Cuộc đời và sự nghiệp - Tư tưởng Hồ Chí Minh | Trường Đại Học Duy Tân

Chủ tịch Hồ Chí Minh (tên thật là Nguyễn Sinh Cung) sinh ngày19/5/1890 tại làng Hoàng Trù, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (naythuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An). Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời bạn đọc đón xem!

Trường:

Đại học Duy Tân 1.8 K tài liệu

Thông tin:
4 trang 6 tháng trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Cuộc đời và sự nghiệp - Tư tưởng Hồ Chí Minh | Trường Đại Học Duy Tân

Chủ tịch Hồ Chí Minh (tên thật là Nguyễn Sinh Cung) sinh ngày19/5/1890 tại làng Hoàng Trù, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (naythuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An). Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời bạn đọc đón xem!

113 57 lượt tải Tải xuống
CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
1. Tiểu sử
- Chủ tịch Hồ Chí Minh (tên thật Nguyễn Sinh Cung) sinh ngày
19/5/1890 tại làng Hoàng Trù, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (nay
thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An).
- Thân phụ là Nguyễn Sinh Sắc, thân mẫu là Hoàng Thị Loan. Người sinh
ra trong một gia đình nhà Nho yêu nước, ngay từ thuở nhỏ đã tiếp thu
được truyền thống yêu nước, lòng nhân ái từ gia đình và quê hương đất
nước.
- Người nhà cách mạng sáng suốt, vị lãnh tụ thiên tài, người sáng lập
Đảng Cộng sản Việt Nam và Việt Minh
- Người đã đi qua nhiều quốc gia châu lục, học tập và nghiên cứu các học
thuyết cách mạng, theo chủ nghĩa Marx-Lenin
- Người đã soạn thảo đọc bản Tuyên ngôn độc lập thành lập nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2/9/1945
- Người đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam đấu tranh chống Pháp Mỹ,
giành được độc lập và thống nhất đất nước
- Người cũng là một nhà văn hóa kiệt xuất, có nhiều tác phẩm văn học để
đời như Nhật trong tù”, Tuyên ngôn độc lập”, Lời kêu gọi toàn
quốc kháng chiến”, “ Bản án chế độ thực dân Pháp”.
- Người qua đời ngày 2/9/1969 tại Nội, được UNESCO tôn vinh
"Anh hùng giải phóng n tộc, nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam"
năm 1987
2. Các giai đoạn trong sự nghiệp của bác Hồ
- Giai đoạn tìm con đường giải phóng dân tộc (1911-1924):
+ Với ý chí quyết tâm đuổi thực dân, giành độc lập cho đất
nước, đem lại tự do, hạnh phúc cho đồng bào, tháng 6/1911, Hồ Chí Minh
đã rời Tổ quốc đi sang phương Tây để tìm con đường giải phóng dân tộc.
+ Từ năm 1912 - 1917, dưới cái tên Nguyễn Tất Thành, Hồ Chí
Minh đến nhiều nước châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi, sống hoà
mình với nhân dân lao động cảm thông sâu sắc cuộc sống khổ cực của
nhân dân lao động các dân tộc thuộc địa cũng như nguyện vọng thiêng
liêng của họ.
+ Cuối năm 1917, Hồ Chí Minh từ Anh trở lại Pháp, hoạt động
trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp.
+ Năm 1919, lấy tên Nguyễn Ái Quốc thay mặt những người
Việt Nam yêu nước tại Pháp Người đã gửi tới Hội nghị Vécxây (Versailles)
bản yêu sách đòi quyền tự do cho nhân dân Việt Nam cũng quyền tự
do cho nhân dân các nước thuộc địa.
+ Năm 1917, dưới sự ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga
Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc thuộc địa. Tháng 12/1920,
Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội lần thứ XVIII Đảng hội Pháp bỏ
phiếu tán thành Đảng gia nhập Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản), trở thành
một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.
+ Năm 1921, cùng với một số người yêu nước của các thuộc địa
Pháp, Nguyễn Ái Quốc tham gia sáng lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc
địa. Tháng 4/1922, Hội xuất bản báo “Người cùng khổ” (Le Paria) nhằm
đoàn kết, tổ chức hướng dẫn phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc
các nước thuộc địa.
+ Tháng 6/1923, Nguyễn Ái Quốc từ Pháp sang Liên Xô, làm việc
tại Quốc tế Cộng sản. Tháng 10/1923, tại Hội nghị Quốc tế Nông dân lần
thứ nhất, Nguyễn Ái Quốc được bầu vào Hội đồng Quốc tế Nông dân và là
đại biểu duy nhất của nông dân thuộc địa được cvào Đoàn Chủ tịch của
Hội đồng. Tiếp đó tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V, Đại hội
Quốc tế Thanh niên lần thứ IV, Đại hội Quốc tế Công hội đỏ. Tại các đại
hội, Nguyễn Ái Quốc kiên trì bảo vệ và phát triển sáng tạo tư tưởng của V.I.
Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, hướng sự quan tâm của Quốc tế Cộng
sản tới phong trào giải phóng dân tộc.
Từ một người yêu nước trở thành một người cộng sản, Hồ Chí Minh
khẳng định: “Muốn cứu nước giải phóng dân tộc, không con đường
nào khác con đường cách mạng vô sản”.
- Giai đoạn xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam (1924-1930):
+ Năm 1925, Người đã cho xuất bản tác phẩm Bản án chế độ
thực dân Pháp” tại Paris đây một công trình nghiên cứu về bản chất
của chủ nghĩa thực dân, thức tỉnhcổ vũ nhân dân các nước thuộc địa
đứng lên tự giải phóng.
+ Năm 1924, Người đến Quảng Châu, Trung Quốc làm việc
trong đoàn cố vấn Bôrôđin của Chính phủ Liên bên cạnh Chính phủ
Tôn Dật Tiên.
+ Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách
mạng Thanh niên tiền thân của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh, trực tiếp mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ cách mạng, ra tờ báo
“Thanh niên”, tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam nhằm truyền
chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam, chuẩn bị cho việc thành lập Đảng
Cộng sản Việt Nam. Các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại các lớp
huấn luyện được tập hợp in thành sách “Đường Kách mệnh” - một văn
kiện lý luận quan trọng đặt cơ sở tư tưởng cho đường lối cách mạng Việt
Nam.
+ Từ tháng 7/1928 đến tháng 11/1929, Nguyễn Ái Quốc hoạt
động trong phong trào Việt kiều yêu nước Xiêm (Thái Lan), tiếp tục
chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
+ Năm 1930, Bác Hồ đã thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam,
sự kiện lịch sử quan trọng, mở ra một kỷ nguyên mới cho sự nghiệp giải
phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
- Giai đoạn lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1930-
1954):
+ Bác Hồ đã lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam nhân dân
Việt Nam tiến hành các cuộc khởi nghĩa như Khởi nghĩa Yên Bái
(1930), Khởi nghĩa Nghe Tinh (1930-1931), Khởi nghĩa Nghệ An -
Tĩnh (1930-1931), Khởi nghĩa Sóc Sơn (1936), Khởi nghĩa Thái
Nguyên (1940) nhằm đấu tranh chống thực dân Pháp phát triển lực
lượng cách mạng.
+ Năm 1941, Bác Hồ trở về trong nước, sáng lập Việt Minh,
mặt trận liên minh toàn dân độc lập quốc gia. Bác Hồ đã lãnh đạo
Việt Minh tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp và Nhật từ năm 1945
đến năm 1954.
+ 2/9/1945, Bác Hồ đã soạn thảo đọc lên tại Quảng trường
Ba Đình Tuyên ngôn độc lập, công bố sự ra đời của nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa.
+ Sau khi Pháp xâm lược lại Việt Nam, Bác Hồ đã phát thanh
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến vào ngày 19/12/1946, khai mạc cuộc
chiến tranh giành lại độc lập cho dân tộc. Trong suốt cuộc kháng chiến
chống Pháp kéoi 9 năm, Bác Hồ đã không ngừng lãnh đạo động
viên nhân dân Việt Nam đấu tranh cho độc lập, tự do hòa bình. Bác
Hồ đã tham gia vào các cuộc đàm phán với Pháp tại Fontainebleau
(1946), Dalat (1946), Nội (1946), Paris (1949) Genève (1954)
nhằm tìm kiếm một giải pháp hòa bình cho vấn đề Việt Nam. Bác Hồ
cũng đã gửi thư cho các nhà lãnh đạo thế giới như Tổng thống Mỹ
Truman, Tổng thống Mỹ Eisenhower, Thủ tướng Anh Attlee, Thủ tướng
Anh Churchill, Tổng thống Trung Quốc Mao Trạch Đông, Tổng thống
Liên Stalin, Tổng thống Liên Khrushchev… để kêu gọi sự ủng
hộ và tôn trọng quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam.
+ Năm 1954, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ
tịch Hồ Chí Minh, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực
dân Pháp xâm lược đã giành thắng lợi to lớn, kết thúc vẻ vang bằng
chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ giải phóng hoàn toàn miền Bắc.
- Giai đoạn lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-
1969):
+ Sau khi ký Hiệp định Genève năm 1954, Bác Hồ đã lãnh đạo
Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam tiến hành xây dựng chủ
nghĩa hội miền Bắc chuẩn bị cho cuộc bầu cử toàn quốc để
thống nhất đất nước.
+ Tuy nhiên, Mỹ đã can thiệp vào Việt Nam, vi phạm Hiệp
định Genève, hỗ trợ chế độ Ngô Đình Diệm miền Nam gây ra
chiến tranh xâm lược. Bác Hồ đã lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam
nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ
năm 1954 đến năm 1975. Bác Hồ đã phát biểu: “Không quý hơn
độc lập tự do” và “Toàn dân ta quyết hy sinh tất cả, chống Mỹ cứu nước,
không ai khuất phục”.
+ Mùa xuân năm 1975, với Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử,
nhân dân Việt Nam đã hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam,
thống nhất Tổ quốc, thực hiện mong ước thiêng liêng của Chủ tịch Hồ
Chí Minh.
| 1/4

Preview text:

CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH 1. Tiểu sử
- Chủ tịch Hồ Chí Minh (tên thật là Nguyễn Sinh Cung) sinh ngày
19/5/1890 tại làng Hoàng Trù, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (nay
thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An).
- Thân phụ là Nguyễn Sinh Sắc, thân mẫu là Hoàng Thị Loan. Người sinh
ra trong một gia đình nhà Nho yêu nước, ngay từ thuở nhỏ đã tiếp thu
được truyền thống yêu nước, lòng nhân ái từ gia đình và quê hương đất nước.
- Người là nhà cách mạng sáng suốt, vị lãnh tụ thiên tài, người sáng lập
Đảng Cộng sản Việt Nam và Việt Minh
- Người đã đi qua nhiều quốc gia châu lục, học tập và nghiên cứu các học
thuyết cách mạng, theo chủ nghĩa Marx-Lenin
- Người đã soạn thảo và đọc bản Tuyên ngôn độc lập thành lập nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2/9/1945
- Người đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam đấu tranh chống Pháp và Mỹ,
giành được độc lập và thống nhất đất nước
- Người cũng là một nhà văn hóa kiệt xuất, có nhiều tác phẩm văn học để
đời như “ Nhật kí trong tù”, “ Tuyên ngôn độc lập”, “ Lời kêu gọi toàn
quốc kháng chiến”, “ Bản án chế độ thực dân Pháp”.
- Người qua đời ngày 2/9/1969 tại Hà Nội, được UNESCO tôn vinh là
"Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam" năm 1987
2. Các giai đoạn trong sự nghiệp của bác Hồ
- Giai đoạn tìm con đường giải phóng dân tộc (1911-1924):
+ Với ý chí và quyết tâm đuổi thực dân, giành độc lập cho đất
nước, đem lại tự do, hạnh phúc cho đồng bào, tháng 6/1911, Hồ Chí Minh
đã rời Tổ quốc đi sang phương Tây để tìm con đường giải phóng dân tộc.
+ Từ năm 1912 - 1917, dưới cái tên Nguyễn Tất Thành, Hồ Chí
Minh đến nhiều nước ở châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi, sống hoà
mình với nhân dân lao động và cảm thông sâu sắc cuộc sống khổ cực của
nhân dân lao động và các dân tộc thuộc địa cũng như nguyện vọng thiêng liêng của họ.
+ Cuối năm 1917, Hồ Chí Minh từ Anh trở lại Pháp, hoạt động
trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp.
+ Năm 1919, lấy tên là Nguyễn Ái Quốc thay mặt những người
Việt Nam yêu nước tại Pháp Người đã gửi tới Hội nghị Vécxây (Versailles)
bản yêu sách đòi quyền tự do cho nhân dân Việt Nam và cũng là quyền tự
do cho nhân dân các nước thuộc địa.
+ Năm 1917, dưới sự ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga
và Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Tháng 12/1920,
Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp và bỏ
phiếu tán thành Đảng gia nhập Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản), trở thành
một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.
+ Năm 1921, cùng với một số người yêu nước của các thuộc địa
Pháp, Nguyễn Ái Quốc tham gia sáng lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc
địa. Tháng 4/1922, Hội xuất bản báo “Người cùng khổ” (Le Paria) nhằm
đoàn kết, tổ chức và hướng dẫn phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa.
+ Tháng 6/1923, Nguyễn Ái Quốc từ Pháp sang Liên Xô, làm việc
tại Quốc tế Cộng sản. Tháng 10/1923, tại Hội nghị Quốc tế Nông dân lần
thứ nhất, Nguyễn Ái Quốc được bầu vào Hội đồng Quốc tế Nông dân và là
đại biểu duy nhất của nông dân thuộc địa được cử vào Đoàn Chủ tịch của
Hội đồng. Tiếp đó tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V, Đại hội
Quốc tế Thanh niên lần thứ IV, Đại hội Quốc tế Công hội đỏ. Tại các đại
hội, Nguyễn Ái Quốc kiên trì bảo vệ và phát triển sáng tạo tư tưởng của V.I.
Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, hướng sự quan tâm của Quốc tế Cộng
sản tới phong trào giải phóng dân tộc.
 Từ một người yêu nước trở thành một người cộng sản, Hồ Chí Minh
khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường
nào khác con đường cách mạng vô sản”.
- Giai đoạn xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam (1924-1930):
+ Năm 1925, Người đã cho xuất bản tác phẩm “ Bản án chế độ
thực dân Pháp” tại Paris đây là một công trình nghiên cứu về bản chất
của chủ nghĩa thực dân, thức tỉnh và cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa
đứng lên tự giải phóng.
+ Năm 1924, Người đến Quảng Châu, Trung Quốc làm việc
trong đoàn cố vấn Bôrôđin của Chính phủ Liên Xô bên cạnh Chính phủ Tôn Dật Tiên.
+ Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách
mạng Thanh niên là tiền thân của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh, trực tiếp mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ cách mạng, ra tờ báo
“Thanh niên”, tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam nhằm truyền bá
chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam, chuẩn bị cho việc thành lập Đảng
Cộng sản Việt Nam. Các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại các lớp
huấn luyện được tập hợp in thành sách “Đường Kách mệnh” - một văn
kiện lý luận quan trọng đặt cơ sở tư tưởng cho đường lối cách mạng Việt Nam.
+ Từ tháng 7/1928 đến tháng 11/1929, Nguyễn Ái Quốc hoạt
động trong phong trào Việt kiều yêu nước ở Xiêm (Thái Lan), tiếp tục
chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
+ Năm 1930, Bác Hồ đã thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, là
sự kiện lịch sử quan trọng, mở ra một kỷ nguyên mới cho sự nghiệp giải
phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
- Giai đoạn lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1930- 1954):
+ Bác Hồ đã lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân
Việt Nam tiến hành các cuộc khởi nghĩa như Khởi nghĩa Yên Bái
(1930), Khởi nghĩa Nghe Tinh (1930-1931), Khởi nghĩa Nghệ An - Hà
Tĩnh (1930-1931), Khởi nghĩa Sóc Sơn (1936), Khởi nghĩa Thái
Nguyên (1940) nhằm đấu tranh chống thực dân Pháp và phát triển lực lượng cách mạng.
+ Năm 1941, Bác Hồ trở về trong nước, sáng lập Việt Minh, là
mặt trận liên minh toàn dân vì độc lập quốc gia. Bác Hồ đã lãnh đạo
Việt Minh tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp và Nhật từ năm 1945 đến năm 1954.
+ 2/9/1945, Bác Hồ đã soạn thảo và đọc lên tại Quảng trường
Ba Đình Tuyên ngôn độc lập, công bố sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
+ Sau khi Pháp xâm lược lại Việt Nam, Bác Hồ đã phát thanh
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến vào ngày 19/12/1946, khai mạc cuộc
chiến tranh giành lại độc lập cho dân tộc. Trong suốt cuộc kháng chiến
chống Pháp kéo dài 9 năm, Bác Hồ đã không ngừng lãnh đạo và động
viên nhân dân Việt Nam đấu tranh cho độc lập, tự do và hòa bình. Bác
Hồ đã tham gia vào các cuộc đàm phán với Pháp tại Fontainebleau
(1946), Dalat (1946), Hà Nội (1946), Paris (1949) và Genève (1954)
nhằm tìm kiếm một giải pháp hòa bình cho vấn đề Việt Nam. Bác Hồ
cũng đã gửi thư cho các nhà lãnh đạo thế giới như Tổng thống Mỹ
Truman, Tổng thống Mỹ Eisenhower, Thủ tướng Anh Attlee, Thủ tướng
Anh Churchill, Tổng thống Trung Quốc Mao Trạch Đông, Tổng thống
Liên Xô Stalin, Tổng thống Liên Xô Khrushchev… để kêu gọi sự ủng
hộ và tôn trọng quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam.
+ Năm 1954, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ
tịch Hồ Chí Minh, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực
dân Pháp xâm lược đã giành thắng lợi to lớn, kết thúc vẻ vang bằng
chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ giải phóng hoàn toàn miền Bắc.
- Giai đoạn lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954- 1969):
+ Sau khi ký Hiệp định Genève năm 1954, Bác Hồ đã lãnh đạo
Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam tiến hành xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở miền Bắc và chuẩn bị cho cuộc bầu cử toàn quốc để thống nhất đất nước.
+ Tuy nhiên, Mỹ đã can thiệp vào Việt Nam, vi phạm Hiệp
định Genève, hỗ trợ chế độ Ngô Đình Diệm ở miền Nam và gây ra
chiến tranh xâm lược. Bác Hồ đã lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam và
nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ
năm 1954 đến năm 1975. Bác Hồ đã phát biểu: “Không có gì quý hơn
độc lập tự do” và “Toàn dân ta quyết hy sinh tất cả, chống Mỹ cứu nước, không ai khuất phục”.
+ Mùa xuân năm 1975, với Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử,
nhân dân Việt Nam đã hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam,
thống nhất Tổ quốc, thực hiện mong ước thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.