



















Preview text:
Chương I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ LUẬT QUỐC TẾ
I. Khái niệm luật quốc tế
Luật quốc tế là hệ thống các nguyên tắc và quy phạm pháp luật do các chủ thể của luật quốc tế (bao gồm quốc
gia và chủ thể khác của luật quốc tế) thỏa thuận xây dựng nên trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng nhằm điều
chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể luật quốc tế với nhau trong mọi lĩnh vực của đời sống quốc tế và
đảm bảo thực hiện bởi các chủ thể đó.
II. Phân biệt công pháp quốc tế và tư pháp quốc tế.
1. Công pháp quốc tế: 1.1 Khái niệm:
Công pháp quốc tế là hệ thống pháp luật bao gồm tổng thể các nguyên tắc, quy phạm pháp lí quốc tế được
các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế thoả thuận xây dựng trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng,
thông qua đấu tranh và thương lượng nhằm điều chỉnh mối quan hệ nhiều mặt giữa các chủ thể của luật
quốc tế với nhau và trong trường hợp cần thiết được đảm bảo thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế riêng lẻ
hoặc tập thể do chính các chủ thể luật quốc tế thực hiện.
1.2 Nguyên tắc cơ bản:
- Bình đẳng về chủ quyền
- Tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế (Pactasunt servanda)
- Cấm sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực
- Hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế
- Không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác
- Các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác - Dân tộc tự quyết.
1.3. Đối tượng điều chỉnh:
Những quan hệ xã hội phát sinh trong đời sống quốc tế như quan hệ chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học -
kỷ thuật, môi trường…giữa các chủ thể của luật quốc tế với nhau mà chủ yếu là những quan hệ chính trị.
Ví dụ: Quan hệ về biên giới lãnh thổ diễn ra giữa hai quốc gia Việt Nam và Trung Quốc. Quan hệ này do
các quy phạm pháp luật quốc tế điều chỉnh mà trước hết ở đây là các quy phạm pháp luật nằm trong các
công ước quốc tế về biên giới giữaViệt Nam và Trung Quốc
1.4. Phương pháp điều chỉnh:
Sử dụng phương pháp bình đẳng, thỏa thuận và tự do ý chí của các chủ thể. 2. Tư pháp quốc tế: 2.1 . Khái niệm:
Tư pháp quốc tế là hệ thống các quy phạm pháp luật xungđột điều chỉnh quan hệ tài sản và nhân thân phi tài
sản trong các lĩnh vực dân sự, tố tụng dân sự, thương mại, lao động, hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài.
2.2. Nguyên tắc cơ bản:
- Nguyên tắc bình đẳng giữa các chế độ sở hữu
- Nguyên tắc bình đẳng không phân biệt đối xử (đối xử quốc gia – NT, tối huệ quốc – MFN)
- Nguyên tắc có đi có lại
- Nguyên tắc tôn trọng quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.
2.3. Đối tượng điều chỉnh:
Các quan hệ nội dung có tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài và các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực tố
tụng dân sự có yếu tố nước ngoài.
2.4. Phương pháp điều chỉnh - Phương pháp thực chất - Phương pháp xung đột
Ví dụ: Một tai nạn có thể xảy ra là hậu quả của điều sơ suất ở Italy: lái xe đến từ Paris, người bị thương là
người Anh và họ có yêu cầu kiện tụng tại tòa án của Anh.
3. Điểm khác biệt thứ nhất và cơ bản giữa công pháp quốc tế và tư pháp quốc tế là
3.1 Đối tượng điều chỉnh.
Công pháp quốc tế điều chỉnh quan hệ (chủ yếu) giữa các quốc gia, trong khi đó tư pháp quốc tế điều chỉnh
quan hệ giữa các cá nhân và pháp nhân. Quan hệ điều chỉnh bởi công pháp quốc tế mang tính chất “công” trong
khi các quan hệ điều chỉnh bởi tư pháp quốc tế lại mang tính chất “tư” bao gồm các quan hệ dân sự mang yếu tố
nước ngoài, liên quan đến sự khác biệt về quốc tịch của các chủ thể liên quan, địa điểm diễn ra quan hệ….
Ngoài ra, một số điểm khác biệt cơ bản giữa công pháp và tư phát quốc tế là: về chủ thể, chủ thể chủ yếu của
công pháp quốc tế là các quốc gia, tổ chức quốc tế, vùng lãnh thổ có quy chế đặc biệt; trong khi chủ thể chủ yếu
của tư pháp quốc tế là các cá nhân và pháp nhân (quốc gia chỉ là chủ thể đặc biệt).
3.2 Về phương pháp điều chỉnh:
Công pháp quốc tế điều chỉnh bằng phương pháp thỏa thuận, bình đẳng trong khi tư pháp quốc tế áp dụng
phương pháp thực chất và phương pháp xung đột.
3.3 Về biện pháp thực thi luật:
Các biện pháp áp dụng trong công pháp quốc tế có thể mang tính chính trị, kinh tế, vũ lực trong khi biện pháp
áp dụng trong tư pháp quốc tế thường là bồi thường thiệt hại mang tính tài sản.
Trong nhiều trường hợp, công pháp quốc tế có sự đan xen với tư pháp quốc tế, điều này thể hiện ở chỗ điều ước
quốc tế, các tập quán quốc tế điều chỉnh quan hệ tư pháp quốc tế. Bên cạnh đó, các cá nhân, pháp nhân có
khuynh hướng ngày càng phát triển những quan với các quốc gia nước ngoài. Ngoài chỉ thể chủ yếu là quốc, có
nhiều những chủ thể khác, nổi bật nhất là các tổ chức quốc tế, tham gia vào các quan hệ quốc tế. Do đó, luật
quốc tế không còn đơn thuần là luật điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia.
4. Quy phạm luật quốc tế
Là bộ phận cấu thành nhỏ nhất của luật quốc tế. Các quy phạm này có thể được chia thành nhiều nhóm khác
nhau, dựa trên những tiêu chí khác nhau.
4.1 Khái niệm quy phạm pháp luật quốc tế: 4.1.1 Khái niệm:
- Là những quy tắc xử sự do các chủ thể của luật quốc tế thỏa thuận xây dựng nên hoặc cùng nhau thừa nhận giá
trị pháp lý. Các quy tắc đó ghi nhận quyền và nghĩa vụ pháp lý cũng như khả năng gánh chịu trách nhiệm pháp
lý quốc tế của các chủ thể của luật quốc tế. Chúng có chịu ràng buộc đối với các chủ thể luật quốc tế và là công
cụ điều chỉnh các quan hệ quốc tế.
4.1.2 Phân loại quy phạm pháp luật quốc tế:
Thứ nhất, căn cứ vào nội dung và vị trí trong hệ thống luật quốc tế, có các nguyên tắc và quy phạm thông
thường. Trong đó các nguyên tắc là những quy phạm chứa đựng nội dung cô dọng, có vai trò quan trọng nhất và
có giá trị pháp lý cao hơn so với các quy phạm thông thường.
Thứ hai, căn cứ vào phạm vi tác động của các quy phạm (không gian tác động) có quy phạm luật quốc tế phổ
cập và quy phạm luật quốc tế khu vực. Các quy phạm phổ cập được ghi nhận trong các điều ước đa phương
mang tính toàn cầu, trong đó có sự tham gia của đại đa số cac quốc gia và các chủ thể khác của luật quóc tế trên
toàn thế giới. Những quy phạm này có hiệu lực pháp lý bắt buộc chung. Các quy phạm khu vực do một nhóm
các quốc gia, chủ thể nhất định của luật quốc tế xây dựng hoặc tham gia. Chúng chỉ có giá trị pháp lý bắt buộc
đối với các quốc gia, chủ thể đó.
Thứ ba, căn cứ vào giá trị pháp lý:
+ Quy phạm mệnh lệnh: có giá trị hiệu lực tuyệt đối trong tất cả các lĩnh vực của quan hệ quốc tế có giá trị
pháp lý trên phạm vi toàn cầu và là thước đó giá trị pháp lý cho các loại quy phạm khác. Tính chất tối cao về
giá trị pháp lý của những quy phạm này còn thể hiện ở việc các chủ thể của luật quốc tế không có quyền loại
bỏ chúng ngay cả khi có sự thỏa thuận giữa họ với nhau.
+ Quy phạm tuỳ nghi: cho phép các chủ thể luật quốc tế có khả năng tự mình xác định phạm vi quyền và
nghĩa vụ giữa các bên và khả năng áp dụng riêng phù hợp với hoàn cảnh thực tế.
Ví dụ: Các quy phạm về xác định chiều rộng lãnh hải của một quốc gia ven biển trong Công ước về luật biển 1982.
Thứ tư, căn cứ vào phương thức hình thành và hình thức tồn tại: + Quy phạm Điều ước. + Quy phạm tập quán.
4.1.3 Mối quan hệ giữa quy phạm luật quốc tế và các quy tắc khác trong hệ thống quốc tế
- Quy phạm luật quốc tế và quy phạm chính trị: Xét một cách toàn diện thì một quốc gia hoàn toàn có thể ràng
buộc mình đồng thời với cả quy phạm chính trị và quy phạm luật quốc tế. Trong trường hợp có sự xung đột
giữa quy phạm luật quốc tế và quy phạm chính trị thì nghĩa vụ của quốc gia sẽ xác định trên cơ sở của quy
phạm luật quốc tế. Do đó, hành vi thực hiện hay vi phạm của một chủ thể luật quốc tế có thể cùng xâm hại đến
cả hai hệ thống quy phạm khác nhau này nhưng nếu một vi phạm pháp luật quốc tế có thể dẫn đến trách nhiệm
pháp lý và ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ về chính trị trong quan hệ quốc tế thì một vi phạm quy phạm chính
trị không làm phát sinh trách nhiệm pháp lý quốc tế cho quốc gia vi phạm.
- Quy phạm luật quốc tế và quy phạm đạo đức: Giữa quy phạm đạo đức và quy phạm luật quốc tế có sự tác
động qua lại thường xuyên. Trong đời sống sinh hoạt quốc tế, nhiều trường hợp có sự phù hợp giữa quy phạm
đạo đức và quy phạm luật quốc tế nên quy phạm đạo đức có ý nghĩa là xuất phát điểm để hình thành quy phạm
luật quốc tế, ví dụ, đạo lý coi trọng hoà bình trở thành quy phạm Jus cogens của luật quốc tế. Nhưng bản chất
của mối quan hệ giữa hai loại quy phạm cùng tồn tại trong hệ thống quốc tế hiện nay là phải luôn được xem xét
ưên cơ sở sự thoả thuận của các quốc gia, với sự tôn trọng đúng đắn lợi ích cộng đồng và tận tâm, thiên chí thực.
III. Đặc trưng của luật quốc tế
1. Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa Luật Quốc gia và Luật Quốc tế
- Mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia tuy là vấn đề lý luận truyền thống của luật quốc tế nhưng
vẫn đồng thời mang tính thời sự sâu sắc đối với mỗi quốc gia trong quá trình xây dựng, hoàn thiện và phát
triển pháp luật. Trong khoa học pháp lý truyền thống đã có một số học thuyết tiêu biểu xem xét về mối quan hệ này.
- Thuyết nhất nguyên luận có xuất phát điểm từ nguyên lý của trường phái " Pháp luật tự nhiên” về việc
quan niệm pháp luật là hệ thống thống nhất, bao gồm trong đó hai bộ phận là luật quốc tê' và luật quốc gia.
Những quy phạm cùa hai bộ phận này được xếp theo thứ bậc trên, dưới. Học thuyết này chia thành hai
trường phái là trường phái ưu tiên luật quốc tế và ưu tiên luật quốc gia.
- Thuyết nhị nguyên luận, quan niệm luật quốc tế và luật quốc gia là hai hệ thống luật khác nhau, tồn tại độc
lập và giữa chúng không có mối quan hệ qua lại.
- Đây là những học thuyết thể hiện sự nhìn nhận, đánh giá về mối quan hệ giữa hai hệ thống luật còn phiến
diện. Bởi vì, sự tiếp cận khoa học và hiện đại về mối quan hệgiữa luật quốc tế và luật quốc gia phải bằng
việc làm sáng tỏ cơ sở lý luận, đồng thời chỉra được tính chất của sự tác động qua lại giữa hai hệ thống luật với nhau.
Cơ sở lý luận của mối quan hệ giữa luật quốc tê' và luật quốc gia được hình thành từ sự thống nhất hai chức
năng đối nội và đối ngoại trong hoạt đông của nhà nước;từ một số chức năng chung của hai hệ thống luật
trong quá trình điều chỉnh các quan hệ pháp luật mà quốc gia là chủ thể; từ việc tham gia vào các quan hệ
pháp luật có tính chấtkhác nhau của nhà nước nhằm phục vụ cho lợi ích quốc gia, dân tộc, đồng thời vì lợi
íchchung của cộng đồng quốc tế. Do đó, không thể có sự tách biệt giữa hai hệ thống luật màtrái lại, trên thực
tế đã tất yếu hình thành giữa chúng mối quan hê biện chứng.
2. Luật quốc gia có ảnh hưởng mang tính quyết định đến sự hình thành và phát triền của luật quốc tế
Trong quá trình xây dựng LQT, các QG luôn cố gắng tận dụng mọi cơ hội để gây ảnh hưởng đến LQT và
bảo vệ lợi ích của mình 1 cách tốt nhất trong mối tương quan với lợi ích của QG khác và lợi ích chung của
CĐQT. Do đó, quá trình xây dựng LQT phảixuất phát từ lợi ích của mỗi QG. Đồng thời, sự hình thành các
NT và quy phạm pháp luật quốc tế hoàn toàn phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các QG, mà quan điểm
củamỗi QG trong quá trình thỏa thuận thương lượng đó phải dựa trên những NT và quy phạm nền tảng của
QG mình. Chính vì thế, PLQG thể hiện sự định hướng đến quá trình xây dựng LQT.
Ví dụ: Nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực trong QHQT; NTquyền dân tộc tự quyết đều bắt
nguồn từ NT Cấm chiến tranh xâm lược lần đầu tiên đượcghi nhận trong Sắc lệnh Hòa bình của LX năm 1917.
PLQG là đảm bảo pháp lý quan trọng để các NT, quy phạm pháp luật quốc tế được thực hiện trong phạm vi
lãnh thổ QG. Bởi nghĩa vụ của mỗi QG khi tham gia quan hệ QT là phải bảo đảm thực hiện LQT trong
phạm vi LTQG mình. Bằng nhiều cách khác nhau, các quy phạm pháp luật quốc tế sẽ được chuyển
hóathành QPPLQG và có hiệu lực trong phạm vi LTQG.
Ví dụ: LQT: có Công ước quốc tế về quyền trẻ em 1989. Năm 1991, Việt nam đã ban hành Luật bảo vệ trẻ
em nhằm pháp điển hóa các quy định của lật quốc tế vào pháp luật quốc gia.
Luật quốc tế có tác dộng tích cực nhầm phát triển và hoàn thiện luật quốc gia
- Luật quốc tế tác động trở lại đối với sự hình thành và phát triển của luật trong nước. Điều này thể hiện ở
chỗ: khi tham gia các quan hệ QT, các quốc gia phải có nghĩa vụ xây dựng hoặc sửa đổi, bổ sung pháp luật
trong nước sao cho đảm bảo phù hợpvới các cam kết quốc tế mà quốc gia là thành viên. Chính vì vậy, các
quy định có nộidung tiến bộ của LQT sẽ dần được truyền tải vào trong PLQG.
- LQT còn tạo điều kiện đảm bảo cho PLQG trong quá trình thực hiện. Cụ thể hiện nay, có nhiều vấn đề đã
vượt qua khỏi phạm vi điều chỉnh của QG, trở thành vấn đề toàn cầu, tự bản thân mỗi QG không thể giải
quyết được mà cần có sự hợp tác quốc tế (VD: vấn đề môi trường, tội phạm quốc tế, vũ khí hạt nhân…)
Vì vậy, các QG đã cùng nhau ký hàng loạt ĐUQT để cùng nhau hợp tác giải quyết các VĐ đó như: HU
NewYork về cấm thử hoàn toàn vũ khí hạt nhân; Quy chế Rome năm 1998 về thành lập Tòa hình sự QT
ICC…. Chính những quy phạm pháp luật quốc tế trong các ĐUQT này sẽlà điều kiện để đảm bảo cho việc
thực hiện các QP tương ứng của PLQG.
Mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia ở Việt Nam hiện nay
Ở Việt Nam, vấn đề giải quyết mối quan hộ giữa luật quốc tê' và pháp luật quốc gia thông qua việc giải
quyết mối quan hệ giữa điều ước quốc tế hiện đang có hiệu lực với Việt Nam và pháp luật Việt Nam cũng
đang là vấn đề thời sự. Trong bối cảnh của công cuộc cải cách, mở cửa tại Việt Nam, điều ước quốc tế trở
thành công cụ pháp lý chủ yếu, điều chỉnh hiệu quả quan hệ hợp tác quốc tế toàn diện của Việt Nam với các
quốc gia và các tổ chức quốc tế. Từ năm 1990 trở lại đây, số lượng các điều ước quốc tế màViệt Nam ký kết
hoặc gia nhập ngày một nhiều, làm tâng lên đáng kể các cam kết quốc tế và các nghĩa vụ thành viên điểu
ước quốc tế đối với Việt Nam, Việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế ghi nhận trong điều
ước quốc tê' hiện nay đòi hỏi sự hiện diện một khung pháp luật quốc gia về điều ước quốc tế phù hợp, để tạo
cơ sở cũng như các đảm bảo thực tế cho việc thực thi các thoả thuận quốc tế cửa Việt Nam.
Trong các văn bản pháp luật hiện hành tại Việt Nam đều thể hiện quan điểmcủa nhà nước Việt Nam trong
việc tuân nghiêm chỉnh tuân thủ và tôn trọng các nghĩa vụ cũng như các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã
chính thức ràng buộc, trên cơ sở củanguyên tắc bình đẳng, có đi có lại, hợp tác phát triển.
Mặc dù hiện tại, pháp luật Việt Nam về điều ước quốc tế chưa xác định rõ ràng vị trí của điều ước quốc tế
trong hệ thống pháp luật quốc gia, nhưng trong các văn bản pháp luật, hiệu lực thi hành của điều ước quốc
tế mà Việt Nam thành viên vẫn được bảo đảm bởi việc thừa nhận ưu thê của điều ước quốc tế trong tương
quan với pháp luật Việt Nam,
Trong nhiều quan hệ điều ước quốc tế thuộc những lĩnh vực hợp tác chuyên môn, như lĩnh vực về quyền
con người, việc sử lý nhàm hài hoà hoá các quy phạm của điều ước với quy phạm của luật Việt Nam được
tiến hành bàng hoạt động lập pháp của Quốc hội và các cơ quan có thẩm quyền. Tính chất tác đông của luật
quốc tế đối với luật quốc gia được đánh giá bằng thực tiễn thực thi nghĩa vụ thành viên điều ước quốc tế, tổ
chức quốc tế của quốc gia, thể hiện ở những hoạt động cụ thể, ví dụ, nghĩa vụ sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện
các quy định của luật quốc gia phù hợp với những cam kết quốc tế của chính quốc gia đó. Bên cạnh đó, luật
quốc tế còn tác động đến luật quốc gia thông qua vai trò của hệ thống này đối với đời sống pháp lý tại mỗi
quốc gia, phản ánh tương quan giữa hai hệ thống khi điều chỉnh những vấn đề thuộc lợi ích phát triển và
hợp tác quốc tế của quốc gia.
Hiện nay, việc vận dụng lý luận khoa học pháp lý hiện đại về mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia
vào thực tiễn pháp lý của mỗi quốc gia không có sự đồng nhất về cách tiếp cận.
CHƯƠNG II: NGUỒN CỦA LUẬT QUỐC TẾ I.
Luật chung về nguồn của Luật quốc tế
1. Khái niệm nguồn của Luật quốc tế. 1.1 Định nghĩa:
Nguồn của LQT là những hình thức biểu hiện hoặc chứa đựng những QPPL quốc tế, do các chủ thể của
LQT thỏa thuận xây dựng nên.
1.2 Cơ sở pháp lý:
Điều 38 Quy chế Tòa án công lý quốc tế:
1. "Tòa án, với chức năng là giải quyết phù hợp với luật quốc tế các vụ tranhchấp được chuyển đến Tòa án, sẽ áp dụng:
a. Các điều ước quốc tế, chung hoặc riêng, đã quy định về những nguyên tắcđược các bên đang tranh chấp thừa nhận;
b. Các tập quán quốc tế như những chứng cứ thực tiễn chung, được thừa nhận như những quy phạm pháp luật;
c. Nguyên tắc chung của luật được các quốc gia văn minh thừa nhận
d. Với những điều kiện nêu ở điều 59, các án lệ và các học thuyết của các chuyên gia có chuyên môn cao
nhất về luật quốc tế của các quốc gia khác nhau được coi là phương tiện để xác định các quy phạm pháp luật"
1.3. Phân loại nguồn của LQT: Nguồn cơ bản: Điều ước quốc tế. Tập quán quốc tế
Các phương tiện bổ trợ nguồn:
Những nguyên tắc pháp luật chung. (Không phải các nguyên tắc cơ bản)
Phán quyết của Tòa án Công lý quốc tế và các thiết chế tài phán quốc tế.
Nghị quyết của các tổ chức quốc tế liên chính phủ.
Học thuyết, các công trình nghiên cứu của các học giả luật quốc tế. I.
Điều ước quốc tế 1. Khái niệm:
- Điều ước quốc tế là văn bản pháp luật quốc tế do các chủ thể LQT / thỏa thuận ký kết trên cơ sở tự
nguyện, bình đẳng, nhằm thiết lập những quy tắc pháp lý bắt buộc để /ấn định, thay đổi hoặc hủy bỏ/ những
quyền và nghĩa vụ với nhau trong quan hệ quốc tế.
- Cơ sở pháp lý: Điểm a khoản 1 Điều 2 Công ước viên 1969; khoản 1 Điều 2 Luật điều ước quốc tế 2016.
2. Phân loại điều ước quốc tế
Căn cứ vào số lượng chủ thể tham gia: Song phương // Đa phương
Căn cứ vào tính chất hiệu lực của ĐƯQT:
Điều ước khung: Đề ra những nguyên tắc chung điều chỉnh các quan hệ cơ bản giữa các quốc gia.
Điều ước cụ thể: ĐIều chỉnh những vấn đề cụ thể trong quan hệ giữa các bên ký kết.
Căn cứ vào lĩnh vực điều chỉnh: Chính trị Kinh tế Văn hóa – KHKT Pháp luật
Căn cứ vào các bên ký kết điều ước QT.
3. Điều kiện để ĐƯQT trở thành nguồn của LQT:
- ĐƯQT được ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ.
- ĐƯQT được ký kết phải phù hợp với quy định của pháp luật các bên ký kết về thẩm quyền và thủ tục.
- Nội dung của ĐƯQT phải phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế.
- ĐƯQT được ký kết phải được ký đúng với năng lực của các bên ký kết.
4. Chủ thể ký kết ĐƯQT:
- Là các chủ thể của Luật quốc tế: 4.1 Quốc gia:
+ Đại diện đương nhiên: Chủ tịch nước, thủ tướng chính phủ, bộ trưởng Bộ Ngoại giao) (khoản 2 Điều 7 CWV 1969)
+ Đại diện theo uỷ quyền. (khoản 1 Điều 7 CWV 1969)
4.2 Tổ chức quốc tế liên chính phủ:
+ Các chủ thể đặc biệt của LQT
5. Hình thức của ĐƯQT:
- Tên gọi do các bên thỏa thuận: (Thích đặt là gì cũng được)
- Hiến chương: Sự ra đời của 1 tổ chức
- Công ước: Điều chỉnh một lĩnh vực cụ thể, có quy mô toàn cầu.
- Nghị định: Sửa đổi bổ sung công ước.
- Ngôn ngữ của điều ước do các bên tự chọn:
Điều ước song phương: Ký hai bản của hai thứ tiếng mẹ đẻ và ký thêm một bản ngôn ngữ thứ ba
nhằm làm tiêu chuẩn chung.
Điều ước đa phương:
- Khu vực: Quá nhiều ngôn ngữ thì dùng một ngôn ngữ phổ biến nhất.
Toàn cầu: Dùng một trong sáu ngôn ngữ làm việc chính của LHQ (Anh, Trung, Pháp, Ả Rập, TBN, Nga)
- Cơ cấu của ĐƯQT do các bên tự thoả thuận.
6. Quá trình ký kết ĐƯQT:
a. Đàm phán soạn thảo ĐƯ:
Đàm phán là quá trình các bên biểu thị ý chí của mình đối với vấn đề mà ĐƯđiều chỉnh. Từ đó đi đến thống
nhất với nhau về những vấn đề cùng quan tâm và ghi nhận chúng vào dự thảo điều ước.
Yêu cầu: Các bên phải thỏa thuận được với nhau về những vấn đề có tính nguyên tắc, các vấn đề liên quan
đến nội dung và hình thức ĐƯ. Hình thức thực hiện:
Có thể đàm phán thông qua các cơ quan đại diện (Đại sứ quán)
Có thể trao đổi công hàm cho nhau.
Có thể đàm phán cấp thấp. Sau khi có một bản thảo khá thống nhất thìcó thể tổ chức đàm phán cấp cao.
Việc soạn thảo dựa trên sự thỏa thuận đạt được của các bên, đây là việc ghi nhận những thỏa thuận của các
bên thành văn bản theo đúng trình tự, thủ tục, hình thức của một ĐƯQT. b. Thông qua ĐƯ:
Sau khi văn bản điều ước được soạn thảo xong, các bên sẽ biểu thị sự nhất trí của mình bằng cách xác nhận
bản dự thảo với những nội dung cuối cùng của ĐƯ.
ĐƯ song phương: Xác nhận bằng miệng, ký tắt, (đơn giản) ĐƯ đa phương:
Nguyên tắc đa số (⅔), trừ khi các bên thỏa thuận khác. (khoản 2 Điều 9 CWV 1969)
Nguyên tắc đồng thuận consensus: Không có quốc gia nào phản đối.
Nguyên tắc đồng thuận nghịch (Không bên nào phản đối): Đây là một nguyên tắc mới theo đó một quyết
định chỉ không được thông qua khi tất cả thành viên bỏ phiếu không thông qua Hầu như được thông qua
tự động Thường chỉ về những vấn đề mang tính thủ tục.
Việc thông qua văn bản chưa làm phát sinh hiệu lực pháp lý cho điều ước Có ý nghĩa xác nhận văn bản
điều ước đã được soạn thảo xong.
c. Ký điều ước quốc tế:
Ký chỉ là một giai đoạn trong toàn bộ quá trình ký kết. Ba hình thức chữ ký:
Ký tắt: Ký xác nhận vào văn bản dự thảo, đại biểu cho ĐƯ đã được thông qua, không làm ĐƯ phát sinh hiệu lực.
Ký Ad Referendum: Chữ ký của vị đại diện, sau đó có sự chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền Tiếp
theo thì không cần ký chính thức nữa.
Khác với ký tắt: Nếu hình thức ký này được cơ quan có thẩm quyền của các bên tỏ rõ ý tán thành thì không phải ký đầy đủ nữa
Trong khi đó, ký tắt chỉ là một bước quá độ để tiến tới ký đầy đủ
Ký chính thức: Chữ ký của người đại diện quốc gia vào ĐƯ ⇒ Nếu ĐƯ không quy định những thủ tục khác
thì sau khi ký đầy đủ ĐƯ sẽ phát sinh hiệu lực.
d. Phê chuẩn/ Phê duyệt ĐƯQT: (nếu có)
Phê chuẩn / Phê duyệt là hành vi pháp lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận sự ràng buộc của
ĐƯQT đối với quốc gia mình. (điểm b khoản 1 Điều 2 CWV 1969).
Phân biệt phê chuẩn và phê duyệt: Về thẩm quyền:
Phê chuẩn là hành vi pháp lý do Quốc hội hoặc CTN (cơ quan lập pháp hoặc nguyên thủ quốc gia) thực hiện
(khoản 7 Điều 2 Luật ĐƯQT 2016).
Phê duyệt là hành vi pháp lý do Chính phủ (cơ quan hành pháp) thực hiện (khoản 8 Điều 2 Luật ĐƯQT 2016). Về loại ĐƯQT:
Những điều ước quốc tế phải được phê chuẩn: Phê chuẩn được áp dụng với những điều ước tối quan trọng.
(Điều 28 Luật ĐƯQT 2016)
Những điều ước quốc tế phải được phê duyệt: Phê duyệt được áp dụng với những điều ước có tầm quan
trọng thấp hơn (Điều 37 Luật ĐƯQT 2016)
Mục đích của phê chuẩn/phê duyệt:
Rà soát nội dung của ĐƯQT trước khi chính thức xác nhận sự ràng buộc
Kiểm tra lại tính hợp pháp của người đại diện.
Có thời gian chuẩn bị cho việc thực hiện ĐƯQT ở phạm vi quốc gia.
Đã có phê chuẩn thì không có phê duyệt và ngược lại. e. Gia nhập ĐƯQT:
Gia nhập là hành vi của một quốc gia xác nhận sự ràng buộc của một ĐƯQTđối với quốc gia mình khi
không tham gia vào quá trình đàm phán hoặc không ký vào điều ước đó. Các cách thức gia nhập: Phê chuẩn Phê duyệt
Ký trực tiếp vào văn bản ĐƯQT
Gửi công hàm xin phép gia nhập.
Thời điểm gia nhập: Sau khi ĐƯ đã ký xong hoặc phát sinh hiệu lực mà quốc gia chưa tham gia.
Trong một số trường hợp, quyền và nghĩa vụ của bên sáng lập và bên gia nhập có chênh lệch.
Thẩm quyền gia nhập do luật quốc gia quy định.
Thủ tục gia nhập gia ĐƯQT quy định. f. Bảo lưu ĐƯQT:
Bảo lưu là tuyên bố đơn phương của quốc gia nhằm thông qua đó loại trừ hoặc thay đổi hiệu lực của một
hoặc một số điều khoản của ĐƯQT. Lý do:
Để tăng tính đa phương của ĐƯQT.
Để bảo vệ quyền lợi của quốc gia.
Thời điểm tuyên bố bảo lưu: Khi ký, phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc gia nhập một điều ước, một
quốc gia có thể đề ra một bảo lưu (Điều 19 CWV 1969)
Những trường hợp hạn chế bảo lưu:
ĐƯQT song phương: Đối với một tuyên bố song phương, tuyên bố bảo lưu được coi như một đề nghị thỏa
thuận lại, ký kết ĐƯQT mới.
ĐƯQT cấm bảo lưu. (điểm a Điều 19 CWV 1969)
ĐƯQT chỉ cho phép bảo lưu một số điều khoản nhất định. (điểm b Điều 19 CWV 1969)
Các điều khoản đi ngược lại với mục đích và đối tượng của ĐƯQT: Bảo lưu sẽ được xem xét bởi các quốc
gia thành viên điều ước và bảo lưu sẽ không có giá trị nếu như ít nhất ⅔ thành viên phản đối. (điểm c Điều 19 CWV 1969)
g. Thủ tục bảo lưu:
ĐƯ quy định rõ điều khoản nào được bảo lưu ⇒ Đương nhiên bảo lưuđiều khoản đó. (khoản 1 Điều 20 CWV 1969)
ĐƯ không quy định rõ điều khoản nào được phép bảo lưu:
Phải được tất cả các quốc các quốc gia đàm phán chấp nhận
Việc bảo lưu phát sinh hiệu lực sau 12 tháng kể từ khi tuyên bố bảo lưu nếu không có sự phản đối.
(khoản 5 Điều 20 CWV 1969)
ĐƯ thành lập một tổ chức quốc tế: Việc bảo lưu phải có sự chấp thuậncủa cơ quan có thẩm quyền của Tổ
chức quốc tế đó (khoản 3 Điều 20 CWV 1969)
* Hậu quả pháp lý của việc bảo lưu:
Quan hệ giữa quốc gia bảo lưu và quốc gia chấp nhận bảo lưu ⇒ Thựchiện bằng các ĐƯQT áp dụng bảo
lưu. (Điểm a khoản 4 Điều 20 CWV 1969)
Quan hệ giữa quốc gia tuyên bố bảo lưu và quốc gia chống lại việc bảo lưu ⇒ Điều chỉnh bằng điều ước mà
không áp dụng bảo lưu. (Điểm b khoản 4 Điều 20 CWV 1969)
7. Hiệu lực của ĐƯQT:
Điều kiện có hiệu lực của ĐƯQT: (Điều kiện trở thành nguồn của LQT)
ĐƯQT vô hiệu tuyệt đối: Đương nhiên vô hiệu:
Không được ký kết trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng.
Nội dung trái với những nguyên tắc cơ bản của LQT hiện đại.
ĐƯQT vô hiệu tương đối: Trong quá trình ký kết có sai lầm thiếu sót, nếu các bên có thiện chí sửa chữa thì ĐƯQT lại có hiệu lực.
Hiệu lực của ĐƯQT về mặt không gian: “Không gian” là phạm vi lãnh thổ ởtrên đó, ĐƯQT sẽ phát sinh hiệu lực.
Về nguyên tắc, ĐƯQT có hiệu lực đối với toàn bộ lãnh thổ của các bên ký kết ĐƯQT.
Một số loại ĐƯQT có thể có hiệu lực ngoài phạm vi lãnh thổ các bên ký kết Thời gian có hiệu lực:
Sau khi ký kết chính thức
Đối với ĐƯ quan trọng thì từ thời điểm quốc gia xem xét phê duyệt.
ĐƯ quy định về thời điểm có hiệu lực:
ĐƯQT có thời hạn: quy định một cách cụ thể thời điểm bắt đầu có hiệu lực của ĐƯ và quy định cụ thể thời
điểm chấm dứt hiệulực.
ĐƯQT vô thời hạn: chỉ quy định thời điểm có hiệu lực mà không quy định thời điểm chấm dứt hiệu lực.
Thời điểm ĐƯQT phát sinh hiệu lực:
Trường hợp ĐƯQT không cần trải qua thủ tục phê chuẩn/phê duyệt:
Phát sinh hiệu lực ngay sau khi ký đầy đủ.
Phát sinh hiệu lực theo quy định trong ĐƯQT đó