Chương 7 - tư tưởng Hồ Chí Minh| Đại học Kinh Tế Quốc Dân

Đại học Kinh tế Quốc dân với những kiến thức và thông tin bổ ích giúp các bạn định hướng và họp tập dễ dàng hơn. Mời bạn đọc đón xem. Chúc bạn ôn luyện thật tốt và đạt điểm cao trong kì thi sắp tới

Trường:

Đại học Kinh Tế Quốc Dân 3 K tài liệu

Thông tin:
32 trang 11 tháng trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Chương 7 - tư tưởng Hồ Chí Minh| Đại học Kinh Tế Quốc Dân

Đại học Kinh tế Quốc dân với những kiến thức và thông tin bổ ích giúp các bạn định hướng và họp tập dễ dàng hơn. Mời bạn đọc đón xem. Chúc bạn ôn luyện thật tốt và đạt điểm cao trong kì thi sắp tới

41 21 lượt tải Tải xuống
Chương 7
TƯ TƯNG H CHÍ MINH V VĂN HÓA, ĐẠO ĐỨC
VÀ XÂY DNG CON NGƯI MI
HƯỚNG DẪN HỌC:
Để nắm được kiến thức trong bài học này, học viên cần thực hiện một số
phương pháp học cơ bản sau:
- Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ
tham gia thảo luận trên diễn đàn lớp học.
- Đọc tài liệu:
1. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2015,Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh,
tr204-228.
2. (Hội đồng luận Trung ương), NxbGiáo trình tưởng Hồ Chí Minh
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010.
3. , Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993.Hồ Chí Minh về đạo đức
4. , Nxb Lao động, Hà Nội, 2007.Hồ Chí Minh về giáo dục và đào tạo
- Học viên m việc theo nm và trao đổi trực tiếp với ging viên tn lp học hoặc
qua email.
- Thông qua trang web môn học.
NỘI DUNG:
Khái quát nhưng nội dung cơ bản trong tư tưởng về văn hóa, đạo đức và xây
dựng con người mới. Cụ thể:
- TTHCM về văn hóa (định nghĩa văn hóa; quan điểm của Hồ Chí Minh về
một số vấn đề cơ bản của văn hóa; quan điểm của HCM về một số lĩnh vực của văn
hóa).
- TTHCM về đạo đức (về vai trò sức mạnh của đạo đức ch mạng; các
chuẩn mực đạo đức cách mạng; các nguyên tắc xây dựng đạo đức mới).
1
- TTHCM về xây dựng con người mới (quan niệm về con người; vai t của
con người; chiến lược trồng người).
MỤC TIÊU:
- Cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh
về văn hóa, đạo đức và xây dựng cong người mới.
- Giúp cho người học biết vận dụng các quan điểm của Hồ Chí Minh về văn
hóa, đạo đức, xây dựng con người mới vào thực tiễn bản thân và xã hội.
TÌNH HUỐNG DẪN NHẬP:
1. “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” luận điểm trên của ai và nội dung
của luận điểm đó muốn đề cập đến vấn đề gì?
Để giải quyết được tình huống này cần làm rõ: Nội dung quan điểm của Hồ Chí
Minh về vị trí, vai trò của văn hóa; chức năng của văn hóa.
2. Tại sao nói đạo đức gốc của người cách mạng? Nếu không đạo đức thì
có thể trở thành người cách mạng được không?
Để giải quyết được tình huống này cần làm rõ: Nội dung quan điểm của Hồ Chí
Minh về vai trò và sức mạnh của đạo đức.
3. Tại sao con người lại được xem là “vốn quý nhất”? Muốn phát huy “vốn quý
nhất” trong xây dựng đất nước thì đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần phải làm gì?
Để giải quyết được tình huống này cần làm rõ: Nội dung quan điểm của Hồ
Chí Minh về vai trò của con người và chiến lược trồng người.
Nắm vững những nội dung kiến thức trong Chương 7 “Tư tưởng Hồ Chí
Minh về văn hóa, đạo đức và xây dựng con người mới” sẽ giúp chúng ta có cơ sở lý
luận và thực tiễn để luận giải được những vấn đề nêu trên.
7.1. NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA
1.1. Định nghĩa về văn hóa và quan điểm về xây dựng nền văn hóa mới 7.
7.1.1.1. Định nghĩa về văn hóa
2
Trong tư ởng Hồ CMinh, văn a được hiểu theo 3 nghĩa: rng, hẹp, rất hẹp.
- Theo nghĩa rộng: Hồ Chí Minh nêu văn hóa toàn bộ những giá trị vật
chất tinh thần do loài người sáng tạo ra. Năm 1943 Người viết: “Vì lẽ sinh tồn
cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo phát triển ra ngôn
ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những
công cụ sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở, các phương thức sử dụng. Toàn bộ
những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”.
- Theo nghĩa hẹp: Văn hóa là những giá trị tinh thần. Người viết: “trong công
cuộc kiến thiết nước nhà, có bốn vấn đề cần chú ý đến, cũng phải coi là quan trọng
ngang nhau: chính trị, kinh tế, hội, văn hóa. Nhưng văn hóa một kiến trúc
thượng tầng”.
- Theo nghĩa rất hẹp: Văn hóa đơn giản chỉ trình độ học vấn của một
người được đánh giá bằng cấp học phổ thông, thể hiện ở việc Hồ Chí Minh yêu cầu
mọi người “phải đi học văn hóa”, xóa mù chữ…
Trong nội dung của bài học này thì khái niệm văn hóa chủ yếu được tiếp cận
và hiểu theo nghĩa rộng.
7.1.1.2. Quan điểm về xây dựng nền văn hóa mới
Năm 1943, khi đất nước chưa giành được độc lập, cùng với định nghĩa về
văn hóa, Hồ Chí Minh còn đưa ra năm quan điểm lớn định hướng xây dựng nền
văn hóa của dân tộc. Đây một trong những định hướng rất quan trọng cho việc
phát triển văn hóa của dân tộc. Bởi lẽ thông qua các định hướng này nền văn hóa
nước ta đã xác định rõ được hướng đi, phục vụ đắc lực cho công cuộc kháng chiến
của dân tộc. Đặc biệt sau khi giành được độc lập cho dân tộc (sau Cách mạng
Tháng Tám năm 1945), trong chế độ dân chủ mới, những quan điểm định hướng
xây dựng nền văn hóa mới càng tỏ ra quan trọng. Dưới đây là 5 định hướng:
- Thứ nhất, xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường.
3
- Thứ hai, xây dựng luân lý: biết hi sinh mình, làm lợi cho quần chúng.
- Thứ ba, xây dựng xã hội: mọi sự nghip có liên quan đến phúc li của nn dân
trong xã hội.
- Thứ tư, xây dựng chính trị:
dân quyền.
- Thứ năm, xây dựng kinh tế.
Ngay t rất sm Hồ Chí Minh
đã quan tâm đến văn hóa, thấy được v
trí vai trò quan trọng của văn a đối
với sự nghiệp ch mạng của n tộc.
Nời đã sớmquan điểm để chỉ đạo xây dựng một nền văn hóa của dân tộc, phục v
s nghiệp ch mạng.
7.1.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về các vấn đề chung của văn hóa
1.2.1. Quan điểm về vai trò và vị trí của văn hóa trong đời sống xã hội
- Văn hóa là đời sống tinh thần của xã hội, thuộc kiến trúc thượng tầng.
Đây là một quan điểm của chủ nghĩa Mác-lênin về văn hóa được tiếp thu và
truyền theo phương thức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khác với tất cả các quan
niệm văn hoá trước kia của các nhà nho, của các trí thức tư sản, họ đã tách văn hóa
ra khỏi đời sống kinh tế, trính trị, xã hội và coi lĩnh vực văn hóa gắn liền với những
cách sống cao thượng của tầng lớp trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng,
“Văn hóa không thể đứng ngoài phải trong kinh tế chính trị”. Văn hóa
trong tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận hợp thành của toàn bộ đời sống xã hội.
Nó cùng với kinh tế, chính trị tạo nên đời sống của dân tộc ta.
- Văn hóa 1 trong 4 vấn đề bản của hội: Chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội. Văn hóa có mối quan hệ mật thiết với 3 vấn đề (chính trị, kinh tế, xã hội).
4
V
V
ăn hóa phải trong chính trị,
ăn hóa phải trong chính trị,
hội, kinh tế
hội, kinh tế
+ Trong quan hệ với chính trị, hội: Hồ Chí Minh cho rằng, chính trị,
hội được giải phóng thì văn hóa mới được giải phóng. Chính trị giải phóng sẽ
mở đường cho văn hóa phát triển. Người nói: “Xã hội thế nào, văn hóa thế ấy…
Dưới chế dộ thực dân phong kiến, nhân dân ta bị lệ, bị kìm hãm, không thể
phát triển được”.
+ Trong quan hệ với kinh tế, Hồ Chí Minh chỉ rõ, kinh tế thuộc sở hạ
tầng, là nền tảng của việc xây dựng văn hóa. Người viết: “Văn hóa là một kiến trúc
thượng tầng; nhưng sở hạ tầng của hội kiến thiết rồi, văn hoá mới kiến
thiết được và có đủ điều kiện phát triển được”.
- Văn hóa không thể đứng ngoài phải trong kinh tế chính trị, phải
phục vụ nhiệm vụ chính trị và thúc đẩy sự phát triển kinh tế
+ Văn hóa phải trong kinh tế chính trị, nghĩa văn hóa phải tham
gia thực hiện nhiệm vụ chính trị, thúc đẩy xây dựng phát triển kinh tế. Quan
điểm này không chỉ định hướng cho việc xây dựng một nền văn hóa mới Việt
Nam mà con định hướng cho mọi hoạt động văn hóa.
+ Văn hóa ở trong kinh tế và chính trị, điều đó cũng nghĩa kinh tế chính
trị cũng phải có tính văn hóa, điều mà chủ nghĩa xã hội thời đại đang đòi hỏi.
Như vậy, quan điểm điểm này cũng chỉ rõ, văn hóa cũngtính chủ động tương
đối, không hoàn toàn phụ thuộc vào kinh tế, chính trị, nó cũng tác động ngược trở lại
nhằm thúc đẩy sự phát triển của kinh tế và chính trị.
7.1.2.2. Quan điểm về chức năng của văn hóa
Chức năng của nền văn hóa trong chế độ dân chủ mới rất phong phú, đa
dạng. Hồ Chí Minh cho rằng, văn hóa có ba chức năng cơ bản sau:
Một là, bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp.
5
Văn hóa thuộc đời sống tinh thần của
hội. Tư tưởng tình cảm là vấn đề chủ yếu nhất
của đời sống tinh thần của hội con người.
Vì vậy, theo Hồ Chí Minh, văn hóa phải thấm sâu
vào tâm lý quốc dân để thực hiện chức năng hàng
đầu bồi dưỡng nâng cao tưởng đúng đắn
tình cảm cao đẹp cho con người, đồng thời loại
bỏ những tư tưởng sai lầm, tình cảm thấp hèn.
Hồ Chí Minh chỉ văn hóa phải làm cho ai cũng tưởng tự chủ, tự
cường, độc lập, tự do; phải làm cho quốc dân "có tinh thần nước quên mình,
lợi ích chung mà quên lợi ích riêng".
Đó tưởng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, thực hiện nhiệm vụ giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Mỗi khi con người đã
phai nhạt lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH thì không còn ý nghĩa gì đối với cuộc
sống cách mạng.
Tình cảm lớn, theo Hồ Chí Minh là lòng yêu nước, thương dân, thương nhân
loại bị đau khổ, áp bức. Đó tính trung thực, thẳng thắn, thủy chung; đề cao cái
chân, cái thiện, cái mỹ... Tình cảm đó thể hiện trong nhiều mối quan hệ: với gia
đình, quê hương, dân tộc, nhân loại, với bạn bè, đồng chí, quan hệ thầy trò...
tưởng tình cảm có quan hệ gắn bó với nhau. Tình cảm cao đẹp con
đường dẫn đến tưởng đúng đắn; tưởng đúng làm cho tình cảm cao đẹp hơn,
làm cho con người ngày càng hoàn thiện.
Văn hóa còn góp phần xây đắp niềm tin cho con người, tin bản chất khoa
học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tin vào nhân dân, tin vào tiền đề của
cách mạng.
Hai là, nâng cao dân trí.
6
Văn hóa luôn gắn với dân trí. Không
văn hóa không dân trí. Văn hóa nâng cao
dân trí theo từng nấc thang, phục vụ mục tiêu
cách mạng trước mắt và lâu dài. Mục tiêu nâng
cao dân trí của văn hóa trong từng giai doạn
cách mạng thể nhưng điểm chung
riêng. Song, tất cả đều hướng vào mục tiêu chung giành độc lập dân tộc chủ
nghĩa hội. Nâng cao dân trí để nhân dân thể tham gia sáng tạo hưởng
thụ văn hóa, góp phần cùng Đảng “biến một đất nước dốt nát, cực khổ thành một
nước văn hóa cao và đời sống tươi vui”.
Nâng cao dân trí bắt đầu từ việc làm cho người dân biết đọc, biết viết. Tiếp
đến sự hiểu biết các lĩnh vực khác nhau về chính trị, kinh tế, văn hóa... Từng
bước nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ, khoa học kỹ thuật, thực
tiễn Việt Nam và thế giới...
Tùy từng giai đoạn cách mạng mục đích của nâng cao dân trí điểm
chung riêng, nhưng tất cả đều nhằm mục tiêu chung độc lập dân tộc
CNXH; phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước có văn hóa cao và đời
sống tươi vui hạnh phúc. Mục tiêu đó hiện nay là "dân giàu, nước mạnh, xã hội dân
chủ, công bằng, văn minh".
Ba là, bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, những phong cách, lối sống lành
mạnh, luôn hướng con người vươn tới cái chân, cái thiện, cái mỹ, không ngừng
hoàn thiện bản thân mình.
Chức năng cao quý nhất của văn hóa là bồi dưỡng, nêu cao tư tưởng đúng đắn
và tỡnh cảm cao đẹp cho nhân loại, giúp cho con người loại bỏ được những sai lầm,
khuyết điểm có thể có trong tư tưởng, tỡnh cảm mỗi con người.
7
Để thực hiện chức năng này văn hóa phải tham gia chống được tham nhũng,
lười biếng, phù hoa, xa xỉ, chống sự lạm dụng quyền lực, tham quyền cố vị dẫn tới
sự tha hóa con người. Văn hóa giúp cho con người phân biệt được cái tốt với cái xấu,
cái lạc hậu cái tiến bộ. Từ đó văn hóa hướng con người vươn tới cái chân, cái
thiện, cái mỹ.
7.1.2.3. Quan diểm về tính chất của văn hóa
Tại Đại hội lần thứ 2 của Đảng(2/1951), trong Báo cáo chính trị đọc tại Đại
hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập tới tính chất của nền văn hóa của dân tộc
trong chế độ dân chủ mới. Người khẳng định, nền văn hóa của dân tộc mang tính
chất: dân tộc, khoa học, đại chúng. Đến Đại hội 3 của Đảng (1960), Người bổ
sung thêm, đó là: mang nội dung XHCN. Nhưng tựu chung lại, khi đề cập tới tính
chất của nền văn hóa dân tộc, Hồ Chí Minh nhất quán khẳng định, nền văn hóa dân
dân tộc mang tính chất: . dân tộc, khoa học, đại chúng
- Tính dân tộc của văn hóa, sự thể hiện chủ nghĩa yêu nước tinh thần
độc lập, tự cường của dân tộc trong lĩnh vực văn hóa, nên trước hết phải được
thể hiện ở nội dung tuyên truyền cho “lý tưởng tự chủ, độc lập, tự do” và “tinh thần
vì nước quên mình”.
Tính dân tộc của văn hóa đòi hỏi phải thể hiện được cốt cách tâm hồn
người Việt Nam, đó truyền thống yêu nước, cần cù, dũng cảm,đoàn kết, tương
thân tương ái… Tóm lại tất cả những cao đẹp nhất trong tâm hồn người Việt
Nam đã được đúc kết trong hàng ngàn năm lịch sử dân tộc.
Tính dân tộc của văn hóa còn được thể hiện ở hình thức phương tiện diễn
đạt, ở ngôn ngữ….Ví dụ: thơ, ca, hò, vè, trò chơi dân gian, v.v.
- Tính khoa học: Nhấn mạnh giá trị truyền thống của dân tộc, đồng thời Hồ Chí
Minh cũng chỉ trong truyền thống mặt tích cực mặt tiêu cực. Một trong
8
những thiếu hụt của văn hóa truyền thống
chưa hình thành được duy khoa học trong
xây dựng nền văn hóa dân tộc. Trong duy
truyền thống của dân tộc một loại duy
kinh nghiệm, không mở đường cho khoa học
tự nhiên phát triển. Trong điều kiện đó mê tín dị đoan có đất để phát triển.
Hồ Chí Minh đòi hỏi phải đấu tranh chống lại những gì trái với khoa học, phản
tiến bộ Người cho rằng, phải truyền tưởng mácxít, đấu tranh chống chủ
nghĩa duy tâm thần bí, tín, dị đoan, kế thừa truền thống tốt đẹp của dân tộc
tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Người giao cho ngành giáo dục phải dạy bảo
các cháu thiếu niên về khoa học và kỷ luật.
- Tính đại chúng của văn hóa: Đây vấn đề thuộc về tính nhân dân, về đối
tượng phục vụ của văn hóa. Trước kia trong xã hội cũ, văn hóa nghệ thuật được coi
là món ăn tinh thần sang trọng , chỉ dành riêng cho một thiểu số người ăn trên ngồi
trốc. Đó một trong những điều bất công của hội cũ. Chủ tịch Hồ Chí Minh
người xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử: Quần chúng nhân dân
là người sáng tạo ra mọi của cải vật chất và giá trị tinh thần, sáng tạo ra văn hóa, do
đó họ phải là người được hưởng thụ các giá trị văn hóa.
Từ đó người đặt vấn đề: “văn hóa phục vụ ai” người khẳng định dứt
khoát: văn hóa phải phục vụ đa số nhân dân, phải hướng về đại chúng, phải phán
ánh được tâm tư nguyện vọng của nhân dân.
Hồ Chí Minh đòi hỏi các nhà hoạt động văn hóa phải tăng cường liên hệ với
thực tế, đi sâu vào cuộc sống của nhân dân vừa để tìm hiểu phản ánh nỗi lo âu,
suy nghĩ, khát vọng của nhân dân, vừa để đem ánh sáng văn hóa đến mọi người,
mọi nhà, nhất là vùng sâu, vùng xa.
9
7.1. 3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về một số lĩnh vực chính của văn hóa
7.1.3.1. Văn hóa giáo dục
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến trình độ dân trí, trình
độ học vấn cũng như nhu cầu giáo dục của nhân dân ta. Bởi vậy, Người đã sớm đưa
ra quan điểm về xây dựng nền giáo dục mới của nước Việt Nam độc lập. Người xác
định, xây dựng một nền giáo dục mới một nhiệm vụ cấp bách, ý nghĩa chiến
lược, vì nó góp phần làm cho dân tộc ta xứng đáng với nước Việt Nam độc lập. Văn
hóa giáo dục một mặt trận quan trọng trong công cuộc xây dựng CNXH đấu
tranh thống nhất nước nhà.
Theo Người:
- Mục tiêu của văn hóa giáo dục là thực hiện cả ba chức năng củan hóa bằng
go dục, có nghĩa là bằng dy và học. Đó là đào to ra nhng con nời toàn diện vừa
có đức vừa i, biết m đủ điều kiện m chđể xây dựng và bảo vệ đất nước
- Chương trình, nội dung dạy và học phải thật khoa học, thật hợp lý, phù hợp
với những bước phát triển của nước ta, phản ánh được mục tiêu không chỉ dạy
học chữ mà phải dạy và học làm người.
- Học đi đôi với hành, lý luận liên hvới thực tế, học phải kết hợp với lao động.
nvậy văn hóa giáo dục mới có tính định hướng đúng đắn, rõ ràng, thiết thực.
- Phải tạo tạo ra được môi trường giáo dục lành mạnh, dân chủ, trường phải
ra trường, lớp phải ra lớp, thầy ra thầy trò ra trò. Đồng thời phải phối hợp cả ba
khâu nhà trường, gia đình và xã hội.
- Phương trâm, phương pháp của giáo dục là.
+ Phương châm học đi đôi với hành, luận liên hệ với thực tế; học tập kết
hợp với lao động; phối hợp nhà trường - gia đình - hội; thực hiện dân chủ, bình
10
đẳng trong giáo dục; học suốt đời. Coi trọng việc tự học, tự đào tạođào tạo lại.
Học ở mọi lúc, mọi nơi, học mọi người.
+ Phương pháp giáo dục phải xuất phát bám chắc vào mục tiêu giáo dục.
Giáo dục một khoa học nên cách dạy phải phù hợp với lứa tuổi; dạy từ dễ đến
khó; kết hợp học tập với vui chơi ích, lành mạnh; giáo dục phải dùng phương
pháp nêu gương; giáo dục phải gắn liền với thi đua.
7.1.3.2. Văn hóa văn nghệ
- Văn nghệ mặt trận, nghệ chiến sĩ, tác phẩm văn nghệ khí sắc
bén trong đấu tranh cách mạng, xây dựng hội mới, con người mới. Giai đoạn
trước khi giành được chính quyền, Người
cho rằng, văn hóa văn nghệ phải nhiệm
vụ thức tỉnh quần chúng, tập hợp lực lượng,
cổ cho thắng lợi tất yếu của cách mạng.
Sau khichính quyền, văn nghệ phải tham
gia vào công cuộc xây dựng bảo vệ chế
độ mới, con người mới.
- Văn nghệ phải gắn với thực tiễn đời sống nhân dân, theo Hồ Chí Minh là từ
thực tiễn của đất nước, bằng tài năng sáng tạo và tinh thần nhân văn của mình, văn
nghệ thể nhào nặn, thăng hoa, cấu, tạo nên những tác phẩm nghệ thuật
trường tồn cùng dân tộc và nhân loại.
- Văn nghệ cần phải những tác phẩm văn nghệ xứng đáng với thời đại
mới của đất nước, của dân tộc. Đó là những tác phẩm mà theo Hồ Chí Minh phải kế
thừa được những tinh hoa của văn hóa dân tộc, mang hơi thở của thời đại, vừa phản
ánh chân thật những đã có trong đời sống, vừa phê phán cái dở, cái xấu, cái sai,
hướng nhân dân tới cái chân, thiện, mỹ, vươn tới cái lý tưởng – đó chính là sự phản
11
ánh có tính hướng đích của văn nghệ. Theo người,
một áng văn chương không cứ dài mới là hay. Khi
nào tác phẩm ấy chỉ diễn đạt vừa đủ những điều
kiện đáng nói, khi được trình bày sao cho mọi
người ai cũng hiểu được khi đọc xong độc giả
phải suy ngẫm, thì tác phẩm mới xem như một tác
phẩm hay.
7.1.3.3. Văn hóa đời sống
Văn hóa bộ mặt tinh thần của hội, nhưng bộ mặt tinh thần ấy không
phải là cái gì cao siêu, mà lại được thể hiện ra ngay trong cuộc sống hàng ngày của
mỗi người, rất dễ hiểu, rễ thấy. Đó chính là văn hóa đời sống. Văn hóa đời sống bao
gồm:
- Đạo đức mới, theo Hồ Chí Minh thực hành đời sống mới trước hết
thực hành đạo đức các cách mạng cần, kiệm, liêm, chính. Người nói: “Nếu không
giữ được cần, kiệm, liêm, chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”.
- Lối sống mới, đó là lối sống có lý tưởng có đạo đức, văn minh, tiên tiến, kết
hợp hài hòa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa của nhân loại. Do
đó để xây dựng lối sống mới, Hồ Chí Minh yêu cầu phải sửa đổi năm cách: “cách
ăn, cách mặc, cách ở, cách đi lại
Phong ch sống, theo Hồ Chí Minh phải khiêm tốn, giản dị, chừng mực,
ngăn nắp, vệ sinh, yêu lao động, quý trọng thời gian, ítng ham muốn vật chất. Trong
quan hệ với nn dân, bạn bè, đồng chí phải chânnh, cởi mở, ân cần, tế nhị; giầunh
u thương, quý mến… Phong cách làm việc, theo Người là phải sửa đổi sao cho có
c phong quần chúng, tác phong tập thể-dân chủ,c phong khoa học.
12
- Nếp sống mới, theo Hồ Chí Minh phải làm cho lối sống mới dần dần trở
thành nền nếp, thói quen, ổn định mỗi con người, thành phong tục tập quán của
tập thể hay cả cộng đồng, trong khu vực hay cả nước, thường gọi nếp sống mới
hay nếp sống văn hóa.
Hồ Chí Minh dạy chúng ta chẳng những biết kế thừa còn phải biết phát
triển những thuần phong mỹ tục, đồng thời phải biết cải tạo những phong tục tập
quán lạc hậu. Vừa sửa đổi những thói quen, phong tục tập quán lạc hậu, vừa xây
dựng những cái tốt đẹp, đây là công việc vô cùng khó khăn phức tạp.
7.2. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC
7.2.1. Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
7.2.1.1. Quan điểm về vai trò và sức mạnh của đạo đức
- Thứ nhất, đạo đức là cái gốc của người cách mạng.
+ Khái niệm đạo đức: Đạo đức một hình thái ý thức hội dùng để đánh
giá hành vi của con người.
+ Đạo đức từ rất sớm, trong bất kỳ hội nào cũng một chuẩn mực
đạo đức nhất định. Trong hội mới cũng cần xây dựng một chuẩn mực đạo đức
mới.
Hồ Chí Minh khẳng định đạo đức nguồn nuôi dưỡng phát triển con
người, như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối. Người nói: “cũng như sông thì
nguồn mới nước, không nguồn thì sông cạn. Cây phải gốc, không
gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi
đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.
Hồ Chí Minh coi đạo đức sức mạnh, tiêu chuẩn hàng đầu của cán bộ,
đảng viên. Người nói: “sức mạnh mới gánh được nặng đi xa. Người cách
13
mạng phải đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ
cách mạng vẻ vang”.
=> Chính đạo đức yêu nước, thương dân của Người động lực to lớn góp
phần làm nên sự nghiệp cách mạng phi thường của Người. Ngược lại, sự suy thoái
về đạo đức khởi điểm của mọi suy thoái. Tha hóa về đạo đức sớm muộn sẽ dẫn
đến tha hóa về chính trị.
- Thứ hai, đạo đức là nhân tố tạo nên sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội, theo
Hồ Chí Minh sức hấp dẫn của chủ nghĩa hội chưa phải tưởng cao xa,
mức sống vật chất dồi dào, mà trước hết là ở những giá trị đạo đức cao đẹp, ở phẩm
chất của những người cộng sản ưu tú, bằng tấm gương sống hành động của
mình, chiến đấu cho lý tưởng đó thành hiện thực.
Cũng như Lênin, tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh chẳng những sức
hấp dẫn mạnh mẽ đối với toàn thể nhân dân Việt Nam còn ảnh hưởng sâu
rộng trên toàn thế giới.
- Thứ ba, đạo đức là động lực, là sức mạnh nội sinh của con người.
Đạo đức nhân tố để thúc đẩy con người phát triển, giúp người cách mạng
vượt qua mọi khó khăn gian khổ để giành những thắng lợi mới. Hồ Chí Minh nói
nhờ sức mạnh đó đã giúp cho người cách mạng vượt qua mọi khó khăn gian
khổ, ngay cả khi cách mạng đã thành công.
- Thứ tư, đạo đức là thước đo lòng cao thượng của con người
Hồ Chí Minh nói: mỗi con người trong hội vị trí khác nhau, tài năng
khác nhau, đạo đức thước đo chuẩn mực của con người. Người nói: đạo đức
như người đầu chổng xuống đất, hai chân chổng lên trời. Đạo đức mới như người
đầu ngẩng lên trời, hai chân đứng vững dười đất.
7.2.1.2. Quan điểm về những chuẩn mực đạo đức cách mạng
14
* Trung với nước, hiếu với dân
Đây chuẩn mực đạo đức quan trọng nhất, Hồ Chí Minh luôn đặt lên hàng
đầu. Trong các quan hệ đạo đức, thì quan hệ với nước, với dân là quan hệ lớn nhất,
do đó, “trung với nước, hiếu với dân”cũng là chuẩn mực chung nhất, bao trùm nhất.
- Khái niệm “Trung”, “hiếu” ra đời và tồn tại trong xã hội phong kiến. Trong
xã hội phong kiến đâyphẩm chất quan trọng hàng đầu. Nội dung của khái niệm
“trung” và “hiếu” đó là “Trung với vua, hiếu với cha mẹ”.
+ Đối tượng của chữ “trung” tronghội phong kiến, đó trung thành với
vua, nội dung bó hẹp.
+ Đối tượng của chữ “hiếu” trong hội phong kiến, đó là hiếu với cha mẹ.
Phải tuân thủ những lời giáo huấn của cha mẹ.
- Hồ Chí Minh đã tiếp thu những quan niệm đạo đứcđã đưa vào trong
khái niệm đó một nội hàm mới. Theo Người thì “Trung” “hiếu” không chỉ đơn
thuần “trung với vua”, “hiếu với cha mẹ”, nghĩa rộng hơn “Trung với
nước” và “hiếu với dân”.
- Nội dung của Trung với nước (Đối tượng là Tổ quốc).
+ Thứ nhất, đặt lợi ích của Đảng, của tổ quốc, của cách mạng lên trên hết;
+ Thứ hai, tuyết tâm phấn đấu thực hiện mục tiêu của cách mạng;
+ Thứ ba, sẵn sàng hi sinh bản thânmục tiêu cao cả của dân tộc, của đất c;
+ Thứ tư, thực hiện tốt chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước.
- Nội dung của hiếu với dân (đối tượng
nhân dân).
+ Yêu dân, kính trọng nhân dân, tôn trọng
nhân dân, lấy dân làm gốc;
15
+ Khẳng định vai trò sức mạnh thật sự của nhân dân;
+ Tin dân, lắng nghe dân, học dân, tổ chức động viên nhân dân cùng thực
hiện tốt chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước;
+ Phải luôn quan tâm đến đời sống của nhân dân, cm lo cải thiện đời sng cho
dân; khi dân còn thiếu thì nh kng có quyền đòi hỏi sung sướng cho rng mình;
+ Tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nâng co dân trí, để dân
biết và sử dụng được quyền làm chủ của mình.
* Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
- Đạo đức trong hội phong kiến cũng đề cập đến cần, kiệm, liêm, chính,
nhưng chỉ để cho quần chúng nhân dân thực hiện. Hồ Chí Minh nêu ra cần, kiệm,
liêm, chính trong đạo đức mới để trước hết cho cán bộ, đảng viên sau đó đến
nhân dân cùng thực hiện.
- Nội dung của cần, kiệm, liêm, chính:
+ Cần lao động cần
cù, siêng năng, lao động
kế hoạch, sáng tạo năng suất
cao; lao động với tinh thần tự
lực cánh sinh, không lười
biếng, không ỷ lại.
Cần chuẩn mực đạo đức của dân tộc Việt Nam. Hồ Chí Minh kế thừa
truyền thống của dân tộc, Người đã đưa thêm vào trong đó một nội dung mới. Cần
không chỉ yêu lao động lao động phải kỷ luật, kỹ thuật, chất lượng,
có năng suất.
16
Để được lao động như vậy thì cần phải gắn với kế hoạch. như người
thợ mộc đóng bàn thì cần phải chuẩn bị gỗ…Kế hoạch phải đi với phân công, phân
công trách nhiệm theo đúng năng lực chuyên môn.
+ Kiệm tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của của
nhân dân của đất nước, của bản thân. Tiết kiệm từ cái nhỏ đến cái to; “Không xa sỉ,
không hoang phí, không bừa bãi”.
Trong tiết kiệm về tiền của, Người phân biệt với người chi đúng người
bủn xỉn. Cần kiệm mối quan hệ chặt chẽ với nhau, cần không kiệm thì
như “tiền vào nhà khó, gió vào nhà trống”, ngược lại kiệm mà không cần thì “lấy gì
mà kiệm”.
+ Liêmluôn tôn trọng của côngcủa dân. Phải “trong sạch, không tham
lam” tiền của, địa vị, danh tiếng.
Người liêm người không ham sung sướng, tiền tài địa vị, chỉ một
thứ ham, “ham học, ham tiến bộ”.
+ Chính là thẳng thắn, đứng đắn, không tà.
Người chính người: đối với mình thì khiêm tốn, học hỏi; đối với người
khác, không nịnh hót người trên, không coi thường người khác; đối với việc, việc
công đặt lên trên việc tư, chánh xa việc xấu.
Cần, kiệm, liêm chính mối quan hệ chặt chẽ với nhau tác động qua lại
nhau tạo lên phẩm chất cần có ở mỗi con người, nhất là đối với người cách mạng.
- Chí công vô tư
Chí công yêu cầu phải rất mực công minh, chính trực, công bằng, công
tâm; không được thiên tư, thiên vị; Chuẩn mực này nhắc nhở người lãnh
đạo, cầm cân nảy mực phải hết sức công bằng, không được lòng riêng thiên
tư, thiên vị.
17
Khi nhấn mạnh đến tầm quan trọng của đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh đã
đúc kết:
“Trời có bốn mùa xuân, hạ, thu đông
Đất có bốn phương đông, tây, nam, bắc
Người có bốn đức cần, kiệm, liêm, chính
Thiếu một mùa không thành trời
Thiếu một phương thì không thành đất
Thiếu một đức thì không thành người”
* Thương yêu con người, sống có tình có nghĩa
Dân tộc Việt Nam truyền thống yêu thương, kính trọng con người:
“Thương người như thể thương thân”, “Lá lành đùm lá rách”, v.v. Hồ Chí Minh đã
thiếp thu những giá trị truyền thống này của dân tộc. Đây là một trong những phẩm
chất đạo đức cao đẹp nhất. Hồ Chí Minh nói,
người cách mạng người giầu tình cảm,
tình cảm cách mạng thì mới đi làm cách mạng.
yêu thương nhân dân, yêu thương con
người chấp nhận mọi gian khổ hi sinh để
đêm lại độc lập tự do, cơm áo ấm no hạnh
phúc cho mọi người.
- Nội dung yêu thương con người của Hồ Chí Minh có những điểm mới:
+ Đó một tình cảm rộng lớn giành cho những người nghèo khổ, bị áp bức
không phân biệt giai cấp.
+ Tình yêu thương đó phải được xây dựng trên lập trường giai cấp công nhân
và được thể hiện trong các mối quan hệ hàng ngày với bạn bè, đồng chí, anh em.
18
+ Yêu thương con người đi liền với tôn trọng, tìm mọi cách nâng đỡ con
người lên, đó những con người thất thời lầm lạc, v.v. Người dạy: “Hiểu chủ
nghĩa Mác-Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách
sống không tình nghĩa thì sao gọi hiểu chủ nghĩa Mác- Lênin được”.
Trong Di chúc, Người dặn lại: “Phải có tình đồng chí yêu thương lẫn nhau”.
+ Yêu thương không phải là chín bỏ làm mười,
bao che cho nhau cả lỗi lầm, trở thành phe cánh,
phường hội, v.v. Như vậy, chỉ có đưa đến tổn thất cho
cách mạng, cho tổ quốc.
+ yêu thương con người phải gắn với hành
động cụ thể, phải tiến hành sự nghiệp cách mạng giải
phóng con người. Bản thân Hồ Chí Minh một tấm
gương cho tinh thần ấy.
* Có tinh thần quốc tế trong sáng.
- Yêu nước, nhân ái vốn truyền thống dân tộc, nhưng u nhân dân mình,
đồng thời lại biết yêu, giải phóng nhân dân các dân tộc bị áp bức, thì phải đến thời đại
Hồ Chí Minh mới được đề ra giáo dục đầy đủ. Đâyđạo đức hoàn toàn mới, có
trong cuộc cách mạng mới của chúng ta. Vì chỉ có giải phóng triệt để con người t
mới có. Đây là một trong những phẩm chất quan trọng nhất của đạo đức CSCN.
- Nội dung cơ bản của phẩm chất này là:
Tôn trọng tất cả các dân tộc trên thế giới đó dân tộc lớn hay nhỏ;
tinh thần hòa bình, hữu nghị, hơp tác giữa các dân tộc; có tinh thần bình đẳng, đoàn
kết và giúp đỡ giữa các dân tộc, không phân biệt dân tộc lớn, dân tộc nhỏ.
Trong suốt cuộc đời mình, Hồ Chí Minh đã dày công vun đắp, xây dựng tình
đoàn kết, hữu nghị giữa Việt Nam với các nước trên thế giới.
19
7.2.1.3. Quan điểm về những nguyên tắc xây dựng đạo đức mới
* Nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức.
- Hồ Chí Minh coi đây nguyên tắc quan trọng nhất trong xây dựng một
nền đạo đức mới ở nước ta. Nó đối lập với thói đạo đức giả của giai cấp bóc lột, nói
một đằng làm một nẻo, thậm chí nói mà không làm.
- Nêu gương về đạo đức một nét đẹp của truyền thống văn hóa phương
Đông. Nói đi đôi với làm phải gắn liền với nêu gương về đạo đức. Người nói: “Lấy
gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau một cách tốt nhất để
xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc
sống mới” trong đó có đạo đức.
Người lưu ý:
+ Trong gia đình: ông bà, cha mẹ phải làm gương cho con cháu.
+ Trong cơ quan: người lãnh đạo.
+ Ngoài hội: đảng viên phải nêu gương cho quần chúng: “đảng viên đi
trước, làng nước theo sau”.
+ Một tấm gương sống còn có giá trị hơn trăm bài diễn thuyết.
- Người phê phán: “một số cán bộ hình như mải làm công tác hành chính sự
vụ hơn để tâm sức xây dựng con người. Cho nên không chịu theo dõi việc làm
hàng ngày của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Ai làm lốt không kịp nêu
gương, ai làm xấu không kịp thời giúp đỡ..Đó là nhưng cán bộ không biết việc”
* Xây đi đôi với chống
- Xây xây cái mới, cái tốt đẹp, phù hợp với đạo đức mới, biểu dương,
giáo dục những phẩm chất, chuẩn mực đạo đức mới, những tấm gương đạo đức cao
đẹp, nảy sinh từ các phong trào cách mạng của quần chúng, qua đó khơi dậy ý thức
20
đạo đức lành mạnh để mỗi người tự trau dồi, rèn luyện. Chống phải đấu tranh
chống lại các biểu hiện, các hành vi đạo dức trong đời sống hàng ngày. Muốn
vậy, phải sớm phát hiện để đấu tranh, lên án. Nhưng quan trọng hơn cần dự báo
để phòng chống ngăn chặn.
- Cả xây và chống đều đưa lên thành phong trào quần chúng rộng rãi, gây dư
luận hội lành mạnh để phê phán. Xây chống phải đi liền với nhau, trong
đời sống hàng ngày cái tốt và cái xấu đan xen lẫn nhau.
- Trong chống Người cũng lưu ý: trong đời sống hàng ngày nếu phát hiện cái
xấu ta phải chống ngay, không để đến khi phát triển mới chống thì không
hiệu quả. Như vậy thì sẽ tốn thời gian, tốn sức lao
động, tốn tiền của của nhân dân.
* Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời
- Hồ Chí Minh từng nói: Đạo đức không
phải từ trên trời rơi xuống từ trong đấu tranh
rèn luyệnra. Xây dựng đạo đức đã khó nhưng
giữ gìn được phẩm chất đạo đức cách mạng lại
càng khó khăn hơn.
- Tu dưỡng đạo đức cách mạng trong mỗi con người được Hồ Chí Minh coi
như một công việc gian khổ, trường kỳ, chỉ sao nhãng một chút thể sa sút,
hỏng. Cho nên việc tu dưỡng đạo đức phải thường xuyên liên tục, giống như
việc “đánh răng, rửa mặt hàng ngày”, phải tu dưỡng suốt đời.
Vì: lúc này ta là ngưi tốt nhưng trong điều kin hn cnh khác ta strở thành
ngưi xu.
- Trong tu dưỡng, rèn luyện đạo đức mỗi người cần phải nhìn thẳng vào
mình, kiên trì rèn luyện, tu dưỡng suốt đời như việc rửa mặt hàng ngày.
21
- Việc tu dưỡng đạo đức của mỗi người phải được thể hiện qua mọi hành
động thực tiễn.
- Bác đã nêu ra hai phẩm chất cần có của người cách mạng đó là: đức và tài:
“Người có tài mà không có đức cũng trở thành vô dụng
Người có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”
- Người yêu cầu phải chống các bệnh như, công thần, quan cách mạng, quan
liêu, tham ô, tham nhũng, chủ nghĩa cá nhân.
7.2.2. Sinh viên học tập làm theo tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh
7.2.2.1. Học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
- Xác định đúng vị trí, vai trò của đạo đức đối với cá nhân.
- Tu dưỡng đạo đức theo các phẩm chất đạo đức Hồ Chí Minh.
+ Yêu tổ quốc, yêu nhân dân.
+ Cần cù sáng tạo trong học tập.
+ Sống nhân nghĩa có đạo lý.
- Tu dưỡng theo các nguyên tắc đạo đức Hồ Chí Minh
+ Kiên trì tu dưỡng đạo đức cách mạng.
+ Nói và làm đi đôi với nhau.
+ Kết hợp cả xây đạo đức mới với chống các biểu hiện suy thoái đạo đức.
7.2.2.2. Nội dụng học tập theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
+ Học trung với nước, hiếu với dân, suốt đời đấu tranh cho sự nghiệp giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
+ Học cần kiệm liêm chính, chí côngtư, đời tư trong sáng, nếp sống giản
dị và đức khiêm tốn phi thường.
22
+ Học đức tin tuyệt đối vào sức mạnh của nhân dân, kính trọng nhân dân, hết
lòng hết sức phục vụ nhân dân, luôn nhân ái, vị tha, khoan dung nhân hậu với
con người.
+ Học tấm gương về ý chí nghị lực tinh thần to lớn, quyết tâm vượt qua
mọi thử thách, gian nguy để đạt được mục đích cuộc sống.
7.3. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI
7.3.1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người
7.3.1.1. Con người được nhìn nhận như một chỉnh thể, đa chiều
Hồ Chí Minh xem xét con người như một chỉnh thể thống nhất về tâm lực,
thể lực các hoạt động của nó. Con người luôn xu hướng vươn lên cái chân
thiện mỹ, mặc “có thế này, thế khác”. Con người được nhìn nhận các
phương diện:
- Phương diện tự nhiên: Hồ Chí Minh nhìn nhận con người như một thực thể
sinh học, cho nên con người phải tuân theo các quy luật tự nhiên.
- Con người xã hội: Hồ Chí Minh nhìn nhận con người với tư cách là một
nhân. nhân con người này nằm trong mối quan hệ giữa nhân với hội,
nhân với cá nhân và tồn tại trong vô số các quan hệ khác.
- Hồ Chí Minh còn nhìn nhận con người ở cả tâm lực và thể lực. Phải sự
thống nhất chặt chẽ giữa tâm lực thể lực trong mỗi con người. Đó chính tâm
lý, ý thức và thể chất của con người.
- Hồ Chí Minh xem t con người trong sự thống nhất của hai mặt đối lập: thiện
và ác, hay và dở, tốt và xấu, v.v, bao gồm cả tính người – mặt xã hội và tính bản năng
mặt sinh học. Phải làm cho cái tốt nảy nở như hoa mùa xuân, cái xấu bị xóa bỏ.
7.3.1.2. Con người lịch sử cụ thể
- Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, con người là sản phẩm của những điều kiện
lịch sử cụ thể. Ở mỗi giai đoạn lịch sử nhất định sẽ tạo lên kiểu con người nhất định.
23
Hồ Chí Minh dùng khái niệm “con người” theo nghĩa rộng trong một số
trường hợp (“phẩm giá con người”, “giải phóng con
người”, “người ta”, “con người”, “ai”, v.v.), nhưng đặt
trong bối cảnh cụ thể một duy chung. Còn phần
lớn Người xem xét trong các mối quan hệ hội, quan
hệ giai cấp; theo giới tính (thanh niên, phụ nữ), lứa tuổi
(phụ lão, nhi đồng), nghề nghiệp (công nhân, nông dân,
trí thức), trong khối thống nhất của cộng đồng dân tộc (sĩ, nông, công, thương)
quan hệ quốc tế (bầu bạn năm châu, các dân tộc
bị áp bức, bốn phương sản). Đó những con
người hiện thực, cụ thể, cảm tính, khách quan.
7.3.1.3. Bản chất con người mang tính
hội
Mác cho rằng: bản chất của con người
tổng hòa của các mối quan hệ trong xã hội. Hồ Chí Minh đã tiếp thu quan điểm của
chủ nghĩa Mác – Lênin về bẳn chất của con người, từ đó Người đã khẳng định: bản
chất của con người là mang tính xã hội, khác hẳn với con vật. Tính xã hội được thể
hiện ở các khía cạnh sau:
- Để sinh tồn, con người phải lao động sản xuất. Trong quá trình lao động sản
xuất, con người dần dần nhận thức được các hiện tượng, quy luật của tự nhiên, của
hội; cải tạo tự nhiên, cải tạo hội để phục vụ cuộc sống của mình; hiểu về
mình và hiểu biết lẫn nhau, v.v, xác lập các mối quan hệ giữa người với người; con
người vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm của lịch sử; con người là sự tổng hợp của các
quan hệ xã hội từ hẹp đến rộng.
7.3. 2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của con người
24
- Thứ nhất, con nời là vốn quý nhất, nhân tố quyết đnh thành
công ca snghiệp ch mng.
Theo Hồ Chí Minh, “trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân, trong thế giới
không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Vì vậy, “vô luận việc gì, đều
do người n làm ra từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả”. Người cho rằng:
“việc dễ mấy khôngnhân dân cũng chịu, việc khó mấy có dân liệu cũng xong”.
Nhân dân yếu tố quyết định thành công của cách mạng. “Lòng yêu nước
và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi”.
- Thứ hai, con người không chỉ sản phẩm của tự nhiên hội còn
là chủ thể của tự nhiên và xã hội.
+ Với cách chủ thể của tự nhiên: con người bằng hành động cụ thể của
mình không ngừng tác động vào tự nhiên, cải biến tự nhiên để cho phù hợp với nhu
cầu của mình thông qua hoạt động sản xuất vật chất.
+ Với tư cách chủ thể hội: con người bằng hành động của mình đã làm
nên lịch sử, không ngừng biến đổi xã hội, đưa xã hội loài người phát triển đi lên từ
thấp đến cao thông qua các cuộc cách mạng xã hội.
- Thứ ba, con người vừa mục tiêu, vừa động lực của cách mạng, phải
coi trọng, chăm sóc, phát huy nguồn lực con người.
Vì sống gần nhân dân, hiểu rõ dân tình, dân tâm, dân ý. Hồ Chí Minh thấy
yêu cầu giải phóng dân tộc, giải phóng con người, giải phóng xã hội. Nhân dân vừa
mục tiêu, vừa động lực của cách mạng. Do vậy, Hồ Chí minh thấy trách
nhiệm của mình cũng như của Đảng chính phủ phải “làm sao cho nước ta
được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn,
áo mặc, ai cũng được học hành”.
+ Trước tiên, con người là mục tiêu của cách mạng.
25
mục tiêu cao nhất của cách mạng giải phóng triệt để con người tạo
mọi điều kiện để con người được phát triển một cách toàn diện. Nên mọi chủ
trương, đường lối, cính sách của Đảng, chính phủ đều vì lợi ích chính đáng của con
người. thể lợi ích lâu dài, lợi ích trước mắt. Với hoạt động thực tiễn thì việc
gì có lợi cho dân, dù nhỏ mấy ta phải hết sức làm. Việc gì hại cho dân- dù nhỏ mấy
ta phải hết sức tránh”.
Tiến trình cách mạng được chủ nghĩa Mác nin chỉ ra: giải phóng giai
cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Khi tiếp thu quan điểm của chủ
nghĩa Mác –Lê nin, Hồ Chí Minh đã khẳng định tiến trình cách mạng của Việt
Nam: giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Như vậy, con
người luôn mục tiêu cuối cùng của cuộc cách
mạng.
Tuy nhiên theo Hồ Chí Minh không phải mọi
con người đều là động lực của cách mạng, mà phải là
những con người được giác ngộ và tổ chức, phải có trí
tuệ, bản lĩnh, đạo đức được nuôi dưỡng trên nền truyền
thống lịch sử văn hóa Việt Nam.
+ Cuối cùng, con người là động lực của cách mạng.
Động lực những nhân tố thúc đẩy sự phát triển. Con ngườiđộng lực
nghĩa là: con người bằng hoạt động có ý thức, nhiệt tình, không ngừng thúc đẩy sự
nghiệp cách mạng phát triển và đi đến thành công. Nói đến con người là nói đến vô
số các cá nhân con người bằng tổng hợp mọi sự hoạt động của họ lại tạo thành động
lực lớn của cách mạng. Nhưng con người ch thể trở thành động lực của cách
mạng khi hoạt động có tổ chức, có lãnh đạo. Do đó, cần phải có sự lãnh đạo của Đảng.
Đồng thời phải kiên quyết khắc phục các phản động lực trong con người tổ
chức. Đó là chủ nghĩa cá nhân. Thứ vi trùng rất độc này đẻ ra hàng trăm thức bệnh:
26
thói quen truyền thống lạc hậu, tàn tích hội để lại, bảo thủ, rụt không
giám nói, không giám đề ra ý kiến, tóm lại không dám đổi mới và sáng tạo.
Tóm lại: con người vừa mục tiêu động lực của cách mạng mối
quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại nhau, thúc đẩy nhau. Bởi lẽ: Để thực
hiện được mục tiêu giải phóng con người thì phải phụ thuộc vào động lực con
người. Nếu con người tự giác, nhiệt tình cách mạng thì thúc đẩy sự nghiệp cách
mạng thành công, nếu không sẽ ngược lại. Mặt khác khi xác định được mục tiêu
cách mạng rõ ràng thì sẽ phát huy được động lực.
7.3.3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về chiến lược “trồng người”
Do vai trò quan trọng của con người
như vậy cho nên chiến lược trồng người
quan trọng hàng đầu. Từ đó Hồ Chí Minh đã
đánh giá:
- Trồng người là yêu cầu khách quan, vừa
cấp bách, vừa lâu dài của cách mạng.
Hồ Chí Minh rất quan tâm tới sự nghiệp giáo
dục, đào tạo, rèn luyện con người. Người nói tới “lợi ích trăm năm của việc trồng
người” mục tiêu xây dựng chủ nghĩa hội những quan điểm mang tầm vóc
chiến lược, cơ bản lâu dài, nhưng cũng rất cấp bách. Điều này liên quan tới nhiệm vụ
“tớc hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”. Tất cả những điềuy phản ánh
tưởng lớn về tầm quan trọng tính quyết định nhân tố con người; tất cả con
người, do con người.
Như vậy, con người phải đặt vào vị trí trung tâm của sự phát triển. vừa
nằm trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước với nghĩa rộng, vừa
nằm trong chiến lược giáo dục-đào tạo theo nghĩa hẹp.
27
- Việc xây dựng con người mới là cả một quá trình lâu dài và phải song hành
ng với cuộc cách mạng. Bởi lẽ khi ta tiến hành cách mạng phải thực hiện đồng thời
chiến lược xây dựng con người chứ không phải đợi đến khi cách mạng thành công.
- Việc xây dựng con người mới phải được thực hiện tất cả các giai đoạn
cách mạng. Bởi lẽ công cuộc cách mạng của dân tộc ta phải trải qua nhiều các giai
đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn cách mạng cần có những con người phù hợp để thực
hiện nhiệm vụ cách mạng.
- Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết phải có những con người xã hội
chủ nghĩa.
Điều này nghĩa ngay t đầu công cuộc xây dựng ch nghĩa hội cần
phải đặt ra nhiệm vụ xây dựng con người phẩm chất bản, tiêu biểu cho con
người mới hội chủ nghĩa, làm gương, lôi cuốn xã hội. Công việc này một quá
trình lâu dài không ngừng hoàn thiện, nâng cao thuộc về trách nhiệm của Đảng, Nhà
nước, gia đình và xã hội.
Con người mới XHCN cần phải có những phẩm chất sau: Quan điểm của Hồ
Chí Minh về con người mới xã hội chủ nghĩa hai mặt gắn bó chặt chẽ với nhau.
Một kế thừa những giá trtruyền thống tốt đẹp của con người truyền thống. Hai
là hình thành những phẩm chất mới như:
+ Có đạo đức cách mạng.
+ Có trình độ tri thức, đặc biệt nắm vững tri thức khoa học kỹ thuật.
+ tinh thần tập thể “mình mọi người”, tấm lòng yêu thương, thân
ái, nhân nghĩa, bao dung, độ lượng.
+ Có năng lực làm chủ: làm chủ bản thân gia đình, tự nhiên và xã hội.
- Để đạt được những phẩm chất đó phải xây dựng được những con người mới
phát triển toàn diện. Trong đó đặc biệt phải coi trọng sự nghiệp giáo dục đào tạo.
28
Theo Hồ Chí Minh để thực hiện chiến lược “trông người” cần nhiều biện
pháp, nhưng giáo dục đào tạo biện pháp quan trọng bậc nhất. Bởi giáo dục
tốt sẽ tạo ra tính thiện, đem lại tương lai tươi sáng cho thanh niên. Ngược lại giáo
dục tồi sẽ ảnh hưởng xấu tới thanh niên.
Nội dung phương pháp giáo dục phải toàn diện, cả đức, trí, thể, mỹ, phải
đặt đạo đức, tưởng tình cảm cách mạng, lối sống chủ nghĩa hội lên hàng
đầu. Hai mặt tài, đức phải thống nhất với nhau, không tách rời nhau, trong đó đức
là “gốc”, là nền tảng cho tài phát triển.
TÓM TẮT CUỐI BÀI
1. Những sáng tạo lý luận của Hồ Chí Minh
- Hồ Chí Minh đã sớm thấy vai trò sức mạnh của văn hoá, đã sớm đưa văn
hóa vào chiến lược phát triển của đất nước.
- Xác lập hệ thống các quan điểm có giá trị xây dựng nềnn hóa mới Việt Nam.
- Đề cao vai trò của đạo đức, gắn đạo đức với sự tiến bộ của xã hội.
- Xác lập chuẩn hệ giá trị đạo đức cho con người Việt Nam.
- Coi trọng con người và xây dựng con người mới.
2. Ý nghĩa của việc học tập
- Thấy những cống hiến kiệt xuất của Hồ Chí Minh trong lĩnh vực văn
hóa, đạo đức và xây dựng con người mới.
- Xác định rõ phương hướng, biện pháp học tập tưởng văn hóa, đạo đức,
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
- Nhận thức biểu hiện cụ thể của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh đặc
biệt là sự quan tâm đến con người.
29
CÂU HỎI ÔN TẬP
Câu 1. Định nghĩa văn hóa định hướng xây dựng nền văn hóa mới theo
quan điểm của Hồ Chí Minh?
Câu 2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về một số vấn đề cơ bản của văn hóa?
Câu 3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò và sức mạnh của đạo đức cách
mạng?
Câu 4. Quan điểm của Hồ Chí Minh về các chuẩn mực đạo đức mới?
Câu 5. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của con người chiến lược
trồng người?
CÂU HỎI TỰ LUẬN
Câu 1. Anh, chị hãy phân tích những phẩm chất đạo đức mới của con
người Việt Nam theo quan điểm của Hồ Chí Minh?
Gợi ý:
Theo Hồ Chí Minh phẩm chất đạo đức mới của con người Việt Nam bao
gồm các chuẩn mực sau:
* Trung với nước, hiếu với dân.
- Quan điểm truyền thống: Trung với vua, hiếu với cha mẹ…
- Quan điểm của Hồ Chí Minh:
+ Trung với nước: Đối tượng “trung” là quốc gia, dân tộc; Nội dung…
+ Hiếu với dân: Đối tượng là “nhân dân”; Nội dung…
* Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
- Cần: cần cù, siêng năng, chăm chỉ, làm việc có kế hoạch...
- Kiệm: tiết kiệm công sức, tiền của, thời gian…
- Liêm: trong sáng, liêm khiết…
- Chính: ngay thẳng, không tà…
30
- Chí công vô tư: vì việc công không vì việc riêng….
* Tinh thần quốc tế trong sáng.
Đó là sự tôn trọng, hiểu biết, thương yêu và đoàn kết với giai cấp vô sản trên
toàn thế giới, với các dân tộc và nhân dân trên thế giới…
Câu 2: Anh, chị hãy phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về chức
năng cơ bản của nền văn hóa dân tộc?
Gợi ý:
* Trình bày định nghĩa văn hóa theo quan điểm của Hồ Chí Minh:
- Văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng.
- Văn hóa được hiểu theo nghĩa hẹp.
- Văn hóa được hiểu theo nghĩa rất hẹp.
* Nêu và phân tích các chức năng cơ bản của văn hóa (3 chức năng cơ bản
của văn hóa):
- Bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp.
- Nâng cao dân trí, mở rộng hiểu biết cho nhân dân.
- Hướng con người vươn tới chân, thiện, mĩ.
Câu 3: Anh, chị hãy phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của
con người? Giá trị của quan điểm đối với việc xây dựng và phát triển con người
Việt Nam hiện nay?
Gợi ý:
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc xây dựng phát
triển con người. Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức đánh giá được tầm quan trọng
của con người đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Vì vậy, Người cho rằng sự
nghiệp cách mạng của dân tộc muốn thành công được thì phải phát huy được vai
trò của con người(nhân dân).
* Vai trò của con người được thể hiện ở một số khía cạnh sau đây:
31
- Con người là vốn quý nhất, quyết định sự thành công của cách mạng.
- Con người không chỉsản phẩm của tự nhiên vàhội mà cònchủ thể
của tự nhiên và xã hội.
+ Với cách chủ thể của tự nhiên: con người bằng hành động cụ thể của
mình không ngừng tác động vào tự nhiên, cải biến tự nhiên để cho phù hợp với nhu
cầu của mình thông qua hoạt động sản xuất vật chất.
+ Với tư cách chủ thể hội: con người bằng hành động của mình đã làm
nên lịch sử, không ngừng biến đổi xã hội, đưa xã hội loài người phát triển đi lên từ
thấp đến cao thông qua các cuộc cách mạng xã hội.
- Con người vừa là mục tiêu, vừa động lực của cách mạng, phải coi trọng,
chăm sóc, phát huy nguồn lực con người.
* Giá trị của quan điểm đối với việc xây dựng phát triển con người Việt
Nam hiện nay.
- Thực trạng việc xây dựng và phát triển con người Việt Nam hiện nay.
+ Thành tựu
+ Hạn chế
- Một số giải pháp nhằm xây dựng và phát huy nguồn lực con người Việt Nam
hiện nay.
32
| 1/32

Preview text:

Chương 7
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA, ĐẠO ĐỨC
VÀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI HƯỚNG DẪN HỌC:
Để nắm được kiến thức trong bài học này, học viên cần thực hiện một số
phương pháp học cơ bản sau:
- Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và
tham gia thảo luận trên diễn đàn lớp học. - Đọc tài liệu:
1. Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2015, tr204-228.
2. Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh (Hội đồng Lý luận Trung ương), Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010.
3. Hồ Chí Minh về đạo đức, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993.
4. Hồ Chí Minh về giáo dục và đào tạo, Nxb Lao động, Hà Nội, 2007.
- Học viên làm việc theo nhóm và trao đổi trực tiếp với giảng viên trên lớp học hoặc qua email.
- Thông qua trang web môn học. NỘI DUNG:
Khái quát nhưng nội dung cơ bản trong tư tưởng về văn hóa, đạo đức và xây
dựng con người mới. Cụ thể:
- TTHCM về văn hóa (định nghĩa văn hóa; quan điểm của Hồ Chí Minh về
một số vấn đề cơ bản của văn hóa; quan điểm của HCM về một số lĩnh vực của văn hóa).
- TTHCM về đạo đức (về vai trò và sức mạnh của đạo đức cách mạng; các
chuẩn mực đạo đức cách mạng; các nguyên tắc xây dựng đạo đức mới). 1
- TTHCM về xây dựng con người mới (quan niệm về con người; vai trò của
con người; chiến lược trồng người). MỤC TIÊU:
- Cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh
về văn hóa, đạo đức và xây dựng cong người mới.
- Giúp cho người học biết vận dụng các quan điểm của Hồ Chí Minh về văn
hóa, đạo đức, xây dựng con người mới vào thực tiễn bản thân và xã hội.
TÌNH HUỐNG DẪN NHẬP:
1. “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” luận điểm trên là của ai và nội dung
của luận điểm đó muốn đề cập đến vấn đề gì?
Để giải quyết được tình huống này cần làm rõ: Nội dung quan điểm của Hồ Chí
Minh về vị trí, vai trò của văn hóa; chức năng của văn hóa.
2. Tại sao nói đạo đức là gốc của người cách mạng? Nếu không có đạo đức thì
có thể trở thành người cách mạng được không?
Để giải quyết được tình huống này cần làm rõ: Nội dung quan điểm của Hồ Chí
Minh về vai trò và sức mạnh của đạo đức.
3. Tại sao con người lại được xem là “vốn quý nhất”? Muốn phát huy “vốn quý
nhất” trong xây dựng đất nước thì đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần phải làm gì?
Để giải quyết được tình huống này cần làm rõ: Nội dung quan điểm của Hồ
Chí Minh về vai trò của con người và chiến lược trồng người.
Nắm vững những nội dung kiến thức trong Chương 7 “Tư tưởng Hồ Chí
Minh về văn hóa, đạo đức và xây dựng con người mới” sẽ giúp chúng ta có cơ sở lý
luận và thực tiễn để luận giải được những vấn đề nêu trên.
7.1. NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA
1.1. Định nghĩa về văn hóa và quan điểm về xây dựng nền vă 7. n hóa mới
7.1.1.1. Định nghĩa về văn hóa 2
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, văn hóa được hiểu theo 3 nghĩa: rộng, hẹp, rất hẹp.
- Theo nghĩa rộng: Hồ Chí Minh nêu văn hóa là toàn bộ những giá trị vật
chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra. Năm 1943 Người viết: “Vì lẽ sinh tồn
cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát triển ra ngôn
ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những
công cụ sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở, và các phương thức sử dụng. Toàn bộ
những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”.
- Theo nghĩa hẹp: Văn hóa là những giá trị tinh thần. Người viết: “trong công
cuộc kiến thiết nước nhà, có bốn vấn đề cần chú ý đến, cũng phải coi là quan trọng
ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. Nhưng văn hóa là một kiến trúc thượng tầng”.
- Theo nghĩa rất hẹp: Văn hóa đơn giản chỉ là trình độ học vấn của một
người được đánh giá bằng cấp học phổ thông, thể hiện ở việc Hồ Chí Minh yêu cầu
mọi người “phải đi học văn hóa”, xóa mù chữ…
Trong nội dung của bài học này thì khái niệm văn hóa chủ yếu được tiếp cận và hiểu theo nghĩa rộng.
7.1.1.2. Quan điểm về xây dựng nền văn hóa mới
Năm 1943, khi đất nước chưa giành được độc lập, cùng với định nghĩa về
văn hóa, Hồ Chí Minh còn đưa ra năm quan điểm lớn định hướng xây dựng nền
văn hóa của dân tộc. Đây là một trong những định hướng rất quan trọng cho việc
phát triển văn hóa của dân tộc. Bởi lẽ thông qua các định hướng này nền văn hóa
nước ta đã xác định rõ được hướng đi, phục vụ đắc lực cho công cuộc kháng chiến
của dân tộc. Đặc biệt là sau khi giành được độc lập cho dân tộc (sau Cách mạng
Tháng Tám năm 1945), trong chế độ dân chủ mới, những quan điểm định hướng
xây dựng nền văn hóa mới càng tỏ ra quan trọng. Dưới đây là 5 định hướng:
- Thứ nhất, xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường. 3
- Thứ hai, xây dựng luân lý: biết hi sinh mình, làm lợi cho quần chúng.
- Thứ ba, xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội.
- Thứ tư, xây dựng chính trị: dân quyền.
- Thứ năm, xây dựng kinh tế.
Ngay từ rất sớm Hồ Chí Minh
Văn hóa phải ở trong chính trị, xã
đã quan tâm đến văn hóa, thấy được vị hội, kinh tế
trí vai trò quan trọng của văn hóa đối
với sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
Người đã sớm có quan điểm để chỉ đạo xây dựng một nền văn hóa của dân tộc, phục vụ sự nghiệp cách mạng.
7.1.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về các vấn đề chung của văn hóa
1.2.1. Quan điểm về vai trò và vị trí của văn hóa trong đời sống xã hội
- Văn hóa là đời sống tinh thần của xã hội, thuộc kiến trúc thượng tầng.
Đây là một quan điểm của chủ nghĩa Mác-lênin về văn hóa được tiếp thu và
truyền bá theo phương thức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khác với tất cả các quan
niệm văn hoá trước kia của các nhà nho, của các trí thức tư sản, họ đã tách văn hóa
ra khỏi đời sống kinh tế, trính trị, xã hội và coi lĩnh vực văn hóa gắn liền với những
cách sống cao thượng của tầng lớp trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng,
“Văn hóa không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị”. Văn hóa
trong tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận hợp thành của toàn bộ đời sống xã hội.
Nó cùng với kinh tế, chính trị tạo nên đời sống của dân tộc ta.
- Văn hóa là 1 trong 4 vấn đề cơ bản của xã hội: Chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội. Văn hóa có mối quan hệ mật thiết với 3 vấn đề (chính trị, kinh tế, xã hội). 4
+ Trong quan hệ với chính trị, xã hội: Hồ Chí Minh cho rằng, chính trị, xã
hội có được giải phóng thì văn hóa mới được giải phóng. Chính trị giải phóng sẽ
mở đường cho văn hóa phát triển. Người nói: “Xã hội thế nào, văn hóa thế ấy…
Dưới chế dộ thực dân và phong kiến, nhân dân ta bị nô lệ, bị kìm hãm, không thể phát triển được”.
+ Trong quan hệ với kinh tế, Hồ Chí Minh chỉ rõ, kinh tế là thuộc cơ sở hạ
tầng, là nền tảng của việc xây dựng văn hóa. Người viết: “Văn hóa là một kiến trúc
thượng tầng; nhưng cơ sở hạ tầng của xã hội có kiến thiết rồi, văn hoá mới kiến
thiết được và có đủ điều kiện phát triển được”.
- Văn hóa không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị, phải
phục vụ nhiệm vụ chính trị và thúc đẩy sự phát triển kinh tế
+ Văn hóa phải ở trong kinh tế và chính trị, có nghĩa là văn hóa phải tham
gia thực hiện nhiệm vụ chính trị, thúc đẩy xây dựng và phát triển kinh tế. Quan
điểm này không chỉ định hướng cho việc xây dựng một nền văn hóa mới ở Việt
Nam mà con định hướng cho mọi hoạt động văn hóa.
+ Văn hóa ở trong kinh tế và chính trị, điều đó cũng có nghĩa là kinh tế và chính
trị cũng phải có tính văn hóa, điều mà chủ nghĩa xã hội và thời đại đang đòi hỏi.
Như vậy, quan điểm điểm này cũng chỉ rõ, văn hóa cũng có tính chủ động tương
đối, không hoàn toàn phụ thuộc vào kinh tế, chính trị, nó cũng tác động ngược trở lại
nhằm thúc đẩy sự phát triển của kinh tế và chính trị.
7.1.2.2. Quan điểm về chức năng của văn hóa
Chức năng của nền văn hóa trong chế độ dân chủ mới rất phong phú, đa
dạng. Hồ Chí Minh cho rằng, văn hóa có ba chức năng cơ bản sau:
Một là, bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp. 5
Văn hóa thuộc đời sống tinh thần của xã
hội. Tư tưởng và tình cảm là vấn đề chủ yếu nhất
của đời sống tinh thần của xã hội và con người.
Vì vậy, theo Hồ Chí Minh, văn hóa phải thấm sâu
vào tâm lý quốc dân để thực hiện chức năng hàng
đầu là bồi dưỡng nâng cao tư tưởng đúng đắn và
tình cảm cao đẹp cho con người, đồng thời loại
bỏ những tư tưởng sai lầm, tình cảm thấp hèn.
Hồ Chí Minh chỉ rõ văn hóa phải làm cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, tự
cường, độc lập, tự do; phải làm cho quốc dân "có tinh thần vì nước quên mình, vì
lợi ích chung mà quên lợi ích riêng".
Đó là lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, thực hiện nhiệm vụ giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Mỗi khi con người đã
phai nhạt lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH thì không còn ý nghĩa gì đối với cuộc sống cách mạng.
Tình cảm lớn, theo Hồ Chí Minh là lòng yêu nước, thương dân, thương nhân
loại bị đau khổ, áp bức. Đó là tính trung thực, thẳng thắn, thủy chung; đề cao cái
chân, cái thiện, cái mỹ... Tình cảm đó thể hiện trong nhiều mối quan hệ: với gia
đình, quê hương, dân tộc, nhân loại, với bạn bè, đồng chí, quan hệ thầy trò...
Tư tưởng và tình cảm có quan hệ gắn bó với nhau. Tình cảm cao đẹp là con
đường dẫn đến tư tưởng đúng đắn; tư tưởng đúng làm cho tình cảm cao đẹp hơn,
làm cho con người ngày càng hoàn thiện.
Văn hóa còn góp phần xây đắp niềm tin cho con người, tin ở bản chất khoa
học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tin vào nhân dân, tin vào tiền đề của cách mạng.
Hai là, nâng cao dân trí. 6
Văn hóa luôn gắn với dân trí. Không có
văn hóa không có dân trí. Văn hóa nâng cao
dân trí theo từng nấc thang, phục vụ mục tiêu
cách mạng trước mắt và lâu dài. Mục tiêu nâng
cao dân trí của văn hóa trong từng giai doạn
cách mạng có thể có nhưng điểm chung và
riêng. Song, tất cả đều hướng vào mục tiêu chung là giành độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội. Nâng cao dân trí là để nhân dân có thể tham gia sáng tạo và hưởng
thụ văn hóa, góp phần cùng Đảng “biến một đất nước dốt nát, cực khổ thành một
nước văn hóa cao và đời sống tươi vui”.
Nâng cao dân trí bắt đầu từ việc làm cho người dân biết đọc, biết viết. Tiếp
đến là sự hiểu biết các lĩnh vực khác nhau về chính trị, kinh tế, văn hóa... Từng
bước nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ, khoa học kỹ thuật, thực
tiễn Việt Nam và thế giới...
Tùy từng giai đoạn cách mạng mà mục đích của nâng cao dân trí có điểm
chung và riêng, nhưng tất cả đều nhằm mục tiêu chung là độc lập dân tộc và
CNXH; phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước có văn hóa cao và đời
sống tươi vui hạnh phúc. Mục tiêu đó hiện nay là "dân giàu, nước mạnh, xã hội dân
chủ, công bằng, văn minh".
Ba là, bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, những phong cách, lối sống lành
mạnh, luôn hướng con người vươn tới cái chân, cái thiện, cái mỹ, không ngừng
hoàn thiện bản thân mình.
Chức năng cao quý nhất của văn hóa là bồi dưỡng, nêu cao tư tưởng đúng đắn
và tỡnh cảm cao đẹp cho nhân loại, giúp cho con người loại bỏ được những sai lầm,
khuyết điểm có thể có trong tư tưởng, tỡnh cảm mỗi con người. 7
Để thực hiện chức năng này văn hóa phải tham gia chống được tham nhũng,
lười biếng, phù hoa, xa xỉ, chống sự lạm dụng quyền lực, tham quyền cố vị dẫn tới
sự tha hóa con người. Văn hóa giúp cho con người phân biệt được cái tốt với cái xấu,
cái lạc hậu và cái tiến bộ. Từ đó văn hóa hướng con người vươn tới cái chân, cái thiện, cái mỹ.
7.1.2.3. Quan diểm về tính chất của văn hóa
Tại Đại hội lần thứ 2 của Đảng(2/1951), trong Báo cáo chính trị đọc tại Đại
hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh có đề cập tới tính chất của nền văn hóa của dân tộc
trong chế độ dân chủ mới. Người khẳng định, nền văn hóa của dân tộc mang tính
chất: dân tộc, khoa học, đại chúng. Đến Đại hội 3 của Đảng (1960), Người có bổ
sung thêm, đó là: mang nội dung XHCN. Nhưng tựu chung lại, khi đề cập tới tính
chất của nền văn hóa dân tộc, Hồ Chí Minh nhất quán khẳng định, nền văn hóa dân
dân tộc mang tính chất: dân tộc, khoa học, đại chúng.
- Tính dân tộc của văn hóa, là sự thể hiện chủ nghĩa yêu nước và tinh thần
độc lập, tự cường của dân tộc trong lĩnh vực văn hóa, nên trước hết nó phải được
thể hiện ở nội dung tuyên truyền cho “lý tưởng tự chủ, độc lập, tự do” và “tinh thần vì nước quên mình”.
Tính dân tộc của văn hóa đòi hỏi phải thể hiện được cốt cách và tâm hồn
người Việt Nam, đó là truyền thống yêu nước, cần cù, dũng cảm,đoàn kết, tương
thân tương ái… Tóm lại là tất cả những gì cao đẹp nhất trong tâm hồn người Việt
Nam đã được đúc kết trong hàng ngàn năm lịch sử dân tộc.
Tính dân tộc của văn hóa còn được thể hiện ở hình thức và phương tiện diễn
đạt, ở ngôn ngữ….Ví dụ: thơ, ca, hò, vè, trò chơi dân gian, v.v.
- Tính khoa học: Nhấn mạnh giá trị truyền thống của dân tộc, đồng thời Hồ Chí
Minh cũng chỉ rõ trong truyền thống có mặt tích cực và mặt tiêu cực. Một trong 8
những thiếu hụt của văn hóa truyền thống là
chưa hình thành được tư duy khoa học trong
xây dựng nền văn hóa dân tộc. Trong tư duy
truyền thống của dân tộc là một loại tư duy
kinh nghiệm, không mở đường cho khoa học
tự nhiên phát triển. Trong điều kiện đó mê tín dị đoan có đất để phát triển.
Hồ Chí Minh đòi hỏi phải đấu tranh chống lại những gì trái với khoa học, phản
tiến bộ và Người cho rằng, phải truyền bá tư tưởng mácxít, đấu tranh chống chủ
nghĩa duy tâm thần bí, mê tín, dị đoan, kế thừa truền thống tốt đẹp của dân tộc và
tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Người giao cho ngành giáo dục phải dạy bảo
các cháu thiếu niên về khoa học và kỷ luật.
- Tính đại chúng của văn hóa: Đây là vấn đề thuộc về tính nhân dân, về đối
tượng phục vụ của văn hóa. Trước kia trong xã hội cũ, văn hóa nghệ thuật được coi
là món ăn tinh thần sang trọng , chỉ dành riêng cho một thiểu số người ăn trên ngồi
trốc. Đó là một trong những điều bất công của xã hội cũ. Chủ tịch Hồ Chí Minh là
người xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử: Quần chúng nhân dân
là người sáng tạo ra mọi của cải vật chất và giá trị tinh thần, sáng tạo ra văn hóa, do
đó họ phải là người được hưởng thụ các giá trị văn hóa.
Từ đó người đặt vấn đề: “văn hóa phục vụ ai” và người khẳng định dứt
khoát: văn hóa phải phục vụ đa số nhân dân, phải hướng về đại chúng, phải phán
ánh được tâm tư nguyện vọng của nhân dân.
Hồ Chí Minh đòi hỏi các nhà hoạt động văn hóa phải tăng cường liên hệ với
thực tế, đi sâu vào cuộc sống của nhân dân vừa để tìm hiểu và phản ánh nỗi lo âu,
suy nghĩ, khát vọng của nhân dân, vừa để đem ánh sáng văn hóa đến mọi người,
mọi nhà, nhất là vùng sâu, vùng xa. 9
7.1. 3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về một số lĩnh vực chính của văn hóa
7.1.3.1. Văn hóa giáo dục
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến trình độ dân trí, trình
độ học vấn cũng như nhu cầu giáo dục của nhân dân ta. Bởi vậy, Người đã sớm đưa
ra quan điểm về xây dựng nền giáo dục mới của nước Việt Nam độc lập. Người xác
định, xây dựng một nền giáo dục mới là một nhiệm vụ cấp bách, có ý nghĩa chiến
lược, vì nó góp phần làm cho dân tộc ta xứng đáng với nước Việt Nam độc lập. Văn
hóa giáo dục là một mặt trận quan trọng trong công cuộc xây dựng CNXH và đấu
tranh thống nhất nước nhà. Theo Người:
- Mục tiêu của văn hóa giáo dục là thực hiện cả ba chức năng của văn hóa bằng
giáo dục, có nghĩa là bằng dạy và học. Đó là đào tạo ra những con người toàn diện vừa
có đức vừa có tài, biết làm và đủ điều kiện làm chủ để xây dựng và bảo vệ đất nước
- Chương trình, nội dung dạy và học phải thật khoa học, thật hợp lý, phù hợp
với những bước phát triển của nước ta, phản ánh được mục tiêu không chỉ dạy và
học chữ mà phải dạy và học làm người.
- Học đi đôi với hành, lý luận liên hệ với thực tế, học phải kết hợp với lao động.
Có như vậy văn hóa giáo dục mới có tính định hướng đúng đắn, rõ ràng, thiết thực.
- Phải tạo tạo ra được môi trường giáo dục lành mạnh, dân chủ, trường phải
ra trường, lớp phải ra lớp, thầy ra thầy trò ra trò. Đồng thời phải phối hợp cả ba
khâu nhà trường, gia đình và xã hội.
- Phương trâm, phương pháp của giáo dục là.
+ Phương châm học đi đôi với hành, lý luận liên hệ với thực tế; học tập kết
hợp với lao động; phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội; thực hiện dân chủ, bình 10
đẳng trong giáo dục; học suốt đời. Coi trọng việc tự học, tự đào tạo và đào tạo lại.
Học ở mọi lúc, mọi nơi, học mọi người.
+ Phương pháp giáo dục phải xuất phát và bám chắc vào mục tiêu giáo dục.
Giáo dục là một khoa học nên cách dạy phải phù hợp với lứa tuổi; dạy từ dễ đến
khó; kết hợp học tập với vui chơi có ích, lành mạnh; giáo dục phải dùng phương
pháp nêu gương; giáo dục phải gắn liền với thi đua.
7.1.3.2. Văn hóa văn nghệ
- Văn nghệ là mặt trận, nghệ sĩ là chiến sĩ, tác phẩm văn nghệ là vũ khí sắc
bén trong đấu tranh cách mạng, xây dựng xã hội mới, con người mới. Giai đoạn
trước khi giành được chính quyền, Người
cho rằng, văn hóa văn nghệ phải có nhiệm
vụ thức tỉnh quần chúng, tập hợp lực lượng,
cổ vũ cho thắng lợi tất yếu của cách mạng.
Sau khi có chính quyền, văn nghệ phải tham
gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ chế
độ mới, con người mới.
- Văn nghệ phải gắn với thực tiễn đời sống nhân dân, theo Hồ Chí Minh là từ
thực tiễn của đất nước, bằng tài năng sáng tạo và tinh thần nhân văn của mình, văn
nghệ sĩ có thể nhào nặn, thăng hoa, hư cấu, tạo nên những tác phẩm nghệ thuật
trường tồn cùng dân tộc và nhân loại.
- Văn nghệ sĩ cần phải có những tác phẩm văn nghệ xứng đáng với thời đại
mới của đất nước, của dân tộc. Đó là những tác phẩm mà theo Hồ Chí Minh phải kế
thừa được những tinh hoa của văn hóa dân tộc, mang hơi thở của thời đại, vừa phản
ánh chân thật những gì đã có trong đời sống, vừa phê phán cái dở, cái xấu, cái sai,
hướng nhân dân tới cái chân, thiện, mỹ, vươn tới cái lý tưởng – đó chính là sự phản 11
ánh có tính hướng đích của văn nghệ. Theo người,
một áng văn chương không cứ dài mới là hay. Khi
nào tác phẩm ấy chỉ diễn đạt vừa đủ những điều
kiện đáng nói, khi nó được trình bày sao cho mọi
người ai cũng hiểu được và khi đọc xong độc giả
phải suy ngẫm, thì tác phẩm mới xem như một tác phẩm hay.
7.1.3.3. Văn hóa đời sống
Văn hóa là bộ mặt tinh thần của xã hội, nhưng bộ mặt tinh thần ấy không
phải là cái gì cao siêu, mà lại được thể hiện ra ngay trong cuộc sống hàng ngày của
mỗi người, rất dễ hiểu, rễ thấy. Đó chính là văn hóa đời sống. Văn hóa đời sống bao gồm:
- Đạo đức mới, theo Hồ Chí Minh là thực hành đời sống mới trước hết là
thực hành đạo đức các cách mạng cần, kiệm, liêm, chính. Người nói: “Nếu không
giữ được cần, kiệm, liêm, chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”.
- Lối sống mới, đó là lối sống có lý tưởng có đạo đức, văn minh, tiên tiến, kết
hợp hài hòa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa của nhân loại. Do
đó để xây dựng lối sống mới, Hồ Chí Minh yêu cầu phải sửa đổi năm cách: “cách
ăn, cách mặc, cách ở, cách đi lại
Phong cách sống, theo Hồ Chí Minh là phải khiêm tốn, giản dị, chừng mực,
ngăn nắp, vệ sinh, yêu lao động, quý trọng thời gian, ít lòng ham muốn vật chất. Trong
quan hệ với nhân dân, bạn bè, đồng chí phải chân tình, cởi mở, ân cần, tế nhị; giầu tình
yêu thương, quý mến… Phong cách làm việc, theo Người là phải sửa đổi sao cho có
tác phong quần chúng, tác phong tập thể-dân chủ, tác phong khoa học. 12
- Nếp sống mới, theo Hồ Chí Minh phải làm cho lối sống mới dần dần trở
thành nền nếp, thói quen, ổn định ở mỗi con người, thành phong tục tập quán của
tập thể hay cả cộng đồng, trong khu vực hay cả nước, thường gọi là nếp sống mới hay nếp sống văn hóa.
Hồ Chí Minh dạy chúng ta chẳng những biết kế thừa mà còn phải biết phát
triển những thuần phong mỹ tục, đồng thời phải biết cải tạo những phong tục tập
quán lạc hậu. Vừa sửa đổi những thói quen, phong tục tập quán lạc hậu, vừa xây
dựng những cái tốt đẹp, đây là công việc vô cùng khó khăn phức tạp.
7.2. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC
7.2.1. Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
7.2.1.1. Quan điểm về vai trò và sức mạnh của đạo đức
- Thứ nhất, đạo đức là cái gốc của người cách mạng.
+ Khái niệm đạo đức: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội dùng để đánh
giá hành vi của con người.
+ Đạo đức có từ rất sớm, trong bất kỳ xã hội nào cũng có một chuẩn mực
đạo đức nhất định. Trong xã hội mới cũng cần xây dựng một chuẩn mực đạo đức mới.
Hồ Chí Minh khẳng định đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con
người, như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối. Người nói: “cũng như sông thì
có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có
gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi
đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.
Hồ Chí Minh coi đạo đức là sức mạnh, là tiêu chuẩn hàng đầu của cán bộ,
đảng viên. Người nói: “sức có mạnh mới gánh được nặng và đi xa. Người cách 13
mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”.
=> Chính đạo đức yêu nước, thương dân của Người là động lực to lớn góp
phần làm nên sự nghiệp cách mạng phi thường của Người. Ngược lại, sự suy thoái
về đạo đức là khởi điểm của mọi suy thoái. Tha hóa về đạo đức sớm muộn sẽ dẫn
đến tha hóa về chính trị.
- Thứ hai, đạo đức là nhân tố tạo nên sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội, theo
Hồ Chí Minh sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội chưa phải là ở lý tưởng cao xa, ở
mức sống vật chất dồi dào, mà trước hết là ở những giá trị đạo đức cao đẹp, ở phẩm
chất của những người cộng sản ưu tú, bằng tấm gương sống và hành động của
mình, chiến đấu cho lý tưởng đó thành hiện thực.
Cũng như Lênin, tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh chẳng những có sức
hấp dẫn mạnh mẽ đối với toàn thể nhân dân Việt Nam mà còn có ảnh hưởng sâu
rộng trên toàn thế giới.
- Thứ ba, đạo đức là động lực, là sức mạnh nội sinh của con người.
Đạo đức là nhân tố để thúc đẩy con người phát triển, giúp người cách mạng
vượt qua mọi khó khăn gian khổ để giành những thắng lợi mới. Hồ Chí Minh nói
nhờ có sức mạnh đó đã giúp cho người cách mạng vượt qua mọi khó khăn gian
khổ, ngay cả khi cách mạng đã thành công.
- Thứ tư, đạo đức là thước đo lòng cao thượng của con người
Hồ Chí Minh nói: mỗi con người trong xã hội có vị trí khác nhau, tài năng
khác nhau, đạo đức là thước đo chuẩn mực của con người. Người nói: đạo đức cũ
như người đầu chổng xuống đất, hai chân chổng lên trời. Đạo đức mới như người
đầu ngẩng lên trời, hai chân đứng vững dười đất.
7.2.1.2. Quan điểm về những chuẩn mực đạo đức cách mạng 14
* Trung với nước, hiếu với dân
Đây là chuẩn mực đạo đức quan trọng nhất, Hồ Chí Minh luôn đặt lên hàng
đầu. Trong các quan hệ đạo đức, thì quan hệ với nước, với dân là quan hệ lớn nhất,
do đó, “trung với nước, hiếu với dân”cũng là chuẩn mực chung nhất, bao trùm nhất.
- Khái niệm “Trung”, “hiếu” ra đời và tồn tại trong xã hội phong kiến. Trong
xã hội phong kiến đây là phẩm chất quan trọng hàng đầu. Nội dung của khái niệm
“trung” và “hiếu” đó là “Trung với vua, hiếu với cha mẹ”.
+ Đối tượng của chữ “trung” trong xã hội phong kiến, đó là trung thành với vua, nội dung bó hẹp.
+ Đối tượng của chữ “hiếu” trong xã hội phong kiến, đó là hiếu với cha mẹ.
Phải tuân thủ những lời giáo huấn của cha mẹ.
- Hồ Chí Minh đã tiếp thu những quan niệm đạo đức cũ và đã đưa vào trong
khái niệm đó một nội hàm mới. Theo Người thì “Trung” và “hiếu” không chỉ đơn
thuần là “trung với vua”, “hiếu với cha mẹ”, mà có nghĩa rộng hơn là “Trung với
nước” và “hiếu với dân”.
- Nội dung của Trung với nước (Đối tượng là Tổ quốc).
+ Thứ nhất, đặt lợi ích của Đảng, của tổ quốc, của cách mạng lên trên hết;
+ Thứ hai, tuyết tâm phấn đấu thực hiện mục tiêu của cách mạng;
+ Thứ ba, sẵn sàng hi sinh bản thân vì mục tiêu cao cả của dân tộc, của đất nước;
+ Thứ tư, thực hiện tốt chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước.
- Nội dung của hiếu với dân (đối tượng là nhân dân).
+ Yêu dân, kính trọng nhân dân, tôn trọng
nhân dân, lấy dân làm gốc; 15
+ Khẳng định vai trò sức mạnh thật sự của nhân dân;
+ Tin dân, lắng nghe dân, học dân, tổ chức động viên nhân dân cùng thực
hiện tốt chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước;
+ Phải luôn quan tâm đến đời sống của nhân dân, chăm lo cải thiện đời sống cho
dân; khi dân còn thiếu thì mình không có quyền đòi hỏi sung sướng cho riêng mình;
+ Tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nâng co dân trí, để dân
biết và sử dụng được quyền làm chủ của mình.
* Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
- Đạo đức trong xã hội phong kiến cũng đề cập đến cần, kiệm, liêm, chính,
nhưng chỉ để cho quần chúng nhân dân thực hiện. Hồ Chí Minh nêu ra cần, kiệm,
liêm, chính trong đạo đức mới là để trước hết cho cán bộ, đảng viên sau đó đến
nhân dân cùng thực hiện.
- Nội dung của cần, kiệm, liêm, chính: + Cần là lao động cần
cù, siêng năng, lao động có
kế hoạch, sáng tạo năng suất
cao; lao động với tinh thần tự
lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại.
Cần là chuẩn mực đạo đức của dân tộc Việt Nam. Hồ Chí Minh kế thừa
truyền thống của dân tộc, Người đã đưa thêm vào trong đó một nội dung mới. Cần
không chỉ là yêu lao động mà lao động phải có kỷ luật, có kỹ thuật, có chất lượng, có năng suất. 16
Để có được lao động như vậy thì cần phải gắn với kế hoạch. Ví như người
thợ mộc đóng bàn thì cần phải chuẩn bị gỗ…Kế hoạch phải đi với phân công, phân
công trách nhiệm theo đúng năng lực chuyên môn.
+ Kiệm là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của của
nhân dân của đất nước, của bản thân. Tiết kiệm từ cái nhỏ đến cái to; “Không xa sỉ,
không hoang phí, không bừa bãi”.
Trong tiết kiệm về tiền của, Người phân biệt với người chi đúng và người
bủn xỉn. Cần và kiệm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, cần mà không kiệm thì
như “tiền vào nhà khó, gió vào nhà trống”, ngược lại kiệm mà không cần thì “lấy gì mà kiệm”.
+ Liêm là luôn tôn trọng của công và của dân. Phải “trong sạch, không tham
lam” tiền của, địa vị, danh tiếng.
Người liêm là người không ham sung sướng, tiền tài địa vị, mà chỉ có một
thứ ham, “ham học, ham tiến bộ”.
+ Chính là thẳng thắn, đứng đắn, không tà.
Người chính là người: đối với mình thì khiêm tốn, học hỏi; đối với người
khác, không nịnh hót người trên, không coi thường người khác; đối với việc, việc
công đặt lên trên việc tư, chánh xa việc xấu.
Cần, kiệm, liêm chính có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tác động qua lại
nhau tạo lên phẩm chất cần có ở mỗi con người, nhất là đối với người cách mạng. - Chí công vô tư
Chí công là yêu cầu phải rất mực công minh, chính trực, công bằng, công
tâm; Vô tư là không được thiên tư, thiên vị; Chuẩn mực này nhắc nhở người lãnh
đạo, cầm cân nảy mực phải hết sức công bằng, không được có lòng riêng mà thiên tư, thiên vị. 17
Khi nhấn mạnh đến tầm quan trọng của đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh đã đúc kết:
“Trời có bốn mùa xuân, hạ, thu đông
Đất có bốn phương đông, tây, nam, bắc
Người có bốn đức cần, kiệm, liêm, chính
Thiếu một mùa không thành trời
Thiếu một phương thì không thành đất
Thiếu một đức thì không thành người”
* Thương yêu con người, sống có tình có nghĩa
Dân tộc Việt Nam có truyền thống yêu thương, kính trọng con người:
“Thương người như thể thương thân”, “Lá lành đùm lá rách”, v.v. Hồ Chí Minh đã
thiếp thu những giá trị truyền thống này của dân tộc. Đây là một trong những phẩm
chất đạo đức cao đẹp nhất. Hồ Chí Minh nói,
người cách mạng là người giầu tình cảm, có
tình cảm cách mạng thì mới đi làm cách mạng.
Vì yêu thương nhân dân, yêu thương con
người mà chấp nhận mọi gian khổ hi sinh để
đêm lại độc lập tự do, cơm áo ấm no hạnh phúc cho mọi người.
- Nội dung yêu thương con người của Hồ Chí Minh có những điểm mới:
+ Đó là một tình cảm rộng lớn giành cho những người nghèo khổ, bị áp bức
không phân biệt giai cấp.
+ Tình yêu thương đó phải được xây dựng trên lập trường giai cấp công nhân
và được thể hiện trong các mối quan hệ hàng ngày với bạn bè, đồng chí, anh em. 18
+ Yêu thương con người đi liền với tôn trọng, tìm mọi cách nâng đỡ con
người lên, dù đó là những con người thất thời lầm lạc, v.v. Người dạy: “Hiểu chủ
nghĩa Mác-Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách
mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác- Lênin được”.
Trong Di chúc, Người dặn lại: “Phải có tình đồng chí yêu thương lẫn nhau”.
+ Yêu thương không phải là chín bỏ làm mười,
bao che cho nhau cả lỗi lầm, trở thành phe cánh,
phường hội, v.v. Như vậy, chỉ có đưa đến tổn thất cho cách mạng, cho tổ quốc.
+ yêu thương con người phải gắn với hành
động cụ thể, phải tiến hành sự nghiệp cách mạng giải
phóng con người. Bản thân Hồ Chí Minh là một tấm gương cho tinh thần ấy.
* Có tinh thần quốc tế trong sáng.
- Yêu nước, nhân ái vốn là truyền thống dân tộc, nhưng yêu nhân dân mình,
đồng thời lại biết yêu, giải phóng nhân dân các dân tộc bị áp bức, thì phải đến thời đại
Hồ Chí Minh mới được đề ra và giáo dục đầy đủ. Đâyđạo đức hoàn toàn mới, có ở
trong cuộc cách mạng mới của chúng ta. Vì chỉ có giải phóng triệt để con người thì
mới có. Đây là một trong những phẩm chất quan trọng nhất của đạo đức CSCN.
- Nội dung cơ bản của phẩm chất này là:
Tôn trọng tất cả các dân tộc trên thế giới dù đó là dân tộc lớn hay nhỏ; có
tinh thần hòa bình, hữu nghị, hơp tác giữa các dân tộc; có tinh thần bình đẳng, đoàn
kết và giúp đỡ giữa các dân tộc, không phân biệt dân tộc lớn, dân tộc nhỏ.
Trong suốt cuộc đời mình, Hồ Chí Minh đã dày công vun đắp, xây dựng tình
đoàn kết, hữu nghị giữa Việt Nam với các nước trên thế giới. 19
7.2.1.3. Quan điểm về những nguyên tắc xây dựng đạo đức mới
* Nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức.
- Hồ Chí Minh coi đây là nguyên tắc quan trọng nhất trong xây dựng một
nền đạo đức mới ở nước ta. Nó đối lập với thói đạo đức giả của giai cấp bóc lột, nói
một đằng làm một nẻo, thậm chí nói mà không làm.
- Nêu gương về đạo đức là một nét đẹp của truyền thống văn hóa phương
Đông. Nói đi đôi với làm phải gắn liền với nêu gương về đạo đức. Người nói: “Lấy
gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một cách tốt nhất để
xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc
sống mới” trong đó có đạo đức. Người lưu ý:
+ Trong gia đình: ông bà, cha mẹ phải làm gương cho con cháu.
+ Trong cơ quan: người lãnh đạo.
+ Ngoài xã hội: đảng viên phải nêu gương cho quần chúng: “đảng viên đi
trước, làng nước theo sau”.
+ Một tấm gương sống còn có giá trị hơn trăm bài diễn thuyết.
- Người phê phán: “một số cán bộ hình như mải làm công tác hành chính sự
vụ hơn là để tâm sức xây dựng con người. Cho nên không chịu theo dõi việc làm
hàng ngày của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Ai làm lốt không kịp nêu
gương, ai làm xấu không kịp thời giúp đỡ..Đó là nhưng cán bộ không biết việc”
* Xây đi đôi với chống
- Xây là xây cái mới, cái tốt đẹp, phù hợp với đạo đức mới, là biểu dương,
giáo dục những phẩm chất, chuẩn mực đạo đức mới, những tấm gương đạo đức cao
đẹp, nảy sinh từ các phong trào cách mạng của quần chúng, qua đó khơi dậy ý thức 20
đạo đức lành mạnh để mỗi người tự trau dồi, rèn luyện. Chống là phải đấu tranh
chống lại các biểu hiện, các hành vi vô đạo dức trong đời sống hàng ngày. Muốn
vậy, phải sớm phát hiện để đấu tranh, lên án. Nhưng quan trọng hơn là cần dự báo
để phòng chống ngăn chặn.
- Cả xây và chống đều đưa lên thành phong trào quần chúng rộng rãi, gây dư
luận xã hội lành mạnh để phê phán. Xây và chống phải đi liền với nhau, vì trong
đời sống hàng ngày cái tốt và cái xấu đan xen lẫn nhau.
- Trong chống Người cũng lưu ý: trong đời sống hàng ngày nếu phát hiện cái
xấu ta phải chống ngay, không để đến khi nó phát triển mới chống thì không có
hiệu quả. Như vậy thì sẽ tốn thời gian, tốn sức lao
động, tốn tiền của của nhân dân.
* Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời
- Hồ Chí Minh từng nói: Đạo đức không
phải từ trên trời rơi xuống mà từ trong đấu tranh
rèn luyện mà ra. Xây dựng đạo đức đã khó nhưng
giữ gìn được phẩm chất đạo đức cách mạng lại càng khó khăn hơn.
- Tu dưỡng đạo đức cách mạng trong mỗi con người được Hồ Chí Minh coi
như là một công việc gian khổ, trường kỳ, chỉ sao nhãng một chút là có thể sa sút,
hư hỏng. Cho nên việc tu dưỡng đạo đức phải thường xuyên liên tục, giống như
việc “đánh răng, rửa mặt hàng ngày”, phải tu dưỡng suốt đời.
Vì: lúc này ta là người tốt nhưng trong điều kiện hoàn cảnh khác ta sẽ trở thành người xấu.
- Trong tu dưỡng, rèn luyện đạo đức mỗi người cần phải nhìn thẳng vào
mình, kiên trì rèn luyện, tu dưỡng suốt đời như việc rửa mặt hàng ngày. 21
- Việc tu dưỡng đạo đức của mỗi người phải được thể hiện qua mọi hành động thực tiễn.
- Bác đã nêu ra hai phẩm chất cần có của người cách mạng đó là: đức và tài:
“Người có tài mà không có đức cũng trở thành vô dụng
Người có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”
- Người yêu cầu phải chống các bệnh như, công thần, quan cách mạng, quan
liêu, tham ô, tham nhũng, chủ nghĩa cá nhân.
7.2.2. Sinh viên học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
7.2.2.1. Học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
- Xác định đúng vị trí, vai trò của đạo đức đối với cá nhân.
- Tu dưỡng đạo đức theo các phẩm chất đạo đức Hồ Chí Minh.
+ Yêu tổ quốc, yêu nhân dân.
+ Cần cù sáng tạo trong học tập.
+ Sống nhân nghĩa có đạo lý.
- Tu dưỡng theo các nguyên tắc đạo đức Hồ Chí Minh
+ Kiên trì tu dưỡng đạo đức cách mạng.
+ Nói và làm đi đôi với nhau.
+ Kết hợp cả xây đạo đức mới với chống các biểu hiện suy thoái đạo đức.
7.2.2.2. Nội dụng học tập theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
+ Học trung với nước, hiếu với dân, suốt đời đấu tranh cho sự nghiệp giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
+ Học cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, đời tư trong sáng, nếp sống giản
dị và đức khiêm tốn phi thường. 22
+ Học đức tin tuyệt đối vào sức mạnh của nhân dân, kính trọng nhân dân, hết
lòng hết sức phục vụ nhân dân, luôn nhân ái, vị tha, khoan dung và nhân hậu với con người.
+ Học tấm gương về ý chí và nghị lực tinh thần to lớn, quyết tâm vượt qua
mọi thử thách, gian nguy để đạt được mục đích cuộc sống.
7.3. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI
7.3.1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người
7.3.1.1. Con người được nhìn nhận như một chỉnh thể, đa chiều
Hồ Chí Minh xem xét con người như một chỉnh thể thống nhất về tâm lực,
thể lực và các hoạt động của nó. Con người luôn có xu hướng vươn lên cái chân –
thiện – mỹ, mặc dù “có thế này, thế khác”. Con người được nhìn nhận ở các phương diện:
- Phương diện tự nhiên: Hồ Chí Minh nhìn nhận con người như một thực thể
sinh học, cho nên con người phải tuân theo các quy luật tự nhiên.
- Con người xã hội: Hồ Chí Minh nhìn nhận con người với tư cách là một cá
nhân. Cá nhân con người này nằm trong mối quan hệ giữa cá nhân với xã hội, cá
nhân với cá nhân và tồn tại trong vô số các quan hệ khác.
- Hồ Chí Minh còn nhìn nhận con người ở cả tâm lực và thể lực. Phải có sự
thống nhất chặt chẽ giữa tâm lực và thể lực trong mỗi con người. Đó chính là tâm
lý, ý thức và thể chất của con người.
- Hồ Chí Minh xem xét con người trong sự thống nhất của hai mặt đối lập: thiện
và ác, hay và dở, tốt và xấu, v.v, bao gồm cả tính người – mặt xã hội và tính bản năng
– mặt sinh học. Phải làm cho cái tốt nảy nở như hoa mùa xuân, cái xấu bị xóa bỏ.
7.3.1.2. Con người lịch sử cụ thể
- Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, con người là sản phẩm của những điều kiện
lịch sử cụ thể. Ở mỗi giai đoạn lịch sử nhất định sẽ tạo lên kiểu con người nhất định. 23
Hồ Chí Minh dùng khái niệm “con người” theo nghĩa rộng trong một số
trường hợp (“phẩm giá con người”, “giải phóng con
người”, “người ta”, “con người”, “ai”, v.v.), nhưng đặt
trong bối cảnh cụ thể và một tư duy chung. Còn phần
lớn Người xem xét trong các mối quan hệ xã hội, quan
hệ giai cấp; theo giới tính (thanh niên, phụ nữ), lứa tuổi
(phụ lão, nhi đồng), nghề nghiệp (công nhân, nông dân,
trí thức), trong khối thống nhất của cộng đồng dân tộc (sĩ, nông, công, thương) và
quan hệ quốc tế (bầu bạn năm châu, các dân tộc
bị áp bức, bốn phương vô sản). Đó là những con
người hiện thực, cụ thể, cảm tính, khách quan.
7.3.1.3. Bản chất con người mang tính xã hội
Mác cho rằng: bản chất của con người là
tổng hòa của các mối quan hệ trong xã hội. Hồ Chí Minh đã tiếp thu quan điểm của
chủ nghĩa Mác – Lênin về bẳn chất của con người, từ đó Người đã khẳng định: bản
chất của con người là mang tính xã hội, khác hẳn với con vật. Tính xã hội được thể
hiện ở các khía cạnh sau:
- Để sinh tồn, con người phải lao động sản xuất. Trong quá trình lao động sản
xuất, con người dần dần nhận thức được các hiện tượng, quy luật của tự nhiên, của
xã hội; cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội để phục vụ cuộc sống của mình; hiểu về
mình và hiểu biết lẫn nhau, v.v, xác lập các mối quan hệ giữa người với người; con
người vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm của lịch sử; con người là sự tổng hợp của các
quan hệ xã hội từ hẹp đến rộng.
7.3. 2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của con người 24
- Thứ nhất, con người là vốn quý nhất, nhân tố quyết định thành
công của sự nghiệp cách mạng.
Theo Hồ Chí Minh, “trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân, trong thế giới
không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Vì vậy, “vô luận việc gì, đều
do người dân làm ra và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả”. Người cho rằng:
“việc dễ mấy không có nhân dân cũng chịu, việc khó mấy có dân liệu cũng xong”.
Nhân dân là yếu tố quyết định thành công của cách mạng. “Lòng yêu nước
và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi”.
- Thứ hai, con người không chỉ là sản phẩm của tự nhiên và xã hội mà còn
là chủ thể của tự nhiên và xã hội.
+ Với tư cách là chủ thể của tự nhiên: con người bằng hành động cụ thể của
mình không ngừng tác động vào tự nhiên, cải biến tự nhiên để cho phù hợp với nhu
cầu của mình thông qua hoạt động sản xuất vật chất.
+ Với tư cách là chủ thể xã hội: con người bằng hành động của mình đã làm
nên lịch sử, không ngừng biến đổi xã hội, đưa xã hội loài người phát triển đi lên từ
thấp đến cao thông qua các cuộc cách mạng xã hội.
- Thứ ba, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng, phải
coi trọng, chăm sóc, phát huy nguồn lực con người.
Vì sống gần nhân dân, hiểu rõ dân tình, dân tâm, dân ý. Hồ Chí Minh thấy rõ
yêu cầu giải phóng dân tộc, giải phóng con người, giải phóng xã hội. Nhân dân vừa
là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng. Do vậy, Hồ Chí minh thấy rõ trách
nhiệm của mình cũng như của Đảng và chính phủ là phải “làm sao cho nước ta
được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn,
áo mặc, ai cũng được học hành”.
+ Trước tiên, con người là mục tiêu của cách mạng. 25
Vì mục tiêu cao nhất của cách mạng là giải phóng triệt để con người và tạo
mọi điều kiện để con người được phát triển một cách toàn diện. Nên mọi chủ
trương, đường lối, cính sách của Đảng, chính phủ đều vì lợi ích chính đáng của con
người. Có thể là lợi ích lâu dài, lợi ích trước mắt. Với hoạt động thực tiễn thì việc
gì có lợi cho dân, dù nhỏ mấy ta phải hết sức làm. Việc gì hại cho dân- dù nhỏ mấy
ta phải hết sức tránh”.
Tiến trình cách mạng được chủ nghĩa Mác – Lê nin chỉ ra: giải phóng giai
cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Khi tiếp thu quan điểm của chủ
nghĩa Mác –Lê nin, Hồ Chí Minh đã khẳng định tiến trình cách mạng của Việt
Nam: giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Như vậy, con
người luôn là mục tiêu cuối cùng của cuộc cách mạng.
Tuy nhiên theo Hồ Chí Minh không phải mọi
con người đều là động lực của cách mạng, mà phải là
những con người được giác ngộ và tổ chức, phải có trí
tuệ, bản lĩnh, đạo đức được nuôi dưỡng trên nền truyền
thống lịch sử văn hóa Việt Nam.
+ Cuối cùng, con người là động lực của cách mạng.
Động lực là những nhân tố thúc đẩy sự phát triển. Con người là động lực có
nghĩa là: con người bằng hoạt động có ý thức, nhiệt tình, không ngừng thúc đẩy sự
nghiệp cách mạng phát triển và đi đến thành công. Nói đến con người là nói đến vô
số các cá nhân con người bằng tổng hợp mọi sự hoạt động của họ lại tạo thành động
lực lớn của cách mạng. Nhưng con người chỉ có thể trở thành động lực của cách
mạng khi hoạt động có tổ chức, có lãnh đạo. Do đó, cần phải có sự lãnh đạo của Đảng.
Đồng thời phải kiên quyết khắc phục các phản động lực trong con người và tổ
chức. Đó là chủ nghĩa cá nhân. Thứ vi trùng rất độc này đẻ ra hàng trăm thức bệnh: 26
thói quen truyền thống lạc hậu, tàn tích xã hội cũ để lại, bảo thủ, rụt rè không
giám nói, không giám đề ra ý kiến, tóm lại không dám đổi mới và sáng tạo.
Tóm lại: con người vừa là mục tiêu và động lực của cách mạng có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại nhau, thúc đẩy nhau. Bởi lẽ: Để thực
hiện được mục tiêu giải phóng con người thì phải phụ thuộc vào động lực con
người. Nếu con người tự giác, nhiệt tình cách mạng thì thúc đẩy sự nghiệp cách
mạng thành công, nếu không sẽ ngược lại. Mặt khác khi xác định được mục tiêu
cách mạng rõ ràng thì sẽ phát huy được động lực.
7.3.3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về chiến lược “trồng người”
Do vai trò quan trọng của con người
như vậy cho nên chiến lược trồng người là
quan trọng hàng đầu. Từ đó Hồ Chí Minh đã đánh giá:
- Trồng người là yêu cầu khách quan, vừa
cấp bách, vừa lâu dài của cách mạng.
Hồ Chí Minh rất quan tâm tới sự nghiệp giáo
dục, đào tạo, rèn luyện con người. Người nói tới “lợi ích trăm năm của việc trồng
người” và mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội là những quan điểm mang tầm vóc
chiến lược, cơ bản lâu dài, nhưng cũng rất cấp bách. Điều này liên quan tới nhiệm vụ
“trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”. Tất cả những điều này phản ánh
tư tưởng lớn về tầm quan trọng có tính quyết định nhân tố con người; tất cả vì con người, do con người.
Như vậy, con người phải đặt vào vị trí trung tâm của sự phát triển. Nó vừa
nằm trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước với nghĩa rộng, vừa
nằm trong chiến lược giáo dục-đào tạo theo nghĩa hẹp. 27
- Việc xây dựng con người mới là cả một quá trình lâu dài và phải song hành
cùng với cuộc cách mạng. Bởi lẽ khi ta tiến hành cách mạng phải thực hiện đồng thời
chiến lược xây dựng con người chứ không phải đợi đến khi cách mạng thành công.
- Việc xây dựng con người mới phải được thực hiện ở tất cả các giai đoạn
cách mạng. Bởi lẽ công cuộc cách mạng của dân tộc ta phải trải qua nhiều các giai
đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn cách mạng cần có những con người phù hợp để thực
hiện nhiệm vụ cách mạng.
- Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết phải có những con người xã hội chủ nghĩa.
Điều này có nghĩa là ngay từ đầu công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội cần
phải đặt ra nhiệm vụ xây dựng con người có phẩm chất cơ bản, tiêu biểu cho con
người mới xã hội chủ nghĩa, làm gương, lôi cuốn xã hội. Công việc này là một quá
trình lâu dài không ngừng hoàn thiện, nâng cao thuộc về trách nhiệm của Đảng, Nhà
nước, gia đình và xã hội.
Con người mới XHCN cần phải có những phẩm chất sau: Quan điểm của Hồ
Chí Minh về con người mới xã hội chủ nghĩa có hai mặt gắn bó chặt chẽ với nhau.
Một là kế thừa những giá trị truyền thống tốt đẹp của con người truyền thống. Hai
là hình thành những phẩm chất mới như:
+ Có đạo đức cách mạng.
+ Có trình độ tri thức, đặc biệt nắm vững tri thức khoa học kỹ thuật.
+ Có tinh thần tập thể “mình vì mọi người”, có tấm lòng yêu thương, thân
ái, nhân nghĩa, bao dung, độ lượng.
+ Có năng lực làm chủ: làm chủ bản thân gia đình, tự nhiên và xã hội.
- Để đạt được những phẩm chất đó phải xây dựng được những con người mới
phát triển toàn diện. Trong đó đặc biệt phải coi trọng sự nghiệp giáo dục đào tạo. 28
Theo Hồ Chí Minh để thực hiện chiến lược “trông người” cần có nhiều biện
pháp, nhưng giáo dục – đào tạo là biện pháp quan trọng bậc nhất. Bởi vì giáo dục
tốt sẽ tạo ra tính thiện, đem lại tương lai tươi sáng cho thanh niên. Ngược lại giáo
dục tồi sẽ ảnh hưởng xấu tới thanh niên.
Nội dung và phương pháp giáo dục phải toàn diện, cả đức, trí, thể, mỹ, phải
đặt đạo đức, lý tưởng và tình cảm cách mạng, lối sống chủ nghĩa xã hội lên hàng
đầu. Hai mặt tài, đức phải thống nhất với nhau, không tách rời nhau, trong đó đức
là “gốc”, là nền tảng cho tài phát triển. TÓM TẮT CUỐI BÀI
1. Những sáng tạo lý luận của Hồ Chí Minh
- Hồ Chí Minh đã sớm thấy vai trò sức mạnh của văn hoá, đã sớm đưa văn
hóa vào chiến lược phát triển của đất nước.
- Xác lập hệ thống các quan điểm có giá trị xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam.
- Đề cao vai trò của đạo đức, gắn đạo đức với sự tiến bộ của xã hội.
- Xác lập chuẩn hệ giá trị đạo đức cho con người Việt Nam.
- Coi trọng con người và xây dựng con người mới.
2. Ý nghĩa của việc học tập
- Thấy rõ những cống hiến kiệt xuất của Hồ Chí Minh trong lĩnh vực văn
hóa, đạo đức và xây dựng con người mới.
- Xác định rõ phương hướng, biện pháp học tập tư tưởng văn hóa, đạo đức,
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
- Nhận thức rõ biểu hiện cụ thể của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh đặc
biệt là sự quan tâm đến con người. 29 CÂU HỎI ÔN TẬP
Câu 1. Định nghĩa văn hóa và định hướng xây dựng nền văn hóa mới theo
quan điểm của Hồ Chí Minh?
Câu 2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về một số vấn đề cơ bản của văn hóa?
Câu 3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò và sức mạnh của đạo đức cách mạng?
Câu 4. Quan điểm của Hồ Chí Minh về các chuẩn mực đạo đức mới?
Câu 5. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của con người và chiến lược trồng người? CÂU HỎI TỰ LUẬN
Câu 1. Anh, chị hãy phân tích những phẩm chất đạo đức mới của con
người Việt Nam theo quan điểm của Hồ Chí Minh? Gợi ý:
Theo Hồ Chí Minh phẩm chất đạo đức mới của con người Việt Nam bao gồm các chuẩn mực sau:
* Trung với nước, hiếu với dân.
- Quan điểm truyền thống: Trung với vua, hiếu với cha mẹ…
- Quan điểm của Hồ Chí Minh:
+ Trung với nước: Đối tượng “trung” là quốc gia, dân tộc; Nội dung…
+ Hiếu với dân: Đối tượng là “nhân dân”; Nội dung…
* Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
- Cần: cần cù, siêng năng, chăm chỉ, làm việc có kế hoạch...
- Kiệm: tiết kiệm công sức, tiền của, thời gian…
- Liêm: trong sáng, liêm khiết…
- Chính: ngay thẳng, không tà… 30
- Chí công vô tư: vì việc công không vì việc riêng….
* Tinh thần quốc tế trong sáng.
Đó là sự tôn trọng, hiểu biết, thương yêu và đoàn kết với giai cấp vô sản trên
toàn thế giới, với các dân tộc và nhân dân trên thế giới…
Câu 2: Anh, chị hãy phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về chức
năng cơ bản của nền văn hóa dân tộc? Gợi ý:
* Trình bày định nghĩa văn hóa theo quan điểm của Hồ Chí Minh:
- Văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng.
- Văn hóa được hiểu theo nghĩa hẹp.
- Văn hóa được hiểu theo nghĩa rất hẹp.
* Nêu và phân tích các chức năng cơ bản của văn hóa (3 chức năng cơ bản
của văn hóa):
- Bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp.
- Nâng cao dân trí, mở rộng hiểu biết cho nhân dân.
- Hướng con người vươn tới chân, thiện, mĩ.
Câu 3: Anh, chị hãy phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của
con người? Giá trị của quan điểm đối với việc xây dựng và phát triển con người Việt Nam hiện nay? Gợi ý:
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc xây dựng và phát
triển con người. Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức và đánh giá được tầm quan trọng
của con người đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Vì vậy, Người cho rằng sự
nghiệp cách mạng của dân tộc muốn thành công được thì phải phát huy được vai
trò của con người(nhân dân).
* Vai trò của con người được thể hiện ở một số khía cạnh sau đây: 31
- Con người là vốn quý nhất, quyết định sự thành công của cách mạng.
- Con người không chỉ là sản phẩm của tự nhiên và xã hội mà còn là chủ thể
của tự nhiên và xã hội.
+ Với tư cách là chủ thể của tự nhiên: con người bằng hành động cụ thể của
mình không ngừng tác động vào tự nhiên, cải biến tự nhiên để cho phù hợp với nhu
cầu của mình thông qua hoạt động sản xuất vật chất.
+ Với tư cách là chủ thể xã hội: con người bằng hành động của mình đã làm
nên lịch sử, không ngừng biến đổi xã hội, đưa xã hội loài người phát triển đi lên từ
thấp đến cao thông qua các cuộc cách mạng xã hội.
- Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng, phải coi trọng,
chăm sóc, phát huy nguồn lực con người.
* Giá trị của quan điểm đối với việc xây dựng và phát triển con người Việt Nam hiện nay.
- Thực trạng việc xây dựng và phát triển con người Việt Nam hiện nay. + Thành tựu + Hạn chế
- Một số giải pháp nhằm xây dựng và phát huy nguồn lực con người Việt Nam hiện nay. 32