ tục tố tụng của tòa án (thủ tục viết và thủ tục nói), các bên tranh chấp
không có quyền thay đổi.
Quy trình xét xử của Tòa án công lý quốc tế:
- Các bên gửi đơn kiện hoặc thỏa thuận thỉnh cầu cho ban thư ký của tòa, ban thư ký phụ
trách sao y bản chính các đơn kiện này gửi cho các bên có liên quan, đồng thời, gửi các
bản sao đơn kiện và thông báo tiếp nhận vụ việc này cho tất cả các nước thành viên của quy chế tòa. 14
Bởi vì tòa án xét xử theo nguyên tắc công khai nên phải gửi đơn kiện cho nước bị kiện là
điều đương nhiên, còn các nước thành viên cũng được thông báo để thực hiện chức năng giống như báo cáo.
Ngoài ra, để các bên khác nếu thấy mình có liên quan thì có thể yêu cầu tham gia. Mặt
khác, sẽ có những bên mặt dù không liên quan nhưng lại nắm giữ những bằng chứng
quan trọng để giải quyết vụ kiện thì có thể hỗ trợ bằng cách giao nộp các bằng chứng.
- Sau đó, tòa án thực hiện các thủ tục tiền tố tụng bao gồm: thành lập hội đồng xét xử
xem xét các vấn đề như tòa có thẩm quyền giải quyết vụ việc đó hay không, cân nhắc cho
phép một bên thứ ba tham gia vào vụ kiện,...
- Tiến hành xét xử về mặt nội dung:
Đầu tiên là thủ tục viết, tức là tòa ấn định cho các bên thời hạn để nộp cho tòa các bản bị
vong lục (trình bày chi tiết các vấn đề về bản chất vụ tranh chấp, về quan điểm của mỗi
bên, yêu sách và cơ sở pháp lý chứng minh và các bằng chứng khác có liên quan) và phản bị vong lục.
Thủ tục nói thì tòa sẽ tổ chức các phiên tòa dưới sự điều hành của thẩm phán và chánh án
của tòa, các thẩm phán khác và ban thư ký hỗ trợ trong quá trình xét xử. Các bên sẽ cử
các đại diện để tiến hành tranh tụng trước tòa.
- Sau đó, tòa tuyên bố kết thúc các phiên tranh tụng và chuẩn bị một bản nghị án, chuẩn
bị các quan điểm của mình về vụ việc và hướng giải quyết. Hướng giải quyết nào được
công nhận theo đa số thì được thể hiện trên một bản dự thảo phán quyết. Sau đó, phán
quyết sẽ được bỏ phiếu để thông qua, nguyên tắc bỏ phiếu là theo nguyên tắc đa số, các
thẩm phán có thể bỏ phiếu thuận hoặc phiếu trống, nếu số lượng phiếu thuận và phiếu
trống ngang bằng nhau thì lá phiếu của chủ tịch/ chánh án tòa án sẽ quyết định vì vậy,
chánh án không được quyền bỏ phiếu trắng).
+ Phán quyết của mọi TAQT đều có giá trị chung thẩm (chỉ xét xử theo một cấp, có hiệu
lực ngay, bắt buộc thi hành với các bên) và bắt buộc các bên liên quan phải triệt để tuân thủ.
+ Cơ chế đảm bảo thi hành phán quyết của tòa án quốc tế rất nghiêm ngặt và có hiệu quả.
+ Phân biệt tòa án quốc tế với các tòa án hình sự quốc tế (các tòa hình sự Nuremberg
Tokyo xét xử các kẻ trùm sỏ trong chế độ phát xít, tòa hình sự xét xử tội ác diệt chủng
Rwanda, tòa hình sự xét xử tội ác của chế độ Liên bang Ba Tư cũ, Tòa xét xử tội ác của
Khmer đỏ, hiện nay là tòa hình sự quốc tế đặt tại Canada): Các tòa án hình sự quốc tế
không có thẩm quyền giải quyết TCQT phát sinh giữa các quốc gia. Chúng chỉ có thẩm
quyền xét xử và trừng phạt các tội phạm quốc tế như tội diệt chủng, tội ác chiến tranh, tội
ác chống nhân loại .v.v… do các cá nhân thực hiện, bất kể cá nhân đó là ai, giữ cương vị nào trong BMNN
ICJ LÀ 1 TRONG 6 CQ CHÍNH CỦA LHQ
1. đại hội đồng (CQ lập pháp)
2. hội đồng kinh tế - XH 3. hội đồng bảo an 4. hội đồng quản thác 15
5. tòa án công lí quốc tế (CQ tư pháp)
6. ban thư kí (CQ hành pháp)
- Chức năng ICJ: điều 92 Hiến chương LHQ và điều 1 quy chế TACLQT - Thẩm quyền:
+ Giải quyết tranh chấp quốc tế (được tiến hành nhiều hơn) (80%)
Tranh chấp giữa các chủ thể có tư cách QG với QG (điều 34, 35 Quy chế tòa án công lí quốc tế)
Về vấn đề: Luật pháp quốc tế (HC LHQ, các yêu nước quốc tế do các QG kí kết)
Điều kiện về sự đồng thuận giữa các bên tranh chấp: nhất trí đưa vụ tranh chấp cho ICJ giải quyết
+ Đưa ra các kết luận tư vấn PL cho các CQ của LHQ (20%)
- Tòa trọng tài quốc tế:
+ Tòa trọng tài quốc tế không có thẩm quyền đương nhiên giải quyết TCQT mà phụ
thuộc vào sự thỏa thuận của các bên tranh chấp thông qua 1 ĐƯQT
+ ĐƯQT xác định cụ thể trình tự, thủ tục xét xử, nguồn luật SD trong xét xử, cũng như
thủ tục và giá trị phán quyết của tòa trọng tài.
+ Căn cứ vào thẩm quyền giải quyết:
➢Tòa trọng tài có thẩm quyền chung
➢Tòa trọng tài chuyên môn + Căn cứ vào thành phần
➢Tòa trọng tài đơn nhất (chỉ có một trọng tài viên)
➢Tòa trọng tài tập thể (bao gồm từ ba trọng tài viên trở lên).
+ Căn cứ vào tính chất hoạt động: ➢Trọng
tài thường trực (PCA) (CƯ Lahay 1899 và CƯ 1907 về HB giải quyết các vụ TCQT)
Trụ sở: cung điện HB ở Lahay (Hà Lan)
Thẩm quyền thụ lí giải quyết các TCQT rộng (hơn 250 vụ) – tất cả các lĩnh vực
➢Trọng tài lâm thời
/ không lâm thời
: Trọng tài quốc tế luật Biển
CSPL: CƯ luật biển 1982 và điều 7 của CƯ này
Theo quy định của CƯ luật biển 1982 thì trọng tài quốc tế luật biển chỉ có thẩm
quyền thụ lí giải quyết những tranh chấp liên quan đến việc giải thích và AD các
điều khoản của CƯ luật biển 1982 (liên quan đến biển đảo) – thẩm quyền hẹp (14 vụ) Không có trụ sở riêng
nếu các bên giải quyết tranh chấp về Biển thì hoạt động
giải quyết tranh chấp đó được đăng kí và tiến hành tại trụ sở của 1 trọng tài quốc
tế khác (cụ thể là PCA) + Thành phần trọng tài:
++ Do các bên thỏa thuận.
++ Số lượng trọng tài viên luôn là số lẻ.
+ Tòa trọng tài quốc tế có thể áp dụng:
++ ĐƯQT hoặc TQQT có liên quan trực tiếp đến vụ tranh chấp. 16
++ LQG, nguyên tắc PL chung hay quy định chuyên môn nào đó do các bên tranh
chấp lựa chọn để Tòa trọng tài SD khi giải quyết tranh chấp giữa họ.
+ Thủ tục tố tụng, trình tự phiên tòa trọng tài do các bên tranh chấp ấn định.
+ Phán quyết của tòa trọng tài có giá trị chung thẩm và hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các bên.
● So sánh giữa tòa án quốc tế và tòa trọng tài quốc tế
- Về thành phần xét xử?
- Về thủ tục tố tụng?
- Về mức độ bảo mật trong từng vụ việc?
- Về thể loại tranh chấp quốc tế được giải quyết?
- Về biện pháp đảm bảo thi hành phán quyết?
Trọng tài quốc tế: 1 biện pháp, thủ tục giải quyết TCQT mà theo đó các bên tranh chấp sẽ
thỏa thuận 1 hoặc 1 số cá nhân là các chuyên gia pháp lí (trọng tài viên) thẩm quyền thụ
lí giải quyết các vụ tranh chấp cụ thể
Chủ thể: 1 cá nhân trọng tài viên; 1 hội đồng trọng tài (gồm tập thể các trọng tài) được
thành lập theo số lẻ để lúc ra phán quyết thì theo nguyên tắc đa số.
Linh hoạt hơn về thời gian địa điểm và tính bảo mật cao hơn
3.5 Thông qua các tổ chức quốc tế: (tự tìm hiểu)
● Các tranh chấp liên quan trong khuôn khổ tổ chức quốc tế được giải quyết theo các
cơ chế đã được quy định trong Quy chế tổ chức quốc tế.
● Thẩm quyền giải quyết:
- Các tổ chức chuyên môn của LHQ.
- Các tổ chức quốc tế khu vực. 17