



















Preview text:
MỤC LỤC
A. Giới thiệu khái quát về các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế............................4
B. Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế...................................................................4
a) Đặc điểm chung của các nguyên tắc.....................................................................4
I. Tính mệnh lệnh bắt buộc chung...............................................................................4
II.Tính phổ biến...........................................................................................................4
III.Tính bao trùm.........................................................................................................5
IV.Tính kế thừa............................................................................................................5
V.Tính tương hỗ...........................................................................................................5
b) Nội dung các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế................................................6
I.Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia.............................................6
II.Nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế ................................10
III.Nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế.........14
IV.Nguyên tắc quốc gia giải quyết tranh chấp quốc tế bằng phương pháp hòa bình..19
V.Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác....................24
VI.Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác.......................................................30
VII.Nguyên tắc dân tộc tự quyết................................................................................33
C. Tổng quát về ý nghĩa và vai trò các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế.............37
I.Ý nghĩa của các nguyên tắc.....................................................................................37
II.Vai trò của các nguyên tắc......................................................................................38
III.Liên hệ quốc gia Việt Nam thực hiện các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế......40
3.1. Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền quốc gia.....................................................40
3.2. Nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế (Pacta-sunt-servanda) 41
3.3. Nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế.......42 2
3.4. Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế trong luật pháp quốc tế và vấn đề
Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc.................................................................43
3.5. Nguyên tắc không can thiệp vào nộp bộ của quốc gia khác và quan điểm của Việt Nam 44
3.6. Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác.....................................................44
3.7. Nguyên tắc tự quyết dân tộc ở Việt Nam............................................................45
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................47 3
CHUYÊN ĐỀ 1: CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT QUỐC TẾ A.
Giới thiệu khái quát về các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế
Khái niệm nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế:
Là những tư tưởng chính trị, pháp lý mang tính chỉ đạo, bao trùm và có giá trị
bắt buộc chung (jus cogens) đối với mọi chủ thể luật quốc tế
Điều 2 Hiến chương Liên hợp quốc, có thể thấy 7 nguyên tắc cơ bản của luật
quốc tế gồm: Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia, Nguyên tắc tận
tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế, Nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe dọa
dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế, Nguyên tắc các quốc gia giải quyết tranh chấp quốc
tế bằng phương pháp hòa bình, Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của
quốc gia khác, Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác, Nguyên tắc dân tộc tự quyết. B.
Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế a)
Đặc điểm chung của các nguyên tắc I.
Tính mệnh lệnh bắt buộc chung ( jus cogens )
7 nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế đều có giá trị bắt buộc áp dụng đối với mọi
chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế. Đây là đặc điểm cốt lõi để phân biệt
giữa nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế với các nguyên tắc khác thuộc hệ thống pháp
luật quốc tế. Biểu hiện ở hai phương diện sau:
Tất cả các chủ thể của luật quốc tế đều phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc này
trong mọi mối quan hệ quốc tế. Mọi hành vi nhằm tự ý thay đổi nội dung các nguyên
tắc cơ bản của luật quốc tế đều bị coi là hành vi bất hợp pháp, vi phạm nghiêm trọng luật quốc tế.
Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế là thước đo tính hợp pháp hay không hợp
pháp của mọi quy phạm pháp luật quốc tế. Bất cứ quy phạm luật quốc tế nào mà có nội
dung trái với các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế đều bị vô hiệu tuyệt đối. II. Tính phổ biến
Đặc điểm này được các chủ thể Luật quốc tế thừa nhận rộng rãi
Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế được ghi nhận rộng rãi trong các văn
kiện quốc tế, trong đó đầu tiên và quan trọng nhất là trong Hiến chương Liên hợp quốc
và rất nhiều điều ước quốc tế song phương, đa phương cũng như những văn kiện quốc
tế quan trọng khác. Ví dụ: Tuyên bố trao trả độc lập cho các nước thuộc địa và phụ
thuộc 1960, Tuyên bố của Đại hội đồng Liên hợp quốc về các nguyên tắc của luật quốc
tế 24/10/1970, Định ước Hen-xin-ki ngày 01/8/1975 về an ninh và hợp tác các nước châu Âu,….
Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế không chỉ tồn tại với tư cách là quy
phạm điều ước mà còn tồn tại với tư cách là tập quán quốc tế. Do đó, các nguyên tắc
này ràng buộc cả các chủ thể tham gia và cả những chủ thể không tham gia quan hệ
điều ước ( tác động đến cả những lĩnh vực quan hệ của các chủ thể mà chưa được quy
phạm cụ thể điều chỉnh) III. Tính bao trùm
Tính bao trùm là chuẩn mực để xác định tính hợp pháp của toàn bộ hệ thống các
quy phạm pháp luật quốc tế
Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế có hiệu lực đối với mọi lĩnh vực của
quan hệ quốc tế. Bảy nguyên tắc được áp dụng 1 cách thống nhất, bắt buộc trong tất cả
mọi lĩnh vực của đời sống quốc tế từ chính trị kinh tế văn hóa xã hội IV. Tính kế thừa
Tính kế thừa nhằm kế thừa và phát triển những nội dung tiến bộ. Tính kế thừa
trong lịch sử phát triển của các nguyên tắc cơ bản
Những nguyên tắc của luật quốc tế không ra đời cùng 1 lúc mà có nguyên tắc ra
đời trước, có nguyên tắc ra đời sau. Và những nguyên tắc ra đời sau sẽ kế thừa đồng
thời phát triển và loại bỏ những nội dung chưa phù hợp và phát triển những nội dung
tiến bộ để nguyên tắc này ngày càng phù hợp hơn với luật quốc tế V. Tính tương hỗ
Các nguyên tắc có mối quan hệ mật thiết với nhau. Các nguyên tắc cơ bản của
luật quốc tế tồn tại trong một chỉnh thể thống nhất có mối quan hệ qua lại biện chứng 5
lẫn nhau. Chỉ tồn tại trong sự tác động qua lại mà chúng mới có khả năng hoàn thành các chức năng của mình
Cụ thể: trong nhiều trường hợp một phần nội dung của nguyên tắc này được lồng
ghép trong nội dung của nguyên tắc khác. Do vậy việc thực hiện nguyên tắc này cũng
chính là thực hiện một phần nội dung của nguyên tắc khác, đôi khi việc thực hiện
nguyên tắc này cũng đang thực hiện nguyên tắc khác (ví dụ: nguyên tắc bình đẳng chủ
quyền và nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ, nguyên tắc bình đẳng chủ
quyền và dân tộc tự quyết).
Việc thực hiện tốt, triệt để nguyên tắc này sẽ là tiền đề để thực hiện nguyên tắc
khác. Ví dụ: Nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế có vai trò trực tiếp
bổ sung cho nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế.
Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền có liên hệ chặt chẽ với nguyên tắc không can thiệp
vào công việc nội bộ của quốc gia khác.
Do vậy khi giải thích và thực hiện các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế phải
được đặt trong một chỉnh thể thống nhất, phải xem xét từng nguyên tắc trong mối quan
hệ với các nguyên tắc khác. b)
Nội dung các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế
Nguyên tắc truyền thống I.
Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia 1. 1
Cơ sở pháp lý
- Khoản 1 điều 2 Hiến chương LHQ: “Liên hợp quốc được xây dựng trên nguyên
tắc bình đẳng chủ quyền của tất cả các quốc gia thành viên” - Tuyên bố 1970 của LHQ 1. 2
Nội dung nguyên tắc
Bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia có nội dung như sau: -
Các quốc gia bình đẳng về mặt pháp lí; -
Mỗi quốc gia có chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ; -
Mỗi quốc gia có nghĩa vụ tôn trọng quyền năng chủ thể của các quốc gia khác; 6 -
Sự toàn vẹn lãnh thổ và tính độc lập về chính trị là bất di bất dịch; -
Mỗi quốc gia có quyền tự do lựa chọn và phát triển chế độ chính trị, xã hội,
kinh tế và văn hóa của mình; -
Mỗi quốc gia có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ và tận tâm các nghĩa vụ quốc tế
của mình và tồn tại hòa bình cùng các quốc gia khác.
Theo nguyên tắc này, mỗi quốc gia đều có các quyền bình đẳng sau: -
Được tôn trọng về quốc thể, sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, về chế độ
chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa; -
Được tham gia giải quyết các vấn đề có liên quan đến lợi ích của mình; -
Được tham gia các tổ chức quốc tế; hội nghị quốc tế với các lá phiếu có giá trị ngang nhau; -
Được kí kết và gia nhập các điều ước quốc tế có liên quan; -
Được tham gia xây dựng pháp luật quốc tế, hợp tác quốc tế bình đẳng với các quốc gia khác; -
Được hưởng đầy đủ các quyền ưu đãi, miễn trừ và gánh vác các nghĩa vụ như các quốc gia khác.
Nguyên tắc này cấu thành từ hai bộ phận: Chủ quyền và Bình đẳng. Mọi quốc
gia đều có chủ quyền và chủ quyền đó là bình đẳng với nhau. Chủ quyền là khái niệm
trung tâm của luật pháp quốc tế đương đại, là quyền lực tối cao của một quốc gia bên
trong lãnh thổ của mình và bên ngoài lãnh thổ trong quan hệ với các quốc gia khác. 1. 3
“Chủ quyền” và “Bình đẳng”
“Chủ quyền” quốc gia được xem là nền tảng tiền đề cho các nguyên tắc của luật
quốc tế. Nhận định nêu trên đã được nhiều lần khẳng định lại trong mọi vụ việc quốc tế
có liên quan. Trước hết, một quốc gia có chủ quyền, điều đó có nghĩa là quốc gia đó
quyền lực tối cao trong thực hiện chức năng đối nội trên phạm vi lãnh thổ của bản thân
quốc gia. Tiếp theo, khi nói đến chủ quyền là nói đến việc quốc gia có thể tự do, độc lập
thiết lập các mối quan hệ quốc tế.
Thuật ngữ “Bình đẳng” là để chỉ đặc tính thiết yếu của nguyên tắc các quốc gia
bình đẳng về chủ quyền. Các quốc gia, với tư cách là chủ thể của luật quốc tế, theo đó 7
sẽ có quyền và nghĩa vụ như nhau. Tuy nhiên, các Điều ước quốc tế đã phân chia quyền
và nghĩa vụ của các quốc gia thành những thành phần rất đa dạng. Ví dụ một quốc gia
kín (không có biển) thì sẽ không thể có các quyền và nghĩa vụ như các quốc gia ven
biển, Vậy nên hiểu “Bình đẳng về chủ quyền” là bình đẳng về quyền và nghĩa vụ pháp
lý của các quốc gia. Bình đẳng là không một quốc gia nào bị rằng buộc về mặt pháp lý
mà; trái với ý muốn của quốc gia đó; hay có thể hiểu là: một quốc gia sẽ không có thẩm
quyền về mặt pháp lý với một quốc gia khác mà không có sự đồng ý của quốc gia đó.
Cũng vì thế mà các Điều ước quốc tế chỉ có tính ràng buộc đối với các quốc gia kí kết.
Từ đó có thể suy ra rằng: sự bình đẳng về chủ quyền là sự bình đẳng tương đối trong
chức năng đối ngoại giữa các quốc gia.
Tuyên bố về các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế trong Nghị quyết 2625 năm
1970 của Đại hội đồng Liên hợp quốc – Tuyên bố này được xem là một văn bản “giải
thích có giá trị” (authoritative interpretation) của Hiến chương, – đã giải thích rõ ràng
nội hàm của nguyên tắc này: - Bình đẳng về pháp lý; -
Được hưởng các quyền theo xuất phát từ chủ quyền hoàn toàn; -
Có nghĩa vụ tôn trọng tư cách của các quốc gia khác; -
Bất khả xâm phạm về toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị, -
Có quyền tự do lựa chọn và phát triển chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội -
Có nghĩa vụ tuân thủ đầy đủ và thiện chí nghĩa vụ quốc tế và chung sống
hòa bình với các quốc gia khác. 1. 4
Trường hợp ngoại lệ -
Trường hợp tự hạn chế quyền: Hành động này xuất phát từ ý chí của quốc
gia, chủ quyền của quốc gia là do quốc gia tự định đoạt, do đó hành vi này không vi
phạm nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền của các quốc gia. -
Trường hợp bị hạn chế quyền:
oVi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc tế
oSự lên án của cộng đồng quốc tế 8 1. 5 Thực tiễn
Phán quyết giải quyết vụ án giữa Nicaragua và Mỹ của Tòa án Công lý quốc tế ngày 27 tháng 8 năm 1986.
Năm 1979, chế độ Sandinista giành chính quyền ở Nicaragua và mở chiến dịch
giải phóng Honduras, El Salvador và Costa Rica. Nicaragua cung cấp vũ khí, đạn dược,
trang thiết bị khí tài, tài chính cho phong trào kháng chiến BI Salvador
Ngày 23/11/1981, Tổng thống Mỹ Ronald Reagan ký Chi thị 17 trao quyền cho
Cục tình báo trung ương (CIA) thành lập lực lượng Contra để lật đổ chế độ Sandinista ở
Nicaragua, đồng thời viện trợ quân sự cho Honduras và El Salvador. Mỹ đã đào tạo, vũ
trang, cung cấp tài chính và nhu yếu phẩm cho lực lượng Contra và hỗ trợ các hoạt
động quân sự và bán quân sự chống lại Nicaragua.
Trong các năm 1983 – 1984, Mỹ tấn công vũ trang vào Nicaragua bằng đường
biển, đường bộ và đường không vào các căn cứ Puerto Sandino, Corinto, Potosi và các
tàu tuần tra ở Puerto Sandino. Đồng thời. Mỹ tiếp tục sử dụng các biện pháp trực tiếp và
gián tiếp để cưỡng ép và đe dọa chính phủ Nicaragua, sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng
vũ lực chống lại Nicaragua bằng việc đặt mìn ở nội thủy và lãnh hải của Nicaragua
trong những tháng đầu năm 1984, can thiệp vào công việc nội bộ của Nicaragua, cản trở
thương mại đường biển hòa bình; giết hại, gây thương vong và bắt cóc người dân Nicaragua.
Ngày 09/4/1984, Nicaragua kiện Mỹ lên Tòa án Công lý quốc tế (ICD) Ngày
18/01/1985, Mỹ tuyên bố không tham gia vụ kiện và bác bỏ thẩm quyền của ICJ nhưng
ICJ khẳng định có thẩm quyền và vụ kiện vẫn tiếp diễn mặc dù không có sự tham gia
của Mỹ. ICJ từ chối lập luận của Mỹ về việc sử dụng quyền tự vệ tháp thể để chống lại
Nicaragua, yêu cầu Mỹ phải ngừng các hành vi của mình và bôi thưởng thiệt hại cho Nicaragua,
Từ năm 1982 – 1985, Mỹ năm lần dùng quyền phủ quyết khi vấn đề đưa ra Hội
đồng Bảo An Liên hợp quốc. Ngày 28/10/1986, Mỹ tiếp tục phủ quyết nghị quyết của
Hội đồng Bảo An kêu gọi thực hiện phán quyết. Ngày 03/11/1986 nghị quyết này được 9
đưa ra Đại hội đồng Liên hợp quốc và được thông qua với số phiếu 9497 nhưng Mỹ vẫn
không tuân thủ phân quyết.
- Theo Điều 2 khoản 7 Hiến chương Liên Hợp quốc và Tuyên bố 1970, Mỹ đã
đào tạo, vũ trang, cung cấp tài chính và nhu yếu phẩm cho lực lượng Contra và hỗ trợ
các hoạt động quân sự và bán quân sự chống lại Nicaragua, và vi phạm nghĩa vụ theo
công pháp quốc tế trong việc không được can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác.
-Theo Điều 2 khoản 4 Hiến chương Liên Hợp quốc và Tuyên bố 1970, Bằng việc
tấn công vào lãnh thổ Nicaragua trong các năm 1983 - 1984, Mỹ đã vì phạm công pháp
quốc tế trong việc sử dụng vũ lực chống lại nước khác.
- Theo Điều 2 khoản 1 Hiến chương Liên Hợp quốc và Tuyên bố 1970, Với các
hành động tấn công trên, Mỹ đã vi phạm chủ quyền của nước khác Bằng việc đặt mìn ở
nội thủy và lãnh hải của Nicaragua trong những tháng đầu năm 1984, Mỹ đã vi phạm
công pháp quốc tế trong việc không được sử dụng vũ lực chống lại nước khác, không
được can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác, không được cản trở thương mại đường biển hòa bình.
- Căn cứ vào Điều 27 Hiến chương Liên Hợp quốc, Mỹ đã thực hiện quyền phủ
quyết (quyền veto) của minh phủ quyết việc thông qua nghị quyết thúc đẩy thực hiện
phân quyết của ICJ xét xử vụ án của Mỹ và Nicaragua mà bên thua là Mỹ. Mặc dù mục
đích sử dụng quyền phủ quyết là đi ngược lại tinh thần bác đảm thực thi pháp luật quốc
tế nhưng thẩm quyền sử dụng quyền phủ quyết là hợp pháp vì tranh chấp trên không
thuộc đổi chiếu chương VI và Điều 52 Hiển chương Liên Hợp quốc. II.
Nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế (Pacta- sunt-servanda) 2.1
Cơ sở pháp lý
Khoản 2 Điều 2 Hiến chương Liên Hợp Quốc, Điều 26 của Công ước Viên về
Luật điều ước quốc tế năm 1969, Tuyên bố ngày 24/10/1970 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc. 2.2
Nội dung nguyên tắc
Tuyên bố 1970 về các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế gồm: 10 -
Nguyên tắc các quốc gia thực hiện vợi sự thiện chí các nghĩa vụ của mình
phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc. -
Mọi quốc gia có nghĩa vụ thực hiện với sự thiện chí các nghĩa vụ của mình
phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc -
Mỗi quốc gia có nghĩa vụ thực hiện với sự thiện chí những nghĩa vụ của
mình theo những nguyên tắc và quy phạm được luật quốc tế thừa nhận chung -
Mỗi quốc gia có nghĩa vụ thực hiện với sự thiện chí những nghĩa vụ của
mình trong những thỏa thuận có hiệu lực theo những nguyên tắc và quy phạm được luật
quốc tế thừa nhận chung. -
Khi mà những nghĩa vụ phát sinh từ các điều ước quốc tế mâu thuẫn với
những nghĩa vụ của các Thành viên Liên hợp quốc thoe Hiến chương Liên hợp quốc thì
những nghĩa vụ theo Hiến chương sẽ có ưu thế hơn.”
Theo đó, mỗi quốc gia phải thiện chí thực hiện các nghĩa vụ quốc tế do Hiến
chương đặt ra, các nghĩa vụ quốc tế phát sinh từ các quy phạm và nguyên tắc được công
nhận rộng rãi của Luật quốc tế. Như vậy nội dung chính của nguyên tắc này là:
Mọi quốc gia đều có nghĩa vụ thực hiện tự nguyện và có thiện chí, trung thực và
đầy đủ các nghĩa vụ điều ước quốc tế của mình: các nghĩa vụ phát sinh từ Hiến chương
Liên hợp quốc; các nghĩa vụ phát sinh từ các nguyên tắc và quy phạm được thừa nhận
rộng rãi của luật quốc tế; nghĩa vụ theo các đều ước quốc tế mà quốc gia là thành viên.
Nguyên tắc thiện chí là nội hàm không thể tách rời của nguyên tắc pacta sunt servanda
và các bên ký kết có nghĩa vụ phải thực thi các điều ước đang có hiệu lực một cách thiện chí.
Mọi quốc gia phải tuyệt đối tuân thủ việc thực hiện nghĩa vụ điều ước quốc tế,
tuân thủ một cách triệt để, không do dự các điều ước quốc tế đang có hiệu lực đối với
các bên ký kết thì đều ràng buộc đối với các bên đó, từ “pacta” có nghĩa là thỏa thuận,
là hợp đồng, là điều ước, và vì nguyên tắc này ghi nhận chính yếu trong Công ước Viên
về Luật điều ước quốc tế năm 1969 vì vậy bất kể chính điều ước quốc tế có ghi nhận
trong điều khoản về nguyên tắc pacta sunt servanda hay không thì các quốc gia phải
tuyệt đối tuân thủ việc thực hiện nghĩa vụ điều ước quốc tế. 11
Theo Điều 25 của Công ước Viên 1969 (provisional application) thì điều ước
“đang có hiệu lực” cũng bao gồm cả trường hợp áp dụng tạm thời điều ước và điều ước
không “đang có hiệu lực” bao gồm điều ước chưa có hiệu lực, điều ước bị vô hiệu, và
điều ước đã bị đình chỉ thi hành hay hủy bỏ.
Các quốc gia thành viên điều ước quốc tế không được viện dẫn các quy định của
pháp luật trong nước để coi đó là nguyên nhân và từ chối thực hiện nghĩa vụ của mình.
Các quốc gia không có quyền ký kết điều ước quốc tế mâu thuẫn với nghĩa vụ
của mình được quy định trong điều ước quốc tế hiện hành mà quốc gia ký kết hoặc
tham gia ký kết trước đó với các quốc gia khác.
Không cho phép các quốc gia đơn phương ngừng thực hiện và xem xét lại điều
ước quốc tế. Hành vi này chỉ được thực hiện với phương thức đình chỉ và xem xét hợp
pháp theo sự thỏa thuận của các bên là thành viên điều ước.
Việc cắt đứt quan hệ ngoại giao hay quan hệ lãnh sự giữa các nước thành viên
của điều ước quốc tế không làm ảnh hưởng đến các quan hệ pháp lý phát sinh giữa các
quốc gia này, trừ trường hợp các quan hệ ngoại giao hoặc lãnh sự này là cần thiết cho
việc thực hiện điều ước (Điều 63 Công ước Viên năm1969). 2.3
Trường hợp ngoại lệ -
Khi Điều ước quốc tế có nội dung trái với Hiến chương Liên hiệp quốc,
nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc tế. -
Quốc gia không phải thực hiện Điều ước quốc tế khi một trong các bên
hoặc các bên vi phạm quy định của pháp luật quốc gia về thẩm quyền và thủ tục kí kết điều ước quốc tế. -
Khi một thành viên không thực hiện nghĩa vụ điều ước của mình thì một
hoặc các thành viên khác có quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ. -
Quốc gia có quyền từ chối thực hiện điều ước quốc tế khi có sự thay đổi cơ
bản của hoàn cảnh trừ các cam kết về biên giới. 12 2.4 Thực tiễn
2.4.1. Trung Quốc đặt giàn khoan
Vụ việc khoảng 05h22' ngày 01/5/2014, Cơ quan chức năng Việt Nam phát hiện
giàn khoan nước sâu Hải Dương 981 và 03 tàu dịch vụ dầu khí của phía Trung Quốc ở
cách bờ biển Việt Nam 130 hải lý để tiến hành khoan thăm dò thềm lục địa của Việt
Nam đồng thời huy động nhiều tàu bảo vệ đi cùng. Các tàu này đã cố tình đâm, va vào
tàu cảnh sát biển và tàu kiểm ngư của Việt Nam đang hoạt động chấp pháp tại vùng đặc
quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, gây thiệt hại về người và tài sản. Trung
Quốc vi phạm nguyên tắc Pacta sunt servanda vì Trung Quốc vốn là thành viên Liên
Hiệp Quốc mà không tuân theo Hiến chương Liên Hiệp Quốc 1945; là thành viên của
Công ước quốc tế về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) mà Trung Quốc đã công khai vi
phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam tại vùng đặc
quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, do UNCLOS 1982 quy định. Trung Quốc đã vi
phạm Tuyên bố về cách ứng xử trên biển Đông (DOC) mà họ đã ký kết với các nước
ASEAN năm 2002... Như vậy, qua các sự kiện xảy ra, Trung Quốc rõ ràng đã vi phạm
nguyên tắc Pacta sunt servanda.
2.4.2. Vụ kiện Philippines với Trung Quốc
Philippines đệ đơn vào ngày 22 tháng 1 năm 2013 để khởi kiện Trung Quốc theo
Phụ lục VII, Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS) về một số tranh chấp
giữa hai nước liên quan việc giải thích và áp dụng UNCLOS ở Biển Đông. Tòa Trọng
tài thường trực (PCA) được lựa chọn làm cơ quan thư ký của vụ kiện. Vào ngày 29
tháng 10 năm 2015, Tòa Trọng tài thành lập hợp pháp theo Phụ lục VII đã ra phán quyết
sơ bộ, tuyên bố có thẩm quyền thụ lý, xét xử vụ kiện này, bất chấp việc Trung Quốc từ
chối tham gia vào quá trình xét xử.
Trong khi đó, Trung Quốc là bên ký kết và phê chuẩn UNCLOS có nghĩa là họ
đồng ý với toàn bộ Công ước, trong đó có những phần và điều khoản liên quan đến giải
quyết tranh chấp. Philipines đã căn cứ vào mục giải quyết tranh chấp bắt buộc của Công
ước để đưa các vấn đề ra Tòa. Công ước cũng quy định rõ thủ tục thành lập Tòa và quy
trình xét xử nếu một bên trực tiếp liên quan không tham gia và trên thực tế, Tòa trọng 13
tài vụ kiện Philippines - Trung Quốc đã được thành lập và tiến hành xem xét các nội
dung theo đúng các quy trình này. Vì vậy, khi phán quyết được ban hành, là một thành
viên của UNCLOS, Trung Quốc có nghĩa vụ tận tâm, thiện chí thực hiện các quy định
của Công ước, trong đó có nghĩa vụ thực thi phán quyết của Tòa Trọng tài. Ngoài ra,
Trung Quốc từng tuyên bố rút khỏi UNCLOS nhưng cũng sẽ không làm mất đi nghĩa vụ
của họ phải thực hiện theo phán quyết của Tòa Trọng tài do không ảnh hưởng đến giá
trị pháp lý của phán quyết. Mặc dù vậy Trung Quốc vẫn thi hành chính sách ba không:
không công nhận thẩm quyền của Tòa, không tham gia, không chấp nhận thi hành phán
quyết. Việc không thực thi phán quyết được coi là hành vi vi phạm luật quốc tế.
Nguyên tắc hình thành trong thời kỳ luật quốc tế hiện đại III.
Nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế 3.1
Cơ sở pháp lý
- Điều 2, khoản 4, Hiến chương Liên hợp quốc (điều 39, 41, 42): “Tất cả các
quốc gia thành viên Liên hợp quốc từ bỏ đe dọa bằng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong
quan hệ quốc tế nhằm chống lại sự bất khả xâm phạm về lãnh thổ hay nền độc lập chính
trị của bất kỳ quốc gia nào cũng như bằng cách khác trái với những mục đích của Liên hợp quốc.”
- Tuyên bố 1970 của Đại hội đồng LHQ về các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế
- Xâm lược: (Nghị quyết 12/4/1974 của đại hội đồng LHQ)
- Sử dụng vũ lực: sử dụng lực lượng vũ trang để chống lại quốc gia độc lập có chủ quyền 3.2
Một số khái niệm cơ bản “Vũ lực”
Thuật ngữ “vũ lực” theo Hiến chương Liên Hợp Quốc không chỉ đơn thuần là
sức mạnh vũ trang. Khái niệm “vũ lực” được sử dụng trong Hiến chương được hiểu là
sức mạnh vũ trang hay bao gồm cả các loại sức mạnh phi vũ trang khác như sức mạnh
về kinh tế, chính trị, sử dụng lực lượng vũ trang không nhằm tấn công xâm lược quốc 14
gia khác nhưng để gây sức ép, đe dọa đến quốc gia đó. Ví dụ: tập trung quân ở biên giới
với số lượng lớn, chuẩn bị một cuộc tấn công tập trận ở biên giới nhằm biểu dương lực
lượng đe dọa quốc gia láng giềng, gửi tối hậu thư đe dọa quốc gia khác... Những hoạt
động này cũng bị coi là vi phạm nguyên tắc “cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa bằng vũ lực”.
“Đe dọa sử dụng vũ lực”
Trong Ý kiến tư vấn về Tính hợp pháp của việc đe dọa sử dụng hay sử dụng vũ
khí hạt nhân, Tòa ICJ giải thích rằng việc một quốc gia tuyên bố sẽ sử dụng một loại vũ
khí nào đó (có thể là vũ khí hạt nhân) để tự vệ nếu bị tấn công có được xem là “đe dọa
sử dụng vũ lực” theo Điều 2 hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Tòa cho rằng
tiêu chí xác định nằm ở việc quốc gia đe dọa sử dụng cái gì; nếu việc sử dụng vũ lực
theo cách thức nhất định là vi phạm Điều 2 thì việc đe dọa sử dụng vũ lực theo cách
thức đó sẽ là “đe dọa” vi phạm Điều này. Ví dụ, nếu nước A đe dọa thực hiện việc A,
mà việc A đó được xác định là sử dụng vũ lực theo Điều 2 nếu xảy ra, thì việc đe dọa sẽ
cấu thành “đe dọa sử dụng vũ lực” bị cấm ở Điều 2. 3.3
Nội dung nguyên tắc
Nội dung của nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan
hệ quốc tế được ghi nhận cụ thể trong Tuyên bố 1970 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc:
“Mỗi quốc gia có nghĩa vụ từ bỏ việc đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng vũ lực để vi phạm
biên giới quốc gia của các nước khác hoặc dùng nó làm phương tiện để giải quyết các
tranh chấp quốc tế, kể cả các tranh chấp về lãnh thổ và các vấn đề có liên quan đến biên giới các nước”.
Nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoăc đe dọa dùng vũ lực được khái quát hóa trong
Tuyên bố 1970 ở những nội dung sau: -
Cấm xâm chiếm lãnh thổ quốc gia hoặc sử dụng lực lượng vũ trang vượt
qua biên giới tiến vào lãnh thổ quốc gia khác; -
Cấm cho quân vượt qua biên giới quốc tế, trong đó có giới tuyến hòa giải; -
Cấm các hành vi đe dọa trấn áp bằng vũ lực; 15 -
Không cho phép quốc gia khác sử dụng lãnh thổ của mình để tiến hành
xâm lược chống nước thứ ba; -
Không tổ chức, khuyến khích, xúi giục, giúp đỡ hay tham gia vào nội chiến
hay các hành vi khủng bố tại quốc gia khác; -
Không tổ chức, giúp đỡ các băng đảng vũ trang, nhóm vũ trang, lính đánh
thuê đột nhập phá hoại lãnh thổ quốc gia khác; -
Cấm tuyên truyền chiến tranh xâm lược.
Như vậy nguyên tắc này không chỉ bao gồm việc cấm sử dụng lực lượng vũ
trang hoặc khuyến khích sử dụng vũ trang mà còn cấm cả những biện pháp khác nhằm
chống lại chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia. 3.4
Trường hợp ngoại lệ
Các quốc gia vẫn được phép sử dụng vũ lực ít nhất trong hai trường hợp. -
Thứ nhất, việc sử dụng vũ lực vì tự vệ chống lại một cuộc tấn công vũ
trang là được phép (quyền tự vệ) theo Điều 51. Quyền tự vệ bao gồm tự vệ cá nhân và
tự vệ tập thể và đây là quyền tự nhiên của tất cả mọi quốc gia không chỉ theo quy định ở
Điều 51 mà còn theo tập quán quốc tế. Các biện pháp vũ lực được sử dụng để tự vệ phải
thỏa mãn điều kiện về tính cần thiết và tính tương xứng . -
Thứ hai, các quốc gia có thể sử dụng vũ lực nếu Hội đồng Bảo an cho theo
thẩm quyền của cơ quan này quy định tại Chương VII Hiến chương. Điều 39 và 42 của
Chương VII trao cho Hội đồng Bảo an quyền lực gần như không có giới hạn về việc xác
định khi nào sử dụng vũ lực và biện pháp sử dụng vũ lực nào được sử dụng.
Đây là hai ngoại lệ được chấp nhận rộng rãi và không một quốc gia nào phủ
nhận hay phản bác chúng. 3.5 Thực tiễn
3.5.1. Tóm tắt vụ việc giữa Nga và Ukraine
Cuộc khủng hoảng chính trị Nga – Ukraine hiện nay bắt nguồn từ sau khi kết
thúc chiến tranh lạnh đến nay, gần hơn là năm 2014 khi Nga sáp nhập bán đảo Crimea
tiếp theo là một số bất ổn ở khu vực Donbass, phía đông Ukraine – nơi có 2 nước cộng
hòa tự xưng là Donetsk (DPR) và Luhansk (LPR) 16
Gần đây nhất là cuối năm 2021 đến nay tình hình trở nên đặc biệt căng thẳng vào
thời điểm tháng 12/2021, Nga gửi đến Mỹ và Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương
(NATO) bản đề nghị an ninh gồm 8 điểm trong đó nêu rõ những quan ngại về an ninh
được coi là những “lằn ranh đỏ”.
Xoay quanh việc Nga triển khai lực lượng quân sự lớn tới khu vực giáp biên giới
với Ukraine từ cuối tháng 11/2021. Ngày 22/2/2022, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã
công bố quyết dịnh công nhận độc lập của 2 nước DPR và LPR, đồng thời điều quân
đến đây để thực hiện “nhiệm vụ gìn giữ hòa bình”. Trước nguy cơ an ninh ngày càng
hiện hữu sau khi Ukraine dự kiến kí kết một hiệp định quân sự chiến lược với Anh và
Ba Lan vào ngày 24/2/2022, Tổng thống Nga Vdilamir Putin quyết định tuyên bố mở
chiến dịch quân sự đặc biệt ở miền đông Ukraine, nhằm đắp lại lời đề nghị hỗ trợ đảm
bảo an ninh của lãnh đạo hai nước DPR và LPR.
Sau đó có sự can thiệp của Tòa án Công Lý (IJC), trong số 15 thẩm quán của ICJ
thì có 13 người đồng ý yêu cầu Nga “ngừng ngay lập tức” các hoạt động quân sự ở
Ukraine. Có hai người phản đối là thẩm phán quốc tịch Nga và Trung Quốc.
Theo ý kiến của nhóm thì Nga đang vi phạm nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe
dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế với Ukraine. Vì trong vụ việc trên Nga đã vi
phạm nội dung của nguyên tắc, Nga đã dùng vũ khí sức mạnh về quân sự để can thiệp
vào Ukraine (không cho Ukraine gia nhập vào NATO, không cho mở rộng lãnh thổ về
phía đông...) đây hoàn toàn là những nguyên nhân không nằm trong Liên Hợp Quốc,
cũng không nằm trong nguyên tắc ngoại lệ của nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực với Ukraine.
Nếu Ukraine chống trả lại Nga thì hợp lệ vì Ukraine đang thực hiện quyền tự về
của quốc gia mình khi có sự tấn công vũ trang của các quốc gia khác. (điều 51 Hiến chương Liên Hợp Quốc).
3.5.2. Vụ việc chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 giữa Iraq và liên quân 30
quốc gia thuộc Liên Hợp quốc.
Ngày 02 tháng 8 năm 1990, Iraq tiến hành chiến tranh xâm chiếm Kuwait sau
khi Iraq cho rằng Kuwait đã "khoan nghiêng" giếng dầu của họ vào biên giới Iraq. Tuy 17
nhiên, Iraq không đưa ra được những căn cứ chứng minh cụ thể hành vi của Kuwait.
Năm 1991, chiến tranh Vùng Vịnh với sự tham gia của Hoa Kỷ với tư cách là thành
viên Hội đồng Bảo An của Liên Hợp Quốc đã cùng với gần 30 quốc gia tham chiến giải phóng Kuwait.
Hậu quả của cuộc xâm chiếm là Iraq phải rút quân về nước và ngay lập tức bị
Liên Hiệp Quốc áp đặt trừng phạt kinh tế. Theo quan điểm của nhóm:
Hành vi xâm chiếm của Iraq là vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc cơ bản của
Luật Quốc tế. Đó là hành vi vi phạm những nguyên tắc sau đây, nguyên tắc bình đẳng
chủ quyền giữa các quốc gia, nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực;
nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế.
Theo Điều 2 khoản 1 Hiến chương Liên Hợp quốc và Tuyên bố 1970. Hành vi
xâm chiếm lãnh thổ Kuwait của Iraq đã xâm phạm về chủ quyền, về sự toàn vẹn lãnh thổ của Kuwait.
Theo Điều 2 khoản 4 Hiến chương Liên Hợp quốc và Tuyên bố 1970, Hành vi sử
dụng vũ trang của Iraq xâm chiếm Kuwait là vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc cấm sử
dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực.
Theo Điều 2, khoản 3 và Điều 33 Hiến chương Liên Hợp quốc và Tuyên bố
1970, việc sử dụng vũ lực thay thế cho việc sử dụng các biện pháp hòa bình để giải
quyết tranh chấp là hành vi vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc tế.
Việc Kuwait sử dụng biện pháp vũ trang đáp trả hành vi xâm chiếm của Iraq là
phù hợp với các nguyên tắc cơ bản. Đó là trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc cấm sử
dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, tức là hành vi tự vệ quốc gia khi bị quốc gia khác
sử dụng các biện pháp vũ trang xâm chiếm lãnh thổ quốc gia mình.
Theo Chương VII (từ Điều 39 đến 51) Hiến chương Liên Hợp quốc và Tuyên bố
1970, việc Liên Hợp quốc can thiệp vào cuộc chiến là hoàn toàn hợp pháp. Xét về pháp
lý, hành vi can thiệp vào cuộc chiến phù hợp với quy định về thẩm quyền, mục đích của
Hiến chương Liên Hợp quốc. Mục đích của Liên hợp quốc là duy trì hoà bình và an 18
ninh quốc tế, và để đạt được mục đích đó, thị hành những biện pháp tập thể có hiệu quả
để phòng ngừa và loại trừ các mối đe dọa hoà bình, cấm mọi hành vi xâm lược và phá
hoại hoà bình khác, điều chỉnh hoặc giải quyết các vụ tranh chấp hoặc những tình thể có
tinh chất quốc tế có thể đưa đến sự phá hoại hoà bình, bằng phương pháp hoà bình theo
đúng nguyên tắc của công lý và pháp luật quốc tế. Do đó, đứng trước tình hình cuộc
chiến làm mất hòa bình, an ninh khu vực và thế giới, Liên Hợp quốc cần can thiệp vào
và giải quyết tranh chấp. Và việc Liên Hợp quốc sử dụng các biện pháp phi vũ trang
(trừng phạt kinh tế) và các biện pháp vũ trang là cấp thiết và hợp pháp. IV.
Nguyên tắc các quốc gia giải quyết tranh chấp quốc tế bằng phương pháp hòa bình 4.1
Cơ sở pháp lý
Khoản 3 Điều 2 Hiến chương Liên hiệp quốc 1945: “Tất cả các thành viên của
Liên hiệp quốc giải quyết các tranh chấp quốc tế của họ bằng biện pháp hoà bình, sao
cho không tổn hại đến hoà bình, an ninh quốc tế và công lí”. 4.2
Nội dung nguyên tắc
Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp được giải thích cụ thể trong Tuyên bố
về các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị giữa các quốc
gia năm 1970 (Tuyên bố năm 1970) của Đại hội đồng Liên hợp quốc. Tuyên bố này
được tòa án quốc tế và các học giả có uy tín xem là văn bản có giá trị giải thích Hiến chương Liên hợp quốc.
Tuyên bố năm 1970 quy định các nghĩa vụ cụ thể của các quốc gia trong nguyên
tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế, cụ thể như sau: -
Nghĩa vụ giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng các biện pháp hòa bình
theo cách thức không gây nguy hiểm cho hòa bình, an ninh và công lý quốc tế; -
Nghĩa vụ tìm kiếm giải pháp cho các tranh chấp một cách nhanh chóng và
công bằng thông qua đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài, biện pháp tư
pháp, sử dụng các tổ chức hay dàn xếp quốc tế hoặc các biện pháp hòa bình khác theo
sự lựa chọn của các bên, phù hợp với hoàn cảnh và bản chất của tranh chấp; 19 -
Nghĩa vụ tiếp tục tìm kiếm giải pháp giải quyết tranh chấp bằng những biện
pháp hòa bình mà các bên chấp nhận trong trường hợp chưa thể giải quyết tranh chấp
bằng bất kỳ biện pháp hòa bình nêu trên;
-Nghĩa vụ hạn chế có hành động có thể làm xấu đi tình huống gây nguy
hiểm cho việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế và phải hành động theo cách thức phù
hợp với mục đích và nguyên tắc của Liên hợp quốc. 4.3
Các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp
Pháp luật quốc tế không quy định và cũng không thể quy định một "công thức"
giải quyết bắt buộc, cứng nhắc cho mỗi loại hình tranh chấp nhất định. Việc sử dụng
một biện pháp cụ thể hoàn toàn do các bên liên quan thoả thuận lựa chọn, chỉ với điều
kiện, đó phải là những biện pháp hoà bình. Theo Hiến chương Liên hiệp quốc, hòa bình
giải quyết các tranh chấp quốc tế là nghĩa vụ phải thực hiện của các quốc gia thành viên.
Điều 33 Hiến chương Liên hiệp quốc đã quy định các biện pháp hòa bình giải
quyết tranh chấp quốc tế mà các bên có thể lựa chọn: “Các bên đương sự trong các cuộc
tranh chấp... phải cố gắng tìm cách giải quyết tranh chấp bằng con đường đàm phán,
điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài, tòa án, sử dụng những tổ chức hoặc những hiệp
định khu vực, hoặc bằng các biện pháp hòa bình khác tùy theo sự lựa chọn của mình”.
Căn cứ vào nội dung của Điều 33 Hiến chương, các biện pháp hòa bình giải
quyết tranh chấp quốc tế có thể chia thành hai nhóm cơ bản: -
Nhóm 1, các biện pháp giải quyết tranh chấp mang tính chất ngoại giao,
gồm: đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, sử dụng những tổ chức hoặc những hiệp định khu vực; -
Nhóm 2, các biện pháp giải quyết tranh chấp bằng tài phán quốc tế, thông
qua các Tòa án quốc tế và Trọng tài quốc tế. 4.3.1
Nhóm biện pháp ngoại giao giải quyết tranh chấp
Những biện pháp ngoại giao dùng để giải quyết tranh chấp quốc tế đã xuất hiện
từ rất sớm và luôn đóng vai trò quan trọng. Kết quả của việc sử dụng các biện pháp 20
ngoại giao thường là các nghị quyết, khuyến cáo của các tổ chức quốc tế hoặc các cam
kết và các điều ước quốc tế được các bên tranh chấp ký kết.
+ Biện pháp đàm phán (thương lượng)
Trong số các biện pháp giải quyết tranh chấp, đàm phán được đánh giá là dễ sử
dụng, áp dụng phổ biến và hiệu quả nhất, có lịch sử lâu đời dựa trên cơ sở trực tiếp nêu
ra các quan điểm và tiếp nhận các ý kiến, lập trường của các bên đối thoại và không có
sự can dự của bên thứ ba. Mục đích, thành phần, cấp tham gia cũng như hình thức của
đảm phán do chính các quốc gia tham gia đàm phán thỏa thuận với nhau, tuy nhiên vẫn
phải tuân theo các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế.
Trong một số trường hợp, đàm phán là nghĩa vụ bắt buộc của các bên tranh chấp
quy định trong các điều ước quốc tế song phương hay đa phương[18]. Ngoài ra, các phán
quyết của các cơ quan tài phán quốc tế cũng có thể trực tiếp yêu cầu các bên tham gia
vào đàm phán với sự thiện chí cũng như đòi hỏi các bên phải đạt được một thỏa thuận
nhất định. Trong vụ tranh chấp Thềm lục địa Biển Bắc, Tòa án Công lý quốc tế đã đưa
ra phán quyết: “Các bên phải tiến hành một cuộc đàm phán nhằm đạt được một thỏa
thuận và họ phải có nghĩa vụ xử sự sao cho cuộc đàm phán có ý nghĩa, đó không phải
là trường hợp mà một trong các bên khăng khăng giữ lập trường của riêng mình không
có bất kỳ một sự điều chỉnh nào”].
+ Biện pháp hòa giải bởi một bên trung gian
Trung gian hòa giải là biện pháp giải quyết tranh chấp quốc tế mang tính ngoại
giao có sự tham gia của bên thứ ba với sự chấp nhận của các bên tranh chấp, đã được
quy định trong các Công ước La Hay 1899 và 1907. Nhiệm vụ của bên trung gian là
khuyến khích, động viên các quốc gia có liên quan đến tranh chấp giải quyết vụ tranh
chấp bằng biện pháp hòa bình, cụ thể là việc tác động để các bên tiếp xúc ngoại giao và
tiến hành các cuộc đàm phán chính thức. Bên trung gian hòa giải này có thể là một hoặc
số quốc gia, một hoặc một số cá nhân có uy tín và cũng có thể là thông qua cơ quan của tổ chức quốc tế. 21