BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam trong bối cảnh cuộc
cách mạng công nghiệp lần thứ tư – Thực trạng và giải pháp phát
triển
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thị Minh Hiếu
Sinh viên thực hiện: Bùi Tú Anh – 11236878
Kinh tế chính trị Mác – Lênin (223)_25)
Số thứ tự (trong DS lớp tín chỉ): 2
HÀ NỘI, THÁNG 4 NĂM 2024
lOMoARcPSD| 61256830
MỤC LỤC
Lời mở đầu
Chương 1: LÝ LUẬN VỀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0........................................4
1. Khái niệm của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0......................................................4
2. Bản chất của cách mạng công nghiệp lần thứ 4........................................................4
3. Tác động của cách mạng 4.0....................................................................................4
Chương 2: CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC...................................6
1. Quan niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa...........................................................6
2. Đặc điểm của công nghiệp hóa, hiện đại hóa...........................................................7
Chương 3: THỰC TRẠNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM....10
1. Tính tất yếu khách quan của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam...............10
2. Những thành tựu công nghiệp hóa, hiện đại hóa....................................................11
3. Hạn chế của công nghiệp hóa, hiện đại hóa tới Việt Nam......................................13
4. Phương hướng giải quyết.......................................................................................14
Kết luận........................................................................................................................14
Tài liệu tham khảo........................................................................................................14
Lời mở đầu
Tại phiên khai mạc Hội nghị Trung ương 6, khóa XIII, Tổng thư Nguyễn Phú Trọng
nhấn mạnh: “Chúng ta đều đã biết, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá là chủ trương
lớn, là nhiệm vụ chiến lược, nhiệm vụ trung tâm, quan trọng hàng đầu của Đảng, Nhà nước
nhân n ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội”. Công nghiệp hóa một trong
những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình phát triển vì nó đưa cả nền sản xuất vật
chất và đời sống văn hóa – xã hội của đất nước lên trình độ mới.
Việt Nam sau khi i vào thời kkhủng khoảng kinh tế trầm trọng bởi cuộc chiến tranh
chống Mỹ cùng khốc liệt, Đảng Nhà nước ta đã xác định nhiệm vụ trọng tâm, cấp
thiết trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, đó là tiến lên xây dựng mô hình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa.
lOMoARcPSD| 61256830
Để thực hiện mục tiêu “dân giàu, ớc mạnh, dân chủ, ng bằng, văn minh”, chỉ con
đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa giúp ớc ta từng bước phát triển theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, vì vậy, trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế, Việt Nam đang dần tích cực,
chủ động hội nhập nền kinh tế quốc tế.
Với các cuộc cách mạng công nghiệp bùng nổ, tiêu biểu là cách mạng công nghiệp 4.0 vẫn
đang tác động rất mạnh mẽ tới nền kinh tế các nước. lẽ đây sẽ bước ngoặt lớn nhất
trong lịch sử phát triển của toàn nhân loại.
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi tcách mạng công nghiệp còn tạo ra những thách
thức lớn đối với các quốc gia, trải i trên các lĩnh vực kinh tế. Những thành tựu về khoa
học – công nghệ đạt được giúp hạn chế sử dụng nhiều tài nguyên, song cũngsự bất lợi
đối với tài nguyên thiên nhiên, lao động phổ thông.
Tìm ra phương hướng đúng đắn cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc làm vấn đề điều cùng cần
thiết. Với những do trên, em đã lựa chọn đề tài “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa Việt
Nam”.
Trong đề tài nghiên cứu sử dụng nhiều tài liệu ng như luận của các nhà kinh
điển. Mặc đã cố gắng trong bài tập nghiên cứu lần này nhưng sẽ không tránh khỏi sự
hạn chế thiếu năng làm bài tập lớn của môn học nên thể những thiếu sót. Em
mong sẽ xem xét góp ý đem thể thêm kinh nghiệm cho những lần sau làm
bài tập lớn.
Em xin trân trọng cảm ơn!
Chương 1: Lý luận về cách mạng công nghiệp 4.0
1. Khái niệm về cách mạng công nghiệp lần thứ 4:
Cách mạng công nghiệp bước nhảy vọt về chất lượng trình độ liệu lao động dựa
trên những phát minh mang tính đột phá về kỹ thuật, công nghệ trong quá trình phát triển
con người, dẫn đến sự thay đổi căn bản về kinh tế. Phân công lao động xã hội cũng như tạo
bước phát triển năng suất lao động cao hơn rất nhiều nhờ ứng dụng rộng rãi các tính năng
kỹ thuật, công nghệ mới vào đời sống xã hội.
Khái niệm cuộc cách mạng công nghiệp (CMCN)
1
lần thứ 4 được GS. Klaus Schwab, người
Đức, Chủ tịch Diễn đàn Kinh tế Thế giới Davos đưa ra và đó cũng chủ đề chính của diễn
đàn kinh tế lớn nhất thế giới năm 2016.
1
CMCN: Cách mạng công nghiệp
lOMoARcPSD| 61256830
Thuật ngữ "Cách mạng công nghiệp lần thứ tư" đã được áp dụng cho sự phát triển công
nghệ quan trọng một vài lần trong 75 năm qua và để thảo luận về học thuật. Khái niệm
công nghiệp 4.0 hay nhà máy thông minh lần đầu tiên được đưa ra tại Hội chợ công nghiệp
Hannover tại Cộng hòa Liên bang Đức vào năm 2011. Công nghiệp 4.0 nhằm thông minh
hóa quá trình sản xuất quản trong ngành công nghiệp chế tạo. Sự ra đời của Công
nghiệp 4.0 tại Đức đã thúc đẩy các nước tiên tiến khác như Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ
thúc đẩy phát triển các chương trình tương tự nhằm duy trì lợi thế cạnh tranh của mình.
2. Bản chất của cách mạng công nghiệp 4.0
Bản chất của CMCN lần thứ 4 là dựa trên nền tảng công nghệ số và tích hợp tất cả các công
nghệ thông minh để tối ưu hóa quy trình, phương thức sản xuất; nhấn mạnh những công
nghệ đang và sẽ có tác động lớn nhất là công nghệ in 3D, công nghệ sinh học, AI – trí tuệ
nhân tạo, công nghệ tự động hóa, người máy,...
Chính CMCN 4.0 này đã làm biến đổi nhanh chóng nền công nghiệpmọi quốc gia, đáp
ứng nhu cầu của thị trường, mở ra kỷ nguyên -bốt thông minh, hoàn toàn thay thế con
người trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau. Cuộc CMCN 4.0 không chỉ m thay đổi
toàn bộ diện mạo đời sống hội còn làm thay đổi căn bản phương thức hoạt động
trong lĩnh vực quân sự.
3. Tác động của cách mạng 4.0:
Cuộc CMCN 4.0 đã c động rất lớn đến nền kinh tế thế giới, mang lại những ảnh hưởng
tích cực nhưng cũng có những thách thức đối với các quốc gia và doanh nghiệp. Nó tạo ra
một số cơ hội mới cho các ngành công nghiệp, từ sản xuất đến dịch vụ. Công nghệ 4.0 cho
phép các công ty sử dụng tự động hóa và robot để tăng năng suất và giảm chi phí. Việc sử
dụng máy móc thay cho lao động thủ công là một ví dụ điển hình cho việc tăng năng suất.
Công nghệ 4.0 cung cấp các công cụ để kết nối mọi người, doanh nghiệp tchức trên
toàn cầu. Điều này giúp tăng cường sự kết nối giữa các nền kinh tế tạo ra hội mới
cho việc kinh doanh. Ngoài ra, các doanh nghiệp phải đổi mới để đáp ứng các yêu cầu mới
cạnh tranh với các đối thủ mới. Chính phủ cũng phải đưa ra các chính sách mới để hỗ
trợ sự phát triển của các doanh nghiệp bảo vệ người lao động trước những tác động tiêu
cực của công nghệ.
Cuộc CMCN 4.0 cũng có tác động đáng kể đến phương thức lao động trong nhiều lĩnh vực.
Điều này có nghĩa là nhiều công việc sẽ được thực hiện bởi các robot, trí tuệ nhân tạo. Việc
này sẽ giảm thiểu số lượng lao động nhân công cần thiếttạo ra một nhu cầu mới về kỹ
năng công nghệ. Việc kết hợp giữa trí tuệ nhân tạo các hệ thống tự động hóa với con
lOMoARcPSD| 61256830
người sẽ tạo ra một môi trường làm việc mới. Người lao động sẽ cần phải có kỹ năng mới
để thích nghi với các hệ thống thông minh.
Công nghệ thông tin, công nghệ số đã trở thành một phần không thể thiếu để phát triển
kinh tế - hội, đặc biệt với sự xuất hiện của cuộc CMCN lần thứ 4. Trong bối cảnh đại
dịch COVID-19 những năm qua, nhiều nh vực của nền kinh tế bị ảnh hưởng nghiêm
trọng, tuy nhiên, lĩnh vực công nghiệp công nghệ thông tin (CNTT)
2
tiếp tục giữ vững được
sự tăng trưởng dù thấp hơn các năm trước. Tổng doanh thu công nghiệp CNTT năm 2020
đạt 123,5 tỷ USD, gấp 20 lần so với năm 2009 (6,2 tỷ USD) gấp hơn 2 lần năm 2015.
Tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2016-2020 đạt bình quân 16,23%/năm, cao hơn 2 lần tốc độ
tăng trưởng GDP, trở thành một trong những ngành kinh tế có doanh thu lớn, đóng góp
nhiều cho ngân sách Nhà nước.
Tổng doanh thu ng trưởng của Công nghiệp CNTT. (Nguồn: Sách trắng CNTT
truyền thông Việt Nam 2021)
Công nghiệp phần cứng, điện tử viễn thông (bao gồm sản xuất máy tính và linh kiện, thiết
bị điện tử viễn thông) tốc độ tăng trưởng cao, tính riêng giai đoạn 2015-2020, tăng
trưởng trung bình hằng năm đạt khoảng 15,7%, cơ bản đáp ứng được nhu cầu trong nước
về các loại sản phẩm điện tử dân dụng, điện lạnh và máy tính.
Doanh thu công nghiệp phần cứng, điện tử giai đoạn 2016-2020.(Nguồn: Sách trắng
2
CNTT: Công nghệ thông n
lOMoARcPSD| 61256830
CNTT truyền thông Việt Nam 2021)
Năm 2020, doanh thu xuất khẩu sản phẩm phần cứng ước đạt trên 95,8 tỷ USD. Trong đó,
doanh thu xuất khẩu sản phẩm phần cứng, điện tử viễn thông (tính cả khối FDI) được xếp
vào top 2 thế giới về sản xuất điện thoại di động và linh kiện, top 10 thế giới về xuất khẩu
mạch điện tử linh kiện top 12 thế giới vxuất khẩu thiết bị y tính. Các mặt hàng
xuất khẩu chủ yếu là sản phẩm máy tính, điện thoại và linh kiện điện tử đã được xuất khẩu
tới 35 nước trong khu vực và trên thế giới.
Chương 2: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1. Quan niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH)
3
được hiểu quá trình chuyển đổi căn bản,
toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ quản kinh tế - hội, từ sử dụng
sức lao động thủ công chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công
nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp
tiến bộ khoa học công nghệ, nhằm tạo ra năng suất lao động hội cao. Hiện đại hóa
nền kinh tế quốc dân làm cho kỹ thuật công nghệ sản xuất, cấu kinh tế đạt đến
trình độ tiên tiến của thời đại.
Ngay từ đầu quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã hoàn thiện và đổi mới quan điểm,
các chủ trương, chính sách trong lĩnh vực khoa học - công nghệ. Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ IX của Đảng đã chỉ ra: “Con đường công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở nước ta cần
thể rút ngắn thời gian vừa những bước tuần tự, vừa bước nhảy vọt phát huy
những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến,
đặc biệt công nghệ thông tin công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều
hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng
bước phát triển kinh tế tri thức. Phát huy nguồn lực trí tuệ sức mạnh tinh thần của người
Việt Nam, coi phát triển giáo dục đào tạo, khoa học và công nghệ nền tảng và động
lực của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa”.
Với một đất nước đang trên đà phát triển như Việt Nam, việc ý thức được tầm quan trọng
của quá trình CNH, HĐH trong bối cảnh cuộc CMCN lần thứ được coi là một bước tiến
mới trong công cuộc xây dựng nền kinh tế vững mạnh.
2. Đặc điểm của công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
3
CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
lOMoARcPSD| 61256830
Mục tiêu của CNH, HĐH là nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại; xây dựng một
cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm mục đích cuối cùng là xây dựng xã hội “dân giàu nước mạnh,
hội dân chủ, công bằng, văn minh” như Đảng ta xác định. Kế thừa quan điểm cách mạng
khoa học của Mác, khi cách mạng tháng Mười Nga thành công, V.I.Lênin đã đặc biệt
nhấn mạnh vai trò sự nghiệp của CNH. Người đã khẳng định: “Chủ nghĩa cộng sản
chính quyền Xô viết cộng với điện khí hóa toàn quốc…Chỉ khi nào nước ta đã điện khí hóa,
chỉ khi nào công nghiệp, nông nghiệp và vận tải đã đứng vững trên cơ sở kỹ thuật của đại
công nghiệp hiện đại, thì lúc đó, chúng ta mới có thể đạt được thắng lợi hoàn toàn”.
Nhận thức rõ tính tất yếu phải thực hiện CNH trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Việt Nam, ngay từ những năm đầu xây dựng chủ nghĩa hội Miền Bắc, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã nói: “Nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật
chất kỹ thuật của chủ nghĩa hội, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa hội, công
nghiệp nông nghiệp hiện đại, văn hóa khoa học tiên tiến. Trong quá trình cách
mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới,
mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt lâu dài. Trên cơ sở nhận thức sâu sắcvận dụng
lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tế ở nước ta.
CNH, HĐH hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức. Quan điểm đẩy mạnh CNH, HĐH gắn
với phát triển kinh tế tri thức đã được Đảng ta chính thức đề cập tại Đại hội X là: “Tận
dụng thời thuận lợi trong điều kiện tình hình” của cộng đồng quốc tế những tiềm
năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước gắn với phát triển kinh
tế, coi kinh tế nhân tố quan trọng của nền kinh tế công nghiệp. phát triển mạnh các
ngành, sản phẩm kinh tế giá trị gia tăng cao phụ thuộc nhiều o tri thức; kết hợp sử
dụng vốn tri thức của dân tộc Việt Nam với tri thức mới nhất của nhân loại. Trên thực tế,
từ những thập kỷ cuối của thế kỷ 20 đến nay, khoa học ng nghệ đã những ớc
phát triển vượt bậc, đặc biệt với sự bùng nổ hội tụ của công nghệ thông tin và sinh học
công nghệ nano, như Mác và Ăngghen đã dự đoán từ giữa thế kỷ 20: “Tri thức sẽ trở thành
lực lượng sản xuất trực tiếp”; “Giá trị của công việc cơ bắp trong các sản phẩm được tạo
ra sẽ bị giảm xuống một lượng rất nhỏ”; “Lực lượng sản xuất tinh thần”; “Sự gia tăng
của những người làm công tác khoa học” thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển đổi từ
nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế.
CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa (XHCN)
4
. CNH, HĐH gắn
liền với kinh tế thị trường định hướng XHCN một đặc điểm quan trọng và riêng có của
Việt Nam. Việc đổi mới để phát triển, thừa nhận nhiều hình thức sở hữu khác nhau tương
ứng với các thành phần kinh tế cùng phát triển ở Việt Nam để thúc đẩy nền kinh tế
đất nước phát triển là một sự đổi mới hợp quy luật.
4
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
lOMoARcPSD| 61256830
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế và Việt Nam đang tích
cực, chủ động hội nhập nền kinh tế quốc tế. GS.TS Chu Văn Cấp, Học viện Chính trị Hành
chính Quốc gia Hồ Chí Minh khẳng định: “Toàn cầu hoá kinh tế mang lại những nguồn
lực quan trọng và cần thiết cho các nước đang phát triển, tạo khả năng cho các nước này
tăng trưởng nhanh về kinh tế, nhưng đồng thời cũng yêu cầu các nước này phải xây
dựng được chiến lược phát triển quốc gia theo hướng có khả năng bắt nhịp thích nghi
với xu hướng phát triển hiện đại, nếu không muốn tụt hậu ngày càng xa hơn”. Ngoài ra,
thực hiện chủ trương "gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội
nhập nền kinh tế quốc tế" trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 2010 của Ðảng,
Việt Nam chúng ta đang tích cực tham gia qtrình hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời
chủ động chuẩn bị trong nước về cơ cấu lại nền kinh tế, hoàn thiện hệ thống luật pháp,
chế chính sách, nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam
Chương 3: Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
1. Tính tất yếu khách quan của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam:
Một là, CNH là quy luật phổ biến của sự phát triển lực lượng sản xuất xã hội mà mọi quốc
gia đều phải trải qua.
CNH là quá trình tạo động lực mạnh mẽ cho nền kinh tế, là đòn bẩy quan trọng tạo sự phát
triển đột biến trong các lĩnh vực hoạt động của con người. Thông qua công nghiệp hóa các
ngành được trang bị những liệu sản xuất, kỹ thuật công nghệ hiện đại, tăng năng suất
lao dộng, tạo ra nhiều của cải vật chất, đáp ng nhu cầu của con người. sở vật chất
(CSVC)
5
– kỹ thuật của một phương thức sản xuất hệ thống các yếu tố vật chất của lực
lượng sản xuất xã hội, phù hợp trình độ kỹ thuật mà lực lượng lao động xã hội sử dụng để
tiến hành quá trình lao động sản xuất. vậy, xây dựng CSVC kỹ thuật một tất yếu khách
quan, một quy luật kinh tế mang tính phổ biến và được thực hiện thông qua CNH, HĐH.
Hai là, đối với các nước nền kinh tế kém phát triển như ớc ta, xây dựng CSVC kỹ
thuật cho XHCN phải thực hiện từ đầu thông qua CNH, HĐH.
Mỗi bước tiến của quá trình CNH, HĐH là một bước ng ờng CSVC - kỹ thuật cho chủ
nghĩa hội, phát triển lực ợng sản xuất góp phần hoàn thiện quan hệ sản xuất chủ
nghĩa xã hội trên cơ sở đó tăng dần trình độ văn minh của xã hội.
CNH, HĐH thúc đẩy sliên kết, hợp tác giữa các ngành, các vùng trong nước, mở rộng
quan hệ kinh tế quốc tế, tham gia vào quá trình phân công lao động và hợp tác quốc tế ngày
càng hiệu quả.
5
CSVC: Cơ sở vật chất
lOMoARcPSD| 61256830
CNH, HĐH làm cho khối liên minh công, nông, trí ngày càng được tăng cường, củng cố
đồng thời nâng cao vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân.
Đồng thời ng cường tiềm lực, sức mạnh an ninh, quốc phòng, tạo điều kiện vật chất
tinh thần để xây dựng nền văn hóa mới và con người mới XHCN.
Như vậy, CNH, HĐH nhân tố quyết định thắng lợi của con đường đi lên chủ nghĩa
hội đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quyết
định lên chủ nghĩa xã hội.
2. Những thành tựu công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (1960) đã xác định: “Công nghiệp hóa
hội chủ nghĩa nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ nước ta”. Trong 20 năm đầu,
công nghiệp hóa ớc ta diễn ra trong điều kiện chiến tranh. Những năm sau, công
nghiệp hóa diễn ra trong điều kiện vừa khủng hoảng kinh tế - hội, vừa tìm tòi đổi mới
nền kinh tế.
Sau 35 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đưa nước ta từ một trong những quốc gia nghèo
nhất thế giới trở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp ngày càng hội nhập sâu
rộng với khu vực thế giới; đời sống của người dân ngày càng được cải thiện, vị thế
uy tín của đất nước ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Đóng góp vào những
thành quả to lớn này của phát triển đất nước, việc Việt Nam đã đang dần khẳng định
được vị thế một trong những trung tâm sản xuất công nghiệp của khu vực của thế
giới.
Về vị trí ngành công nghiệp trên thế giới, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong
những quốc gia có nền công nghiệp có năng lực cạnh tranh toàn cầu (CIP) ở mức khá cao,
thuộc vào nhóm các quốc gia có năng lực cạnh tranh công nghiệp trung bình cao với vị trí
thứ 44 trên thế giới vào năm 2018 theo đánh giá của UNIDO. Theo đó, trong giai đoạn
1990-2018 đã tăng 50 bậc và giai đoạn 2010-2018 tăng 23 bậc, tăng nhanh nhất trong các
nước thuộc khu vực ASEAN đã tiệm cận vị trí thứ 5 của Philipphin (chỉ thua 0.001
điểm), tiến gần hơn với nhóm 4 nước có năng lực cạnh tranh mạnh nhất trong khối.
Công nghiệp là ngành có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất trong các ngành kinh tế quốc
dân với đóng góp xấp x30% GDP trở thành ngành xuất khẩu chủ lực của đất nước, góp
phần đưa Việt Nam n vị trí thứ 22 quốc gia xuất khẩu lớn nhất thế giới vào năm 2018.
Một số ngành công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn theo định hướng chiến lược của
ta đã trở thành các ngành công nghiệp lớn nhất đất nước, qua đó đưa nước ta cơ bản đã hội
nhập thành công vào chuỗi giá trị toàn cầu với sự dẫn dắt của một số doanh nghiệp công
nghiệp lớn như điện tử, dệt may, da giày…
lOMoARcPSD| 61256830
Bên cạnh đó, quá trình tái cấu ngành công nghiệp gắn với đổi mới mô hình tăng
trưởng, nâng cao năng suất lao động đã đi vào thực chất hơn, ngày càng hướng vào lõi
CNH. Theo đó, công nghiệp tiếp tục duy trì là ngành có năng suất lao động cao nhất trong
các ngành kinh tế quốc dân với tỷ trọng trong GDP tăng từ 26,63% năm 2011 lên 27,81%
năm 2015 và 28,55% năm 2019.
Cơ cấu nội ngành công nghiệp đã chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng công nghiệp
khai khoáng (từ 36,47% năm 2011 xuống còn 25,61% năm 2019) và tăng tỷ trọng công
nghiệp chế biến chế tạo (từ 49,82% năm 2011 lên 54,57% m 2019) trở thành động
lực tăng trưởng chính của ngành công nghiệp (ước VA tăng 10,99% giai đoạn 2011-2020
và 12,64% giai đoạn 2016-2020).
Chuyển dịch cấu lao động trong giai đoạn 2015-2020 sự chênh lệch khá lớn giữa
các khu vực kinh tế. Cụ thể, trong giai đoạn này có sự chuyển dịch rõ rệt trong cơ cấu lao
động giữa các khu vực. Nếu như năm 2015 cơ cấu lao động khu vực 1 chiếm tới 45,73%;
khu vực 2 chiếm 24,19%; khu vực 3 chiếm 30,08%, thì đến năm 2020 tỷ trọng lao động
trong các khu vực 1, 2, 3 lần lượt là: 34,78%; 32,65%; 32,57%.
Đầu cho phát triển công nghiệp ngày ng được mở rộng, trong đó, đầu FDI trở
thành động lực chính của phát triển công nghiệp chuyển dịch cấu phát triển các ngành
công nghiệp nước ta theo hướng hiện đại (chiếm tỷ trọng xấp xỉ 70% tổng vốn đầu tư FDI
vào các ngành kinh tế, trong đó, đầu o công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng
lớn nhất với xấp xỉ 60%). Trong vài năm trở lại đây, dòng vốn FDI đang dịch chuyển sang
các ngành, nghề có giá trị gia tăng cao hơn trong các ngành, lĩnh vực ưu tiên là công nghệ
cao, công nghệ thông tin truyền thông (ICT), chế tạo, chế biến, công nghiệp hỗ trợ
nông nghiệp... và giảm dần trong một số ngành thâm dụng lao động.
Để tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, với mục tiêu đến năm 2030 Việt
Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu
khu vực ASEAN về công nghiệp. Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày
22/3/2018 về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm
2030, tầm nhìn đến m 2045. Như vậy trong tương lai, việc Việt Nam thực sự trở thành
một quốc gia phát triển chỉ còn là vấn đề thời gian.
3. Hạn chế của công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại Việt Nam:
hình CNH, HĐH của Viêt Nam vẫn còn đang trong quá trình hoàn thiện, chưa được
cụ thể hóa thành những tiêu chí cụ thể của môt nước công nghiệp. Thực hiện CNH, HĐ
chưa bằng thể chế của nền kinh tế thị trường, tuân theo các quy luật khách quan của cơ chế
thị trường.
lOMoARcPSD| 61256830
Nền kinh tế vẫn chưa thể cải thiện được sức cạnh tranh và năng suất lao động. Theo số liệu
từ Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2018-2019 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, nền
Kinh tế Việt Nam đứng thứ 67 trong số 148 quốc gia trong bảng xếp hạng, tăng 10 bậc so
với thứ hạng 77 trong năm 2012-2013. Việt Nam ta nằm trong nhóm các quốc gia gần thuộc
nửa cuối bảng xếp hạng, thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực Đông Nam Á
(Malaysia đứng thứ 27, Thái Lan đứng thứ 40, Indonesia đứng thứ 50, Phillipine đứng thứ
64) còn một khoảng cách rất xa so với các nước khu vực Đông Á (Hàn Quốc, Nhật
Bản).
Từ số liệu các năm cho thấy, mặc chỉ số GDP/người của Việt Nam đã những bước
cải thiện so với mức bình quân của thế giới (từ 26,0% năm 2000, lên 34,2% năm 2010
41,3% năm 2018), tuy nhiên trong gần 20 m phát triển kinh tế đã qua cho thấy, khoảng
cách chệch lệch của Việt Nam với thế giới vẫn còn mức khá cao. So sánh tương đối với
một số quốc gia trong Các ớc mới công nghiệp” (NICs) thì Việt Nam hiện tương đương
với Ấn Độ (đạt 7.874 USD); thấp hơn Philipine (8.936 USD); bằng 1/2 của Indonesia, Nam
Phi, Braxin và từ 1/3-1/4 của Mexico, Thổ Nhĩ Kỳ và Malaysia.
Quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc đô khá nhanh, nhưng thiếu sự đồng bộ giữa hạ tầng
kỹ thuật và hạ tầng xã hội. Tốc độ xây dựng cơ sở hạ tầng ở phần lớn đô thị Việt Nam đều
chậm so với phát triển kinh tế hội. Tình trạng phát triển đô thị hiện nay chưa đáp ứng
với sự đổi thay về tư duy quản lý đô thị hóa, phát triển đô thị theo hướng CNH và
HĐH.
4. Phương hướng giải quyết:
Sau khi đã xác định được mục tiêu, những thuận lợi hạn chế về qtrình CNH, H
tới các lĩnh vực của nước ta, thì một vấn đề không kém phần quan trọng đó đề ra các
hướng giải quyết để đạt được các mục tiêu đó. Theo em cần hướng vào các vấn đề chính
như sau.
Một là, các giải pháp về các chính sách kinh tế Nhà nước. Để thực hiện thắng lợi những
nhiệm vụ to lớn trong quá trình CNH, HĐH đất nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường
nước ta phải đặc biệt chú ý đến vai trò quản lý, điều tiết của nhà ớc đối với nền kinh
tế. Ngoài ra đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước là sự nghiệp của toàn dân, cả hệ thống chính
trị, lấy con người là trung tâm, doanh nghiệp là chủ thể, hài hòa giữa các mục tiêu kinh tế,
xã hội.
Hai là, phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; thúc đẩy đô thị hóa nhanh bền
vững gắn kết chặt chẽ tạo động lực cho đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Xây dựng hệ
thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế hội; ưu tiên phát triển một số
công trình hạ tầng trọng điểm quốc gia vùng về giao thông, thích ứng với biến đổi khí
lOMoARcPSD| 61256830
hậu, năng lượng, hạ tầng số. Khuyến khích phát triển các mô hình khu công nghiệp - đô thị
- dịch vụ, nhất tại c đô thị, vùng đô thị có mật độ dân số cao. Phát triển hệ thống đô
thị theo mạng lưới, đồng bộ, hiện đại dựa trên lợi thế của từng vùng, miền với mật độ kinh
tế và tập trung lao động ở mức cao, gắn kết chặt chẽ với CNH, HĐH.
Ba là, giải pháp về tạo sử dụng vốn hiệu quả. Vốn tiền đề bản cho mọi hoạt
động sản xuất kinh doanh. Nước ta tiến hành qtrình CNH, HĐH trong điều kiện rất thiếu
vốn nên Nhà nước đã đặt ra vấn đề làm thế nào để huy động đủ vốn sử dụng vốn có
hiệu quả.
Bốn là, CNH, HĐH phải bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô; chủ động, tích cực hội nhập kinh
tế quốc tế sâu rộng, hiệu quả; phát huy giá trị, truyền thống của con người Việt Nam và vai
trò xung kích của giai cấp công nhân hiện đại.
Năm là, tăng cường phát triển khoa học - công nghệ, hệ thống chính sách nhằm thúc đẩy
đầu tư vào khoa học - công nghệ của nước ta cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng nâng
cao hiệu quả huy động đa dạng hoá nguồn lực đầu cho khoa học - ng nghệ; hình
thành các cơ chế phù hợp để nâng cao tính định hướng của ngân sách nhà nước trong việc
thu hút các nguồn lực đầu tư ngoài nhà nước để phát triển khoa học - công nghệ.
Sáu là, phát triển nguồn nhân lực, xây dựng và vận hành hệ thống thông tin thị trường lao
động, sở dữ liệu quốc gia về thị trường lao động, nâng cao năng lực dự báo, kế hoạch
hoá nguồn nhân lực dựa trên các tín hiệu của thị trường; mở rộng các hình thức đào tạo
nghề gắn với chuyển giao công nghệ mới.
lOMoARcPSD| 61256830
Kết luận
Tóm lại, CNH, HĐH chính lời giải của bài toán phát triển, trực tiếp đưa đất nước thoát
khỏi nguy cơ tụt hậu. Tác động mạnh mẽ, toàn diện và sâu sắc của cuộc CMCN lần thứ tư
đến chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đã thúc đẩy Việt Nam phải điều chỉnh, định vị chiến
lược phát triển, chú trọng đầu tư vào khoa học - công nghệ đồng thời có chính sách bảo vệ
phát huy các giá trị văn hóa dân tộc. Đặt nguồn lực ưu tiên, phát huy kinh tế nông
nghiệp cùng với đổi mới khoa học kĩ thuật hiện đại. Trong bối cảnh đó, nước ta càng có lợi
thế và nhiều cơ hội hơn để phát triển, khẳng định uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Song trong quá trình thực hiện nước ta cũng gặp phải rất nhiều khó khăn, thách thức. Việt
Nam ta tuy tiềm lực lớn về kinh tế nhưng vẫn còn xa lạ trước những biến đổi của toàn
cầu hóa hiện nay, chưa thích nghi hoàn toàn với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Một câu hỏi lớn đặt ra hiện giờ đó con người sẽ làm gì đthích nghi với những tiến bộ
và thách thức của cuộc CMCN 4.0 lần này ? Thế nên, ngay từ bây giờ để bắt kịp xu thế đòi
hỏi ta phải thực hiện được các giải pháp một cách hợp lý, đồng bộ và hiệu quả thì quá trình
CNH, HĐH mới càng được đẩy mạnh phát triển, đóng góp quan trọng cho việc xây dựng
một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Trong khuôn khổ bài tập lớn thể rút ra những bài học giải pháp riêng cho bản thân
với mục đích cuối cùng là làm sao để mỗi cá nhân nhận thức đúng đắn về CNH, HĐH hiện
nay ở Việt Nam, nhất là đang trong bối cảnh của cuộc CMCN lần thứ tư hiện nay.
Tài liệu tham khảo
1. PGS. TS. Ngô Tuấn Nghĩa (Chủ tịch hội đồng biên soạn), Giáo trình Kinh tế chính
trị Mác – Lênin; năm 2023.
2. Tg. Minh Khoa, Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 là gì?; 2/10/2018.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp công nghiệp a,
hiện đại hóa đất nước; 3/10/2022.
4. Tg. Bùi Tuấn An, Cách mạng Công nghiệp 4.0 là gì? Tác động của Cách mạng Công
nghiệp 4.0; 12/3/2023.
5. ThS. Nguyễn Thị Hằng, Nhận thức của Đảng về công nghiệp hóa và thực trạng công
nghiệp hóa – hiện đại hóa ở nước ta hiện nay; 14/01/2015.
6. Trường xây dựng Hồ Chí Minh, Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với
phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế.
7. Tg. Hoàng Thái – Phi Long, Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh toàn cầu
hóa; 24/12/2009.
lOMoARcPSD| 61256830
8. Bộ Công thương Việt Nam, Một số khó khăn và thách thức đặt ra với quá trình công
nghiệp hóa ở nước ta hiện nay; 8/6/2022.
9. PGS, TS Bùi Ngọc Quỳnh - TS Phạm Quốc Quân, Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại a đất nước trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ ;
4/6/2023.
10. Bộ thông tin truyền thông, Cần một không gian mới rộng hơn cho công nghiệp
công nghiệp số; 10/6/2022.

Preview text:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam trong bối cảnh cuộc
cách mạng công nghiệp lần thứ tư – Thực trạng và giải pháp phát triển
Giáo viên hướng dẫn:
PGS.TS Nguyễn Thị Minh Hiếu
Sinh viên thực hiện:
Bùi Tú Anh – 11236878
Kinh tế chính trị Mác – Lênin (223)_25)
Số thứ tự (trong DS lớp tín chỉ): 2
HÀ NỘI, THÁNG 4 NĂM 2024 lOMoAR cPSD| 61256830 MỤC LỤC Lời mở đầu
Chương 1: LÝ LUẬN VỀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0........................................4
1. Khái niệm của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0......................................................4
2. Bản chất của cách mạng công nghiệp lần thứ 4........................................................4
3. Tác động của cách mạng 4.0....................................................................................4
Chương 2: CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC...................................6
1. Quan niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa...........................................................6
2. Đặc điểm của công nghiệp hóa, hiện đại hóa...........................................................7
Chương 3: THỰC TRẠNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM....10
1. Tính tất yếu khách quan của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam...............10
2. Những thành tựu công nghiệp hóa, hiện đại hóa....................................................11
3. Hạn chế của công nghiệp hóa, hiện đại hóa tới Việt Nam......................................13
4. Phương hướng giải quyết.......................................................................................14
Kết luận........................................................................................................................14
Tài liệu tham khảo........................................................................................................14 Lời mở đầu
Tại phiên khai mạc Hội nghị Trung ương 6, khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng
nhấn mạnh: “Chúng ta đều đã biết, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá là chủ trương
lớn, là nhiệm vụ chiến lược, nhiệm vụ trung tâm, quan trọng hàng đầu của Đảng, Nhà nước
và nhân dân ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”. Công nghiệp hóa là một trong
những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình phát triển vì nó đưa cả nền sản xuất vật
chất và đời sống văn hóa – xã hội của đất nước lên trình độ mới.
Việt Nam sau khi rơi vào thời kỳ khủng khoảng kinh tế trầm trọng bởi cuộc chiến tranh
chống Mỹ vô cùng khốc liệt, Đảng và Nhà nước ta đã xác định nhiệm vụ trọng tâm, cấp
thiết trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, đó là tiến lên xây dựng mô hình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. lOMoAR cPSD| 61256830
Để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, chỉ có con
đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa giúp nước ta từng bước phát triển theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, vì vậy, trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế, Việt Nam đang dần tích cực,
chủ động hội nhập nền kinh tế quốc tế.
Với các cuộc cách mạng công nghiệp bùng nổ, tiêu biểu là cách mạng công nghiệp 4.0 vẫn
đang tác động rất mạnh mẽ tới nền kinh tế các nước. Có lẽ đây sẽ là bước ngoặt lớn nhất
trong lịch sử phát triển của toàn nhân loại.
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi thì cách mạng công nghiệp còn tạo ra những thách
thức lớn đối với các quốc gia, trải dài trên các lĩnh vực kinh tế. Những thành tựu về khoa
học – công nghệ đạt được giúp hạn chế sử dụng nhiều tài nguyên, song cũng là sự bất lợi
đối với tài nguyên thiên nhiên, lao động phổ thông.
Tìm ra phương hướng đúng đắn cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc làm rõ vấn đề là điều vô cùng cần
thiết. Với những lí do trên, em đã lựa chọn đề tài “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam”.
Trong đề tài có nghiên cứu và sử dụng nhiều tài liệu cũng như lý luận của các nhà kinh
điển. Mặc dù đã cố gắng trong bài tập nghiên cứu lần này nhưng sẽ không tránh khỏi sự
hạn chế và thiếu kĩ năng làm bài tập lớn của môn học nên có thể có những thiếu sót. Em
mong cô sẽ xem xét và góp ý để em có thể có thêm kinh nghiệm cho những lần sau làm bài tập lớn.
Em xin trân trọng cảm ơn!
Chương 1: Lý luận về cách mạng công nghiệp 4.0
1. Khái niệm về cách mạng công nghiệp lần thứ 4:
Cách mạng công nghiệp là bước nhảy vọt về chất lượng và trình độ tư liệu lao động dựa
trên những phát minh mang tính đột phá về kỹ thuật, công nghệ trong quá trình phát triển
con người, dẫn đến sự thay đổi căn bản về kinh tế. Phân công lao động xã hội cũng như tạo
bước phát triển năng suất lao động cao hơn rất nhiều nhờ ứng dụng rộng rãi các tính năng
kỹ thuật, công nghệ mới vào đời sống xã hội.
Khái niệm cuộc cách mạng công nghiệp (CMCN)1 lần thứ 4 được GS. Klaus Schwab, người
Đức, Chủ tịch Diễn đàn Kinh tế Thế giới Davos đưa ra và đó cũng là chủ đề chính của diễn
đàn kinh tế lớn nhất thế giới năm 2016.
1 CMCN: Cách mạng công nghiệp lOMoAR cPSD| 61256830
Thuật ngữ "Cách mạng công nghiệp lần thứ tư" đã được áp dụng cho sự phát triển công
nghệ quan trọng một vài lần trong 75 năm qua và là để thảo luận về học thuật. Khái niệm
công nghiệp 4.0 hay nhà máy thông minh lần đầu tiên được đưa ra tại Hội chợ công nghiệp
Hannover tại Cộng hòa Liên bang Đức vào năm 2011. Công nghiệp 4.0 nhằm thông minh
hóa quá trình sản xuất và quản lý trong ngành công nghiệp chế tạo. Sự ra đời của Công
nghiệp 4.0 tại Đức đã thúc đẩy các nước tiên tiến khác như Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ
thúc đẩy phát triển các chương trình tương tự nhằm duy trì lợi thế cạnh tranh của mình.
2. Bản chất của cách mạng công nghiệp 4.0
Bản chất của CMCN lần thứ 4 là dựa trên nền tảng công nghệ số và tích hợp tất cả các công
nghệ thông minh để tối ưu hóa quy trình, phương thức sản xuất; nhấn mạnh những công
nghệ đang và sẽ có tác động lớn nhất là công nghệ in 3D, công nghệ sinh học, AI – trí tuệ
nhân tạo, công nghệ tự động hóa, người máy,...
Chính CMCN 4.0 này đã làm biến đổi nhanh chóng nền công nghiệp ở mọi quốc gia, đáp
ứng nhu cầu của thị trường, mở ra kỷ nguyên rô-bốt thông minh, hoàn toàn thay thế con
người trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau. Cuộc CMCN 4.0 không chỉ làm thay đổi
toàn bộ diện mạo đời sống xã hội mà còn làm thay đổi căn bản phương thức hoạt động trong lĩnh vực quân sự.
3. Tác động của cách mạng 4.0:
Cuộc CMCN 4.0 đã tác động rất lớn đến nền kinh tế thế giới, mang lại những ảnh hưởng
tích cực nhưng cũng có những thách thức đối với các quốc gia và doanh nghiệp. Nó tạo ra
một số cơ hội mới cho các ngành công nghiệp, từ sản xuất đến dịch vụ. Công nghệ 4.0 cho
phép các công ty sử dụng tự động hóa và robot để tăng năng suất và giảm chi phí. Việc sử
dụng máy móc thay cho lao động thủ công là một ví dụ điển hình cho việc tăng năng suất.
Công nghệ 4.0 cung cấp các công cụ để kết nối mọi người, doanh nghiệp và tổ chức trên
toàn cầu. Điều này giúp tăng cường sự kết nối giữa các nền kinh tế và tạo ra cơ hội mới
cho việc kinh doanh. Ngoài ra, các doanh nghiệp phải đổi mới để đáp ứng các yêu cầu mới
và cạnh tranh với các đối thủ mới. Chính phủ cũng phải đưa ra các chính sách mới để hỗ
trợ sự phát triển của các doanh nghiệp và bảo vệ người lao động trước những tác động tiêu cực của công nghệ.
Cuộc CMCN 4.0 cũng có tác động đáng kể đến phương thức lao động trong nhiều lĩnh vực.
Điều này có nghĩa là nhiều công việc sẽ được thực hiện bởi các robot, trí tuệ nhân tạo. Việc
này sẽ giảm thiểu số lượng lao động nhân công cần thiết và tạo ra một nhu cầu mới về kỹ
năng công nghệ. Việc kết hợp giữa trí tuệ nhân tạo và các hệ thống tự động hóa với con lOMoAR cPSD| 61256830
người sẽ tạo ra một môi trường làm việc mới. Người lao động sẽ cần phải có kỹ năng mới
để thích nghi với các hệ thống thông minh.
Công nghệ thông tin, công nghệ số đã trở thành một phần không thể thiếu để phát triển
kinh tế - xã hội, đặc biệt với sự xuất hiện của cuộc CMCN lần thứ 4. Trong bối cảnh đại
dịch COVID-19 những năm qua, nhiều lĩnh vực của nền kinh tế bị ảnh hưởng nghiêm
trọng, tuy nhiên, lĩnh vực công nghiệp công nghệ thông tin (CNTT)2 tiếp tục giữ vững được
sự tăng trưởng dù thấp hơn các năm trước. Tổng doanh thu công nghiệp CNTT năm 2020
đạt 123,5 tỷ USD, gấp 20 lần so với năm 2009 (6,2 tỷ USD) và gấp hơn 2 lần năm 2015.
Tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2016-2020 đạt bình quân 16,23%/năm, cao hơn 2 lần tốc độ
tăng trưởng GDP, trở thành một trong những ngành kinh tế có doanh thu lớn, đóng góp
nhiều cho ngân sách Nhà nước.
Tổng doanh thu và tăng trưởng của Công nghiệp CNTT. (Nguồn: Sách trắng CNTT và
truyền thông Việt Nam 2021)
Công nghiệp phần cứng, điện tử viễn thông (bao gồm sản xuất máy tính và linh kiện, thiết
bị điện tử viễn thông) có tốc độ tăng trưởng cao, tính riêng giai đoạn 2015-2020, tăng
trưởng trung bình hằng năm đạt khoảng 15,7%, cơ bản đáp ứng được nhu cầu trong nước
về các loại sản phẩm điện tử dân dụng, điện lạnh và máy tính.
Doanh thu công nghiệp phần cứng, điện tử giai đoạn 2016-2020.(Nguồn: Sách trắng
2 CNTT: Công nghệ thông tin lOMoAR cPSD| 61256830
CNTT và truyền thông Việt Nam 2021)
Năm 2020, doanh thu xuất khẩu sản phẩm phần cứng ước đạt trên 95,8 tỷ USD. Trong đó,
doanh thu xuất khẩu sản phẩm phần cứng, điện tử viễn thông (tính cả khối FDI) được xếp
vào top 2 thế giới về sản xuất điện thoại di động và linh kiện, top 10 thế giới về xuất khẩu
mạch điện tử và linh kiện và top 12 thế giới về xuất khẩu thiết bị máy tính. Các mặt hàng
xuất khẩu chủ yếu là sản phẩm máy tính, điện thoại và linh kiện điện tử đã được xuất khẩu
tới 35 nước trong khu vực và trên thế giới.
Chương 2: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1. Quan niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH)3 được hiểu là quá trình chuyển đổi căn bản,
toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng
sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công
nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp
và tiến bộ khoa học công nghệ, nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao. Hiện đại hóa
nền kinh tế quốc dân là làm cho kỹ thuật và công nghệ sản xuất, cơ cấu kinh tế đạt đến
trình độ tiên tiến của thời đại.
Ngay từ đầu quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã hoàn thiện và đổi mới quan điểm,
các chủ trương, chính sách trong lĩnh vực khoa học - công nghệ. Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ IX của Đảng đã chỉ ra: “Con đường công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở nước ta cần
và có thể rút ngắn thời gian vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt phát huy
những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến,
đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều
hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng
bước phát triển kinh tế tri thức. Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người
Việt Nam, coi phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là nền tảng và động
lực của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa”.

Với một đất nước đang trên đà phát triển như Việt Nam, việc ý thức được tầm quan trọng
của quá trình CNH, HĐH trong bối cảnh cuộc CMCN lần thứ tư được coi là một bước tiến
mới trong công cuộc xây dựng nền kinh tế vững mạnh.
2. Đặc điểm của công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
3 CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa lOMoAR cPSD| 61256830
Mục tiêu của CNH, HĐH là nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại; xây dựng một
cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm mục đích cuối cùng là xây dựng xã hội “dân giàu nước mạnh,
xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” như Đảng ta xác định. Kế thừa quan điểm cách mạng
và khoa học của Mác, khi cách mạng tháng Mười Nga thành công, V.I.Lênin đã đặc biệt
nhấn mạnh vai trò và sự nghiệp của CNH. Người đã khẳng định: “Chủ nghĩa cộng sản là
chính quyền Xô viết cộng với điện khí hóa toàn quốc…Chỉ khi nào nước ta đã điện khí hóa,
chỉ khi nào công nghiệp, nông nghiệp và vận tải đã đứng vững trên cơ sở kỹ thuật của đại
công nghiệp hiện đại, thì lúc đó, chúng ta mới có thể đạt được thắng lợi hoàn toàn”
.
Nhận thức rõ tính tất yếu phải thực hiện CNH trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam, ngay từ những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã nói: “Nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật
chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, có công
nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa và khoa học tiên tiến. Trong quá trình cách
mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới,
mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài”
. Trên cơ sở nhận thức sâu sắc và vận dụng
lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tế ở nước ta.
CNH, HĐH hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức. Quan điểm đẩy mạnh CNH, HĐH gắn
với phát triển kinh tế tri thức đã được Đảng ta chính thức đề cập tại Đại hội X là: “Tận
dụng thời cơ thuận lợi trong điều kiện tình hình”
của cộng đồng quốc tế và những tiềm
năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước gắn với phát triển kinh
tế, coi kinh tế là nhân tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp. phát triển mạnh các
ngành, sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao phụ thuộc nhiều vào tri thức; kết hợp sử
dụng vốn tri thức của dân tộc Việt Nam với tri thức mới nhất của nhân loại. Trên thực tế,
từ những thập kỷ cuối của thế kỷ 20 đến nay, khoa học và công nghệ đã có những bước
phát triển vượt bậc, đặc biệt với sự bùng nổ và hội tụ của công nghệ thông tin và sinh học
công nghệ nano, như Mác và Ăngghen đã dự đoán từ giữa thế kỷ 20: “Tri thức sẽ trở thành
lực lượng sản xuất trực tiếp”; “Giá trị của công việc cơ bắp trong các sản phẩm được tạo
ra sẽ bị giảm xuống một lượng rất nhỏ”; “Lực lượng sản xuất tinh thần”; “Sự gia tăng
của những người làm công tác khoa học”
… thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển đổi từ
nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế.
CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa (XHCN)4. CNH, HĐH gắn
liền với kinh tế thị trường định hướng XHCN là một đặc điểm quan trọng và riêng có của
Việt Nam. Việc đổi mới để phát triển, thừa nhận nhiều hình thức sở hữu khác nhau tương
ứng với nó là các thành phần kinh tế cùng phát triển ở Việt Nam để thúc đẩy nền kinh tế
đất nước phát triển là một sự đổi mới hợp quy luật.
4 XHCN: Xã hội chủ nghĩa lOMoAR cPSD| 61256830
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế và Việt Nam đang tích
cực, chủ động hội nhập nền kinh tế quốc tế. GS.TS Chu Văn Cấp, Học viện Chính trị Hành
chính Quốc gia Hồ Chí Minh khẳng định: “Toàn cầu hoá kinh tế mang lại những nguồn
lực quan trọng và cần thiết cho các nước đang phát triển, tạo khả năng cho các nước này
tăng trưởng nhanh về kinh tế, nhưng đồng thời nó cũng yêu cầu các nước này phải xây
dựng được chiến lược phát triển quốc gia theo hướng có khả năng bắt nhịp và thích nghi
với xu hướng phát triển hiện đại, nếu không muốn tụt hậu ngày càng xa hơn”.
Ngoài ra,
thực hiện chủ trương "gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội
nhập nền kinh tế quốc tế"
trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 2010 của Ðảng,
Việt Nam chúng ta đang tích cực tham gia quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời
chủ động chuẩn bị trong nước về cơ cấu lại nền kinh tế, hoàn thiện hệ thống luật pháp, cơ
chế chính sách, nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam
Chương 3: Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
1. Tính tất yếu khách quan của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam:
Một là, CNH là quy luật phổ biến của sự phát triển lực lượng sản xuất xã hội mà mọi quốc gia đều phải trải qua.
CNH là quá trình tạo động lực mạnh mẽ cho nền kinh tế, là đòn bẩy quan trọng tạo sự phát
triển đột biến trong các lĩnh vực hoạt động của con người. Thông qua công nghiệp hóa các
ngành được trang bị những tư liệu sản xuất, kỹ thuật công nghệ hiện đại, tăng năng suất
lao dộng, tạo ra nhiều của cải vật chất, đáp ứng nhu cầu của con người. Cơ sở vật chất
(CSVC)5 – kỹ thuật của một phương thức sản xuất là hệ thống các yếu tố vật chất của lực
lượng sản xuất xã hội, phù hợp trình độ kỹ thuật mà lực lượng lao động xã hội sử dụng để
tiến hành quá trình lao động sản xuất. Vì vậy, xây dựng CSVC kỹ thuật là một tất yếu khách
quan, một quy luật kinh tế mang tính phổ biến và được thực hiện thông qua CNH, HĐH.
Hai là, đối với các nước có nền kinh tế kém phát triển như nước ta, xây dựng CSVC kỹ
thuật cho XHCN phải thực hiện từ đầu thông qua CNH, HĐH.
Mỗi bước tiến của quá trình CNH, HĐH là một bước tăng cường CSVC - kỹ thuật cho chủ
nghĩa xã hội, phát triển lực lượng sản xuất và góp phần hoàn thiện quan hệ sản xuất chủ
nghĩa xã hội trên cơ sở đó tăng dần trình độ văn minh của xã hội.
CNH, HĐH thúc đẩy sự liên kết, hợp tác giữa các ngành, các vùng trong nước, mở rộng
quan hệ kinh tế quốc tế, tham gia vào quá trình phân công lao động và hợp tác quốc tế ngày càng hiệu quả. 5 CSVC: Cơ sở vật chất lOMoAR cPSD| 61256830
CNH, HĐH làm cho khối liên minh công, nông, trí ngày càng được tăng cường, củng cố
đồng thời nâng cao vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân.
Đồng thời tăng cường tiềm lực, sức mạnh an ninh, quốc phòng, tạo điều kiện vật chất và
tinh thần để xây dựng nền văn hóa mới và con người mới XHCN.
Như vậy, CNH, HĐH là nhân tố quyết định thắng lợi của con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quyết
định lên chủ nghĩa xã hội.
2. Những thành tựu công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (1960) đã xác định: “Công nghiệp hóa xã
hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ ở nước ta”. Trong 20 năm đầu,
công nghiệp hóa nước ta diễn ra trong điều kiện có chiến tranh. Những năm sau, công
nghiệp hóa diễn ra trong điều kiện vừa khủng hoảng kinh tế - xã hội, vừa tìm tòi đổi mới nền kinh tế.
Sau 35 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đưa nước ta từ một trong những quốc gia nghèo
nhất thế giới trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp và ngày càng hội nhập sâu
rộng với khu vực và thế giới; đời sống của người dân ngày càng được cải thiện, vị thế và
uy tín của đất nước ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Đóng góp vào những
thành quả to lớn này của phát triển đất nước, việc Việt Nam đã và đang dần khẳng định
được vị thế là một trong những trung tâm sản xuất công nghiệp của khu vực và của thế giới.
Về vị trí ngành công nghiệp trên thế giới, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong
những quốc gia có nền công nghiệp có năng lực cạnh tranh toàn cầu (CIP) ở mức khá cao,
thuộc vào nhóm các quốc gia có năng lực cạnh tranh công nghiệp trung bình cao với vị trí
thứ 44 trên thế giới vào năm 2018 theo đánh giá của UNIDO. Theo đó, trong giai đoạn
1990-2018 đã tăng 50 bậc và giai đoạn 2010-2018 tăng 23 bậc, tăng nhanh nhất trong các
nước thuộc khu vực ASEAN và đã tiệm cận vị trí thứ 5 của Philipphin (chỉ thua 0.001
điểm), tiến gần hơn với nhóm 4 nước có năng lực cạnh tranh mạnh nhất trong khối.
Công nghiệp là ngành có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất trong các ngành kinh tế quốc
dân với đóng góp xấp xỉ 30% GDP và trở thành ngành xuất khẩu chủ lực của đất nước, góp
phần đưa Việt Nam lên vị trí thứ 22 quốc gia xuất khẩu lớn nhất thế giới vào năm 2018.
Một số ngành công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn theo định hướng chiến lược của
ta đã trở thành các ngành công nghiệp lớn nhất đất nước, qua đó đưa nước ta cơ bản đã hội
nhập thành công vào chuỗi giá trị toàn cầu với sự dẫn dắt của một số doanh nghiệp công
nghiệp lớn như điện tử, dệt may, da giày… lOMoAR cPSD| 61256830
Bên cạnh đó, quá trình tái cơ cấu ngành công nghiệp gắn với đổi mới mô hình tăng
trưởng, nâng cao năng suất lao động đã đi vào thực chất hơn, ngày càng hướng vào lõi
CNH. Theo đó, công nghiệp tiếp tục duy trì là ngành có năng suất lao động cao nhất trong
các ngành kinh tế quốc dân với tỷ trọng trong GDP tăng từ 26,63% năm 2011 lên 27,81%
năm 2015 và 28,55% năm 2019.
Cơ cấu nội ngành công nghiệp đã chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng công nghiệp
khai khoáng (từ 36,47% năm 2011 xuống còn 25,61% năm 2019) và tăng tỷ trọng công
nghiệp chế biến chế tạo (từ 49,82% năm 2011 lên 54,57% năm 2019) và trở thành động
lực tăng trưởng chính của ngành công nghiệp (ước VA tăng 10,99% giai đoạn 2011-2020
và 12,64% giai đoạn 2016-2020).
Chuyển dịch cơ cấu lao động trong giai đoạn 2015-2020 có sự chênh lệch khá lớn giữa
các khu vực kinh tế. Cụ thể, trong giai đoạn này có sự chuyển dịch rõ rệt trong cơ cấu lao
động giữa các khu vực. Nếu như năm 2015 cơ cấu lao động khu vực 1 chiếm tới 45,73%;
khu vực 2 chiếm 24,19%; khu vực 3 chiếm 30,08%, thì đến năm 2020 tỷ trọng lao động
trong các khu vực 1, 2, 3 lần lượt là: 34,78%; 32,65%; 32,57%.
Đầu tư cho phát triển công nghiệp ngày càng được mở rộng, trong đó, đầu tư FDI trở
thành động lực chính của phát triển công nghiệp và chuyển dịch cơ cấu phát triển các ngành
công nghiệp nước ta theo hướng hiện đại (chiếm tỷ trọng xấp xỉ 70% tổng vốn đầu tư FDI
vào các ngành kinh tế, trong đó, đầu tư vào công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng
lớn nhất với xấp xỉ 60%). Trong vài năm trở lại đây, dòng vốn FDI đang dịch chuyển sang
các ngành, nghề có giá trị gia tăng cao hơn trong các ngành, lĩnh vực ưu tiên là công nghệ
cao, công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), chế tạo, chế biến, công nghiệp hỗ trợ và
nông nghiệp... và giảm dần trong một số ngành thâm dụng lao động.
Để tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, với mục tiêu đến năm 2030 Việt
Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu
khu vực ASEAN về công nghiệp. Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày
22/3/2018 về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm
2030, tầm nhìn đến năm 2045. Như vậy trong tương lai, việc Việt Nam thực sự trở thành
một quốc gia phát triển chỉ còn là vấn đề thời gian.
3. Hạn chế của công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại Việt Nam:
Mô hình CNH, HĐH của Viêt Nam vẫn còn đang trong quá trình hoàn thiện, chưa được ̣
cụ thể hóa thành những tiêu chí cụ thể của môt nước công nghiệp. Thực hiện CNH, HĐḤ
chưa bằng thể chế của nền kinh tế thị trường, tuân theo các quy luật khách quan của cơ chế thị trường. lOMoAR cPSD| 61256830
Nền kinh tế vẫn chưa thể cải thiện được sức cạnh tranh và năng suất lao động. Theo số liệu
từ Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2018-2019 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, nền
Kinh tế Việt Nam đứng thứ 67 trong số 148 quốc gia trong bảng xếp hạng, tăng 10 bậc so
với thứ hạng 77 trong năm 2012-2013. Việt Nam ta nằm trong nhóm các quốc gia gần thuộc
nửa cuối bảng xếp hạng, thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực Đông Nam Á
(Malaysia đứng thứ 27, Thái Lan đứng thứ 40, Indonesia đứng thứ 50, Phillipine đứng thứ
64) và còn một khoảng cách rất xa so với các nước ở khu vực Đông Á (Hàn Quốc, Nhật Bản).
Từ số liệu các năm cho thấy, mặc dù chỉ số GDP/người của Việt Nam đã có những bước
cải thiện so với mức bình quân của thế giới (từ 26,0% năm 2000, lên 34,2% năm 2010 và
41,3% năm 2018), tuy nhiên trong gần 20 năm phát triển kinh tế đã qua cho thấy, khoảng
cách chệch lệch của Việt Nam với thế giới vẫn còn ở mức khá cao. So sánh tương đối với
một số quốc gia trong “Các nước mới công nghiệp” (NICs) thì Việt Nam hiện tương đương
với Ấn Độ (đạt 7.874 USD); thấp hơn Philipine (8.936 USD); bằng 1/2 của Indonesia, Nam
Phi, Braxin và từ 1/3-1/4 của Mexico, Thổ Nhĩ Kỳ và Malaysia.
Quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc đô khá nhanh, nhưng thiếu sự đồng bộ giữa hạ tầng ̣
kỹ thuật và hạ tầng xã hội. Tốc độ xây dựng cơ sở hạ tầng ở phần lớn đô thị Việt Nam đều
chậm so với phát triển kinh tế xã hội. Tình trạng phát triển đô thị hiện nay chưa đáp ứng
với sự đổi thay về tư duy quản lý đô thị hóa, phát triển đô thị theo hướng CNH và HĐH.
4. Phương hướng giải quyết:
Sau khi đã xác định được mục tiêu, những thuận lợi và hạn chế về quá trình CNH, HĐH
tới các lĩnh vực của nước ta, thì một vấn đề không kém phần quan trọng đó là đề ra các
hướng giải quyết để đạt được các mục tiêu đó. Theo em cần hướng vào các vấn đề chính như sau.
Một là, các giải pháp về các chính sách kinh tế Nhà nước. Để thực hiện thắng lợi những
nhiệm vụ to lớn trong quá trình CNH, HĐH đất nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường
ở nước ta phải đặc biệt chú ý đến vai trò quản lý, điều tiết của nhà nước đối với nền kinh
tế. Ngoài ra đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước là sự nghiệp của toàn dân, cả hệ thống chính
trị, lấy con người là trung tâm, doanh nghiệp là chủ thể, hài hòa giữa các mục tiêu kinh tế, xã hội.
Hai là, phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; thúc đẩy đô thị hóa nhanh và bền
vững gắn kết chặt chẽ và tạo động lực cho đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Xây dựng hệ
thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội; ưu tiên phát triển một số
công trình hạ tầng trọng điểm quốc gia và vùng về giao thông, thích ứng với biến đổi khí lOMoAR cPSD| 61256830
hậu, năng lượng, hạ tầng số. Khuyến khích phát triển các mô hình khu công nghiệp - đô thị
- dịch vụ, nhất là tại các đô thị, vùng đô thị có mật độ dân số cao. Phát triển hệ thống đô
thị theo mạng lưới, đồng bộ, hiện đại dựa trên lợi thế của từng vùng, miền với mật độ kinh
tế và tập trung lao động ở mức cao, gắn kết chặt chẽ với CNH, HĐH.
Ba là, giải pháp về tạo và sử dụng vốn có hiệu quả. Vốn là tiền đề cơ bản cho mọi hoạt
động sản xuất kinh doanh. Nước ta tiến hành quá trình CNH, HĐH trong điều kiện rất thiếu
vốn nên Nhà nước đã đặt ra vấn đề là làm thế nào để huy động đủ vốn và sử dụng vốn có hiệu quả.
Bốn là, CNH, HĐH phải bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô; chủ động, tích cực hội nhập kinh
tế quốc tế sâu rộng, hiệu quả; phát huy giá trị, truyền thống của con người Việt Nam và vai
trò xung kích của giai cấp công nhân hiện đại.
Năm là, tăng cường phát triển khoa học - công nghệ, hệ thống chính sách nhằm thúc đẩy
đầu tư vào khoa học - công nghệ của nước ta cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng nâng
cao hiệu quả huy động và đa dạng hoá nguồn lực đầu tư cho khoa học - công nghệ; hình
thành các cơ chế phù hợp để nâng cao tính định hướng của ngân sách nhà nước trong việc
thu hút các nguồn lực đầu tư ngoài nhà nước để phát triển khoa học - công nghệ.
Sáu là, phát triển nguồn nhân lực, xây dựng và vận hành hệ thống thông tin thị trường lao
động, cơ sở dữ liệu quốc gia về thị trường lao động, nâng cao năng lực dự báo, kế hoạch
hoá nguồn nhân lực dựa trên các tín hiệu của thị trường; mở rộng các hình thức đào tạo
nghề gắn với chuyển giao công nghệ mới. lOMoAR cPSD| 61256830 Kết luận
Tóm lại, CNH, HĐH chính là lời giải của bài toán phát triển, trực tiếp đưa đất nước thoát
khỏi nguy cơ tụt hậu. Tác động mạnh mẽ, toàn diện và sâu sắc của cuộc CMCN lần thứ tư
đến chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đã thúc đẩy Việt Nam phải điều chỉnh, định vị chiến
lược phát triển, chú trọng đầu tư vào khoa học - công nghệ đồng thời có chính sách bảo vệ
và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc. Đặt nguồn lực là ưu tiên, phát huy kinh tế nông
nghiệp cùng với đổi mới khoa học kĩ thuật hiện đại. Trong bối cảnh đó, nước ta càng có lợi
thế và nhiều cơ hội hơn để phát triển, khẳng định uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Song trong quá trình thực hiện nước ta cũng gặp phải rất nhiều khó khăn, thách thức. Việt
Nam ta tuy có tiềm lực lớn về kinh tế nhưng vẫn còn xa lạ trước những biến đổi của toàn
cầu hóa hiện nay, chưa thích nghi hoàn toàn với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Một câu hỏi lớn đặt ra hiện giờ đó là con người sẽ làm gì để thích nghi với những tiến bộ
và thách thức của cuộc CMCN 4.0 lần này ? Thế nên, ngay từ bây giờ để bắt kịp xu thế đòi
hỏi ta phải thực hiện được các giải pháp một cách hợp lý, đồng bộ và hiệu quả thì quá trình
CNH, HĐH mới càng được đẩy mạnh phát triển, đóng góp quan trọng cho việc xây dựng
một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Trong khuôn khổ bài tập lớn có thể rút ra những bài học và giải pháp riêng cho bản thân
với mục đích cuối cùng là làm sao để mỗi cá nhân nhận thức đúng đắn về CNH, HĐH hiện
nay ở Việt Nam, nhất là đang trong bối cảnh của cuộc CMCN lần thứ tư hiện nay.
Tài liệu tham khảo
1. PGS. TS. Ngô Tuấn Nghĩa (Chủ tịch hội đồng biên soạn), Giáo trình Kinh tế chính
trị Mác – Lênin; năm 2023.
2. Tg. Minh Khoa, Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 là gì?; 2/10/2018.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước; 3/10/2022.
4. Tg. Bùi Tuấn An, Cách mạng Công nghiệp 4.0 là gì? Tác động của Cách mạng Công
nghiệp 4.0; 12/3/2023.
5. ThS. Nguyễn Thị Hằng, Nhận thức của Đảng về công nghiệp hóa và thực trạng công
nghiệp hóa – hiện đại hóa ở nước ta hiện nay; 14/01/2015.
6. Trường xây dựng Hồ Chí Minh, Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với
phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế.
7. Tg. Hoàng Thái – Phi Long, Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa; 24/12/2009. lOMoAR cPSD| 61256830
8. Bộ Công thương Việt Nam, Một số khó khăn và thách thức đặt ra với quá trình công
nghiệp hóa ở nước ta hiện nay; 8/6/2022.
9. PGS, TS Bùi Ngọc Quỳnh - TS Phạm Quốc Quân, Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; 4/6/2023.
10. Bộ thông tin và truyền thông, Cần một không gian mới rộng hơn cho công nghiệp
công nghiệp số; 10/6/2022.