







Preview text:
lOMoAR cPSD| 61463864 Thành viên nhóm Lớp Đóng góp Đánh giá Bùi Mai Linh (nhóm E1 – Triết Nội dung, PowerPoint, 10/10 trưởng) Word, Thuyết trình Hoàng Bảo Chức E1 – Triết Nội dung 3/10 Trần Quốc Huy E1 – Triết Nội dung 3/10
Sầm Hoàng Khánh Duy E1 – Triết Nội dung 3/10 Vũ Thuỵ Ngọc Anh E1 – Triết Nội dung 3/10 Tưởng Thế Nguyên E2 – Triết Nội dung 3/10 Phạm Thị Thu Phương E2 – Triết Nội dung 3/10 Đinh Thanh Trúc E2 – Triết Nội dung, thuyết trình 6/10 Nhóm 3 lOMoAR cPSD| 61463864
1. Khái quát chung về nguồn gốc và bản chất của Phật giáo Phật giáo được Thích Ca
Mâu Ni (Shakyamuni) truyền giảng ở miền đông Ấn Độ vào thế kỷ 6 TCN, ra đời cách
đây khoảng 2.600 năm khi một thái tử người Ấn Độ là Tất-Đạt-Đa (Siddhattha) giác ngộ
thành đạo, trở thành một vị Phật (Buddha), có nghĩa là “người giác ngộ”, sau nhiều năm
tu hành gian khổ để đi tìm câu trả lời cho câu hỏi “làm thế nào để con người thoát khỏi khổ- đau và sinh-tử”.
Những lời dạy của Phật đã được ghi chép và bảo tồn bởi đại đa số tu sĩ đệ tử của
Người trong tàng thư “Tam Tạng Kinh” (Tipitaka), mà nghĩa đen của từ này là “Ba Rổ
Kinh”. Ba rổ kinh (hay quen gọi là Tam Tạng Kinh” theo từ Hán Việt), bao gồm:
• Luật Tạng (Vinaya-pitaka): những giới luật đối với tăng ni, và một số giới luật
dành cho Phật tử tại gia.
• Kinh Tạng (Suttanta-pitaka): tập hợp những bài thuyết giảng của Đức Phật và
những vị đại đệ tử của Phật)
• Diệu Kinh Tạng (Abhidhamma-pitaka): đây là phần triết lý cao học của Phật giáo).
Quê hương Buddha là một đất nước Bắc Ấn, nay là Nepan
Một số đặc điểm của Phật giáo
- Đức Phật là một con người chứ không phải là một Thượng Đế:
Nhiều tôn giáo trên thế giới cho rằng Đấng tối cao của tôn giáo họ tôn thờ luôn luôn
có quyền năng siêu nhiên, có quyền hạn tối cao, điều khiển tất cả nhân loại và vũ trụ.
Chỉ có những ai tin tưởng vào Đấng siêu nhiên này mới có thể được cứu rỗi và đạt được hạnh phúc trường cửu.
Đạo Phật khẳng định mỗi con người trong vũ trụ này là vị chủ nhân của chính mình,
kiểm soát số mệnh của mình và không có một con người nào hay một đấng Thượng đế
quyền năng siêu nhiên kiểm soát. Đức Phật chứng đắc quả vị giác ngộ, những thành tựu
và những kết quả nhờ vào những nỗ lực tu tập lớn lao và trí tuệ của chính Ngài. Trong
Phật giáo, không có một chúng sinh nào cao thượng hơn, giống như Thượng đế cao hơn
tất cả những con người khác. Đức Phật là một con người và chính mọi người có thể trở
thành một vị Phật nếu không ngừng tinh tấn, tu học theo chính pháp.
- Phật giáo là tôn giáo tôn trọng sự sống:
Đạo Phật xem sự sống trên tất cả, hết thảy những gì gọi là có giá trị là phải bảo vệ
sự sống ấy. Giết sự sống để nuôi sự sống là mê muội, tham sống nên hại sự sống cũng lOMoAR cPSD| 61463864
là vô minh. Cho nên tôn trọng sự sống không những bằng cách giúp nhau để sống còn,
mà còn có khi phải hy sinh sự sống để bảo vệ sự sống. Ăn chay để cứu muôn loài, thay
khổ cho chúng sinh để cứu vạn loại. Đạo Phật đặc biệt chú trọngvà nêu cao chủ nghĩa
lợi tha, nhưng chữ lợi ấy là phải hướng về mục đích tôn trọng sự sống.
Trong giáo lý của đạo Phật, một trong ngũ giới cấm mà tăng đoàn không được phép
xâm phạm đó là giới không sát sinh.
- Đạo Phật hướng tới việc đào luyện con người có đầy đủ bi, trí, dũng:
Bi là tôn trọng quyền sống của người khác. Trí là hành động sáng suốt lợi lạc. Dũng
là quyết tâm quả cảm hành động. Dũng không có bi và trí thì sẽ thành tàn ác và manh
động. Trí không có bi và dũng thì sẽ trở thành gian xảo và mộng tưởng. Bi không có trí
và dũng sẽ thành bi lụy và nhút nhát. Bi là tư cách tiến hóa, trí là trí thức tiến hóa, dũng
là năng lực tiến hóa. Con người như thế là con người mới, căn bản của xã hội mới.
Đạo Phật chủ trương xây dựng và kiến thiết một xã hội mới trên cơ sở con người
mới. Cho nên tranh đấu cho xã hội mới ấy là phải chiến thắng chính mình trước hết. Con
người tự chiến thắng con người, nghĩa là cái cái tâm bóc lột, đàn áp, độc tài, xâm lược…
không còn nữa, thì kết quả được một xã hội mới. Trong xã hội ấy quyền sống tuyệt đối
bình đẳng như sự sống: Bình đẳng trong nhiệm vụ, bình đẳng trong hưởng thụ.
- Đạo Phật chủ trương phải tự lực giải thoát
Đấy là tinh thần tối cần thiết. Đức Phật chỉ là một đạo sư dẫn dắt con đường sáng
cho chúng ta. Còn chúng ta phải tự thắp đuốc trí tuệ của mình mà soi đường, phải dùng
cặp chân với năng lực của mình mà đi. Con người mới là phải tự rèn luyện; xã hội mới
là phải tự kiến thiết; muốn giác ngộ là phải tự tu chứng. Tự lực giải thoát là con đường
duy nhất của mười phương các đức Phật Bồ-Tát. An lạc không phải cầu xin, trí giác không do tưởng thưởng.
Người trong đạo Phật phải tự lực giải thoát ngay trong cảnh giới đau khổ mê muội.
Lánh ngoài thế gian đau khổ để tìm giác ngộ là không đạt đến chân lý tối thượng. Phật
tử tu không phải là để được đứng vào hàng ngũ thông minh mà phải hướng về lớp người
dưới để dìu dắt họ, hướng tới đường tu chính đạo mà thành bậc Giác Ngộ.
Đức Phật chỉ hướng dẫn chúng ta, chứ chân lý không phải là thứ đưa cho người ta
cầm nắm được. Đức Phật là đạo sư, nhưng trí giác không phải là thứ ai dạy khôn cho ai.
Cho nên đối với chân lý tối cao, ta phải tự lực thể nghiệm. Sự tự lực thể nghiệm ấy,
không những áp dụng với tinh thần tự lực giải thoát mà thôi. Con đường giác ngộ cũng lOMoAR cPSD| 61463864
vậy, nương theo lời Phật chỉ dẫn, ta phải bước từng bước, hiện chứng đến đâu thể nghiệm
chân lý đến đó, cho đến khi toàn giác. Đối với chân lý chưa hiện chứng, chúng ta chỉ nói
học, không nói biết. Tinh thần tu chứng đạo Phật là thế.
Trong một số tôn giáo, những lời nói (giáo lý) do bậc Giáo chủ sáng lập nói ra là
những “mệnh lệnh” không thể bị từ chối và không thể bị hoài nghi. Bất cứ ai hoài nghi
hay không tuân theo thì sẽ bị “trừng phạt”. Đức Phật không bao giờ ép buộc đệ tử phải
chấp nhận giáo lý của Ngài. Ngài thường xuyên khích lệ họ hãy bày tỏ sự hoài nghi và chất vấn.
Người ta không thể ép buộc phải chấp nhận niềm tin chân chính. Họ không thể được
thuyết phục để chấp nhận những gì mà họ không hiểu hoặc là những gì họ không thích.
Trong Phật giáo, tinh thần cho phép và khích lệ tín đồ tự do hoài nghi, chất vấn hoặc
thậm chí khám phá những lời dạy của bậc thầy sáng lập tôn giáo của họ, là một tinh thần
độc nhất vô nhị trong số tất cả những tôn giáo trên thế giới. Trong số tất cả những tôn
giáo lớn trên thế giới, chỉ có bậc sáng lập Phật giáo và kinh điển Phật giáo cho phép
người ta hoài nghi, thảo luận, chất vấn và khám phá. Phật giáo mời gọi người ta đến để
nghiên cứu Phật giáo với tinh thần nghiên cứu tìm tòi, có tính cách độc lập tự chủ và với trí tuệ.
Phật giáo mời gọi tất cả mọi người hãy đến và chính mình chứng kiến và cho phép
họ chấp nhận những gì chỉ là sự thật, phù hợp với lý trí, logic và chân lý. Phật giáo khích
lệ người tìm kiếm chân lý hãy bác bỏ những thiếu căn cứ, tin đồn, niềm tin mù quáng,
thần thông và quyền thuật. Những nguyên lý của Phật giáo mời gọi sư chỉ trích và kiểm
nghiệm. Do vậy, Phật giáo là một tôn giáo hấp dẫnt và thu hút đối với đầu óc của những
con người duy lý trong thời đại tân tiến.
- Đạo Phật luôn lấy con người làm trung tâm:
Đạo Phật không nói duy tâm, không nói duy vật, mà nói đều do người phát sinh và
đều phát sinh vì người. Kết luận này thực tế ở đâu cũng rõ ràng. Trên thế giới loài người
này không có gì tự nhiên sinh ra hay từ hư không rơi xuống, mà đều do năng lực hoạt
động của con người tạo thành. Năng lực hoạt động của con người tạo tác chi phối tất cả.
Tất cả khổ hay vui, tiến hóa hay thoái hóa, là đều do con người dã man hay văn minh.
Người là chúa tể của xã hội loài người, xã hội loài người do con người quyết định và làm chủ. lOMoAR cPSD| 61463864
Con người là trung tâm của xã hội loài người, xã hội ấy tiến hóa hay thoái hóa là
hoàn toàn do hoạt động con người chi phối; mà hoạt động con người lại do tâm trí con
người chủ đạo, vậy xã hội phản ánh trung thành tâm trí con người. Cho nên muốn cải
tạo xã hội, căn bản là phải cải tạo con người, cải tạo tâm bệnh của con người. Tâm bệnh
con người nếu còn độc tài, tham lam, thì xã hội loài người là địa ngục; tâm bệnh con
người được đối trị thì con người sẽ sáng suốt mà xã hội con người, kết quả của hoạt
động ấy, cũng sẽ cực lạc.
Giáo lý của đạo Phật
Giáo lý cơ bản của đạo Phật nằm gọn trong bốn Chân lý cao cả (cattari ariyasaccani:
Tứ Diệu Đế hay Tứ Thánh Đế) là: 1- Dukkha (Khổ đế).
2- Samudaya (Tập đế) nguyên nhân của Dukkha.
3- Nirodha (Diệt đế) sự ngừng dứt của Dukkha
4- Magga (Đạo đế) con đường dẫn đến sự diệt Dukkha.
2. Đạo Phật ở Việt Nam
Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, khoảng thế kỷ thứ nhất trước Công
nguyên theo đường hải và đường bộ. Phật giáo Việt Nam mang cả sắc thái Phật giáo Ấn Độ và Trung Quốc.
Phật giáo ăn sâu, bám rễ vào Việt Nam từ rất sớm. Đến thời nhà Đinh - Tiền Lê, nhà
Lý, nhà Trần, Phật giáo phát triển cực thịnh, được coi là quốc giáo, ảnh hưởng đến tất
cả mọi vấn đề trong cuộc sống. Đến đời nhà Hậu Lê thì Nho giáo được coi là quốc giáo
và Phật giáo đi vào giai đoạn suy thoái. Đến cuối thế kỷ XVIII, vua Quang Trung cố
gắng chấn hưng đạo Phật, chỉnh đốn xây chùa, nhưng vì mất sớm nên việc này không
có nhiều kết quả. Đến thế kỷ 20, mặc dù ảnh hưởng mạnh của phong trào chấn hưng
Phật giáo của các nước, Phật giáo Việt Nam lại phát triển mạnh mẽ khởi đầu từ các đô
thị miền Nam với các đóng góp quan trọng của các nhà sư Khánh Hòa và Thiện Chiếu
Đạo Phật truyền bá ở Việt Nam tính đến nay đã gần 2000 năm. Những giáo lý của
Phật Giáo ngấm sâu vào giáo lý của dân tộc với sự hiện diện của hang ngàn tín đồ trên
cả nước. Phật giáo gắn bó với sinh hoạt cộng đồng của người Việt, mang tính thực tế,
đóng góp đáng kể cho văn hóa, tư tưởng, kinh tế, chính trị trong diễn trình lịch sử Việt Nam. lOMoAR cPSD| 61463864
Phật giáo góp phần trung hòa ảnh hưởng quá mạnh mẽ vào nền văn minh Trung Hoa
VD: Ở Thăng Long đời Lý, Hoàng Thành Thăng Long mở 4 cửa, phía cửa Bắc thờ
thánh Trấn Vũ – Trấn Vũ là một vị thần linh Trung Hoa được hội nhập vào đất Việt thì
ở cửa Đông lại thờ thần Bạch Mã là ảnh hưởng của Ấn Độ, và cửa Tây Long thành
được mang tên “Quảng Phúc Môn”, mở ra phía Tây để mong phúc lớn rộng “phúc
đẳng hà sa” của đức Phật ở Tây Thiên. Phật giáo làm cho văn hóa Việt Nam thêm phong phú
VD: Về giáo dục, Phật giáo đã góp phần giáo dục, đào tạo ra những con người Việt
Nam có phẩm chất tốt; sống trong sạch, lương thiện, biết thương yêu đồng loại, cứu
giúp người hoạn nạn, khó khăn… nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, xây
dựng một xã hội hòa bình, dân chủ, bác ái và văn minh.
Về ứng xử, cách thức giao tiếp, người Việt Nam rất coi trọng chữ hiếu và sự hòa
thuận. Điều này phù hợp với quan niệm của giáo lý Phật giáo. Nhiều quan niệm của
Phật giáo đã được Việt hóa, trở thành những giá trị văn hóa của dân tộc như: lá lành
đùm lá rách, thương người như thể thương thân, một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ… Phật
giáo đề cao sự hài hòa trong quan hệ giữa con người với tự nhiên. Vì thế, con người
phải dựa vào tự nhiên để sống nhưng cũng phải biết bảo vệ tự nhiên, chung sống hài
hòa với tự nhiên để đảm bảo cho cuộc sống hài hòa, cân bằng và bền vững. Những quan
điểm này đã nhanh chóng được người Việt chấp nhận và trở thành một nét văn hóa đặc
trưng trong phong cách ứng xử với tự nhiên của người Việt từ ngàn đời nay.
Như vậy, sau khi vào Việt Nam, Phật giáo đã nhanh chóng đồng hành cùng dân tộc,
hòa mình với văn hóa bản địa, từ đó làm phong phú, sâu sắc thêm nền văn hóa của người
Việt. Không chỉ có vậy, chính nền văn hóa của người Việt cũng làm cho Phật giáo có sự
thay đổi để thích nghi với văn hóa truyền thống dân tộc. Từ đó, tạo nên nét đặc trưng
riêng của Phật giáo ở Việt Nam, không giống với Phật giáo ở các nước trong khu vực và
ngay cả trên quê hương đã sản sinh ra chính tôn giáo đó.
Phật giáo góp sức cùng cơ tầng văn hóa Việt cổ ngăn chặn khuynh hướng đồng hóa của văn minh Trung Hoa
VD: Thời Lý Trần Phật giáo là Phật giáo quý tộc, còn sang thời Lê, Nguyễn Phật
giáo là Phật giáo dân gian, nhân gian (hay là được dân gian hóa – từ sau thế kỷ XV). lOMoAR cPSD| 61463864
Nhờ có Phật giáo, nền văn hóa Việt Nam càng thể hiện rõ hơn sự đa dạng, đặc sắc của mình
VD: Ông Bụt hiện lên như một nét đặc trưng của văn hóa dân gian Việt Nam. Người
Việt Nam sợ thần, thánh, ma quỷ nhưng lại không sợ ông Bụt. Ông bụt tuy có quyền
năng vô hạn nhưng lại luôn cứu giúp người
Phật giáo có vai trò quan trọng trong công cuộc đấu tranh dành độc lập dân tộc:
Phật giáo Việt Nam là cơ sở bao che nuôi dưỡng cán bộ, chiến sĩ cách mạng, những
Tăng, Ni, Phật tử nằm trong các đoàn thể cứu quốc, đoàn thể Phật giáo yêu nước, hòa
mình vào các sinh hoạt cách mạng trong hai cuộc đấu tranh chống Pháp và chống Mỹ.
Phật giáo đã đóng vai trò tích cực trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân
dân Việt Nam, góp phần làm phong phú thêm tâm hồn, đạo đức, hành vi cư xử của người
Việt, làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc.
Ngoài những công việc mang tính tôn giáo, các tín đồ Phật giáo còn tham gia hoạt
động mang tính thế tục, xã hội như quyên góp từ thiện, lập quỹ khuyến học, triển khai
các khóa tu mùa hè cho học sinh, sinh viên… Đặc biệt, Phật giáo tích cực thực hiện
phong trào thi đua xây dựng “Chùa tinh tiến” có nhiều đóng góp trên các lĩnh vực y tế,
giáo dục và từ thiện nhân đạo. Bên cạnh đó, Phật giáo còn tích cực vận động tài vật cứu
trợ đồng bào bị thiên tai, xây dựng nhà tình nghĩa, nuôi dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng,
xây dựng đường xá, hỗ trợ học bổng cho sinh viên nghèo hiếu học, các thương bệnh
binh, bệnh nhân nghèo… Ngoài ra, tại các chùa đã kết hợp hoạt động của tôn giáo với
hoạt động sản xuất để tạo ra của cải vật chất phục vụ nhu cầu cuộc sống tu hành và cho
xã hội. Đây là nét mới của hoạt động Phật giáo trong sự phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa.
. Ngoài ý nghĩa tâm linh, nhiều ngôi chùa đã trở thành những danh thắng nổi tiếng
để du khách đến chiêm ngưỡng
VD: Đỉnh thiêng Yên Tử - Chùa Đồng, Chùa Bái Đính
Những giá trị văn hóa Phật giáo không chỉ tồn tại trong tư tưởng, mà còn đang hiện
diện thông qua sự nỗ lực của hàng triệu tín đồ nhằm vươn tới một lẽ sống vì Tổ quốc
giàu mạnh, nhân sinh hạnh phúc. Điều đó càng khẳng định được vị trí, vai trò của Phật
giáo trong suốt quá trình đồng hành cùng dân ta.
“Đạo Phật có thể mất đi như mọi hiện tượng vô thường. Song cái tinh túy của văn
hóa Phật giáo đã được dân tộc hóa và dân gian hóa thì mãi mãi trường tồn” lOMoAR cPSD| 61463864
GS TRẦN QUỐC VƯỢNG